1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng bệnh sâu răng và một số yếu tố ảnh hưởng ở học sinh tuổi từ 6 11 tại trường tiểu học vĩnh hưng, hoàng mai, hà nội năm 2014

84 438 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lứa tuổi 6 đến 11 là lúc răng vĩnh viễn bắt đầu xuất hiện trên cung hàm, đóng vai trò quan trọng trong chức năng nhai của trẻ về sau nên rất cần được giữ gìn một cách tốt nhất để không b

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe học sinh là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng, không chỉ ở riêng Việt Nam mà còn toàn thế giới Lứa tuổi 6 đến 11 là lúc răng vĩnh viễn bắt đầu xuất hiện trên cung hàm, đóng vai trò quan trọng trong chức năng nhai của trẻ về sau nên rất cần được giữ gìn một cách tốt nhất để không bị sâu Theo Tổng cục thống kê (2008) 7,9% dân số cả nước là học sinh tiểu học [1] Một trong số bệnh hay gặp phổ biến ở học sinh là bệnh sâu răng Năm 1994, WHO đánh giá bệnh sâu răng ở nước ta vào loại cao nhất thế giới và nằm trong khu vực các nước có bệnh răng miệng đang tăng lên [2] Kết quả điều tra sức khỏe răng miệng do viện Răng Hàm Mặt và đại học Adelaide, Australia tiến hành gần đây thì Việt Nam là một nước có tỷ lệ sâu răng rất cao, chiếm tới gần 85% dân số cả nước, trong đó trẻ em là đối tượng bị ảnh hưởng của sâu răng nhiều nhất [3]

Trong nhiều năm gần đây chương trình chăm sóc sức khỏe răng miệng được triển khai ở hầu hết các tỉnh trong cả nước cho lứa tuổi đến trường Tuy nhiên trẻ em tại trường tiểu học Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội chưa được chăm sóc sức khỏe theo chương trình Nha học đường bao giờ Hiện nay nhu cầu được chăm sóc sức khỏe răng miệng là vấn đề cần thiết của ban lãnh đạo Trường và các bậc phụ huynh

Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Thực trạng bệnh sâu răng và một số yếu tố ảnh hưởng ở học sinh tuổi từ 6 đến 11 tại trường tiểu học Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội năm 2014" với hai mục

tiêu sau đây:

Trang 2

1 Mô tả thực trạng bệnh sâu răng ở học sinh tuổi từ 6 đến 11 tại trường tiểu học Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội năm 2014

2 Phân tích một số yếu tố liên quan với bệnh sâu răng ở nhóm học sinh trên

Trang 3

tố như: không được fluor hoá nước uống, thiếu hiểu biết về giáo dục nha khoa, chế độ ăn đường không đúng… Những nước phát triển có tỷ lệ sâu răng giảm do Nhà nước coi trọng chương trình fluor hoá nước uống, thuốc chải răng có fluor, trám bít hố rãnh, coi giáo dục nha khoa là quốc sách, đặc biệt là

có hệ thống khám chữa bệnh rộng khắp tại các cơ sở

Sâu răng là một quá trình động, diễn ra trong mảng bám vi khuẩn dính trên mặt răng, đưa đến mất cân bằng giữa mô răng với chất dịch xung quanh

và theo thời gian, hậu quả là sự mất khoáng của mô răng

Khởi đầu sâu răng không đau, nhưng khi lỗ sâu phát triển sâu và rộng phá huỷ nhiều tổ chức men và ngà, thì ăn các thức ăn nóng, lạnh, chua, ngọt đều bị đau và hết đau khi hết các kích thích Nếu không được điều trị kịp thời, tổn thương sẽ lan tới tuỷ răng và quanh cuống răng

Năm 1995 Hội Nha khoa Hoa Kỳ đã đưa ra khái niệm sâu răng là bệnh nhiễm trùng với vai trò gây bệnh của vi khuẩn và giải thích nguyên nhân sâu răng bằng sơ đồ với ba vòng tròn của các yếu tố vật chủ (răng: gồm men răng, ngà răng, xương răng) môi trường (thức ăn có khả năng lên

Trang 4

men chứa carbohydrate) và tác nhân (vi khuẩn chủ yếu là Streptococcus Mutans và Lactobacillus) [4]

Theo WHO năm 1997, các nước trong khu vực Châu Á cứ trên 80% dân số bị sâu răng Chỉ số SMT lứa tuổi 12 ở mức cao từ 0,7 đến 5,5 (ở Trung Quốc là 0,7, ở Lào là 2,4, ở Campuchia là 4,9, ở Philippin là 5,5, Việt Nam là 0,8) [5], [6]

Tại Thái Lan, năm 2000 tỷ lệ sâu răng ở tuổi 12 là 58-80% [7]

Cũng như nhiều nước đang phát triển, bệnh sâu răng gặp phổ biến ở nước ta, nhu cầu cần được chăm sóc và điều trị rất cao Theo Nguyễn Văn Cát, tại Hà Nội 1983 -1984 có 1,1 triệu người sâu răng, chỉ số SMT 1,4 [8] Năm 2004 Hoàng Tử Hùng đưa ra tỷ lệ sâu răng sữa ở một số tỉnh miền Nam

là 70,49%, ở Thuận Hải là 72,14% [9]

Trong 3 năm từ 2002 đến 2005, Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội đã tiến hành điều tra bệnh răng miệng ở Việt Nam và cho thấy tỷ lệ sâu răng và chỉ

số SMT của răng vĩnh viễn cũng tăng dần theo lứa tuổi

Năm 2007, Đào Thị Dung đánh giá hiệu quả can thiệp chương trình Nha học đường tại một số trường tiểu học quận Đống Đa Hà Nội cho thấy tỉ

lệ sâu răng vẫn còn cao (65,63%) [10]

Năm 2007, Nguyễn Cẩn và Ngô Đồng Khanh nghiên cứu tình trạng bệnh sâu răng ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ bệnh sâu răng và số trung bình răng sâu mất trám (SMTR) gia tăng theo tuổi SMTR ở trẻ 11 tuổi và lứa tuổi 35 -

Trang 5

1.1.2 Cấu tạo của răng

Bao gồm men răng, ngà răng và tủy răng [13]

Hình 1.1 Giải phẫu Răng [13]

* Men răng

Men răng là mô cứng nhất trong cơ thể, có nguồn gốc từ ngoại bì, có tỷ

lệ chất vô cơ cao nhất (khoảng 96%) Men răng phủ toàn bộ thân răng dày mỏng tùy vị trí khác nhau, dày nhất ở núm răng là 1,5mm và mỏng nhất ở vùng cổ răng Men răng không có sự bồi đắp thêm mà chỉ mòn dần theo tuổi, nhưng có sự trao đổi về vật lý và hóa học với môi trường trong miệng

Về mặt hóa học, chất vô cơ chiếm 96%, chủ yếu là 3 [Ca3(PO4)2] 2H2O còn lại là các muối cacbonat của magiê, và một lượng nhỏ clorua, fluorua và muối sunfat của natri và kali Thành phần hữu cơ chiếm khoảng 1% trong đó chủ yếu là protit

Trang 6

Về mặt lý học, men răng cứng, giòn, trong và cản tia X, với tỷ trọng từ 2,3-3 so với ngà răng

Cấu trúc học của men răng: quan sát qua kính hiển vi thấy hai loại đường vân:

- Đường retzius: trên tiêu bản cắt ngang là các đường chạy song song nhau và song song với đường viền ngoài của lớp men cũng như với đường ranh giới men ngà ở phía trong Trên tiêu bản cắt dọc thân răng, đường retzius hợp với đường ranh giới men ngà cũng như với mặt ngoài của men thành một góc nhọn

- Đường trụ men: chạy suốt chiều dày men răng và hướng thẳng góc với đường ngoài trong của men răng, đôi khi có sự gấp khúc và thay đổi hướng đi của trụ men Trụ men có đường kính từ 3-6m, khi cắt ngang qua trụ men ta thấy tiết diện có các loại hình thể: Vẩy cá 57%, lăng trụ 30%, không rõ ràng 10%, hướng đi của trụ men tạo ra các dải sáng tối xen kẽ chính là dải Hunter-schrenge

* Ngà răng

Có nguồn gốc từ trung bì, kém cứng hơn men, chứa tỷ lệ chất vô cơ thấp hơn men (75%), chủ yếu là 3 [Ca3(PO4)2] 2H2O Trong ngà răng có nhiều ống ngà, chứa đuôi bào tương của nguyên bào ngà, bề dày ngà răng thay đổi trong đời sống do hoạt động của nguyên bào ngà, ngà răng ngày càng dày theo hướng về phía hốc tủy răng, làm hẹp dần ống tủy

Về tổ chức học: ngà răng được chia làm hai loại:

- Ngà tiên phát chiếm khối lượng chủ yếu và được tạo nên trong quá trình hình thành răng, nó bao gồm: ống ngà, chất giữa ống ngà, dây tôm

Trang 7

- Ngà thứ phát được sinh ra khi răng đã hình thành rồi, nó gồm ngà thứ phát sinh lý, ngà phản ứng và ngà trong suốt

Ống ngà: có số lượng từ 15-50000/1 mm2, đường kính ống từ 3-5 m, ống ngà chính chạy suốt chiều dày của ngà và tận cùng bằng đầu chốt ở ranh giới men ngà, ống ngà phụ là ống nhỏ hoặc nhánh bên, nhánh tận cùng của ống ngà chính

Chất giữa ống ngà có cấu trúc sợi được ngấm vôi, sắp xếp thẳng góc với ống ngà

Dây tôm: nằm trong ống ngà là đuôi nguyên sinh chất của tế bào tạo ngà

* Tủy răng

Là mô liên kết mềm, nằm trong hốc tủy gồm tủy chân và tủy thân Tủy răng trong buồng tủy gọi là tủy thân, tủy buồng, tủy răng trong ống tủy gọi là tủy chân, các nguyên bào ngà nằm sát vách hốc tủy

Tủy răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng, cụ thể là sự sống của nguyên bào ngà và tạo ngà thứ cấp, nhận cảm giác của răng Trong tủy răng

có chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng của thần kinh

Về tổ chức học, tủy răng gồm hai vùng: vùng cạnh tủy gồm các lớp tế bào tạo ngà (2-3 lớp) và lớp không có tế bào gồm những tổ chức sợi tạo keo Vùng giữa tủy là tổ chức liên kết có nhiều tế bào, ít tổ chức sợi

* Xương răng

Là tổ chức canxi hoá bao phủ vùng ngà chân răng bắt đầu từ cổ răng, cấu trúc xương răng được chia làm hai loại

Trang 8

- Xương răng tiên phát: ở lớp ngà vùng cổ răng và là loại xương răng không có tế bào

- Xương răng thứ phát: có tế bào tạo xương răng bao phủ vùng ngà 2/3 dưới chân răng và cuống răng Độ dày của xương thay đổi theo vị trí và tuổi, mỏng ở vùng cổ răng và dày hơn ở vùng cuống răng

Hình 1.2 Lát cắt ngang răng người

1.2 Quá trình mọc răng

Quá trình mọc răng ở trẻ có 3 thời kỳ [14]

- Thời kỳ 1: mọc răng sữa, bắt đầu từ 6 tháng đến 2,5 tuổi

- Thời kỳ 2: mọc răng vĩnh viễn, bắt đầu từ 6 đến 12 tuổi

- Thời kỳ 3: mọc răng khôn từ 16 – 25 tuổi

Trang 9

1.3 Chức năng của răng

Chức năng chính của răng là ăn nhai Quá trình nhai là một quá trình phức tạp, trong quá trình đó, các răng khác nhau có tác dụng khác nhau Răng cửa dùng để cắt thức ăn, răng nanh có chức năng chủ yếu là xé thức ăn, răng hàm có tác dụng nghiền nát thức ăn [13]

Chức năng phát âm: răng có liên quan mật thiết đến ngôn ngữ và phát

âm Răng nằm giữa môi và lưỡi, khi phát âm chúng phối hợp với nhau, không thể thiếu bộ phận nào Khi phát các âm môi răng và âm lưỡi răng, càng cần có

sự tham gia của răng Các răng phía trước có ảnh hưởng rất lớn đối với ngôn ngữ và phát âm, khi bị mất răng cửa do không thể khống chế tốt các luồng hơi phát ra, khi nói sẽ thoát hơi, nếu hoạt động của lưỡi mất đi sự hạn chế của răng trước cũng ảnh hưởng đến độ chính xác của việc phát âm Hơn nữa, răng còn có ảnh huởng quan trọng ngoại hình của mỗi người

1.4 Bệnh sâu răng

1.4.1 Nguyên nhân và những hiểu biết về sâu răng

Sâu răng là một quá trình bệnh lý xuất hiện sau khi răng đã mọc, đặc trưng bởi sự khử khoáng làm tiêu dần các chất vô cơ, hữu cơ ở men răng, ngà răng tạo thành lỗ sâu

Trước năm 1970, người ta cho rằng bệnh căn của sâu răng là do nhiều nguyên nhân với sự tác động của 3 yếu tố [15] Vi khuẩn trong miệng (chủ yếu là streptococcus mutans) lên men các chất bột và đường còn dính lại răng tạo thành acid, acid này đã phá hủy tổ chức cứng của răng tạo thành lỗ sâu Sự phối hợp của các yếu tố này để gây sâu răng được thể hiện bằng sơ đồ keyes:

Trang 10

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ Keys [15]

Với sơ đồ keys, người ta chú ý nhiều đến chất đường và vi khuẩn streptococcus mutans do đó, việc dự phòng cũng chú ý quan tâm đến chế độ

ăn hạn chế đường và VSRM Khi áp dụng vào thực tế phòng bệnh sâu răng

thấy kết quả đạt được không cao, tỷ lệ sâu răng giảm xuống không đáng kể

Sau năm 1975 người ta đã làm sáng tỏ hơn căn nguyên gây bệnh sâu răng và đưa ra sơ đồ white thay thế một vòng tròn trong sơ đồ keys

- Chất đường được thay thế bằng chất nền

- Nhấn mạnh vai trò của nước bọt và PH của dòng chảy môi trường xung quanh răng

- Người ta cũng làm sáng tỏ tác dụng của fluor nó làm cho tổ chức của răng cứng chắc hơn chống được sự phân huỷ của acid tạo thành tổn thương sâu răng [9]

Răng

Đường

SR

Trang 11

Sơ đồ 1.2 Sơ đồ white [16]

Ta có thể tóm lược cơ chế sinh bệnh học của sâu răng được thể hiện bằng hai quá trình tái khoáng và huỷ khoáng Mỗi quá trình đều có một số yếu

tố thúc đẩy, nếu quá trình huỷ khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ dẫn đến sâu răng

SR

Trang 12

Sâu răng = Hủy khoáng > Tái khoáng

+ Acid từ dạ dày tràn lên miệng +PH< 5

Sơ đồ 1.3 Sơ đồ tóm tắt cơ chế sâu răng [17]

Trang 13

* Tình hình sâu răng trên thế giới

Sau năm 1975 căn nguyên bệnh sâu răng được làm sáng tỏ hơn Người

ta cũng thấy rõ hơn tác dụng của fluor khi gặp Apatit thường của răng kết hợp thành fluorid apatit rắn chắc chống được sự phân hủy tạo thương tổn sâu răng Do đó ở những nước phát triển Nhà nước coi chương trình fluor hóa nước uống, thuốc chải răng và giáo dục nha khoa là quốc sách nên bệnh sâu răng giảm mạnh Ngược lại những nước kém phát triển không được fluor hóa nước uống, thiếu sự giáo dục nha khoa, chế độ ăn đường không đúng nên sâu răng tăng

Trang 14

Ở các nước phát triển: từ những năm 1940 đến 1960, tình hình sâu răng rất nghiêm trọng, trung bình mỗi trẻ em 12 tuổi có từ 8-10 răng sâu hoặc răng đã bị mất do sâu Tới năm 1993, chỉ số SMT tuổi 12 ở hầu hết các nước công nghiệp hóa đã giảm xuống mức thấp từ 1,2 - 2,6 Nhìn chung từ cuối những năm 1970 tới nay, tình hình sâu răng tại các nước phát triển có xu hướng giảm dần, chỉ số SMT tuổi 12 tại hầu hết các nước ở mức thấp và rất thấp Điều này có được là do các nước phát triển đã áp dụng triệt để các biện pháp phòng bệnh Nghiên cứu của Pieper tại Đức cho thấy, chỉ số SMT giảm từ 2,44 (năm 1994-1995) xuống còn 1,81 vào năm 1997

và 1,24 (2000) [18] Đến năm 2006 nghiên cứu của Shulter chỉ ra sâu răng

ở Đức tiếp tục giảm, chỉ số SMT giảm xuống ở mức 0,98 [19]

Ở các nước đang phát triển: thời điểm những năm của thập kỷ 1960, tình hình sâu răng ở mức thấp hơn nhiều so với các nước phát triển Chỉ số SMT tuổi 12 ở thời kỳ này nói chung từ 1,0-3,0, thậm chí một số nước dưới mức 1,0 như Thái Lan, Uganda Tới thập kỷ 1970 và 1980 thì chỉ số này lại tăng lên và ở mức từ 3,0 đến 5,0 và một số nước còn cao hơn như Chilê là 6,3 Đến những năm gần đây sâu răng đã giảm nhưng nhìn chung, tình trạng sâu răng vẫn còn ở mức cao

Nghiên cứu của Emerich tại Ba Lan cho thấy chỉ số SMT của trẻ 11 tuổi

đã giảm từ mức 4,87 năm 1987 xuống còn 3,2 vào năm 2003 [20]

Theo tác giả Ayo -Yusuf tỷ lệ sâu răng của trẻ 12 tuổi tại Nam Phi đến năm 2002 là 40,1%, chỉ số SMT ở mức 1,19 [21]

Trang 15

Bảng 1.2 Chỉ số SMT trẻ 12 tuổi của một số nước phát triển [22]

Bảng 1.3 Chỉ số SMT trẻ 12 tuổi ở một số nước đang phát triển [22]

Trang 16

Bảng 1.4 Chỉ số SMT trẻ 12 tuổi của một số nước trong khu vực [22]

* Tình hình bệnh sâu răng ở Việt Nam

So với kết quả điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn quốc năm 1991, kết quả điều tra răng miệng toàn quốc năm 2001 cho thấy, tình hình sâu răng ở Việt Nam có xu hướng tăng lên và không đồng đều giữa các vùng miền trong

cả nước

Kết quả điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn quốc lần thứ nhất cho thấy

tỷ lệ sâu răng lứa tuổi 12 như sau [23]:

Miền bắc tỷ lệ sâu răng là 43,33%, chỉ số SMT là 1,15

Miền nam tỷ lệ sâu răng là 76,33%, chỉ số SMT là 2,93

Toàn quốc tỷ lệ sâu răng là 57,33%, chỉ số SMT là 1,82

Năm 2001, kết quả điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn quốc lần thứ hai cho thấy [24]

Trang 17

Bảng 1.5 Tình trạng sâu răng trẻ em toàn quốc năm 2001

Tuổi

% sâu răng Chỉ số smt % sâu răng Chỉ số SMT

Tỷ lệ sâu răng sữa là 61,5%, chỉ số smt là 0,17

Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 14,5%

* Trẻ 12 tuổi:

Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 62%

Nghiên cứu của Đào Thị Ngọc Lan trên 1176 học sinh tại Yên Bái năm

2003 cho kết quả như sau [26]:

* Trẻ 6 tuổi:

Tỷ lệ sâu răng sữa là 64,95% - chỉ số smt là 3,58

Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 13,97% - chỉ số SMT là 0,23

* Trẻ 11 tuổi:

Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 51,82% - chỉ số SMT là 1,50

Năm 2004 Lê Ngọc Tuyến, Nguyễn Quốc Trung, Trần Thị Lan Anh đã thông báo kết quả điều tra răng miệng của học sinh tiểu học tại Hà Nội, có 80,95% các em sâu răng sữa, 30,95% em sâu răng vĩnh viễn [27]

Trang 18

Năm 2004 Nguyễn Lê Thanh công bố kết quả khảo sát bệnh răng miệng của học sinh tiểu học từ 7-11 tuổi tại thị xã Bắc Cạn, có 62,6% em sâu răng [28] Theo nghiên cứu của Nguyễn Đăng Nhỡn năm 2004 tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang, qua nghiên cứu 128 học sinh 6 tuổi cho thấy tỷ lệ sâu răng sữa là 76,56%, sâu răng vĩnh viễn là 14,84%, chỉ số SMT là 0,22 Cũng trong nghiên cứu này ở lứa tuổi 12 tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 64,06%, chỉ số SMT

là 1,67 [29]

Năm 2007 theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thành tại thị xã Hưng Yên thì tỷ lệ sâu răng sữa của học sinh 6 tuổi là 87,74%, chỉ số smt là 3,72, tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 10,43%, chỉ số SMT là 0,12 [30]

Nghiên cứu của tác giả Lê Huy Nguyên tại Hoài Đức, Hà Tây năm 2007

tỷ lệ sâu răng của học sinh khối lớp 5 là 58,48%, chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn là 1,3 [31]

Qua các số liệu trên cho thấy tình trạng sâu răng còn rất phổ biến và chưa có dấu hiệu suy giảm, tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn tăng nhanh theo tuổi

1.4.3 Các yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng

 Các yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng

- Nhóm yếu tố nguy cơ về tập quán ăn uống

- Nhóm yếu tố nguy cơ về chăm sóc, vệ sinh răng miệng

- Nhóm yếu tố nguy cơ về các đặc trưng cá nhân của trẻ, của cha mẹ trẻ Các tác giả thường mô tả các yếu tố nguy cơ, không phân tích sâu về các mối liên quan giữa chúng và bệnh sâu răng ở trẻ em [32]

Trang 19

1.4.3.1 Nhóm yếu tố nguy cơ về tập quán ăn uống

Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu các tập quán ăn uống liên quan đến bệnh sâu răng ở trẻ em như tần suất sử dụng các đồ ăn thức uống có nhiều đường, ăn thêm bữa phụ buổi tối, đồ ăn thức uống nóng lạnh,

đồ ăn cứng, tiền sử bú bình, khẩu phần ăn:

- Al Ghanin đã phân tích đa biến về các mối liên quan giữa chế độ ăn

có nhiều sữa hộp, tần suất sử dụng đồ ăn uống ngọt, trẻ có tiền sử bú bình với các bệnh sâu răng và sâu - mất - trám răng, kết luận rằng những yếu tố này liên quan chặt chẽ với các bệnh sâu răng [33] Một nghiên cứu tại thành phố Kerela, Ấn Độ năm 2005 do David và CS thực hiện cho biết trẻ ăn nhiều đồ ngọt có nguy cơ mắc bệnh sâu răng cao gấp 1,4 lần những trẻ ăn ít đồ ngọt, sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê [34] Okeigbemen nghiên cứu ở Nigeria năm 2004 cho thấy tỷ lệ học sinh có ăn phụ buổi tối là rất cao 87,5% nhưng tỷ

lệ sâu răng ở đây lại thấp Điều này có thể là do những trẻ này sử dụng bàn chải răng cao (95,8%) [35]

- Petersen và CS nghiên cứu ở Thái Lan (2001) công bố tỷ lệ sử dụng đồ uống ngọt hàng ngày rất cao như sữa đường (34%), chè đường (26%), nước ngọt (24%) liên quan đến tỷ lệ sâu răng rất cao 70-96,3% tùy độ tuổi và chỉ số SMT là 8,1 răng/học sinh Đồng thời tác giả cũng nêu lên tập quán sử dụng đồ ngọt nhiều ở những người theo đạo Hồi và đặc biệt là ở nữ học sinh [36]

1.4.3.2 Nhóm yếu tố nguy cơ về chăm sóc vệ sinh răng miệng

Một số tác giả nước ngoài và trong nước đã nghiên cứu về các yếu tố chăm sóc răng miệng như hiểu biết về chăm sóc răng, khám định kỳ răng, thói

quen chải răng, tuổi sử dụng bàn chải, thuốc, vật liệu chải răng:

Trang 20

- Rao và CS cho biết tại Ấn Độ có đến 59,2-62% học sinh có chải răng ít nhất 1 lần/ngày nhưng chỉ có 5,7-13,6% sử dụng thuốc đánh răng; 3,1% dùng tay làm sạch răng và 21,1% dùng tro và than để đánh răng hàng ngày [37]

- Okeigbemen và CS thông báo 81,4% học sinh chưa bao giờ được khám răng tại các cơ sở y tế, 95,8% có sử dụng bàn chải răng [35]

- Petersen và CS cũng thông báo tỷ lệ học sinh chải răng 1 lần/ngày là 88% [36]

- David và CS cho rằng trẻ không sử dụng bàn chải răng thì có nguy cơ sâu răng cao gấp 1,9 lần những trẻ khác [34]

1.4.3.3 Nhóm yếu tố nguy cơ về các đặc trưng cá nhân của trẻ em, của cha

mẹ học sinh

Các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy nam học sinh mắc bệnh sâu răng cao hơn nữ, tuy nhiên cũng có một số tác giả lại không có sự khác biệt về sâu răng giữa nam và nữ [37] Có nghiên cứu nhấn mạnh đến sự khác biệt hay không khác biệt giữa nam và nữ còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như lứa tuổi, địa dư, loại trường công/tư và hành vi chăm sóc sức khỏe răng miệng

- Rao và CS cho rằng học sinh nội thành có tỷ lệ sâu răng cao hơn ở ngoại thành (22,8% so với 15%), học sinh dân tộc ít người có chất lượng răng tốt hơn học sinh không phải là dân tộc ít người [37]

- Okeigbemen và CS cho biết học sinh thành thị có chỉ số SMT cao hơn học sinh nông thôn (0,72 so với 0,53) và học sinh ở trường tư thục có chỉ số SMT cao hơn học sinh ở trường công lập (0,75 so với 0,55) nhưng chỉ số SMT ở nữ lại cao hơn học sinh nam (0,7 so với 0,59) [35]

Trang 21

- David và CS thông báo trẻ sống ở thành phố có nguy cơ sâu răng cao hơn 1,5 lần trẻ ở nông thôn, trẻ em nghèo cũng có nguy cơ sâu răng 1,7 lần so với trẻ em ở các gia đình giàu [34]

- Ciuffolo và CS cho rằng tỷ lệ sâu răng ở nam học sinh cao hơn ở nữ học sinh [38]

1.5 Một số biện pháp dự phòng sâu răng

1.5.1 Dự phòng sâu răng

- Sử dụng Fluor

- Trám bít hỗ rãnh: áp dụng đối với các mặt nhai để ngăn ngừa sâu ở hố răng sau khi răng vĩnh viễn mọc

- Chế độ ăn uống hợp lý: kiểm soát các thức ăn và đồ uống có đường

- Hướng dẫn vệ sinh răng miệng

Từ năm 1979 đến năm 1994, WHO đã nhiều lần đưa ra các mục tiêu và

bổ sung các mục tiêu toàn cầu về dự phòng sâu răng

Bảng 1.6 Mục tiêu toàn cầu dự phòng sâu răng trẻ em cho năm 2000

5-6 90% trẻ em không bị sâu răng

12 Răng sâu mất trám <1

18 100% giữ được toàn bộ răng

Ở Việt Nam, mục tiêu của chương trình nha học đường là đạt được mục tiêu về dự phòng sâu răng của WHO và đảm bảo ít nhất 80% học sinh tiểu học và trung học cơ sở được CSRM ổn định, dài lâu qua chương trình nha học đường

Trang 22

1.6 Chương trình nha học đường

Trong khoảng hai thập niên trở lại đây, các nước phát triển đã thành công trong việc giảm tỷ lệ sâu răng nhờ vào các biện pháp phòng bệnh sâu răng hữu hiệu, đó là việc sử dụng fluor trong cộng đồng, đặc biệt là trong trường học Xây dựng chương trình phòng chống sâu răng hiệu quả bằng chăm sóc răng miệng trẻ em trong nhà trường là giải pháp tốt nhất Đây chính là cách thức mà Việt Nam và các nước đang phát triển đang triển khai thực hiện

Chương trình nha học đường là chương trình chăm sóc răng miệng trẻ

em tại trường học áp dụng chủ yếu cho học sinh tiểu học và THCS, có thể áp dụng cho học sinh mẫu giáo Lứa tuổi ưu tiên từ 6-15 tuổi do ở độ tuổi này răng vĩnh viễn bắt đầu mọc, thời gian học sinh ở trường nhiều Hoạt động của chương trình gồm có 3 nội dung sau [39]:

- Nội dung 1: giáo dục nha khoa: hướng dẫn học sinh phương pháp chải răng và các biện pháp khác làm sạch răng, giữ gìn VSRM Khắc sâu thói quen chải răng hàng ngày và kỹ năng chải răng đúng cho trẻ em

- Nội dung 2: cho học sinh súc miệng nước có fluor 0,2% tại trường học mỗi tuần một lần

- Nội dung 3: dự phòng lâm sàng: bao gồm khám và VSRM răng miệng định kỳ, trám bít hố rãnh, lấy cao răng, điều trị viêm lợi, hàn răng sâu sớm, nhổ răng sữa thay

Trong nhiều năm qua bộ y tế phối hợp với bộ giáo dục và đào tạo đã triển khai chương trình này đạt được hiệu quả đáng kể

Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng trường có thể thực hiện cả 3 nội dung trên hoặc một số nội dung của chương trình Tuy nhiên cần

có sự đánh giá một cách khách quan, khoa học từng nội dung để chương trình được thực hiện một cách có hiệu quả [40], [41], [42]

Trang 23

Chương trình Nha học đường chưa được triển khai với những nội dung

cụ thể và theo một hệ thống tại trường tiểu học Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội Do đó, hiệu quả của chương trình đối với học sinh trường Vĩnh Hưng là chưa cao chính vì vậy đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ học sinh tiểu học gặp các bệnh về răng miệng tương đối nhiều

Đối với ngành y tế, hệ thống cán bộ làm công tác chăm sóc sức khoẻ răng miệng vẫn còn yếu (cán bộ y tế nha học đường không có mà chỉ có y sỹ,

y tá hoặc điều dưỡng đa khoa mà chưa có chứng chỉ về chuyên khoa RHM) Trang thiết bị RHM tại các cơ sở khám chữa bệnh chưa được chú trọng nhiều dành cho chương trình Nha Học Đường Điều đó chứng tỏ cả 3 nội dung của chương trình NHĐ tại các trường đều chưa được triển khai hiệu quả

Nghiên cứu này được triển khai sẽ giúp cho trường tiểu học Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội có những bằng chứng cụ thể hơn, thuyết phục hơn,

để từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp phù hợp nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh răng miệng ở học sinh

Trang 24

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Học sinh đang học tại trường tiểu học Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội

- Tiêu chuẩn lựa chọn: + Học sinh từ 6-11 tuổi (HS có năm sinh từ năm 2003 đến 2008)

+ Tự nguyện tham gia nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ: + Học sinh không nằm trong độ tuổi từ 6-11

+ Không tự nguyện tham gia nghiên cứu

+ Học sinh không học tại trường tiểu học Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ ngày 5 Tháng 05/ 2013 đến tháng 11/ 2014

- Địa điểm nghiên cứu:

 Tại trường tiểu học Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội

 Viện đào tạo Răng Hàm Mặt - Đại Học Y Hà Nội

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu là: nghiên cứu mô tả cắt ngang

Trang 25

2.3.2 Cỡ mẫu

Được tính theo công thức trong nghiên cứu mô tả cắt ngang là:

2 1

1

d

p) p(

Z α

Trong đó:

n: là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu

p: là tỷ lệ học sinh bị sâu răng của quần thể Lấy p = 81,6% [44]

d: là khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ lệ thu được từ mẫu và tỷ lệ của quần thể Chọn d = 0,05

α: là Mức ý nghĩa thống kê; α = 0,05 thì Z1 -α /2 = 1,96 thay vào công thức

ta tính được cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu là n = 230 Trường tiểu học Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội có 5 khối lớp học Chúng tôi chia thành hai nhóm tuổi 6-8 và 9-11 tuổi Như vậy cỡ mẫu tối thiểu cho hai nhóm tuổi trên là 230 x

2 = 460 Nhưng thực tế chúng tôi khám được 720 học sinh

2.3.3 Cách chọn mẫu

Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng

- Chọn địa điểm: trường tiểu học Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội

- Chọn lớp: trong trường chọn ngẫu nhiên trong 5 khối học mỗi khối 5 lớp

- Chọn học sinh: mỗi lớp chọn ngẫu nhiên 24 học sinh

2.3.4 Kỹ thuật thu thập thông tin

- Phỏng vấn: tiến hành hỏi, ghi đầy đủ theo bộ câu hỏi đó được chuẩn bị

sẵn về các đặc trưng cá nhân, vệ sinh răng miệng của học sinh và phiếu thu thập thông tin (phụ lục kèm theo)

Trang 26

- Thu thập thông tin bằng bộ câu hỏi có sẵn để phỏng vấn trực tiếp các

học sinh tuổi từ 6 đến 11 của trường Các nội dung chính của bảng hỏi:

+ Thông tin chung

+ Hiểu biết về bệnh răng miệng của học sinh

+ Thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh

+ Ai hướng dẫn học sinh kiến thức, thực hành chăm sóc răng miệng + Thực hành PCSR cho con của cha, mẹ HS

- Khám lâm sàng:

+ Dụng cụ:

Bộ khay khám răng: khay quả đậu, gương, thám châm, gắp

Dụng cụ khử khuẩn: Cồn, bong, dung dịch khử trùng dụng cụ…

Đèn pin, bong xì khô, giấy lau…

Phiếu khám răng miệng học sinh (phụ lục kèm theo)

+ Biện pháp vô khuẩn:

Trang phục bảo vệ: Áo Bluse, mũ, khẩu trang, găng khám vô khuẩn Từng loại dụng cụ được tiệt trùng và bảo quản trong hộp kim loại

Trang 27

Khử khuẩn dụng cụ đó sử dụng: ngâm dụng cụ vào dung dịch Hydroperoxyde 6% trong 30 phút

+ Người khám: các Bác sĩ chuyên khoa Răng Hàm Mặt gồm có 4 Bác sĩ của

cao học khóa 21: bác sĩ Trương Văn Bang, bác sĩ Vũ Văn Tuồng, bác sĩ Nguyễn Thanh Bình và bác sĩ Phạm Hùng Sơn được tập huấn, định chuẩn, thống nhất cách khám và phương pháp đánh giá

+ Các chỉ số dùng trong điều tra dịch tễ học bệnh răng miệng

Để đánh giá tình hình sức khoẻ răng miệng, trong điều tra dịch tễ học sử dụng nhiều chỉ số khác nhau nhưng trong phạm vi đề tài này chúng tôi sử dụng một số chỉ số sau [16]

- Chỉ số smt: chỉ số sâu mất trám răng sữa

- Chỉ số SMT: chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn

2.3.5 Chỉ số sâu - mất - trám răng sữa (smt)

Trang 28

- Chỉ số smt của cá thể là tổng số răng sữa bị sâu, bị mất và được trám trên mỗi người được khám

- Chỉ số smt của quần thể là tổng số răng sữa (sâu + mất + trám) của quần thể trên số người được khám

- sr: chỉ số răng sâu không được điều trị trong cộng đồng

- mr + tr: chỉ số răng sâu được điều trị trong cộng đồng

- Khám theo mẫu phiếu điều tra của Bộ y tế dùng cho dự án “Mô hình bệnh tật trẻ em học đường Việt Nam”, ghi đầy đủ các mục cần điều tra Mã số trong phiếu khám được quy ước theo WHO [46]

Bảng 2.1 Quy ước của WHO về ghi mã số smt

+ Chỉ số SMT dùng cho răng vĩnh viễn

- Ý nghĩa như smt nhưng dùng cho răng vĩnh viễn

Trang 29

Bảng 2.2 Quy ước của WHO về ghi mã số SMT [46]

Thay bàn chải cho trẻ

Thời điểm chải răng

Thời gian chải răng

Trang 30

2.3.6.2 Biến số phụ thuộc

Theo chỉ số smt các biến số

+ Tỷ lệ sâu răng chung theo tuổi, giới

+ Tỷ lệ sâu răng sữa theo tuổi giới

+ Tỷ lệ sâu từng răng sữa theo tuổi giới

+ Số răng sữa bị sâu theo nhóm tuổi

+ Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn theo tuổi, theo giới

+ Tỉ lê sâu răng vĩnh viễn răng hàm lớn thứ nhất

+ Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn răng hàm lớn thứ nhất theo nhóm tuổi, theo giới + Số răng vĩnh viễn bị sâu theo nhóm tuổi

2.3.6.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán sâu răng theo WHO(1997)

 Răng có chấm đen, có lỗ mắc thám trâm khi thăm khám ở bất kỳ vị trí nào trên răng

 Răng mất không còn trên cung hàm

 Răng đã hàn nhưng sâu tái phát

 Trên các mặt tiếp giáp phải chắc chắn thám châm đã lọt vào lỗ sâu

 Khi cần nghi ngờ thì không ghi sâu răng

2.3.6.4 Chẩn đoán phân biệt sâu răng với

+ Răng sữa cần chẩn đoán phân biệt sâu răng với sún răng: thường gặp ở các răng cửa và răng nanh hàm trên Sún thường gặp ở 2 cạnh bên răng cửa và kèm theo đổi màu răng, trẻ không đau

+ Ở răng vĩnh viễn cần phân biệt với: thiểu sản, lõm hình chêm, men răng đổi màu do nhiễm fluor, mòn mặt nhai…

Trang 31

+ Thiểu sản thường là những vệt mất men dài tạo thành dải, ngấn bậc thang và thường đi kèm với nhiễm tetracylin

+ Lõm hình chêm: vết lõm thường gặp ở vùng cổ răng, nhẵn bóng và không lắng cặn thức ăn, vết lõm hình tam giác đỉnh quay vào trong

+ Men răng đổi màu do nhiễm fluor: thường gặp ở một nhóm răng, tạo thành những dải đổi màu, bề mặt men lồi lõm

+ Mòn mặt nhai: thường gặp ở răng hàm, bề mặt nhẵn bóng, đáy cứng không lắng đọng thức ăn

Chỉ số Sâu - Mất - Trám răng là tổng số răng: sâu + mất + trám trên mỗi học sinh được khám

2.3.7 Xử lý số liệu

- Số liệu được làm sạch trước khi đưa vào phân tích

- Xử lý, phân tích số liệu trên phần mềm SPSS 16.0

- Dùng các test thống kê: χ2 để so sánh mối liên quan

- Sử dụng mô hình phân tích đơn biến và đa biến để tìm hiểu mối liên quan giữa yếu tố nguy cơ với sâu răng sữa và răng vĩnh viễn

2.3.8 Khó khăn hạn chế, sai số của đề tài và cách khắc phục

Trang 32

- Mẫu nghiên cứu được chọn trên đối tượng học sinh tuổi từ 6 đến 11

là lứa tuổi chưa có sự hiểu biết nhiều sinh lý, sinh học nói chung cũng như bệnh sâu răng nói riêng

- Đây là nghiên cứu cắt ngang và không có điều kiện can thiệp nên có những hạn chế của nghiên cứu cắt ngang: đó là không thể kết luận được các yếu tố liên quan là căn nguyên hay không

 Sai số và cách khắc phục sai số hệ thống:

- Tập huấn và giám sát tốt người phỏng vấn

- Thiết kế bộ câu hỏi phỏng vấn có nội dung đơn giản, dễ hiểu, dễ trả lời, phù hợp với lứa tuổi HS

- Tiến hành điều tra thử để chỉnh sửa bộ câu hỏi cho phù hợp

- Phổ biến, giải thích rõ mục đích, tầm quan trọng của cuộc điều tra với cha, mẹ học sinh và HS

- Tăng cỡ mẫu để dự phòng cho các cuộc phỏng vấn thất bại

- Các bác sỹ khám răng cho các em là bác sỹ chuyên khoa răng hàm mặt

2.3.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Tuân thủ theo quy định của hội đồng đạo đức trường Đại học Y Hà Nội

- Tất cả các đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành với sự tự nguyện hoàn toàn của các đối tượng

- Đối tượng nghiên cứu không muốn tham gia có thể từ chối

- Nghiên cứu không ảnh hưởng đến sức khoẻ, kinh tế, uy tín của đối tượng tham gia nghiên cứu

Trang 33

- Thông tin thu được đều được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu Tất cả các thông tin chỉ có người nghiên cứu mới được phép tiếp cận

- Những học sinh tham gia nghiên cứu sẽ được tư vấn về những kiến thức liên quan đến bệnh sâu răng Kết quả khám lâm sàng và hướng điều trị sẽ được thông báo đến cha mẹ học sinh thông qua phiếu khám răng cho HS

- Nghiên cứu được sự chấp thuận của Trường tiểu học Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố học sinh được khám theo tuổi và giới

Trong tổng số 720 học sinh tham gia nghiên cứu, nhóm học sinh 6-8 tuổi

chiếm số lượng ít hơn nhóm 9-11 tuổi

Tỷ lệ học sinh nam nhóm 9-11 tuổi cao hơn nhóm 6-8 tuổi

Tỷ lệ học sinh nữ nhóm 9-11 tuổi cũng cao hơn nhóm 6-8 tuổi

Sự khác biệt tỷ lệ nam và nữ không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Trang 35

3.2 Thực trạng tỉ lệ bệnh sâu răng

3.2.1 Tỷ lệ bệnh sâu răng chung

Bảng 3.2 Tỷ lệ sâu răng chung theo tuổi

Tỷ lệ sâu răng chung của các nhóm tuổi chiếm tới 70%

Tỷ lệ có sâu răng ở nhóm 6-8 tuổi cao gấp 2,8 lần so với tỉ lệ không có sâu răng

Tỷ lệ sâu răng ở nhóm 6-8 tuổi cao hơn 1,2 lần so với nhóm 9-11 tuổi

Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05

Trang 36

Bảng 3.3 Tỷ lệ sâu răng chung theo giới

Tỷ lệ sâu răng chung cho cả hai giới là 70%

Tỷ lệ sâu răng của nam (70,5%) không có sự khác biệt so với nữ (69,4%)

Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

3.2.2 Đặc điểm sâu răng sữa nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 3.4 Tỷ lệ sâu răng sữa theo tuổi

Tỷ lệ sâu răng sữa ở cả hai nhóm là 65,1%

Tỉ lệ sâu răng sữa ở nhóm 6-8 tuổi là cao (73,9%) hơn so với nhóm 9-11 tuổi (56,4%)

Sự khác biệt tỉ lệ sâu răng sữa giữa các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Trang 37

Bảng 3.5 Tỷ lệ sâu răng sữa theo giới

Tỷ lệ sâu răng sữa chung cho cả hai giới là 65,1%

Tỉ lệ học sinh nam có sâu răng sữa cao gần gấp 2 lần so với học sinh không có sâu răng sữa (243/130)

Tỉ lệ học sinh có sâu răng sữa của nam lớn hơn nữ Sự khác biệt về tỉ lệ

sâu răng sữa giữa hai giới không có ý nghĩa thống kê với p > 005

Bảng 3.6 Tỷ lệ sâu từng răng sữa theo giới

Giới

Răng sữa

Nam (SL = 373)

Nữ (SL = 288)

Chung (SL = 661)

Trang 38

Nhận xét:

- Tỉ lệ sâu răng số V sữa trong 373 học sinh nam có răng sữa sâu chiếm 51,9%, tỉ lệ sâu răng V sữa trong 288 học sinh nữ có răng sữa sâu chiếm 53,8% Sự khác biệt về tỉ lệ sâu răng V sữa giữa nam và nữ không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Như vậy tỉ lệ sâu răng V sữa ở cả nam và nữ chiếm hơn một nửa trong số những học sinh có răng sữa sâu

- Tỉ lệ sâu răng số IV sữa trong 373 học sinh nam có răng sữa sâu chiếm 46,6%, tỉ lệ sâu răng IV sữa trong 288 học sinh nữ có răng sữa sâu chiếm 42,7% Sự khác biệt về tỉ lệ sâu răng IV sữa giữa nam và nữ không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Như vậy tỉ lệ sâu răng IV sữa ở cả nam và nữ chiếm gần một nửa trong số những học sinh có sâu răng sữa sâu

- Tỉ lệ sâu răng III; II; I sữa trong 373 học sinh nam có răng sữa sâu lần lượt là 12,3%; 3,5%; 5,1%, tỉ lệ sâu răng III; II; I sữa trong 288 học sinh nữ

có răng sữa sâu lần lượt là 8,7%; 3,5%; 3,5% Sự khác biệt về tỉ lệ sâu răng

III, II, I sữa giữa nam và nữ không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Bảng 3.7 Tỷ lệ sâu từng răng sữa theo tuổi

Trang 39

Bảng 3.8 Số răng sữa bị sâu theo nhóm tuổi

Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01

Bảng 3.9 Phân tích chỉ số smt theo tuổi

(mr + tr) /smt (%)

Trang 40

- Chỉ số sr trung bình ở tất cả các nhóm tuổi là 1,86 Nhóm 6-8 tuổi cao hơn 1,8 lần so với nhóm 9-11 tuổi Sự khác biệt ở các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

- Chỉ số mr chung 0,48 Trong đó nhóm 6-8 tuổi là 0,78 Nhóm 9-11 tuổi (0,28) Sự khác biệt ở các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

- Chỉ số tr chung của tất cả các nhóm tuổi là 0,56

- Tỷ lệ răng sữa sâu không được điều trị của các nhóm tuổi là 64,1%,

- Tỷ lệ răng sữa sâu được điều trị là 35,9%

Bảng 3.10 Phân tích chỉ số smt theo giới

(mr+tr) /smt(%)

- Tỷ lệ smt trung bình cho cả hai giới là 2,9

- Tỷ lệ răng sữa sâu không được điều trị của nam (65,9%) cao hơn so với nữ (61,4%) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ số smt

giữa nam và nữ

Ngày đăng: 07/03/2018, 13:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w