1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại xã nam hải, huyện tiền hải tỉnh thái bình năm 2015

82 376 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC CHỮ VIẾT TẮT ĂBS : Ăn bổ sung BMI : Body Mass Index Chỉ số khối cơ thể CC/T : Chiều cao/tuổi CN/CC : Cân nặng/chiều cao CN/T : Cân nặng/tuổi FAO : Food and Agriculture Organiza

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHẠM THANH TÚ

Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan

tại xã Nam Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình năm 2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA

KHÓA 2009-2013

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Thanh Hương

HÀ NỘI- 2015 LỜI CẢM ƠN

Trang 2

Em xin trân trọng cảm ơn:

- Ban giám hiệu và phòng đào tạo đại học-Trường Đại học Y Hà Nôi

- Thầy cô giáo viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng

Đã tạo mọi điều kiện để em hoàn thành quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- PGS.TS Trần Thị Thanh Hương, người cô đã hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này

Cuối cùng, em xin gửi cảm ơn chân thành nhất tới bố mẹ, gia đình, bạn

bè đã động viên trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này

Hà Nội, ngày 02 tháng 12 năm 2015

Phạm Thanh Tú

Trang 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc -*** -

LỜI CAM ĐOAN Kính gửi:

- Phòng đào tạo đại học trường Đại học Y Hà Nội

- Phòng đào tạo đại học Viên đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng

- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp

Tên em là: Phạm Thanh Tú-Sinh viên lớp Y4N-trường Đại học Y Hà Nội

Em xin cam đoan các số liệu trong khóa luận này là có thực, kết quả trung thực, chính xác và chưa từng được công bố ở bất kỳ một công trình nào

Hà Nội, ngày 02 tháng 12 năm 2015

Học viên

Phạm Thanh Tú

Trang 4

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĂBS : Ăn bổ sung

BMI : Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)

CC/T : Chiều cao/tuổi

CN/CC : Cân nặng/chiều cao

CN/T : Cân nặng/tuổi

FAO : Food and Agriculture Organization

(Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới)

H/A : Hight for age (Chiều cao theo tuổi)

NC : Nghiên cứu

NCHS : National center for health sutatistics

(Quần thể tham khảo NCHS)

NKHHCT : Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

SDD : Suy dinh dưỡng

TTDD : Tình trạng dinh dưỡng

UNICEF : United Nations Children’s Fund

(Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc)

VDD : Viện dinh dưỡng

WHO : World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Tình trạng SDD của trẻ em hiện nay 3

1.1.1 Một số khái niệm về dinh dưỡng 3

1.1.2 Tình hình SDD trên thế giới 4

1.1.3 Tình hình SDD ở Việt Nam 7

1.2 Nguyên nhân và hậu quả SDD 9

1.2.1 Nguyên nhân SDD 9

1.2.2 Hậu quả của SDD 11

1.3 Đánh giá TTDD theo chỉ tiêu nhân trắc 12

1.3.1 Các số đo nhân trắc 12

1.3.2 Các cách phân loại TTDD 12

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD trẻ em 15

1.4.1 Chăm sóc bà mẹ khi có thai 15

1.4.2 Thực hành nuôi dưỡng trẻ 15

1.4.3 Kiến thức nuôi dưỡng trẻ 16

1.4.4 Một số yếu tố khác 16

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18

2.1.1 Địa điểm 18

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 18

2.2 Đối tượng nghiên cứu 18

2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 18

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 18

2.3 Phương pháp nghiên cứu 18

Trang 6

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 18

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu: 18

2.3.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu 19

2.3.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 20

2.4 Xử lý và phân tích số liệu 20

2.5 Sai số và biện pháp khống chế sai số 21

2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 22

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 23

3.2 Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại xã Nam Hải, huyện Tiền Hải 27

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại xã Nam Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình năm 2015 29

3.3.1 Kiến thức dinh dưỡng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Nam Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 29

3.3.2 Thực hành nuôi trẻ dưới 5 tuổi tại xã Nam Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình năm 2015 32

3.4 Mối liên quan giữa thức, thực hành nuôi trẻ của các bà mẹ có con đến tình trạng SDD của trẻ dưới 5 tuổi 37

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 40

4.1 Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi 40

4.1.1 Tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số cân nặng theo tuổi 41

4.1.2 Tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số chiều cao theo tuổi 43

4.1.3 Tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số cân nặng theo chiều cao 44

4.2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại xã Nam Hải-huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 46

Trang 7

4.2.1 Thực trạng kiến thức, thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho bà mẹ

và trẻ dưới 5 tuổi tại xã Nam Hải 464.2.2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5

tuổi tại xã Nam Hải, huyên Tiền Hải, tỉnh Thái Bình năm 2015 474.3 Hạn chế nghiên cứu 48

KẾT LUẬN 49 KHUYẾN NGHỊ 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tỷ lệ SDD của trẻ em dưới 5 tuổi ở một số nước trong khu vực

năm 2005 6

Bảng 1.2 Tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi ở Việt Nam theo các mức độ, theo 6 vùng sinh thái năm 2012 8

Bảng 1.3 Phân loại TTDD theo Gomez 12

Bảng 1.4 Phân loại TTDD theo Wellcome 13

Bảng 1.5 Phân loại TTDD theo Waterlow 13

Bảng 1.6 Phân loại mức độ SDD trẻ em 14

Bảng 3.1 Đặc điểm các bà mẹ nghiên cứu 23

Bảng 3.2 Đặc điểm về gia đình của các trẻ nghiên cứu 24

Bảng 3.3 Đặc điểm của nhóm trẻ nghiên cứu 25

Bảng 3.4 Cân nặng trung bình theo tuổi và giới trẻ dưới 5 tuổi xã Nam Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình năm 2015 26

Bảng 3.5 Chiều cao trung bình theo tuổi và giới trẻ dưới 5 tuổi 26

Bảng 3.6 Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại xã Nam Hải, huyện Tiền Hải 27

Bảng 3.7 Thời gian cho trẻ bú lần đầu sau sinh 29

Bảng 3.8 Thời gian cho trẻ bú hoàn toàn bằng sữa mẹ 30

Bảng 3.9 Thời điểm bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung 30

Bảng 3.10 Kiến thức chăm sóc sức khỏe của bà mẹ mang thai 31

Bảng 3.11 Thời gian trẻ bắt đầu bú sữa mẹ sau khi sinh 32

Bảng 3.12 Thực hành vắt bỏ sữa non trước khi cho con bú lần đầu 32

Bảng 3.13 Tình hình cai sữa của trẻ và thực hành cai sữa trẻ 33

Bảng 3.14 Thực hành chăm sóc thai nghén của bà mẹ 34

Bảng 3.15 Tình trạng mắc bệnh của trẻ trong 2 tuần trước nghiên cứu 35

Trang 9

Bảng 3.16 Chăm sóc trẻ bị bệnh trong 2 tuần trước nghiên cứu 35Bảng 3.17 Tình hình theo dõi cân nặng, bổ sung vitamin và khoáng chất cho

trẻ trong 6 tháng qua 36Bảng 3.18 Liên quan giữa thời gian bắt đầu cho trẻ bú sữa mẹ sau khi sinh

và tình trạng SDD của trẻ 37Bảng 3.19 Liên quan giữa thời điểm cai sữa trẻ và tình trạng SDD của trẻ 38Bảng 3.20 Liên quan giữa cân nặng sơ sinh và tình trạng SDD của trẻ 38Bảng 3.21 Liên quan giữa trình độ học vấn của bà mẹ và TTDD trẻ 39

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi thể nhẹ cân và thấp còi qua

các năm 1999 - 2012 7Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ hộ nghèo của xã Nam Hải nghiên cứu năm 2015 24Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ SDD theo nhóm tuổi của trẻ dưới 5 tuổi xã Nam Hải-

huyện Tiền Hải-tỉnh Thái Bình 28Biểu đồ 3.3 Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi theo giới 29Biểu đồ 3.4 Các nguồn cung cấp thông tin hướng dẫn về cách nuôi con cho

các bà mẹ 31Biểu đồ 3.5 Thực hành cho trẻ ăn bổ sung 33Biểu đồ 3.6 Tần suất tiêu thụ thực phẩm ngày hôm trước của trẻ 34

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng thiếu protein - năng lượng và các

vi chất dinh dưỡng, thường gặp nhiều nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi, hậu quả dẫn đến không những trẻ suy giảm về khả năng nhận thức, sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển kinh tế xã hội, trường hợp nặng có thể dẫn đến tử vong

Dinh dưỡng những năm tháng đầu đời của trẻ có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển của trẻ sau này, nó còn ảnh hưởng đến bệnh tật của trẻ Do đó tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi hiện nay được coi là một trong những chỉ tiêu quan trọng bậc nhất phản ánh về mặt chất lượng cuộc sống xã hội, nhằm đánh giá tiềm năng của các nước nghèo cũng như các quốc gia đang phát triển

SDD ở trẻ em là vấn đề sức khỏe cộng đồng luôn được các quốc gia quan tâm Mặc dù trong những năm qua tỷ lệ SDD trẻ em nước ta đã giảm đi

ở mức nhanh do có một số chương trình can thiệp so với trước đây Năm 2011 toàn cầu ước tính có 165 triệu trẻ em dưới 5 tuổi (26%) thấp còi (chiều cao/tuổi) và hơn 90% trẻ em thấp còi sống ở Châu Phi và Châu Á Trẻ em dưới 5 tuổi nhẹ cân (cân nặng/chiều cao) khoảng 101 triệu (16%) và còi cọc khoảng 52 triệu (8%) trong đó 70% trẻ em còi cọc sống ở Châu Á hầu hết là vùng Trung – Nam Á UNICEF, WHO [1]

Ở Việt Nam, tỷ lệ SDD thể nhẹ cân (cân/tuổi) trẻ em đã giảm đáng kể từ năm 2000 là 33,8%, năm 2003 là 33,8%, năm 2005 là 25,2%, năm 2009 còn 18,9% và năm 2012 chỉ còn 16,2% [2] Tuy nhiên, tỷ lệ SDD ở nước ta vẫn còn

ở mức cao so với phân loại của Tổ chức Y tế thế giới, đặc biệt là các vùng miền núi, dân tộc thiểu số, có điều kiện khó khăn Kết quả tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc gần đây cho thấy, có đến 29% trẻ dưới 5 tuổi bị thiếu máu

Trang 12

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em là một công việc thiết yếu quan

trọng do mục tiêu hạ thấp tỷ lệ SDD ở trẻ em đồng thời có ý nghĩa đánh giá

kết quả tổng hợp sự phát triển của mỗi cộng đồng nhất là khi tiến hành nghiên

cứu ở các vùng có nguy cơ cao

Xã Nam Hải Huyện Tiền Hải, Thái Bình là một xã thuộc Đồng bằng

sông Hồng, một xã dân số đông dân, chủ yếu là nghề nông, kinh tế còn nhiều

khó khăn Nghiên cứu tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi còn ít

Đồng thời vấn đề sức khỏe của trẻ tại xã Nam Hải đang là vấn đề cần được

quan tâm của các cấp chính quyền cũng như cơ quan y tế địa phương

Để có những số liệu cụ thể, chi tiết và sâu hơn làm cơ sở cho các

nghiên cứu tiếp theo, đề tài “Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi

và một số yếu tố liên quan tại xã Nam Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

năm 2015 ” được tiến hành với hai mục tiêu sau:

1 Mô tả tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại xã Nam Hải,

huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, năm 2015

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ

dưới 5 tuổi tại xã Nam Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình năm 2015

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Tình trạng SDD của trẻ em hiện nay

1.1.1 Một số khái niệm về dinh dưỡng

Dinh dưỡng: Là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các

thành phần dinh dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội

Tình trạng dinh dưỡng: Là tập hợp các đặc điểm về chức phận, cấu

trúc và hóa sinh, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể

Tình trạng dinh dưỡng là kết quả tác động của một hay nhiều yếu tố như: tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình, thu nhập thấp, điều kiện vệ sinh môi trường, công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em, gánh nặng công việc lao động của bà mẹ.v.v

TTDD tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe Khi cơ thể có TTDD không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện

có vấn đề sức khỏe hoặc có vấn đề dinh dưỡng hoặc cả hai

Suy dinh dưỡng: Là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các

vi chất dinh dưỡng.Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức

độ khác nhau, nhưng đều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ

Tùy theo sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng mà SDD biểu hiện ở các thể, các hình thái khác nhau

- Bú mẹ hoàn toàn: Là thực hành trong đó đứa trẻ chỉ được ăn sữa mẹ

qua bú trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua vắt sữa mẹ hoặc bú trực tiếp người khác, ngoài ra không ăn bất cứ loại thức ăn đồ uống nào khác Các thứ khác

Trang 14

ngoại lệ được chấp nhận là các dạng giọt dung dịch có chứa vitamin, khoáng chất hoặc thuốc

- Cho trẻ ăn bổ sung: để đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ từ sáu tháng

tuổi trở lên, cần cho trẻ ăn bổ sung trong khi trẻ tiếp tục được bú mẹ Các thực phẩm cho trẻ ăn bổ sung có thể được chuẩn bị riêng hoặc từ chính bữa ăn gia đình Theo WHO, không nên cho trẻ giảm bú khi bắt đầu cho ăn bổ sung; thức ăn bổ sung nên được cho ăn bằng thìa hay cốc, không nên cho vào bình sữa; thực phẩm phải sạch, an toàn và sẵn có ở địa phương; cần nhiều thời gian

để trẻ nhỏ học cách ăn thức ăn đặc; thức ăn bổ sung phải đa dạng, theo ô vuông thức ăn bổ sung với 4 nhóm thực phẩm với trung tâm là sữa mẹ

SỮA MẸ

Trang 15

Mặc dù đã có sự tiến bộ đáng kể trong công tác phòng chống SDD song

tỷ lệ SDD trên thế giới vẫn còn cao, đặc biệt ở các nước đang phát triển Năm

2010 có khoảng 925 triệu người suy dinh dưỡng trên thế giới, so với năm

1990 tăng 80 triệu [3], [4] Trong đó các quốc gia phát triển chỉ có 19 triệu chiếm khoảng 2% còn lại là các nước nghèo và đang phát triển chiếm khoảng 98%, chủ yếu là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chiếm 63,5%

Theo UNICEF, hằng năm có hơn 10 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trong đó một nửa trong giai đoạn chu sinh đã chết vì suy dinh dưỡng và các bệnh có thể phòng chống được Trung bình cứ một giờ có khoảng 800 trẻ chết vì suy dinh dưỡng [5] Theo ước tính của UNICEF, WHO và WB sửa đổi năm 2011 (hoàn thành vào tháng 7 năm 2012) thì năm 2011 toàn cầu có 164,8 triệu (19,9%) trẻ ở độ tuổi trước tuổi đi học SDD thể thấp còi giảm 20 triệu so với năm 1990, trong đó Châu Phi có khoảng 56,3 (35,6%) triệu trẻ em ở độ tuổi trước tuổi đi học SDD thể thấp còi và khu vực Đông Phi có số lượng nhiều nhất 22,8 triệu trẻ Khu vực Châu Á có tới 95,8 triệu trẻ (26,8%) và khu vực Trung – Nam Á có số trẻ ở độ tuổi trước tuổi đi học suy dinh dưỡng thể thấp còi nhiều nhất Tính tổng của tất cả các quốc gia đang phát triển có tới 159,7 triệu trẻ ở độ tuổi trước tuổi đi học SDD thể thấp còi (21,3%) trong khi đó các quốc gia phát triển chỉ có 5,1 triệu trẻ (8,1%) [6] Như vậy, ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam SDD vẫn còn là một mối quan tâm lớn và một gánh nặng cần giải quyết đối với mỗi quốc gia nói riêng và toàn thế giới nói chung

Theo Báo cáo của Liên hợp quốc năm 2008 về thực hiện Các mục tiêu Thiên niên kỷ và báo cáo UNICEF năm 2006 về Tiến triển tình hình dinh dưỡng trẻ em cho thấy: Trong khoảng 16 năm (1990 - 2006) tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân toàn thế giới giảm 7% (từ 33% xuống còn 26%); nhưng trong khoảng 146 triệu trẻ hiện tại đang bị SDD thì có tới 106 triệu trẻ

Trang 16

(73%) sống ở 10 nước đang phát triển và hơn một nửa số đó sống ở 3 nước: Bangladesh (48%), Ấn Độ (47%), Pakixtan (38%) Việt Nam đóng góp khoảng 2 triệu trẻ (1,5%) [7], [8], [9], [10]

Đối với khu vực Đông Nam Á, các nước có tỷ lệ SDD cao và không có khả năng đạt được mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ bao gồm: Lào (40%), Campuchia (36%), Myanmar (32%), Đông Timor (46%) Các nước đã đạt được tiến bộ trong giảm SDD ở mức độ quốc gia song một bộ phận dân cư vẫn phải đối mặt với điều kiện chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng kém là Indonesia (28%), Philipines (28%), Việt Nam (21%) Còn lại các nước có tốc

độ giảm SDD rõ rệt, tỷ lệ SDD được kiểm soát ở mức thấp, bao gồm: Singapore (3%), Malaysia (8%), Thái Lan (9%) [11]

Bảng 1.1 Tỷ lệ SDD của trẻ em dưới 5 tuổi ở một số nước trong khu vực

năm 2005 [12]

(%)

Thể thấp còi (%)

Thể gầy còm(%)

Trang 17

Ở Việt Nam, vào thập kỷ 80 tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi trên 50% (số liệu của VDD), năm 1995 tỷ lệ này là 44,9%, năm 2002 còn 30,1%, mức giảm 1,5

- 2%/năm, đến năm 2012 còn 16,2% là mức giảm nhanh so với một số nước trong khu vực

(*) Nguồn: VDD 1999 - 2012 Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi thể nhẹ cân và thấp còi

qua các năm 1999 - 2012

Mặt khác, SDD ở Việt Nam không đồng đều, không chỉ không đồng đều ở cấp quốc gia mà ngay trong từng vùng sinh thái, từng khu vực, từng địa

Trang 18

phương tỷ lệ SDD có sự khác biệt giữa đồng bằng và miền núi, thành thị và nông thôn, trẻ em dân tộc thiểu số và trẻ em người Kinh

Điều tra theo dõi tỷ lệ SDD trẻ em ở các tỉnh năm 2007 của VDD cho thấy có sự khác biệt về tỷ lệ SDD trẻ em ở các vùng sinh thái trên cả nước Trong đó, tỷ lệ SDD khu vưc miền núi luôn cao hơn đồng bằng, tại nông thôn cao hơn thành thị, những vùng hay bị hạn hán, lũ lụt có tỷ lệ SDD cao hơn những vùng khác Trong khi một số tỉnh đồng bằng, tỷ lệ SDD đã giảm xuống mức thấp như: Thành phố Hồ Chí Minh 7,8%, Hà Nội 9,7% thì nhiều tỉnh khu vực miền núi tỷ lệ SDD vẫn ở mức cao như Đắk Nông 31,9%, Kon Tum 31,5%, Đắk Lắk 30,4%, Quảng Bình 30,6%, Lai Châu 30%.v.v

Bảng 1.2 Tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi ở Việt Nam theo các mức độ, theo 6

vùng sinh thái năm 2012 (*)

(%)

Thể thấp còi (%)

Thể gầy còm (%)

Trang 19

H’mông, Dao, Sán Chay, Sán Dìu) có nguy cơ bị SDD gấp 1,68 lần so với trẻ

em người Kinh, tỷ lệ SDD trẻ em dân tộc thiểu số chiếm 39,6% trong khi đó

tỷ lệ này ở TE người Kinh là 28,05% [15] Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn và Hoàng Khải Lập cho thấy tỷ lệ SDD ở TE dân tộc Tày ở Thái Nguyên là 41,9%, cao hơn rất nhiều so với trẻ em người Kinh cùng khu vực

Các cấp độ gây nên SDD (Waterlow - 1993)

Không bình đẳng Thiên tai, hạn hán Chiến tranh

Nghèo đói, kiến thức

Kém ăn, biếng ăn

SDD

Trang 20

Thiếu ăn, hay nói rộng hơn là đói nghèo, là một trong những nguyên nhân trực tiếp của SDD [17] NC ở một số dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc cho thấy mức thu nhập kinh tế hộ gia đình càng tăng thì tỷ lệ SDD càng giảm [16]

NC ở trẻ em dân tộc Dao tại Thái Nguyên cũng cho kết quả tương tự [18]

Nguyên nhân trực tiếp thứ hai là các bệnh nhiễm trùng SDD và nhiễm trùng luôn là vòng lẩn quẩn Nhiễm trùng làm tăng nguy cơ SDD đồng thời SDD làm giảm miễn dịch của cơ thể qua đó làm giảm khả năng chống lại vi khuẩn vì vậy làm tăng quá trình nhiễm trùng Trong những trường hợp viêm phổi nặng và rất nặng có 57,5% trẻ thiếu protein - năng lượng Trẻ SDD mắc NKHHCT nhiều hơn trẻ không SDD (52,2% và 28,8%, p<0,001) [19] Trẻ bị SDD mắc NKHHCT nguy cơ tử vong gấp

2 - 3 lần Trẻ SDD bị tiêu chảy tình trạng bệnh sẽ nặng hơn, nguy cơ tử vong cao hơn [20]

Nguyên nhân tiềm tàng: Nhiều NC cũng cho thấy mối quan hệ chặt

chẽ giữa TTDD của trẻ và chế độ nuôi dưỡng Mặc dù đã có sự cải thiện rõ rệt

về thực hành nuôi con bằng sữa mẹ nhưng còn nhiều điểm rất đáng quan tâm

Tỷ lệ cho con bú sớm ngay trong giờ đầu còn thấp, một NC ở ngoại thành Hà Nội cho thấy 28,4% bà mẹ cho con bú sớm sau đẻ [21] Đáng chú ý là thời gian trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu theo điều tra của VDD năm

2002 mới chỉ dao động từ 2,1% ở ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh đến 37,5% ở các xã chưa có chương trình phòng chống SDD can thiệp vào của vùng ngoại thành Hà Nội [22]

Theo TCYTTG, sữa mẹ có xu hướng chỉ thỏa mãn nhu cầu của trẻ trong 6 tháng đầu vì cơ thể trẻ ngày càng lớn lên Để đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ đến một giai đoạn nhất định, trẻ cần được ăn bổ sung thêm các thức ăn khác Thời gian bắt đầu cho trẻ ĂBS là một yếu tố nguy cơ ĂBS quá sớm hoặc quá muộn, thức ăn không đảm bảo yêu cầu về số lượng và chất lượng đều ảnh hưởng đến TTDD của trẻ [23]

Trang 21

Nguyên nhân cơ bản: Gồm rất nhiều vấn đề liên quan đến cơ cấu kinh

tế, các yếu tố chính trị - văn hóa – xã hội Đó là sự phân phối không công bằng các nguồn lực, thiếu những chính sách phối hợp, tập quán ăn uống sai lầm v.v

1.2.2 Hậu quả của SDD

SDD và tình trạng bệnh tật, tử vong

NC của Chen và cs ở Bangladesh trên trẻ em 15 – 26 tháng tuổi trong vòng 2 năm cho thấy mối liên quan giữa các chỉ số nhân trắc và tỷ lệ tử vong của trẻ [24]

SDD có thể làm yếu sự đáp ứng miễn dịch, dẫn đến nhạy cảm với nhiễm trùng vì vậy dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, diễn biến thường nặng và dẫn đến tử vong

Theo WHO (2002), qua phân tích 10,4 triệu trường hợp tử vong trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển cho thấy có đến 49% (5,1 triệu) liên quan đến SDD [25]

Thiếu dinh dưỡng và thay đổi hành vi trí tuệ

Có thể thấy hành mối liên quan giữa thiếu dinh dưỡng và kém phát triển trí tuệ, hành vi qua những cơ chế sau đây [24]:

- Do thiếu nhiều chất dinh dưỡng trong cùng một lúc trong đó có các chất cần thiết cho sự phát triển trí tuệ như iode, sắt, kẽm.v.v

- Trẻ em thiếu dinh dưỡng thường lờ đờ, chậm chạp, ít năng động, ít tiếp thu được qua giao tiếp với cộng đồng và người chăm sóc

- Các thực nghiệm về ĂBS tỏ ra có liên quan đến các chỉ số phát triển trí tuệ Với sự hiểu biết hiện nay, người ta thấy SDD sớm trong bào thai và trong những năm đầu của cuộc đời có ảnh hưởng xấu đến phát triển trí tuệ ít nhất là suốt cả thời niên thiếu

Trang 22

1.3 Đánh giá TTDD theo chỉ tiêu nhân trắc

1.3.1 Các số đo nhân trắc

Sử dụng các số đo nhân trắc trong đánh giá TTDD là phương pháp dễ làm và được áp dụng rộng rãi Hiện nay, người ta nhận định TTDD trẻ em chủ yếu dựa vào ba chỉ là cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao

- CN/T: Là chỉ số đánh giá TTDD được dùng sớm nhất và phổ biến nhất CN/T thấp là hậu quả của thiếu dinh dưỡng hiện tại

- CC/T: Phản ánh tiền sử dinh dưỡng

CC/T thấp phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài

- CN/CC: Là chỉ số đánh giá TTDD hiện tại

CN/CC thấp phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng cấp còn gọi là

“wasting”

1.3.2 Các cách phân loại TTDD

1.3.2.1 Phân loại theo Gomez (1956)

Là phương pháp phân loại được dùng sớm nhất, nó dựa trên chỉ số CN/T và sử dụng quần thể tham khảo Havard

Bảng 1.3 Phân loại TTDD theo Gomez

Cách phân loại này không phân biệt giữa Marasmus và Kwashiorkor cũng như SDD cấp hay mãn bởi vì cách phân loại này không để ý tới chiều cao

1.3.2.2 Phân loại theo Wellcome (1970)

Cách phân loại này để phân biệt giữa Marasmus và Kwashiorkor nhưng không phân biệt SDD hiện tại hay quá khứ

Trang 23

Bảng 1.4 Phân loại TTDD theo Wellcome Cân nặng (%) so với

1.3.2.3 Phân loại theo Waterlow (1972)

Cách phân loại này phân biệt được SDD hiện tại hay quá khứ

Bảng 1.5 Phân loại TTDD theo Waterlow

1.3.2.4 Phân loại dựa vào độ lệch chuẩn

Trước đây, WHO dựa trên số liệu NCHS của Mỹ đưa ra quần thể tham khảo (NCHS/WHO international reference population), làm giá trị tham chiếu

để nhận định TTDD trẻ em cho các quốc gia thành viên [26], [27] Tuy nhiên WHO cũng khuyến cáo không nên coi quần thể tham khảo là chuẩn mà chỉ là

cơ sở để nhận định, thuận tiện cho các so sánh trong nước và quốc tế [28], [29] Sử dụng quần thể tham khảo NCHS với điểm ngưỡng <-2SD và chia ra các mức độ sau

Trang 24

Bảng 1.6 Phân loại mức độ SDD trẻ em Chỉ tiêu

Phân loại

CN/T (Nhẹ cân W/A)

CC/T (Thấp còi H/A)

CN/CC (Gầy còm W/H)

Từ <-3SD đến -4SD

< -4SD

< -2SD

Từ < -2SD đến -3SD

< -3SD

< -2SD

1.3.2.5 Phân loại theo WHO (2005) theo Z - Score

Z - Score= 𝐾í𝑐ℎ 𝑡ℎướ𝑐 đ𝑜 đượ𝑐−𝑆ố 𝑡𝑟𝑢𝑛𝑔 𝑏ì𝑛ℎ 𝑐ủ𝑎 𝑞𝑢ầ𝑛 𝑡ℎể 𝑡ℎ𝑎𝑚 𝑐ℎ𝑖ế𝑢

< -3 : Còm trầm trọng

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp đánh giá tình tình trạng dinh dưỡng phân loại theo WHO (2005) theo chỉ số Z-Socre

Trang 25

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD trẻ em

1.4.1 Chăm sóc bà mẹ khi có thai

Chăm sóc bà mẹ khi mang thai khi mang là chiến lược phòng chống

SDD sớm khi trẻ còn nằm trong bụng mẹ, bà mẹ khi có thai tăng được từ

10-12 kg, và thực hiện chế độ dinh dưỡng và chế độ nghỉ ngơi tốt, thói quen dinh dưỡng tốt sẽ cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho thời kỳ mang thai, cho sự phát triển và lớn lên của thai nhi, trẻ sinh ra có cân nặng >2500g Dinh dưỡng cho bà mẹ khi có thai là vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng lớn đến tình trạng sức khỏe, bệnh tật, thậm chí là tính mạng của trẻ ngay từ khi mới hình thành là bào thai trong bụng mẹ tới khi cất tiếng khóc chào đời, khôn lớn và trưởng thành sau này

Những bà mẹ trong khi có thai lao động nặng nhọc, không được nghỉ ngơi và cung cấp dinh dưỡng đầy đủ là những yếu tố ảnh hưởng tới cân nặng

sơ sinh Yếu tố bệnh tật của người mẹ và đẻ thiếu tháng làm tăng tỷ lệ trẻ có cân nặng sơ sinh thấp Một số bệnh tật của người mẹ như cúm, rubella có thể ảnh hưởng đến sự phát triển không bình thường của trẻ Vì vậy, đảm bảo dinh dưỡng tốt và hợp lý cho bà mẹ khi mang thai là vô cùng quan trọng

Trang 26

tiếp tục cho trẻ bú đến 18 - 24 tháng tuổi làm giảm bệnh tật của trẻ Phần lớn các NC cho thấy trẻ dưới 1 tuổi không được bú sữa mẹ đầy đủ

sẽ nguy cơ mắc bệnh ỉa chảy lớn hơn trẻ được bú hoàn toàn [12]

- Cho trẻ ĂBS: Cho trẻ ĂBS từ 6 tháng tuổi Các thức ăn của trẻ cần được chế biến sạch sẽ, đảm bảo vệ sinh, tránh các rối loạn tiêu hóa [31] ĂBS quá sớm SDD hay xảy ra vào trước 6 tháng tuổi ĂBS quá muộn SDD thường xảy ra vào năm tuổi thứ 2, thứ 3 hoặc thứ 4

1.4.3 Kiến thức nuôi dưỡng trẻ

Kiến thức của bà mẹ trong chăm sóc trẻ ảnh hưởng rất lớn tới TTDD của trẻ Những NC ở cộng đồng cũng cho thấy số trẻ em SDD có 71% là con thứ nhất, 60% các bà mẹ không biết cách cho trẻ ĂBS và không biết thế nào

là tô màu bát bột cho trẻ NC một số tác giả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về trình độ văn hóa cũng như kiến thức dinh dưỡng giữa nhóm bà mẹ có con SDD và nhóm bà mẹ có con khỏe mạnh [32], [12] Theo điều tra của VDD năm 2002 cho thấy: Tỷ lệ trẻ ĂBS sớm quá cao, ngay ở tháng tuổi thứ 2 đã là 12,5%, trước 4 tháng tuổi là 32,7% [22]

1.4.4 Một số yếu tố khác

- Điều kiện kinh tế gia đình, tình trạng thiếu ăn, tình trạng văn hóa của bà

mẹ ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ

Vấn đề chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau khi sinh còn yếu, tỷ

lệ nạo hút thai cao, một số bệnh máu, bệnh mạn tính của bà mẹ có ảnh hưởng đến sức khỏe và dinh dưỡng đứa con sau này

- Môi trường sống không đảm bảo vệ sinh, nhà tiêu không đạt tiêu chuẩn cao, tập quán sử dụng phân tươi để tưới rau gây ô nhiễm môi trường, tăng tỷ

lệ mắc bệnh giun sán

Trang 27

- Các bệnh được xếp hàng đầu thường gặp ở trẻ em đó là ỉa chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp Số lần mắc trung bình của trẻ em trong 1 năm bệnh

ỉa chảy là 2,2 lần, viêm phổi là 1,6 lần

- Nhiễm khuẩn dễ đưa đến SDD do rối loạn tiêu hoá và ngược lại, SDD

dễ dẫn tới nhiễm khuẩn do đề kháng giảm Khi trẻ bị bệnh cơ thể tiêu hao nhiều năng lượng và các chất dinh dưỡng, cảm giác thèm ăn giảm, tiêu hoá, hấp thu kém, mức cung cấp chất dinh dưỡng giảm, các chất dinh dưỡng không đủ đáp ứng nhu cầu cơ thể, do đó bệnh tật trở thành nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD trẻ em

Trang 28

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm: Nghiên cứu được tiến hành tại xã Nam Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

2.1.2 Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1 năm

2015 đến tháng 10 năm 2015 Trong đó thời gian thu thập tháng 8-9/2015

2.2 Đối tượng nghiên cứu

- Trẻ dưới 5 tuổi tại xã Nam Hải- huyện Tiền Hải- tỉnh Thái Bình

- Bà mẹ trẻ dưới 5 tuổi tại địa bàn nghiên cứu

2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Trẻ dưới 5 tuổi không bị mắc các dị tật bẩm sinh có mặt tại thời điểm và trên địa bàn nghiên cứu đã được lựa chọn

- Bà mẹ: là mẹ của các trẻ được lựa chọn, không bị tâm thần, không bị rối loạn trí nhớ và hợp tác cùng tham gia nghiên cứu

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Trẻ: Các trường hợp có bệnh/dị tật bẩm sinh

- Bà mẹ: bị bệnh tâm thần, rối loạn trí nhớ, có thái độ không hợp tác

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu:

- Cỡ mẫu

n= Z2(1-  /2 )

p(1- p) ()2

Trong đó:

- p=0.2 (tỷ lệ SDD của trẻ dưới 5 tuổi theo nghiên cứu của Lương Tuấn Dũng)

- =0,05 => Z2

(1-  /2= 1,962

- : Sai số tuyệt đối (lấy là 0,05)

=> n=245, lấy 10% dự phòng sai số, chúng tôi lấy mẫu nghiên cứu là 270

Trang 29

2.3.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu

thu thập Mục tiêu 1:

Trình độ học vấn

Đặc điểm gia đình các trẻ

NC

Loại nhà ở Nguồn nước ăn uống Loại nhà tiêu

Thiếu gạo ăn trong năm qua

thước chuẩn Chiều cao

Khám thai

Phỏng vấn bằng bộ câu hỏi sẵn có

Uống viên sắt Tăng cân

Kiến thức, thực hành nuôi trẻ

Vắt bỏ sữa non Thời gian cho bú lần đầu sau sinh

Thời điểm cho ăn bổ sung Thời gian cho bú sữa mẹ hoàn toàn

Thời điểm cai sữa

Uống bổ sung các vitamin

và khoáng chất khác

Trang 30

2.3.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

Các chỉ số nhân trắc

* Tính tuổi: Dựa theo cách tính tuổi của TCYTTG hiện nay đang được

áp dụng là tính tuổi quy về tháng hoặc năm gần nhất Tuổi của trẻ được tính dựa vào ngày sinh của trẻ và ngày tiến hành điều tra

+ 0 tuổi tức là năm thứ nhất, gồm các tháng tuổi từ 0 đến 11

+ 1 tuổi tức là năm thứ hai, gồm các tháng tuổi từ 12 đến 23

+ 2 tuổi tức là năm thứ ba, gồm các tháng tuổi từ 24 đến 35

+ 3 tuổi tức là năm thứ tư, gồm các tháng tuổi từ 36 đến 47

+ 4 tuổi tức là năm thứ năm, gồm các tháng tuổi từ 48 đến 59

* Cân nặng: Sử dụng cân đồng hồ UNICEF loại 30kg và độ chính xác 0,1 kg Kết quả thu được ghi theo đơn vị kg với 1 số lẻ

Kĩ thuật cân: cân được đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng, chỉnh cân bằng ở số 0 và kiểm tra trước khi sử dụng; trẻ được mặc quần áo mỏng trước khi cân Khi cân, đặt trẻ ngồi vào bàn cân, kết quả được ghi theo đơn vị kg với 1 số lẻ

* Chiều cao/dài: Dùng thước gỗ đo chiều dài nằm của UNICEF có độ chính xác 1mm

Kĩ thuật đo: Thước đặt trên mặt phẳng chắc chắn Đặt trẻ nằm ngửa, một người giữ đầu để mắt nhìn thẳng lên trần nhà, mảnh gỗ chỉ số 0 của thước áp sát đỉnh đầu, một người giữ thẳng đầu gối của trẻ và đưa thước vuông áp sát gót bàn chân (để gót chân áp sát mặt phẳng nằm ngang và bàn chân thẳng đứng)

Kết quả được ghi theo đơn vị cm với một số lẻ

2.4 Xử lý và phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm EPIDATA 3.1 để nhập số liệu và STATA12.0 để phân tích số liệu

Trang 31

Phân tích thống kê mô tả được sử dụng để miêu tả các đặc điểm nhân khẩu học, tình trạng dinh dưỡng, tình trạng sức khỏe và chăm sóc dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu:

- χ2 Test và Fisher-test: χ2 test kiểm định sự khác biệt khi so sánh hai tỷ

lệ giữa hai nhóm nghiên cứu trong cùng một thời điểm hoặc so sánh hai tỷ lệ tại thời điểm khác nhau trong cùng một nhóm nghiên cứu Trong trường hợp giá trị kỳ vọng của một số phân nhóm nhỏ (dưới 5), kiểm định chính xác Fisher được sử dụng để so sánh

- Kiểm định Student-t và kiểm định Mann-Whitney: Kiểm định sự khác biệt khi so sánh hai giá trị trung bình giữa hai nhóm nghiên cứu trong cùng một thời điểm hoặc giữa hai giá trị trung bình tại hai điểm khác nhau trong cùng một nhóm nghiên cứu

- Các yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân được xác định bằng mô hình hồi quy

2.5 Sai số và biện pháp khống chế sai số

- Điều tra thử bộ câu hỏi

- Lựa chọn điều tra viên khi đi phỏng vấn thu thấp số liệu có kinh nghiệm

- Chuẩn cân, thước trước khi đo Chỉ để 2 người cân đo cho toàn bộ số trẻ nghiên cứu và chỉ dùng 1 loại cân, thước trong suốt quá trình

Mỗi buổi cân, đo kiểm tra lại độ chính xác của cân, thước 1 lần

- Dùng phiếu để thu thập số liệu

Trang 32

- Hai người cùng vào số liệu song song sau đó kiểm tra chéo

- Có giám sát viên trong quá trình thực hiên phỏng vấn thu thập số liệu

- Làm sạch số liệu trước khi xử lý Kiểm tra số liệu hàng ngày, bổ

sung ngay thông tin còn thiếu

2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

1) Việc tiến hành nghiên cứu có sự xin phép và được sự đồng ý của Uỷ Ban Nhân Dân Xã Nam Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

2) Các thông tin thu được của đối tượng chỉ nhằm mục đích NC

3) Nghiên cứu chỉ nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho trẻ tại xã Nam Hải 4) Trong quá trình thu thập số liệu tại thực địa, cán bộ nghiên cứu sẵn sàng tư vấn các vấn đề liên quan tới sức khỏe, nếu gặp các trường hợp ốm đau, bệnh tật, sẽ giới thiệu đến cơ quan y tế gần nhất để điều trị kịp thời

5) Thông tin được hỏi ý kiến các bà mẹ nếu đồng ý mới thực hiện cuộc phỏng vấn

6) Trong quá trình tiến hành nghiên cứu nếu đối tượng có bất kì vấn đề gì muốn ngừng điều tra cũng đều được

Trang 33

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm các bà mẹ nghiên cứu

(n =270)

Tỷ lệ (%)

Trang 34

Bảng 3.2 Đặc điểm về gia đình của các trẻ nghiên cứu (n=270)

Gia đình thiếu gạo ăn

trong năm qua

Phần lớn các hộ gia đình được phỏng vấn có 2 con (72,96%), 22,22%

Trang 35

Nhận xét:

Kết quả biểu đồ trên cho thấy điều kiện kinh tế tại địa phương nghiên cứu, có 9,24% hộ gia đình thuộc hộ nghèo, hơn 90% hộ gia đình tại xã Nam Hải không thuộc hộ nghèo

Bảng 3.3 Đặc điểm của nhóm trẻ nghiên cứu

(n =270)

Tỷ lệ (%)

Bảng 3.3 Mô tả đặc điểm của trẻ dưới 5 tuổi, cho thấy độ tuổi 13-24 là

độ tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (26,30%), tiếp đó đến 25-36 chiếm 25,19%, tỷ lệ thấp nhất ở nhóm có độ tuổi từ 0-5 tháng tuôi (6,29%)

Tỷ lệ trẻ là nam giới chiếm 52,69%, trẻ là nữ giới là 47,4% Phần lớn trẻ có cân nặng khi sinh ≥2500g (95,07%)

Trang 36

Bảng 3.4 Cân nặng trung bình (kg) theo tuổi và giới trẻ dưới 5 tuổi xã

Nam Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình năm 2015

Trang 37

Nhận xét:

Kết quả bảng cho thấy được chiều cao trung bình của trẻ em dưới 5 tuổi qua các nhóm tuổi và phân theo giới tính Cho thấy chiều cao trung bình của nam giới (85,6±10,9) cao hơn so với nữ giới (84,9±11,2)

3.2 Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại xã Nam Hải, huyện Tiền Hải

Bảng 3.6 Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại xã Nam Hải,

huyện Tiền Hải

Trang 38

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ SDD theo nhóm tuổi của trẻ dưới 5 tuổi xã Nam

Hải-huyện Tiền Hải-tỉnh Thái Bình Nhận xét:

Theo kết quả biểu đồ 3.2 cho thấy:

SDD thể nhẹ cân bắt đầu xuất hiện từ nhóm tuổi 6-11 tháng là 4%, sau

đó tăng ở nhóm 12-23 tháng tuổi là 14,2%, đạt tỷ lệ cao nhất ở nhóm tuổi

24-35 (15%)

SDD thể thấp còi bắt đầu xuất hiện từ nhóm tuổi 6-11 tháng là 18,2% sau

đó tiếp tục tăng nhanh và đạt tỷ lệ cao nhất ở nhóm tuổi 24-35 tháng là 34% SDD thể gầy còm bắt đầu xuất hiện ở những tháng đầu đời, sau đó tăng nhẹ ở những tháng tiếp theo và cao nhất ở nhóm tuổi 48-59 tháng là 14,8%

Tháng tuổi

Tỷ lệ %

Trang 39

Biểu đồ 3.3 Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi theo giới

Nhận xét:

Kết quả biểu đồ trên cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ là nam giới cao hơn trẻ là nữ giới ở cà 3 thể thấp còi, nhẹ cân, gầy còm

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới

5 tuổi tại xã Nam Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình năm 2015

3.3.1 Kiến thức dinh dưỡng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Nam Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

Bảng 3.7 Thời gian cho trẻ bú lần đầu sau sinh

Thời gian cho trẻ bú lần đầu sau sinh n(n=270) Tỷ lệ (%)

Trang 40

Nhận xét:

Khi được hỏi về kiến thức về thời gian cho trẻ bú sau khi sinh, 85,19%

bà mẹ cho rằng nên cho trẻ bú trong 1 giờ đầu, 7,78% bà mẹ cho rằng nên bú sau 1 giờ khi sinh

Bảng 3.8 Thời gian cho trẻ bú hoàn toàn bằng sữa mẹ (n=270)

Thời gian cho trẻ bú hoàn toàn bằng sữa mẹ n Tỷ lệ

Bảng 3.9 Thời điểm bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung (ăn dặm)

Ngày đăng: 07/03/2018, 13:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w