Trong 20 năm trở lại đây, nhờ sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã tìm ra được nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh sâu răng, đồng thời phát hiện ra vai trò của Fluor trong b
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
-*** -
HÀ THỊ NGA
THỰC TRẠNG SÂU RĂNGVÀ LIÊN QUAN GIỮA THÓI QUEN CHĂM SÓC RĂNG MIỆNG VỚI SÂU RĂNG CỦA SINH VIÊN Y1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NĂM HỌC 2014-2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
KHÓA 2009-2015
HÀ NỘI– 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
-*** -
HÀ THỊ NGA
THỰC TRẠNG SÂU RĂNGVÀ LIÊN QUAN GIỮA THÓI QUEN CHĂM SÓC RĂNG MIỆNG VỚI SÂU RĂNG CỦA SINH VIÊN Y1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 3% : Tỷ lệ phần trăm
Trang 51
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhu cầu chăm sóc sức khỏe con người nói chung cũng như nhu cầu chăm sóc răng miệng nói riêng càng được quan tâm và chú trọng Sâu răng là một bệnh phổ biến có tỉ lệ mắc cao không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới Bệnh
có thể mắc sớm ngay sau khi răng mọc, nếu không được điều trị kịp thời bệnh
có thể chuyển biến gây ra những biến chứng toàn thân và tại chỗ ảnh hưởng đến sức khỏe và thẩm mỹ Chi phí cho việc khám và chữa răng cũng rất tốn kém.Vì vậy, từ những năm 70, WHO đã xem bệnh sâu răng là một trong ba tai họa của loài người sau bệnh tim mạch và ung thư [1]
Trong 20 năm trở lại đây, nhờ sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật
đã tìm ra được nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh sâu răng, đồng thời phát hiện ra vai trò của Fluor trong bảo vệ men răng Trên có sở đó đề ra các biện pháp phòng bệnh thích hợp, kết quả là tỉ lệ sâu răng ở nhiều nước trên thế giới nhất là những nước phát triển giảm đi đáng kể Ngược lại ở những nước đang phát triển không được Fluor hóa nước uống, thiếu sự giáo dục nha khoa; chế độ ăn uống không đúng nên bệnh sâu răng có xu hướng tăng lên [2]
Việt Nam là nước đang phát triển, điều kiện kinh tế còn khó khăn, trang thiết bị và cán bộ răng hàm mặt còn thiếu, tỉ lệ sâu răng ở mức độ cao trong khi tỉ lệ sâu răng được điều trị ở mức rất thấp làm cho bệnh sâu răng có xu hướng tăng lên nhất là ở vùng nông thôn và miền núi
Theo điều tra sức khỏe răng miệng trên toàn quốc lần thứ I năm 1991, ở nhóm tuổi 12 chỉ số SMT là 1.82 [3]
Theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc lần thứ II năm 2001, ở nhóm tuổi 12 chỉ số SMT là 1.87, tỷ lệ sâu răng Việt Nam ở lứa tuổi 15-17 là
Trang 62
68.6% [4] Giải pháp hiệu quả nhất để giải quyết thực trạng sâu răng là tăng cường công tác phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu thật tốt Bên cạnh đó, việc điều trị tổn thương sâu răng và các yếu tố liên quan cũng đang được các nhà lâm sàng quan tâm trong quá trình phòng và điều trị sâu răng
Đã có rất nhiều nghiên cứu về thực trạng sâu răng ở lứa tuổi 6-12 nhưng ở lứa tuổi 18 vẫn còn ít
Ở lứa 18 bộ răng vĩnh viễn đã ổn định, các em được trang bị kiến thức răng miệng khá đầy đủ và khả năng thực hành các kỹ năng chăm sóc răng miệng đã hoàn thiện hơn Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn có rất nhiều biến đổi về tâm sinh lý Sự thay đổi hoocmon và những thói quen ăn uống không tốt sẽ làm gia tăng nguy cơ sâu răng, viêm lợi Vì vậy, em tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng sâu răng và liên quan giữa thói quen chăm sóc răng miệng với sâu răng của sinh viên Y1 trường Đại học Y Hà Nội năm 2014-2015”
Với hai mục tiêu:
1 Xác định tỉ lệ sâu răng của sinh viên Y1 tại trường Đại học Y Hà Nội
2 Phân tích mối liên quan giữa thói quen chăm sóc răng miệng với sâu răng của sinh viên Y1 trường Đại học Y Hà Nội
Trang 73
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU SINH LÝ CỦA RĂNG
1.1.1 Sơ lược cấu trúc giải phẫu của răng
Mỗi răng gồm thân răng và chân răng Giữa thân răng và chân răng là cổ răng (cổ răng giải phẫu), là một đường cong, còn gọi là đường nối men – xê măng Thân răng được bao bọc bởi men răng, chân răng được xê măng bao phủ Vùng quanh răng gồm lợi, dây chằng quanh răng, xê măng và xương ổ răng
Cấu tạo của răng: gồm men răng, ngà răng, tủy răng
Hình 1.1 Giải phẫu răng
Trang 84
1.1.2 Những thay đổi sinh lý của răng theo tuổi
Sau khi mọc, cả răng sữa và răng vĩnh viễn chịu một loạt những thay đổi ảnh hưởng đến mô cứng, tủy và những thay đổi này trở nên rõ ràng hơn về mặt lâm sàng theo quá trình phân tích theo tuổi [5]
1.1.2.1 Những thay đổi sinh lý ở men răng theo tuổi
Theo tuổi, men răng mất nước và hàm lượng chất hữu cơ giảm Vỏ của trụ men mỏng dần hoặc biến mất Cấu trúc tinh thể trở nên dày, chặt, đặc biệt ở 1-2 mm ngoài cùng Thành phần hóa học thay đổi do hàm lượng cacbonate giảm và thay thế các nhóm –OH bằng fluor hoặc những nguyên tố khác
Do sự trưởng thành của men sau khi mọc, men răng theo tuổi ngày càng giảm tính thấm, càng dễ bị xoi mòn bằng acid phosphoric hoặc acid citric, nhưng càng ít hòa tan trong acid và đồng thời càng giòn và dễ bị tổn thương hơn
Đường nứt men sau khi mọc cũng nhiều hơn, có thể do những thay đổi nhiệt độ đột ngột nhưng những đường nứt có sẵn chiếm khoảng 60% răng vĩnh viễn của trẻ vị thành niên Những đường nứt và lỗ rỗ là nơi trú ngụ của
vi khuẩn [5]
1.1.2.2 Những thay đổi sinh lý ở ngà răng, tủy răng theo tuổi
Những thay đổi sinh lý theo tuổi của ngà trên một răng sống bao gồm sự thành lập ngà thứ cấp và ngà quanh ống, cùng với quá trình thoái hóa dần dần tủy răng Răng người trẻ có buồng tủy rộng, sừng tủy nhô cao về phía mặt nhai và ống tủy rộng nên sâu răng tiến triển nhanh chóng đến tủy răng Răng người già, buồng tủy hẹp và phẳng, ống tủy nhỏ dần, dẫn đến giảm thể tích buồng tủy, đặc biệt là sừng tủy [5]
Trang 9là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ của vật chủ [6]
1.2.2 Bệnh căn bệnh sâu răng
Bệnh sâu răng là bệnh được gây ra bởi nhiều yếu tố trong đó vi khuẩn đóng vai trò quan trọng Ngoài ra phải có các yếu tố thuận lợi như chế độ ăn uống nhiều đường, VSRM không tốt, chất lượng men răng kém và môi trường tự nhiên, nhất là môi trường nước ăn uống có hàm lượng fluor thấp ( hàm lượng fluor tối ưu là 0,7-1,2 ppm) tạo điều kiện cho sâu răng phát triển [31] Trước năm 1970, người ta cho rằng bệnh căn của sâu răng là do nhiều nguyên nhân với sự tác động của 3 yếu tố Vi khuẩn trong miệng chủ yếu là Steptococcus mutans lên men các chất bột đường và tạo thành axit, axit này phá hủy tổ chức cứng tạo thành lỗ sâu ở răng, qua lỗ sâu vi khuẩn xâm nhập vào tủy răng gây viêm tủy răng và viêm quanh cuống răng Sự phối hợp của các yếu tố này để gây nên sâu răng được thể hiện bằng sơ đồ Keys
Sơ đồ Key: Người ta chú ý nhiều đến chất đường và vi khuẩn Streptococcus mutans nên việc phòng bệnh sâu răng tập trung chủ yếu vào chế độ ăn hạn chế đường, vệ sinh răng miệng Tuy nhiên khi áp dụng vào thực tế phòng bệnh sâu răng thấy kết quả đạt được không cao, tỷ lệ sâu răng giảm xuống không đáng kể
Trang 106
Hình 1.2 Sơ đồ keys [7]
Năm 1975, White đã thay thế vòng tròn “chất đường” của sơ đồ Keys bằng vòng tròn chất nền, nhấn mạnh vai trò của nước bọt và dòng chảy pH của môi trường quanh răng và vai trò của fluor để giải thích căn nguyên của bệnh sâu răng
Hình 1.3 Sơ đồ White (1975) [9]
Vai trò của vi khuẩn và mảng bám răng
Mảng bám răng là một màng mỏng bám trên bề mặt răng có chứa nhiều vi khuẩn nằm trên khung vô định hình từ mucoid nước bọt và polysaccharide (glucan) của vi khuẩn ngoại bào Các acid sinh ra từ các chất có trên mảng bám răng có vai trò quan trọng trong việc gây bệnh sâu răng
Trang 117
Vai trò gây bệnh của mảng bám
Các chất đường từ thức ăn sẽ nhanh chóng khuếch tán vào mảng bám, được vi khuẩn chuyển hóa thành acid (chủ yếu là acid lactic, ngoài ra còn có acid acetic và acid propionic) pH của mảng bám có thể giảm xuống tới 2 sau
10 phút ăn đường, mật độ tập trung cao của vi khuẩn trên mảng bám có vai trò quan trọng trong hiện tượng giảm nhanh chóng pH mảng bám Sau khoảng 30-60 phút, pH mảng bám quay trở về pH ban đầu do sự khuếch tán của đường và các acid mảng bám ra môi trường miệng và sự khuếch tán của các ion chất đệm từ nước bọt vào mảng bám Các ion chất đệm này có vai trò hòa loãng và trung hòa acid trong mảng bám Nếu pH tới hạn của mảng bám <5,5 thì sẽ gây hiện tượng mất khoáng hóa men răng
Mảng bám là giao diện trao đổi hóa học giữa nước bọt và bề mặt men răng
Các vi khuẩn có khả năng gây bệnh trong mảng bám
- Streptococcus mutans là chủng vi khuẩn có khả năng gây sâu răng cao nhất trong nghiên cứu thực nghiệm trên động vật
- Các chủng vi khuẩn khác như S.sanguis, S.mitis, S.oralis và các loại Actinomyces và Lactobacillus cũng gây sâu răng thực nghiệm trên động vật Actinomyces đặc biệt có vai trò quan trọng trong sâu chân răng, kết hợp cùng các chủng S.mutans và Lactobacillus [10]
Vai trò của Carbonhydrate
- Sự lên men đường có vai trò quan trọng trong việc gây bệnh sâu răng Các loại Carbonhydrate khác nhau có đặc tính gây sâu răng khác nhau Sucrose (đường mía) có khả năng gây sâu răng cao hơn các loại đường khác Glucose, maltose, fructose, galactose và lactose cũng là các carbonhydrate có khả năng gây sâu răng cao trong nghiên cứu thực nghiệm
- Đường trong chế độ ăn có thể chia thành 2 loại: Đường nội sinh (đường trong hoa quả và rau) và đường ngoại sinh (đường bổ sung, nước quả, sữa)
Trang 12 Răng
Men răng
- Khả năng hòa tan men tỷ lệ nghịch với nồng độ fluor của men răng do các tinh thể fluorapatite ít khi bị hòa tan bởi acid hơn các tinh thể hydroxyapatite khi pH trên 4,5 (đây là pH tới hạn của fluorapatite)
- Nồng độ của ion fluor trong cấu trúc men răng có thể lên tới 2500-4000 p.p.m, nhưng nồng độ trong nước bọt chỉ ở mức 0,03p.p.m Do vậy, sự kết hợp của ion fluor vào cấu trúc của răng trong quá trình phát triển hoặc sử dụng fluor tại chỗ sau khi răng mọc giảm đi sự hủy khoáng và tăng cường khả năng tái khoáng men răng
- Men răng thiểu sản hay men răng kém khoáng hóa có thể ảnh hưởng đến
tiến triển của tổn thương sâu răng, nhưng không gây tăng tỷ lệ các tổn thương khởi phát [10]
Trang 13số tình trạng bệnh lý toàn thân làm cho tỷ lệ sâu răng rất cao và nặng nề
+ Cung cấp các ion Ca2+, PO43- và fluor để tái khoáng hóa men răng, các Bicarbonate tham gia vào quá trình đệm
+ Tạo một lớp màng mỏng (pellicle) từ nước bọt có vai trò như một hàng rào bảo vệ men răng khỏi PH nguy cơ Hàng rào này ngăn cản sự khuếch tán của ion acid vào răng và sự di chuyển của các sản phẩm hòa tan từ apatite ra khỏi
mô răng Nó có thể ức chế sự khoáng hóa để hình thành cao răng từ các ion calci và phosphate quá bão hòa trong nước bọt
+ Cung cấp các kháng thể IgG, IgM đề kháng vi khuẩn
Số lượng và chất lượng nước bọt thay đổi trong ngày, tăng vào ban ngày
và giảm về đêm Nước bọt không kích thích chứa ít chất đệm bicarbonate và ion calci và nhiều ion phosphate hơn Nhai kẹo cao su hoặc acid có trong thức
ăn có thể kích thích tăng tiết nước bọt lên rất nhiều Nồng độ chất đệm bicarbonate có thể tăng lên 60 lần khi có kích thích, ion calci tăng nhẹ, ion phosphate không tăng Nước bọt cung cấp các yếu tố bảo vệ tự nhiên để tái tạo lại mô răng khi pH ở mức nguy cơ (pH thách thức) Giảm dòng chảy nước bọt đến mức tối thiểu (0,7mL/phút) sẽ làm tăng nguy cơ sâu răng [10]
Trang 1410
Chế dộ ăn
Chế độ ăn có chứa nhiều phosphate có khả năng giảm tỷ lệ sâu răng Tăng chất béo trong khẩu phần ăn có thể làm giảm tác động của các tác nhân gây bệnh sâu răng
- Ăn nhiều đường, nhất là ăn vặt thường xuyên giữa các bữa ăn chính làm tăng nguy cơ sâu răng
- Thói quen ăn uống trước khi đi ngủ, đặc biệt là ở trẻ nhỏ, việc cho bú bình kéo dài với sữa và các loại chất ngọt, nhất là bú trong khi ngủ làm tăng tỷ lệ sâu răng, gây nên hội chứng bú bình
- Chỉnh nha, sử dụng hàm giả bán phần, trám răng không đúng quy cách làm tăng khả năng lưu giữ các mảnh thức ăn, mảng bám vi khuẩn, do đó làm tăng nguy cơ gây sâu răng
- Yếu tố di truyền: liên quan đến hình thể, cấu trúc răng, nước bọt, độ nhạy cảm với vi khuẩn Tuy nhiên nó chỉ tác động rất nhỏ so với yếu tố môi trường,những gia đình bố mẹ bị sâu răng nhiều con cái cũng có khuynh hướng sâu răng nhiều chủ yếu là do bị ảnh hưởng thói quen ăn uống, vệ sinh răng miệng [10]
Miễn dịch với sâu răng
Bệnh sâu răng ở người có liên quan tới sự hình thành các khánh thể kháng S.mutans trong nước bọt và trong huyết thanh, nhưng phần lớn ở các cá thể, tính miễn dịch hoạt động tự nhiên này rất ít hiệu quả Cơ chế miễn dịch nào phòng bệnh sâu răng thì vẫn chưa được biết cụ thể [10]
Các yếu tố khác
Bệnh sâu răng được chứng minh có liên quan tới một số yếu tố khác như yếu tố xã hội, yếu tố địa lý
Trang 1511
1.2.3 Bệnh sinh của bệnh sâu răng
Sinh lý bệnh quá trình sâu răng là do quá trình hủy khoáng chiếm ưu thế hơn quá trình tái khoáng do vai trò chuyển hóa carbonhydrate của vi khuẩn mảng bám trên bề mặt răng
Sự hủy khoáng: Các hydroxyapatit (Ca10(PO4)6(OH)2) và Fluorapatite – thành phần chính của men, ngà bị hòa tan khi pH giảm dưới mức pH tới hạn
pH tới hạn của hydroxyapatite là 5,5 và pH tới hạn của fluorapatite là 4,5
Sự tái khoáng: Quá trình tái khoáng ngược với quá trình hủy khoáng, xảy ra khi pH trung tính, có đủ ion Ca2+ và PO43- trong môi trường nước bọt
Fluor + Hydroxyapatite Fluoro Apatite có sức đề kháng cao hơn, có khả năng
đề kháng sự phá hủy của H+ chống sâu răng [10]
Hình 1.4 Sơ đồ tóm tắt cơ chế sâu răng[11]
Các yếu tố bảo vệ:
+ Nước bọt, dòng chảy nước bọt
+ Khả năng kháng acid của men
+ Fluor có ở bề mặt men răng
+ Vệ sinh răng miệng kém
Trang 1612
Cơ chế sinh bệnh học của sâu răng được thể hiện bởi sự mất cân bằng giữa quá trình hủy khoáng và tái khoáng Nếu quá trình hủy khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ gây sâu răng
Sâu răng = Hủy khoáng > Tái khoáng 1.2.4 Phân loại bệnh sâu răng [10]
3 Sâu răng ngừng tiến triển
1.2.4.3 Phân loại Black
1 Loại 1: Sâu ở vị trí các hố và rãnh của răng
2 Loại 2: Sâu mặt bên các răng hàm
3 Loại 3: Sâu mặt bên các răng cửa nhưng chưa có tổn thương rìa cắn
4 Loại 4: Sâu mặt bên các răng cửa có tổn thương rìa cắn
5 Loại 5: Sâu cổ răng
6 Loại 6: Sâu ở vị trí rìa cắn của răng cửa hoặc đỉnh núm răng hàm
1.2.4.4 Phân loại theo độ sâu
1 Sâu men
2 Sâu ngà nông
3 Sâu ngà sâu
Trang 1713
1.2.4.5 Phân loại theo bệnh sinh
1 Sâu răng tiên phát
2 Sâu răng thứ phát: là sâu răng mới phát sinh trên một răng có tổn thương
tổ chức cứng
3 Sâu răng tái phát: là sâu tái phát trên nền tổn thương cũ đã được điều trị
1.2.4.6 Phân loại theo site and size
Phân loại này dựa vào 2 yếu tố chính đó là vị trí lỗ sâu và kích thước (giai đoạn, mức độ) của lỗ sâu
BLACK Vị trí
Kích thước
1 Nhỏ
2 Trung bình
3 Rộng
4 Rất rộng Loại I 1 Hố, rãnh, mặt nhẵn 1,1 1,2 1,3 1,4
Loại II
Loại III
Loại IV
Loại V 3 Cổ răng, chân răng 3,1 3,2 3,3 3,4
Bảng 1.1 Phân loại lỗ sâu theo kích thước và vị trí [10]
Vị trí
Vị trí 1: Tổn thương ở hố rãnh và các mặt nhẵn
Vị trí 2: Tổn thương kết hợp với mặt tiếp giáp
Vị trí 3: Sâu cổ răng và chân răng
Trang 1814
4 Tổn thương rất rộng làm mất cấu trúc, răng cần có các phương tiện lưu giữ
cơ học hoặc phục hình
Để đáp ứng nhu cầu dự phòng cá nhân Brique và Droz đã bổ sung thêm
cỡ 0, là những tổn thương có thể chẩn đoán được và có khả năng tái khoáng hóa được [10]
1.2.4.7 Phân loại theo Pitts
Năm 1997 Pitts đã miêu tả bằng hình ảnh về lợi ích của việc phát hiện sâu răng sớm Bằng việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ của núi băng trôi ta có thể thấy các phương pháp phát hiện sâu răng truyền thống dẫn đến rất nhiều tổn thương không được phát hiện [11]
Sơ đồ tảng băng Pitts
Tổn thương đến tủy
+ Tổn thương thấy ngà
+ Tổn thương men có lỗ giới hạn trong men + Tổn thương men chưa ‘có lỗ’có thể phát hiện trên lâm sàng + Tổn thương chỉ có thể phát hiện với sự hỗ trợ của các công cụ cổ điển (phim cắn cánh)
+ Tổn thương tiền lâm sàng đang tiến triển/lành mạnh
D 4
D 3
D 1
Ngưỡng chẩn đoán trong các điều tra dịch tễ cổ điển (WHO)
Ngưỡng áp dụng trên lâm sàng
và nghiên cứu
Ngưỡng có thể xác định nhờ các công cụ hỗ trợ mới hiện nay và trong tương lai
Ngưỡng sử dụng công cụ hỗ trợ
D 3
D 2
D 1
Biểu hiện không
sâu tại ngưỡng
chẩn đoán D 3
Cần thay đổi chiến lược phát hiện và điều trị
Hình 1.5 Sơ đồ tảng băng[12]
Trang 1915
D0: + Tổn thương không phát hiện trên lâm sàng bằng phương pháp thông
thường, chỉ có thể phát hiện bằng phương pháp hiện đại ( laser)
+ Tổn thương có thể phát hiện trên lâm sàng nhờ hỗ trợ X quang
D1: Tổn thương phát hiện trên lâm sàng, bề mặt men răng còn giữ nguyên cấu
trúc
D2: Tổn thương phát hiện trên lâm sàng không cần cận lâm sàng (tổn thương
chỉ giới hạn ở men răng)
D3: Tổn thương phát hiện trên lâm sàng khi đã tổn thương vào ngà răng
D4: Tổn thương vào tủy răng
1.2.4.8 Phân loại theo hệ thống đánh giá và phát hiện sâu răng quốc tế ICDAS (International Caries Detection and Assessment System) [13], [14]
0 Lành mạnh, không có dấu hiệu sâu răng
1 Thay đổi sau khi thổi khô hoặc thay đổi giới hạn ở hố rãnh
2 Thay đổi được nhìn từ trên men răng ướt và lan rộng qua hố rãnh
3 Mất chất khu trú ở men (không lộ ngà)
4 Có bóng đen bên dưới từ ngà răng ánh qua bề mặt men liên tục
6 Có lỗ sâu lớn lộ ngà răng > ½ mặt răng
Bảng 1.2 Tiêu chuẩn phát hiện sâu thân răng nguyên phát theo ICDAS 1.2.4.9 Phân loại sâu răng theo WHO 1997
* Sâu men:
- Là tổn thương sâu răng ở giai đoạn sớm, chưa hình thành lỗ sâu
+ Tổn thương thường thấy ở hố và rãnh mặt nhai
+ Khi thổi khô bề mặt răng thấy tổn thương là các vết trắng nhạt trên bề mặt men răng Nếu quá trình mất khoáng liên tục, bề mặt vết trắng chuyển thành mờ đục, không nhẵn như men thường, mắc thám trâm khi khám
Trang 20- Là sâu răng giai đoạn đã hình thành lỗ sâu
- Dựa vào chiều sâu của lỗ sâu, người ta phân loại sâu ngà răng thành sâu ngà nông (nếu tổn thương sâu dưới 2mm) và sâu ngà sâu (nếu tổn thương có chiều sâu từ 2 – 4mm) [1]
1.2.5 Dịch tễ học sâu răng
1.2.5.1 Tình hình sâu răng của trẻ em trên thế giới
Hiện nay trên thế giới, bệnh sâu răng đang dần trở thành 1 vấn đề được quan tâm sâu sắc Tại hội nghị Alma Ata (1978), WHO đã công bố có hơn 90% dân số thế giới mắc bệnh sâu răng và đã phát động chương trình hành động vì sức khỏe răng miệng cho con người đến năm 2000 Bệnh răng miệng trên thế giới có hai khuynh hướng rõ rệt
Ở các nước phát triển: Từ những năm 1940 đến 1960 tình hình sâu răng
rất nghiêm trọng, trung bình trẻ em 12 tuổi có 8-10 răng sâu hoặc răng bị mất
do sâu Chỉ số SMT của Nauy lên tới mức 12,0 năm 1940 Những năm 1980, chỉ số SMT ở tuổi 12 tại các nước đó giảm xuống mức từ 2,0-4,0 Tới năm
1993, chỉ số SMT ở tuổi 12 tại hầu hết các nước công nghiệp hóa đã giảm xuống tới mức thấp 1,2-2,6 Nhìn chung từ những năm cuối của thập kỷ 1970 đến nay, tình hình sâu răng tại các nước phát triển có xu hướng giảm dần, chỉ
số SMT ở lứa tuổi 12 tại các nước ở mức thấp hoặc rất thấp[16]
Trang 21Bảng 1.3 Chỉ số SMT trẻ 12 tuổi ở 1 số nước phát triển [17]
Tuy tỷ lệ sâu răng đang có xu hướng giảm dần nhưng các bệnh răng miệng đặc biệt là sâu răng vĩnh viễn vẫn là vấn đề lớn trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng Những nghiên cứu trong vòng 10 năm trở lại đây cho thấy ở các nước phát triển, tỷ lệ sâu răng hiện vẫn ở mức cao
- Năm 2009 sâu răng được coi là một bệnh mạn tính, có tỷ lệ mắc cao ở trẻ
em 5-17 tuổi, cao gấp 5 lần so với hen và 7 lần so với bệnh sốt mùa hè Trên 50% trẻ từ 5-9 tuổi và 78% trẻ 17 tuổi có ít nhất 1 răng sâu và trám phục hình
Ở các nước đang phát triển: ở thời điểm những năm 1960, tình hình sâu
răng ở mức thấp hơn nhiều so với các nước đang phát triển Chỉ số SMT ở lứa tuổi 12 ở thời kì này là từ 1,3-3,0, thậm chí 1 số nước dưới mức 1,0 như Thái Lan, Uganda, Zaire Tới những năm 1970 và 1980, chỉ số này tăng lên và ở mức 3,0-5,0 và một số nước còn cao hơn như Chile là 6,3 [16]
Trang 22Bảng 1.4 Chỉ số SMT ở trẻ 12 tuổi ở các nước đang phát triển [17]
Năm 2002, trong cuộc điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc lần thứ 2 tại Trung Quốc: mỗi nhóm tuổi tiến hành khám trên 23452 trẻ đã báo cáo kết quả có 45,8% trẻ 12 tuổi bị sâu răng, SMT là 1,0, trẻ 15 tuổi có 52,4% bị sâu răng với chỉ số SMT là 1,4 [20]
Năm 2004, nghiên cứu của Philippus J.van Wyk và Candice van Wyk ở Nam phi cho thấy tỷ lệ sâu răng ở học sinh 12 tuổi là 36,9%, ở học sinh 15 tuổi là 51% với chỉ số SMT tương ứng là 1,1 và 1,9 [21]
Qua các nghiên cứu trên ta thấy từ năm 1980 cho đến nay, tình hình bệnh sâu răng tại các nước đang phát triển đang có xu hướng gia tăng, các nghiên cứu tại nhiều quốc gia cho thấy tỷ lệ sâu răng và chỉ số SMT của học sinh đều
ở mức cao
1.2.5.2 Tình hình sâu răng tại Việt Nam
Từ trước đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về tình trạng sâu răng tại nhiều địa phương, ở các quy mô khác nhau nhưng các kết quả đều cho thấy tỉ
lệ sâu răng tại Việt Nam có xu hướng tăng lên
Năm 1964, theo điều tra của Vũ Xuân Uông, tỷ lệ sâu răng ở Hà Nội là 57,86% [22] Đến năm 1978, Võ Thế Quang thông báo tỷ lệ sâu răng ở lứa tuổi 7-15 là 72%, lứa tuổi 26-45 là 91%, lứa tuổi 45-60 là 94% [22] cho thấy
tỷ lệ sâu răng ở Việt Nam tăng lên nhanh chóng
Trang 2319
Kết quả điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn quốc lần thứ 1 năm 1991, so sánh với kết quả điều tra răng miệng toàn quốc lần thứ 2 năm 2001, tình hình sâu răng ở Việt Nam cũng có xu hướng tăng lên và không đồng đều giữa các vùng miền trong cả nước
12 tuổi tại trường THCS Tân Mai là 76,3%, ở học sinh 15 tuổi là 86,4% với chỉ số SMT ở học sinh 12-15 tuổi là 2,85 cho thấy tỷ lệ sâu răng hiện còn ở mức cao [11]
Năm 2013, theo nghiên cứu của Phạm Thị Thư và cộng sự tỷ lệ sâu răng của học sinh 18 tuổi tại trường PTTH Chu Văn An là 50,8%,ở nam là 47,5%, ở nữ là 52,6%, chỉ số SMT là 1,83 [23]
1.3 CHĂM SÓC RĂNG MIỆNG
Sâu răng là bệnh do nhiều nguyên nhân, có nhiều yếu tố tác động ảnh hưởng đến sự hình thành tổn thương sâu răng Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu về sự ảnh hưởng của thói quen chăm sóc răng miệng với bệnh sâu răng và đều thấy thói quen chăm sóc răng miệng có liên quan đến tỷ
lệ mắc bệnh
Trang 2420
Chăm sóc răng miệng đúng cách (gồm chải răng, súc miệng sau khi ăn, dùng chỉ tơ nha khoa làm sạch kẽ răng, ) là biện pháp không thể thiếu trong
dự phòng các bệnh răng miệng, bao gồm cả bệnh sâu răng
Một số nghiên cứu ngoài nước cũng đã đề cập đến vấn đề này
Mahmoud K Al-Omiri và CS nghiên cứu ở 557 học sinh độ tuổi trung bình là 13,5 một trường học ở phía bắc Jordan, báo cáo cho thấy 83,1% học sinh có sử dụng bàn chải và kem đánh răng để VSRM; 36,4% chải răng buổi sáng; 52,6% chải răng buổi tối trước khi đi ngủ và 17,6% chải răng cả buổi sáng và tối trước khi đi ngủ Có 66% học sinh đi khám răng miệng định kỳ, 46,9% chỉ đến nha sĩ khi đau và 20,1% ít khi hoặc không bao giờ đến nha sĩ [24] Ling Zhu và công sự nghiên cứu ở 4400 học sinh từ 12-18 tuổi ở Trung Quốc(năm 2003) thấy 44.4% học sinh chải răng ít nhất 2 lần/ngày nhưng chỉ
có 17% có sử dụng thuốc đánh răng có Fluor; 29% học sinh 12 tuổi chỉ đến khám bác sĩ khi răng đã bị đau [25]
Tại Việt Nam, có một số công trình nghiên cứu của các tác giả như:
Theo nghiên cứu của Trần Văn Trường và cộng sự tỷ lệ học sinh chải răng, dùng kem đánh răng, nước súc miệng, số lần chải răng/ngày, chưa từng được khám răng như sau:
Tuổi Chải răng
hôm trước
Dùng kem đánh răng
Dùng nước súc miệng
chải răng
1 lần/ngày
Chưa từng khám răng
Bảng 1.6.Tỷ lệ % học sinh chăm sóc răng miệng ở Việt Nam [26]
Theo nghiên cứu của tác giả Lê Bá Nghĩa ở học sinh 12-15 tuổi cũng cho thấy: kiến thức, thái độ, hành vi CSRM tốt ở học sinh chiếm tỉ lệ tương đối cao: có 99,3% học sinh biết CSRM đúng cách là để phòng sâu răng, 93,8%
Trang 2521
biết được ăn đồ ngọt nhiều dễ sâu răng, 88,0% biết nguyên nhân sâu răng, 80,9% biết răng, lợi kém sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân, 69,0% cho rằng sẽ đến nha sĩ ngay lập tức nếu bị sâu răng, 48,6% cho rằng nên đi khám định kỳ Về hành vi: 90,9% đã từng đi khám răng, 94% chải răng ít nhất 2 lần mỗi ngày, 70% chải răng từ 1-3 phút, tuy nhiên chỉ có 43,3 % chải răng đúng cách, 96,6% chải răng buổi sáng thường xuyên, 87,1% chải răng buổi tối thường xuyên, 68,3% xúc miệng sau khi ăn đồ ngọt và 56,5% có dùng nước xúc miệng 2 lần mỗi tuần, 37,5% - 54,1% có uống đồ ngọt, chỉ có 4,4% thường xuyên cho thêm đường vào đồ uống, 50% - 66,3% có ăn đồ ngọt Đồng thời tác giả cũng xác định có mỗi liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sâu răng với kiến thức, thái độ và hành vi CSRM của học sinh [11]
Theo nghiên cứu của Phạm Thị Thư ở học sinh 18 tuổi tại trường PTTH Chu Văn An 2013 cho thấy [23]:
Tỷ lệ học sinh được cha mẹ hướng dẫn VSRM chiếm cao nhất là 39,9%
Tỷ lệ học sinh tự tìm hiểu cách VSRM từ bạn bè, internet hoặc không được hướng dẫn VSRM cho tỷ lệ sâu răng cao 58,1%
Học sinh thay bàn chải trong năm ≥ 3 lần chiếm 45,9%, 2 lần trong năm chiếm 35,4% Học sinh có tần suất đi khám răng trong năm càng nhiều tỷ lệ sâu răng càng giảm Số học sinh thường xuyên ăn vặt là 51,7%, ăn vặt càng nhiều tỷ lệ sâu răng càng tăng
Sau ăn có 39,2% chải răng, 9,6% học sinh dùng tăm Tỷ lệ học sinh chải răng sau ăn bị sâu 48,1% thấp hơn không sâu 51,9%
Số học sinh chải răng kết hợp 64,9%, có 17,7% học sinh chải ngang
Số học sinh chải răng 2 ngày/lần chiếm 64,3%, có 1 học sinh không chải răng Số lần chải răng trong ngày càng tăng tỷ lệ sâu răng càng giảm
Học sinh chải răng từ 1-3 phút chiếm 47,4%, có 22,8% học sinh chải răng dưới 1 phút Thời gian chải răng càng tăng tỷ lệ sâu răng càng giảm
Trang 2622
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Phòng y tế Trường Đại học Y Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: 9/2014 – 6/2015
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
Sinh viên khối Y 1 đang học tại trường Đại học Y Hà Nội
Tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ:
Sinh viên không nằm trong khối Y1
Không tự nguyện tham gia nghiên cứu
Không hợp tác với thầy thuốc
Không đủ phiếu thu thập thông tin
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiếu kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang để xác định tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở sinh viên khối Y1 và mối liên quan với yếu tố thực hành vệ sinh răng miệng
2.2.2 Cỡ mẫu
Dùng công thức cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả cắt ngang[16]
n = Z2(1- / 2 ) 2
d pq
n: Cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu theo mẫu ngẫu nhiên đơn
Z(1-/2): hệ số tin cậy (thường lấy hệ số tin cậy 95% thì Z có giá trị 1,96)
Trang 2723
p : tỉ lệ mắc bệnh răng miệng của quần thể, ước tính tỷ lệ sâu răng là 0,686 (dựa vào tỉ lệ mắc sâu răng của nhóm tuổi 15-17 là 68,6% của Trần Văn Trường năm 2002)[4]
q=1-p : tỉ lệ ước lượng không sâu răng
- Dùng máy tính lập danh sách tên theo thứ tự A, B, C….và chọn ngẫu nhiên
364 sinh viên trong 1050 sinh viên phù hợp với tiêu chuẩn nghiên cứu
- Lên danh sách sinh viên được chọn
- Liên hệ giải thích, thông báo về mục đích, thời gian, địa điểm nghiên cứu
và tiến hành điều tra thử
2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin
2.2.4.1 Công cụ thu thập thông tin
- Sử dụng bộ câu hỏi và phiếu khám để thu thập thông tin
- Sử dụng dụng cụ khám để đánh giá tình trạng sâu răng bao gồm:
+ Bộ khay khám: khay quả đậu, gương, gắp, thám trâm đầu tù
+ Phương tiện chiếu sáng : đèn pin
+ Dụng cụ khử khuẩn
+ Các dụng cụ khác : bông, cồn, găng tay, giấy lau tay
Trang 2824
Hình 2.1 Bộ khay khám 2.2.4.2 Người khám
- Sinh viên Y6 chuyên khoa Răng-Hàm-Mặt ( Lớp Y6R Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt – trường Đại học Y Hà Nội)
- Các sinh viên được tập huấn khám nhằm thống nhất phương pháp phỏng vấn
và phương pháp khám, thống nhất cách sử dụng bộ câu hỏi và cách khám bệnh nhân, có trách nhiệm và tuyệt đối tuân thủ quy trình nghiên cứu khoa học, nắm vững mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu
2.2.4.3 Các bước tiến hành
Bước 1: + Liên hệ với phòng đào tạo và phòng y tế trường ĐH Y Hà Nội, lấy
danh sách sinh viên khối Y1, chọn số lượng sinh viên theo cỡ mẫu đã tính + Lập danh sách sinh viên được chọn, liên hệ giải thích, thông báo
về mục đích, thời gian, địa điểm nghiên cứu
Bước 2: Tập huấn nhóm nghiên cứu về phương pháp khám và sử dụng phiếu
khám, bộ câu hỏi, cách ghi phiếu đánh giá, tiến hành điều tra thử
Bước 3: Chuẩn bị dụng cụ
Bước 4: Khám và đánh giá bệnh sâu răng theo WHO có sử dụng phiếu câu
hỏi và dụng cụ khám
Trang 2925
- Sinh viên được phỏng vấn theo phiếu câu hỏi Cán bộ điều tra hướng dẫn, giải thích cho sinh viên hiểu nội dung từng câu hỏi, ghi lại trung thực và đầy
đủ câu trả lời vào phiếu điều tra
- Tiến hành khám răng miệng theo tiêu chuẩn lỗ sâu của WHO 1997 [15], thông tin thu được ghi lại vào phiếu khám
Răng lành mạnh:
- Răng không có dấu chứng lâm sàng về sâu răng đã điều trị hoặc chưa điều trị Các giai đoạn của bệnh sâu răng trước khi tiến triển thành lỗ sâu đều không được ghi nhận là sâu răng
Một số khiếm khuyết sau đây được coi là răng tốt:
+ Các đốm trắng hay đục
+ Hố rãnh nhiễm sắc, mắc thám trâm nhưng không có đáy mềm
+ Vùng men lỗ rỗ, sậm màu, cứng bóng trên 1 răng có dấu hiệu nhiễm fluor với mức độ trung bình hay nặng
+ Các sang thương khuyết cứng, bóng do mòn hoặc ngót răng
+ Miếng trám vỡ hay bong thì được ghi mã số sâu
Răng đã trám và không sâu:
Thân răng có 1 hay nhiều miếng trám và không có lỗ sâu bất cứ chỗ nào khác trên thân răng Răng đã bọc chụp riêng lẻ do trước kia bị sâu và đã được trám tái tạo lại cũng được tính vào loại này
Trang 30Một phần thân răng bị gãy chưa hoặc đã được hàn do chấn thương, không
có chứng cứ nào do sâu răng
Chẩn đoán xác định sâu răng dựa theo tiêu chuẩn lỗ sâu của WHO 1997:
Răng được chẩn đoán là sâu khi có tổn thương ở hố, rãnh hoặc trên bề mặt nhẵn, ấn thám trâm đầu tù với một lực vừa phải kèm theo các dấu hiệu khác như sau:
Đáy lỗ sâu mềm
Có vùng đục xung quanh chỗ mất khoáng
Dùng thám trâm cạo đi được ngà mềm ở xung quanh Chú ý: vùng đục do mất khoáng mà chưa có ngà mềm vẫn được kể là răng lành mạnh
Chẩn đoán phân biệt sâu răng với:
+ Thiểu sản: thường là những vệt mất men dài tạo thành dải, ngấn bậc thang
và thường đi kèm với nhiễm Tetracyclin
+ Lõm hình chêm: Vết lõm thường gặp ở vùng cổ răng, nhẵn bóng và không lắng cặn thức ăn, vết lõm hình tam giác đỉnh quay vào trong
+ Men răng đổi màu do nhiễm Fluor: thường gặp ở một nhóm răng tạo thành những dải đổi màu, bề mặt men lồi lõm
+ Mòn mặt nhai: thường gặp ở răng hàm, bề mặt nhẵn bóng, đáy cứng không lắng đọng thức ăn
Phương pháp khám
+ Khám dưới ánh sáng tự nhiên, nơi đủ ánh sáng kết hợp đèn chiếu sáng đúng phương pháp
Trang 3127
+ Khám lâm sàng tình trạng sâu răng của sinh viên bằng mắt thường và thám trâm đầu tù kết hợp qua các chỉ số và tiêu chuẩn đánh giá
Bước 5: Xử lý số liệu, viết và hoàn thành khóa luận
2.2.5 Các chỉ số dùng trong nghiên cứu
2.2.5.1 Chỉ số sâu – mất – trám răng vĩnh viễn (SMT)
Chỉ số SMT :Dùng cho răng vĩnh viễn với tổng số răng là 28 răng, răng chưa mọc,răng thừa , răng sữa không được tính vào chỉ số này
- Tiêu chuẩn đánh giá: Gồm 3 phần
+ Răng sâu (S): bao gồm tất cả các răng bị sâu ở thân, chân răng và các răng
đã hàn nhưng bị sâu tái phát
+ Răng mất (M): bao gồm các răng bị mất do sâu và mất răng do nguyên nhân khác
+ Răng trám (T): răng đã bị trám và không bị sâu tái phát
- Chỉ số SMT cho cá thể bằng tổng số răng Sâu + Mất + Trám
- Chỉ số SMT cho cộng đồng bằng tổng số răng Sâu + Mất + Trám chia cho tổng số người được khám
- S/SMT: Tỷ lệ răng sâu không được điều trị tại cộng đồng
Bảng 2.1 Quy ước của WHO về ghi mã số SMT [15]
Trang 3228
2.2.5.2 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Biến số về đặc điểm đối tượng nghiên cứu:
- Giới
Biến số về yếu tố ảnh hưởng đến sâu răng:
- Giới
- Thói quen CSRM
Biến số về tỷ lệ sâu răng và chỉ số SMT:
- Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn
- Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn theo giới
- Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn theo vị trí ( hàm trên, hàm dưới)
- Tỷ lệ sâu răng theo nhóm răng
- Tỷ lệ sâu răng theo số lượng răng
- Các chỉ số S, M, T, SMT
2.2.5.3 Tiêu chí phân loại kết quả
Các kết quả được so sánh với các chỉ số theo phân loại WHO như sau:
Bảng 2.2 Tỷ lệ sâu răng theo phân loại WHO[15]
Trang 3329
2.2.5.4 Độ tin cậy
Trong khi khám hoặc tập huấn chọn ra 5-10% số sinh viên trong mẫu nghiên cứu, tiến hành khám lại bởi cùng 1 người khám và bởi 1 người khác để đánh giá độ tin cậy giữa cùng 1 người khám và giữa những người khám khác nhau
Các thông tin được ghi vào phiếu khám như bình thường Đánh giá độ tin cậy bằng chỉ số kappa và so sánh với bảng phân loại chuẩn:
Số liệu được thu thập và làm sạch trước khi đưa vào phân tích
Phân tích bằng phương pháp thống kê y học, sử dụng phần mềm SPSS
16.0 và một số thuật toán thống kê
2.4 SAI SỐ VÀ CÁCH KHẮC PHỤC
Sai số
Đối tượng không hiểu câu hỏi, trả lời sai
Bỏ sót tổn thương trong quá trình khám
Ghi nhầm vào phiếu khám
Đối tượng không hợp tác
Trang 3430
Cách khắc phục:
Xây dựng bộ câu hỏi đơn giản, dễ hiểu
Khám đủ và đúng phương pháp
Kiểm tra lại ngẫu nhiên các phiếu đã khám
Tập huấn kỹ về phiếu khám cho những người tham gia nghiên cứu
để thống nhất về cách khám
Tạo không khí vui vẻ, thân thiện để dễ có sự hợp tác của đối tượng
và cán bộ tại địa điểm tiến hành nghiên cứu
2.5 KHÍA CẠNH ĐẠO ĐỨC CỦA NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Y Hà Nội có sự đồng ý của nhà trường và hợp tác của phòng y tế
- Giải thích rõ cho đối tượng về mục đích của nghiên cứu, trách nhiệm của người nghiên cứu, trách nhiệm và quyền lợi của người tham gia nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ tiến hành trên những đối tượng hoàn toàn tự nguyện, không ép buộc và trên tinh thần hợp tác
- Toàn bộ thông tin thu thập được chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu mà không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác
- Trong khi khám nếu phát hiện các tình trạng bệnh lý răng miệng, bệnh nhân sẽ được tư vấn điều trị
- Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi lại cho nhà trường
Trang 35viên nam chiếm tỷ lệ thấp hơn (41,2%) so với nhóm sinh viên nữ (58,8%)
3.2 THỰC TRẠNG SÂU RĂNG VĨNH VIÊN CỦA NHÓM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Biểu đồ 3.2 Phân bố tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn Nhận xét:Trong 364 sinh viên tham gia nghiên cứu thì có 179 sinh viên
sâu răng vĩnh viễn chiếm tỷ lệ 49,2% và 185 sinh viên không sâu răng vĩnh viễn chiếm tỷ lệ là 50,8%