Các rối loạn tâm thần thường gặp bao gồm một nhóm các trạng thái lo âu trầm cảm và rối loạn dạng cơ thể, thường gặp phải trong cộng đồng và hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu [4].. Tại V
Trang 1ĐOÀN THỊ MAI
RỐI LOẠN TÂM THẦN THƯỜNG GẶP TRÊN PHỤ NỮ CÓ THAI DƯỚI 24 TUẦN TẠI ĐÔNG ANH - HÀ NỘI NĂM 2014-2015
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2009 – 2015
Hà Nội – 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ĐOÀN THỊ MAI
RỐI LOẠN TÂM THẦN THƯỜNG GẶP TRÊN PHỤ NỮ CÓ THAI DƯỚI 24 TUẦN TẠI ĐÔNG ANH - HÀ NỘI NĂM 2014-2015
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2009 – 2015
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PHÓ GIÁO SƯ.TIẾN SĨ NGUYỄN THỊ THÚY HẠNH
Hà Nội – 2015
Trang 3cộng đã đào tạo em trong 6 năm học
Em xin chân thành cám ơn các phòng ban, bộ môn và thầy cô giáo trường Đại Học Y Hà Nội đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn Dân số vì những kiến thức quí báu trong suốt thời gian học tập vừa qua
Em xin chân thành cám ơn cán bộ, bác sĩ Phòng công tác Chính trị học sinh sinh viên, Phòng Đào tạo Đại học đã tạo điều kiện tốt nhất giúp em hoàn thành khóa luận
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS TS Nguyễn Thị Thúy Hạnh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cán bộ của dự án PAVE, cán bộ và những người dân tại huyện Đông Anh- Hà Nội những người đã nhiệt tình hợp tác và tạo điều kiện để việc thu thập số liệu của tôi được nhanh chóng và thuận tiện
Cuối cùng, em xin gửi tấm lòng biết ơn tha thiết và sâu sắc nhất tới gia đình thân yêu cùng những người bạn đồng khóa đã luôn luôn sát cánh, ủng
hộ và khuyến khích tôi
Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2015 Sinh viên
Đoàn Thị Mai
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Kính gửi:
Ban giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội
Phòng đào tạo Đại học trường Đại học Y Hà Nội
Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng trường Đại học Y Hà Nội
Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
Em là Đoàn Thị Mai, sinh viên tổ 28 lớp Y6H trường Đại học Y Hà Nội Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tự bản thân
em thực hiện Các số liệu trong bản khóa luận này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố tại công trình nghiên cứu khoa học khác
Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Đoàn Thị Mai
Trang 5CMDs: Common mental disorders
SRQ-20: Self Reporting Questionnaire-20
LAMIC: Low and Middle Income Countries
EPDS: Edinburgh Postnatal Depression Scale
DSM-IV: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders-IV ICD-10: International Classification of Diseases-10
PE/E: Pre-eclampsia/ Eclampsia
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Các khái niệm và định nghĩa 3
1.1.1 Rối loạn tâm thần thường gặp (Common mental disorders) 3
1.1.2 Rối loạn tâm thần thường gặp trên phụ nữ mang thai 3
1.2 Sức khỏe tâm thần trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu 5
13 Tình hình rối loạn tâm thần thường gặp đối với phụ nữ mang thai 7
1.3.1 Tình hình trên thế giới 7
1.3.2 Tình hình tại Việt Nam 8
1.3.3 Hậu quả của CMDs 9
1.4 Các thang đo rối loạn tâm thần thường gặp 11
1.4.1 Thang đo SRQ-20 11
1.4.2 Thang đo trầm cảm sau sinh (EPDS): 13
1.4.3 Thang đo International Classification of Diseases (ICD-10) và Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders- IV (DSM-IV) 14
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 15
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 15
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 17
2.2 Đối tượng nghiên cứu 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu 18
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 18
2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 18
2.3.2.1 Cỡ mẫu 18
2.3.2.2 Cách chọn mẫu 18
2.3.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu 19
2.4 Kỹ thuật và phương pháp thu thập thông tin 21
2.5 Quy trình thu thập số liệu. 21
2.6 Sai số trong nghiên cứu 22
Trang 73.1 Thực trạng rối loạn tâm thần thường gặp ở phụ nữ có thai dưới 24
tuần tuổi 24
3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2 Tỉ lệ phụ nữ có thai dưới 24 tuần tuổi có rối loạn tâm thần thường gặp 26
3.2 CMDs và các yếu tố liên quan 29
3.2.1 Mối liên quan giữa CMDs và các yếu tố cá nhân người phụ nữ 29 3.2.2 Mối liên quan giữa CMDs và sức khỏe sinh sản của người phụ nữ 30
3.2.3 Mối liên quan giữa CMDs trên phụ nữ mang thai dưới 24 tuần tuổi và yếu tố gia đình xã hội 31
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 34
4.1 Tỷ lệ phụ nữ bị rối loạn tâm thần thường gặp 34
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến CMDs 36
4.3 Các yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần thường gặp đối với phụ nữ mang thai 37
4.4 Hạn chế của nghiên cứu 40
KẾT LUẬN 41
KHUYẾN NGHỊ 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8Hình 1: Bản đồ huyện Đông Anh- Hà Nội 16
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ phụ nữ có thai dưới 24 tuần có CMDs 26
Bảng 3.1: Bảng thông tin chung của phụ nữ mang thai 24
Bảng 3.2: Bảng phân bố tỷ lệ CMDs theo nhóm tuổi 26
Bảng 3.3: Phân bố tỉ lệ CMDs theo trình độ học vấn 27
Bảng 3.4: Phân bố tỷ lệ CMDs theo nhóm nghề nghiệp 28
Bảng 3.5: Phân bố tỷ lệ CMDs theo các nhóm kinh tế 28
Bảng 3.6: Mối liên quan giữa CMDs và các yếu tố cá nhân 29
Bảng 3.7: Mối liên quan giữa tiền sử có sảy, lưu hoặc phá thai và tình trạng CMDs 30
Bảng 3.8: Mối liên quan giữa các yếu tố liên quan đến người chồng và tình trạng CMDs 31
Bảng 3.9: Mối liên quan giữa hành vi của người chồng và tình trạng CMDs 32 Bảng 3.10: Mối liên quan giữa tần suất cãi nhau giữa hai vợ chồng và tình trạng CMDs 32
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa việc sống chung với bố mẹ chồng và tình trạng CMDs 33
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn tâm thần là một vấn đề sức khỏe khá phổ biến mang tính toàn cầu Trên thế giới cứ 3 người lại có một người bị mắc bệnh (có tiêu chí đầy đủ) tại một thời điểm nào đó trong đời họ [1] Các rối loạn tâm thần đang ngày càng trở nên phổ biến ở các nước đang phát triển Nguyên nhân là do các điều kiện nghèo khổ kéo dài (thiếu điều kiện giáo dục, ăn ở, triển vọng công ăn, việc làm, công việc quá tải), các thay đổi nhanh chóng về kinh tế xã hội, xung đột chính trị và thiên tai [2] Theo thống kê dịch tễ học về Sức khỏe tâm thần của Tổ chức Y tế thế giới, các rối loạn (bệnh tật) liên quan đến stress đang gia tăng rất nhanh, tỷ lệ chung trong dân số có thể từ 5% - 10% và thậm chí ở một số nước phát triển con số này còn lên đến 15% - 20% Cũng theo WHO, vào năm 2010, các rối loạn tâm thần chiếm 15% tổng số gánh nặng bệnh tật của xã hội
Sức khỏe tâm thần ở Việt Nam không nằm ngoài tình hình chung của toàn cầu Kết quả điều tra quốc gia năm 1999-2000 cho thấy tỷ lệ mắc 10 bệnh tâm thần phổ biến là 15% Một số nghiên cứu gần đây vào năm 2014 ở quy mô nhỏ hơn cho thấy tỷ lệ rối loạn tâm thần khoảng 20-30% [3]
Các rối loạn tâm thần thường gặp bao gồm một nhóm các trạng thái lo âu trầm cảm và rối loạn dạng cơ thể, thường gặp phải trong cộng đồng và hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu [4] Mang thai và sinh con được chứng minh là yếu tố nguy cơ làm xuất hiện và nặng thêm các rối loạn tâm thần Stress khi mang thai xảy ra ở rất nhiều phụ nữ [5] Tâm trạng thay đổi khi mang thai có thể được gây ra bởi căng thẳng, mệt mỏi, thay đổi trong trao đổi chất của cơ thể hoặc bởi các hormone estrogen và progesterone Mặt khác, còn do mối quan hệ của người phụ nữ trong xã hội, mối quan hệ với chồng
và các căng thẳng trong cuộc sống gia đình hàng ngày [6]
Trang 10Tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính rằng tỷ lệ các rối loạn tâm thần thường gặp trên phụ nữ mang thai ở các nước thu nhập thấp trung bình từ 10% đến 41,2% [7]
Tại Việt Nam một nghiên cứu được tiến hành trên phụ nữ mang thai từ 12 đến 20 tuần, sử dụng thang đo trầm cảm sau sinh EPDS cho kết quả có 40% phụ nữ mang thai ở đầu thai kì và 28% phụ nữ mang thai ở cuối thai kì có các rối loạn tâm thần thường gặp[8]
Rối loạn tâm thần thường gặp được coi là nghiêm trọng đối với phụ nữ mang thai vì nó không những ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ sơ sinh Sự xuất hiện của rối loạn tâm thần thường gặp (CMDs) trong khi mang thai là một yếu tố dự báo trầm cảm sau sinh Đứa trẻ sơ sinh có bà mẹ bị trầm cảm có sự tăng trưởng phát triển kém hơn so với trẻ sơ sinh của các bà mẹ không bị trầm cảm
Hiện tại, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể về rối loạn tâm thần thường gặp trên phụ nữ, đặc biệt là đối với phụ nữ có thai và những yếu
tố ảnh hưởng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Rối loạn tâm thần thường gặp trên phụ nữ có thai dưới 24 tuần tại huyện Đông Anh- Hà Nội năm 2014-2015 và các yếu tố liên quan” với những mục tiêu chính sau:
1 Mô tả thực trạng rối loạn tâm thần thường gặp đo bằng thang SRQ-20 trên phụ nữ có thai dưới 24 tuần tại huyện Đông Anh- Hà Nội năm 2014-2015
2 Mô tả một số yếu tố về bản thân người phụ nữ, hành vi của chồng và cuộc sống gia đình liên quan đến rối loạn tâm thần thường gặp của phụ
nữ
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Các khái niệm và định nghĩa
1.1.1 Rối loạn tâm thần thường gặp (Common mental disorders)
Rối loạn tâm thần thường gặp bao gồm một nhóm các trạng thái lo âu, trầm cảm và rối loạn dạng cơ thể, thường gặp phải trong cộng đồng và hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu [4] CMDs hiện đang là nguyên nhân hàng đầu về sức khỏe tâm lí trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu [9] Nghiên cứu trên nhiều quần thể sinh học luôn cho thấy rằng nghèo đói và không được chăm sóc làm tăng nguy cơ gặp những rối loan này [10]
Rối loạn này có triệu chứng như là: mệt mỏi, chứng mất ngủ, tính hay quên, khó tập trung, tính dễ kích thích và rối loạn bản thể [4]
Rối loạn tâm thần thường gặp (CMDs) phổ biến hơn ở phụ nữ, một phần
là do sự chênh lệch về giới trong tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ như nghèo đói, bệnh tật và bạo lực gia đình [11]
1.1.2 Rối loạn tâm thần thường gặp trên phụ nữ mang thai
CMDs trong thời kì mang thai là rối loạn trầm cảm và lo âu được phân loại trong ICD-10 là “loạn thần kinh, rối loạn liên quan đến stress chất về tinh thần” và “rối loạn tâm trạng” [10][12]
Mang thai và sinh con được chứng minh là yếu tố nguy cơ làm xuất hiện
và nặng thêm các rối loạn tâm thần [5] CMDs đã được nghiên cứu cả trong dân số nói chung và trong phụ nữ có thai so với phụ nữ không mang thai Trong thời gian mang thai, CMDs đã được coi là một yếu tố dự báo khả năng các kết quả của sản khoa và trẻ sơ sinh [13][14]
Trang 12Thay đổi về sinh lý trong quá trình mang thai tác động đến tâm lí của người phụ nữ Các chuyên gia tìm thấy mối quan hệ giữa hàm lượng hormone
và chất dẫn truyền thần kinh của não (đặc biệt là serotonin- một chất hóa học điều khiển tâm trạng) gây nên xáo trộn trong tâm sinh lý ở phụ nữ mang thai Khi phụ nữ mang thai, cơ thể có những thay đổi toàn diện, do những biến đổi trong trao đổi chất của cơ thể hoặc bởi các hoormone estrogen và progesterone Sự thay đổi hàm lượng hoormone có ảnh hưởng đến hệ thần kinh, trong đó có các chất tác động “điều chỉnh” tâm trạng Cảm giác mệt mỏi, căng thẳng, cáu gắt hay lo lắng đều xuất phát từ căn nguyên này Phụ nữ khi mang thai đều ít nhiều có những thay đổi, tùy thuộc vào cơ địa, thể chất
và điều kiện sống của mỗi người Nhìn chung, những bất ổn trong tâm lý của
bà bầu suốt thai kỳ là điều khó tránh do chịu sự chi phối của những thay đổi hormone bên trong cơ thể
Sự thay đổi hàm lượng các hóc môn trong thai kì dẫn đến sự thay đổi cảm xúc của người phụ nữ [15] Quá trình mang thai xảy ra sự thay đổi của 6 hormone chính sau đây:
Human Chorionic Gonadotropin(HCG): không có nghiên cứu nào chắc chắn khẳng định những gì là nguyên nhân gây ra ốm nghén, nhưng nhiều bác sĩ cho rằng nó có liên quan đến mức độ tăng HCG Phụ nữ có hàm lượng HCG cao thường bị buồn nôn và nôn nhiều hơn
Progesterone: làm giãn cơ trơn, mạch máu gây nên huyết áp thấp hơn bình thường và đôi khi chóng mặt.Sự tăng lượng Progesterone khiến não bộ chùng xuống và khiến cho sản phụ dễ rơi vào trạng thái buồn ngủ trong suốt thời kì mang thai
Trang 13 Estrogen: nổi tĩnh mạch dưới da, buồn nôn, tăng sư thèm ăn và một
số thay đổi về da
Oxytocin: tác dụng giảm căng thẳng và lo lắng
Prolactin: có tác dụng an thần
Relaxin: làm giãn dây chằng, khiến bạn đau mỏi và hạn chế vận động các khớp gối, hông và mắt cá chân
1.2 Sức khỏe tâm thần trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu
WHO xác định 7 lý do để đưa sức khỏe tâm thần vào cơ cấu chăm sóc ban đầu:
Gánh nặng của các rối loạn tâm thần rất lớn với các nhân những người
bị ảnh hưởng và gia đình của họ và tạo ra những khó khăn kinh tế- xã
hội nặng nề có ảnh hưởng đến toàn xã hội
Có một khoảng cách đáng kể giữa tỷ lệ rối loạn tâm thần và số lượng người được điều trị
Các vấn đề sức khỏe tâm thần và thể chất được liên kết với nhau, tổng hợp các dịch vụ chăm sóc khẳng định những người được cung cấp cần được đối xử công bằng
Khi sức khỏe tâm thần lồng ghép với chăm sóc sức khỏe ban đầu, mọi người có thể nhận được các dịch vụ sức khỏe tâm thần gần vùng lân cận, làm nâng cao sức khỏe tâm thần và tiếp cận cộng đồng
Chăm sóc ban đầu cho sức khỏe tâm thần sẽ ít tốn kém cho bệnh nhân, cộng đồng và chính phủ
Chăm sóc sức khỏe ban đầu về sức khỏe tâm thần làm tăng thêm sự tôn trọng các quyền con người
Đưa sức khỏe tâm thần vào hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu có thể mang lại kết quả tốt đẹp hơn trong chẩn đoán rối loạn tâm thần cho kết
Trang 14quả cải thiện tình trạng sức khỏe sau cùng của bệnh nhân chỉ khi tìm ra các chăm sóc thích hợp đi theo sau, tăng cường giới thiệu đến các chuyên gia chăm sóc sức khỏe hành vi với sự hỗ trợ bổ sung có thể dẫn đến nâng cao tối đa kết quả , truyền đạt cho các bác sĩ, chăm sóc cần được sắp xếp hợp lý trên cơ sở phương pháp tiếp cận dựa trên bằng chứng nhu cầu cấp bách phải đảm bảo những nguyên tắc và biện pháp liên quan đến phác đồ điều trị nên được cung cấp cho các bác sỹ đa khoa và nhân viên chăm sóc ban đầu, tiếp theo điều trị ban đầu của nhân viên chăm sóc ban đầu, nên giới thiệu các rối loạn sức khỏe tâm thần phức tạp đến bác sĩ tâm thần và chuyên gia tâm lý học chuyên sâu
Khuyến cáo của WHO là nguyên tắc lồng ghép sức khỏe tâm thần trong chăm sóc ban đầu như kế hoạch và chính sách phải được điều chỉnh để thực hiện chăm sóc ban đầu cho sức khỏe tâm thần; những thay đổi phải có chủ trương đúng; đào tạo đầy đủ cần được phổ biến bên cạnh phân bố nhiệm vụ; nhạy cảm ở các cấp độ khác nhau là điều cần thiết; hợp tác giữa chính phủ và các tổ chức phi chính phủ là cần thiết để làm việc trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu; cần phải dành riêng đầy đủ các nguồn lực tài chính và nhân lực để đảm bảo sự sẵn có của dịch vụ cho số lượng tối đa của khách hàng [2] Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể trong lính vực sức khỏe tâm thần Chương trình mục tiêu quốc gia (chương trình ưu tiên hàng đầu) về sức khỏe tâm thần được hình thành năm 1999 Chương trình đã tập trung vào xây dựng “mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng” đến nay
mô hình đã bao phủ trên toàn 64 tỉnh thành với gần 40% xã/phường của Việt Nam Nhờ có mô hình này những người bị tâm thần phân liệt và động kinh đã được quản lý tại cộng đồng và sự miệt thị được giảm bớt Điều này đóng góp phần rất lớn trong việc giảm đau khổ và vất vả cho cho cả bệnh nhân và gia
Trang 15đình họ Tuy nhiên mô hình này vẫn còn thiếu sót Các bệnh tâm thần khác- đặc biệt là trầm cảm- chưa được quản lý trong mô hình Điều này có nghĩa là những người mắc những bệnh này không nhận được sự chăm sóc và điều trị đầy đủ tại cộng đồng thậm chí tại các cơ sở y tế Hơn nữa, khái niệm rối loạn tâm thần- tình trạng ban đầu của bệnh tâm thần chưa được nhận thức đầy đủ Kết quả là các vấn đề về sức khỏe tâm thần chỉ được xem như là các vấn đề của ngành y tế và chương trình sức khỏe tâm thần hiện nay có xu hướng chú trọng vào khía cạnh lâm sàng hơn là phát hiện sớm và phòng ngừa bệnh phát sinh với sự tham gia của các ban ngành khác và toàn xã hội [3]
1.3 Tình hình rối loạn tâm thần thường gặp đối với phụ nữ mang thai
Các rối loạn tâm thần thường gặp (lo âu, trầm cảm và rối loạn dạng cơ thể) phổ biến ở những phụ nữ sống ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, người đang mang thai hoặc mới sinh con Một tổng quan và phân tích hệ thống kết luận rằng trung bình ở các nước này , 16% phụ nữ mang thai và 20% phụ nữ chăm sóc trẻ sơ sinh có triệu chứng đáng kể của một rối loạn
Trang 16tâm thần, và tỷ lệ này cao hơn nhiều ở các phụ nữ không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ y tế và an sinh xã hội [16]
Tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính rằng tỉ lệ các rối loạn tâm thần thường gặp ở phụ nữ mang thai ở các nước thu nhập thấp trung bình từ 10% đến 41.2% [7] Tại Brazil, nghiên cứu sử dụng SRQ-20 để đánh giá với điểm cắt là 7/8 cho kết quả là tỷ lệ nhiễm CMDs trong phụ nữ mang thai ở vùng có
sự phát triển kinh tế xã hội thấp là 20,2% [17]
Một nghiên cứu trên phụ nữ có thai tại Jimma Zone phía tây nam Ethopia (châu Phi); sử dụng SRQ-20 để đánh giá đã cho kết quả tỷ lệ phụ
nữ mang thai có CMDs là 22,4% [18]
Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành với 1120 phụ nữ mang thai ở
độ tuổi 18-49 tuổi, tại bang Pernambuco ở Đông Bắc Brazil, vùng có tỷ
lệ cao các gia đình có thu nhập thấp CMDs được đánh giá bằng cách sử dụng SRQ-20 cho kết quả tỷ lệ phụ nữ có CMDs trong khi mang thai là 33,8% [19]
Nghiên cứu khác tiến hành ở vùng thủ đô của Ethopia, 753 phụ nữ mang thai đã được đưa vào nghiên cứu Kết quả là tỷ lệ có CMDs (SRQ-
20 score> 6) đã được tìm thấy là 26,2% (95% CI 23,04 -29,36) [20]
1.3.2 Tình hình tại Việt Nam
Tại Việt Nam hiện đã có một số nghiên cứu về rối loạn tâm thần thường gặp trên phụ nữ mang thai, nhưng chưa có nghiên cứu nào sử dụng thang đo SRQ-20 để đánh giá
Một nghiên cứu được tiến hành trên phụ nữ mang thai từ 12 đến 20 tuần ở địa bàn tỉnh Hà Nam Sử dụng EPDS với điểm cắt >=4 cho kết quả: CMDs trên phụ nữ có thai ở đầu thai kì là 40% và cuối thai kỳ là 28% [8]
Trang 17Một nghiên cứu khác ở vùng nông thôn Việt Nam về CMDs sử dụng thang
đo EPDS cho kết quả: Tỷ lệ CMDs đầu thai kì là 22,4%, cuối thai kì là 10,7%
và cả 2 đợt đánh giá là 17,4% CMDs là phổ biến ở các vùng nông thôn Việt Nam, yếu tố nguy cơ tâm lí xã hội đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề sức khỏe cộng đồng [21]
1.3.3 Hậu quả của CMDs
Hậu quả trên bà mẹ
Trầm cảm, lo lắng và stress trong khi mang thai có thể gây ra tiền sản giật/sản giật (PE/E) [22] Trầm cảm và lo lắng trong đầu thai kỳ có nguy căng làm tăng PE/E cao lên từ 2,5 đến 3,2 lần [23] Tiền sản giật là một biến chứng
đa hệ xảy ra từ sau tuần thứ 20 của thai kỳ và gây ra tỷ tệ đáng kể mắc bệnh
và tử vong trên cả bà mẹ và thai nhi Nghiên cứu bệnh chứng tiến hành tại quận Sukohajo cho kết quả có sự liên quan đáng với tỷ lệ PE/E là: CMDs
(dương tính) (P<0,01; OR=6,11; 95%CI: 2,99-14,07) [9]
Sự xuất hiện của CMDs trong khi mang thai là một yêu tố dự báo trầm cảm sau sinh [24][25] Trong một nghiên cứu nhắm tìm hiểu mối liên quan giữa trầm cảm trong khi mang thai và trầm cảm sau sinh được thực hiên tại brazil sử dụng SRQ-20 để đánh giá trầm cảm, được phát triển cho tầm soát rối loạn tâm thần thường gặp Kết quả tỷ lệ có triệu chứng trầm cảm sau sinh là 31,2% Trong số đó có gần 50% đã có triệu chứng trầm cảm trong lúc mang thai Những phụ nữ có triệu chứng trầm cảm trước sinh có khản năng gặp
trầm cảm sau sinh gấp 2,4 lần so vs những phụ nữ không có như vậy [25]
Hậu quả trên trẻ sơ sinh
Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để kiểm tra mối liên quan giữa CMDs khi mang thai và ảnh hưởng trên trẻ sơ sinh CMDs được nhiều
Trang 18người nghiên cứu cho rằng đó là dự đoán sự thay đổi quá trình sơ sinh và
sự phát triển của đứa bé [26]
Nghiên cứu tiến hành tại Pháp với 634 phụ nữ mang thai đã kết luận rằng các triệu chứng lo lắng, trầm cảm kết hợp với các yếu tố sinh học cụ thể có liên quan với sinh non tự phát [27] Tại Brazil, một nghiên cứu theo chiều dọc tiến hành tại thành phố Jundiai, bang São Paulo, tìm thấy mối liên quan giữa sự căng thẳng trong quá trình mang thai và các biến nhẹ cân
và sinh non Trong một nghiên cứu thuần tập lớn thực hiện ở nước Anh để điều tra mối liên hệ giữa trầm cảm và lo âu trong khi mang thai và sinh thiếu cân thấy rằng sự kết hợp với yếu tố trầm cảm là yếu hơn sau khi điều chỉnh yếu tố gây nhiễu [28]
Trẻ sơ sinh có bà mẹ bị trầm cảm có sự tăng trưởng kém hơn so với trẻ
sơ sinh của các bà mẹ không bị trầm cảm Về trọng lượng, trẻ em ở nhóm
bà mẹ trầm cảm có nguy cơ bị nhẹ cân cao gấp hơn 3 lần ở tháng thứ 3 với OR=3,41 (95%CI: 1,30- 8,52) và cao gấp hơn 4 lần ở tháng thứ 6 với OR=4,21 (95%CI: 1,36- 13,20) so với nhóm phụ nữ không bị trầm cảm Khác biệt này có ý nghĩa thống kê Về chiều dài, trẻ em ở nhóm bà mẹ trầm cảm có nguy cơ bị thấp hơn gấp hơn 3 lần ở cả tháng thứ 3 (OR=3,28; 95%CI: 1,03- 10,47) và tháng thứ 6 (OR=3,34; 95%CI: 1,18- 9,52) so với nhóm phụ nữ không bị trầm cảm Bà mẹ bị trầm cảm có nhiều khả năng cho bé ngừng bú sớm và con của họ có khả năng mắc phải tiêu chảy và các bệnh truyền nhiễm khác cao hơn [29]
CMDs trên phụ nữ có thai ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhận thức của trẻ con tại thời điểm 6 tháng tuổi, nếu không được giải quyết thì trạng
có thể kéo dài thêm [30]
Hậu quả về mặt kinh tế
Trang 19Phụ nữ có rối loạn tâm thần trong thời kì chu sinh (những rối loạn xảy
ra trong khi mang thai cho đến 1 năm sau sinh) đã giảm khả năng tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội và ít có khả năng tuân thủ các khuyến cáo chăm sóc y tế [31][32]
1.4 Các thang đo rối loạn tâm thần thường gặp
1.4.1 Thang đo SRQ-20
SRQ-20 là một thang điểm đánh giá triệu chứng lo âu và trầm cảm về thể chất và tinh thần, được phát triển bởi tổ chức y tế thế giới (WHO) Thang đo SRQ-20 được thiết kế như một dụng cụ để kiểm tra sự rối loạn tâm thần , nhất
là ở các nước đang phát triển SRQ-20 gồm 20 câu hỏi, 16 câu triệu chứng cơ năng và 4 câu hỏi về triệu chứng thực thể, được trả lời bằng có hoặc không Thang đo này thường được sử dụng như bộ câu hỏi tự trả lời Ngoài ra những câu hỏi bổ sung khác nhau đã được sử dụng kết hợp với SRQ-20 để kiểm tra cho sự rối loạn tâm thần và tình trạng lạm dụng thuốc [33]
SRQ-20 đã được dùng để đánh giá CMDs cho nhiều đối tượng:
Nghiên cứu điều kiện làm việc và các rối loạn tâm thần thường gặp của các bác sĩ ở Brazi cho thấy tỉ lệ các bác sĩ có CMDs là 24%
[34]
• Một cuộc khảo sát ở đại học Pernambuco-Brazil (UPE) giữa các sinh viên của một số các khóa học chăm sóc sức khỏe cho thấy một
tỉ lệ chung sinh viên có CMDs là 34,1% [35]
• Nghiên cứu thực hiện ở Campinas, Brazil sử dụng SRQ-20 cho thấy
tỉ lệ CMDs trong dân cư đô thị là 17% [36]
Nghiên cứu CMDs và các yếu tố liên quan ở phụ nữ với trẻ sơ sinh
ở nông thôn Malawi đã chứng minh rằng CMDs là một gánh nặng sức khỏe đáng kể ở những phụ nữ trẻ ở nông thôn Malawi, và được
Trang 20kết hợp với đói nghèo, mối quan hệ khó khăn, nhiễm HIV và các vấn đề sức khỏe trẻ sơ sinh [37]
Nghiên cứu CMDs và bạo lực do chồng trong thai kì được tiến hành tại Y tế huyện II của thành phố Recife, Đông Bắc Brazil, nơi đây các gia đình có thu nhấp thấp chiếm tỉ lệ cao [19]
Bảng câu hỏi tự đánh giá: phụ lục 1
Đánh giá các vấn đề sức khỏe gặp trong 4 tuần gần nhất Mỗi câu trả lời
có tính 1 điểm, trả lời không tính 0 điểm Rà soát trên toàn cầu nói chung cho thấy ở mỗi nghiên cứu được đề nghị điểm cắt riêng Số điểm sử dụng sẽ phụ thuộc và ngôn ngữ, phương pháp nghiên cứu, đặc điểm của quần thể nghiên cứu cũng như mục đích của nghiên cứu (ví dụ: Độ nhạy cảm cao, tính đặc hiệu cao hoặc giá trị dự báo tối ưu…) [33]
SRQ-20 được giới thiệu bởi Harding vào năm 1980, để sàng lọc các rối loạn tâm thần nhẹ và được xác nhận tại Brazil bởi Mari Nghiên cứu cho thấy SRQ-20 đáp ứng các chỉ số trong nghiên cứu với độ nhạy 85% và độ đặc hiệu 80% Điểm số cao hơn hoặc bằng 6 cho nam giới và cao hơn hoặc bằng 8 cho
nữ giới được coi là có CMDs [38]
Nghiên cứu tại Rwanda cho thấy SRQ-20 có thể được sử dụng như một công cụ để sàng lọc rối loạn tâm thần trong cộng đồng Độ tin cậy của các SRQ-20 ở phụ nữ là 85% và ở nam giới là 80% Cắt điểm (cut-off) cần phải được điều chỉnh Phụ nữ và nam giới có điểm cắt tối ưu khác nhau.Đối với nam giới điểm cắt tối ưu là 8 điểm và đối với nữ giới là 10 điểm [39]
Hiện tại ở Việt Nam cũng đã có những nghiên cứu về SRQ-20 Năm
2004, các tác giả đã tiến hành nghiên cứu: Tính giá trị và độ tin cậy của
SQR-20 tại Việt Nam Kết quả điểm cắt của SRQ-SQR-20 tại Việt Nam được khuyến khích sử dụng là cut-off 7/8, để xác định các trường hợp có CMDs với độ
Trang 21nhạy 73% và độ đặc hiệu 82% Nghiên cứu này xác định SRQ-20 thích hợp dùng để xác định tình trang rối loạn tâm thần dùng trong cộng đồng tại Việt Nam [40]
Trong một nghiên cứu khác, sử dụng SRQ-20 để xác định tình trạng CMDs ở một vùng nông thôn Việt Nam vào năm 2006, các tác giả đã khẳng định SRQ-20 là công cụ phù hợp để đánh giá tình trạng CMDs Công cụ này thích hợp sử dụng cho các nước đang phát triển nhưng điểm cắt tối ưu được xác định theo đặc điểm của từng khu vực Trong nghiên cứu tại cộng đồng,
điểm cắt tối ưu là 6/7 với độ nhạy là 85% và độ đặc hiệu là 61% [41]
Trong nghiên cứu này, xét về đặc điểm địa phương và đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sử dụng điểm cắt là 7/8 để xác định tình trạng CMDs
1.4.2 Thang đo trầm cảm sau sinh (EPDS):
Edinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS) là một thang điểm đánh giá trầm cảm chu sinh Các EPDS chỉ là công cụ sàng lọc Nó không dùng để chẩn đoán trầm cảm- việc được xác nhận bởi bác sĩ chuyên khoa Được thiết
kế đặc biệt cho phụ nữ mang thai hoặc mới sinh con và nó cũng được chứng minh là biện pháp hiệu quả khi đánh giá chứng trầm cảm nói chung trong cộng đồng
EPDS gồm 10 câu hỏi, mỗi câu có 4 phương án trả lời, mỗi câu trả lời được tính điểm 0 1 2 3 tăng theo mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng Đánh giá trong 7 ngày trước phỏng vấn Nghiên cứu đã xác nhận sử dụng điểm cắt khác nhau trong các đối tượng phụ nữ khác nhau Cut-off (điểm cắt) điểm dao động từ 9 đến 13 điểm Vì vậy để sai lầm về mặt an toàn , khi đạt 9 điểm trở lên hoặc có bất kì ý tưởng tự sát (điểm 1 hoặc cao hơn ở câu hỏi số 10) cần lập tức được theo đõi đánh giá trầm cảm, ngay cả khi điểm nhỏ hơn 9,
Trang 22nếu các bác sĩ cảm thấy đối tượng có nguy cơ trầm cảm thì cũng cần giới thiệu một biện pháp chăm sóc theo dõi cụ thể
1.4.3 Thang đo International Classification of Diseases (ICD-10) và Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders- IV (DSM-IV)
Hiện nay, trên thế giới đang sử dụng hai phương tiện để chẩn đoán trầm cảm là Bảng phân loại bệnh quốc tế ICD-10 và DSM-IV (1994) của Hội tâm thần Mỹ Về cơ bản ICD-10 và DSM-IV là thống nhất với nhau (Nguyễn Việt,1995) nên chúng ta có thể sử dụng kết hợp cả hai
Chẩn đoán theo Bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD-10)
Dựa vào sự phán đoán lâm sàng, trên cơ sở số lượng, loại, mức độ trầm trọng của triệu chứng hiện có ICD-10 đã chỉ ra và phân biệt giữa các giai đoạn trầm cảm nhẹ, vừa, nặng
Các triệu chứng điển hình:
- Khí sắc trầm
- Mất mọi quan tâm thích thú
- Giảm năng lương, giảm hoạt động, tăng mệt mỏi
Các triệu chứng phổ biến khác:
- Giảm sút sự tập trung và sự chú ý
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin
- Có những ý tưởng bị tội và không xứng đáng
- Nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan
- Có ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát
- Rối loạn giấc ngủ
- Ăn mất ngon
Trang 23Các triệu chứng sinh học: sút cân, rối loạn giấc ngủ, táo bón, mất ngon miệng, giảm dục năng, dao động khí sắc trong ngày, nhiều phụ nữ có rối loạn kinh nguyệt
Thang đo DSM-IV
Tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-IV về giai đoạn trầm cảm chủ yếu yêu cầu
sự hiện diện của 5 trong số các triệu chứng sau đây và kéo dài ít nhất hai tuần Tối thiểu 01 trong 05 triệu chứng này phải là khí sắc trầm nhược hoặc là mất hứng thú hay sự hài lòng
- Khí sắc trầm buồn hầu như cả ngày và gần như tất cả các ngày
- Mất mọi quan tâm hứng thú trong các hoạt động thường ngày
- Khó khăn trong việc ngủ (mất ngủ, không ngủ sâu, không trở lại được giấc ngủ sau khi bị thức giấc, ngủ nhiều)
- Thay đổi trong cường độ hoạt động, chậm chạp, hoặc dễ bị kích động
- Mất cảm giác thèm ăn và sút cân, hoặc tăng cảm giác thèm ăn, tăng cân
- Mất năng lượng, mệt mỏi rõ
- Tự nhận thức phủ định, tự trách mình và tự buộc tội, cảm giác vô giá trị và tội lỗi
- Những lời phàn nàn hoặc có bằng chứng khó khăn trong việc tập trung chú
ý, tư duy chậm chạp và không thể tự quyết định được mọi việc
- Suy nghĩ luẩn quẩn về cái chết hay tự tử
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Trang 24Hình 1: Bản đồ huyện Đông Anh- Hà Nội Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Đông Anh, một huyện ngoại thành
Hà Nội Nó nằm ở vị trí cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội và nằm trong vùng quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ và du lịch đã được Chính phủ và Thành phố phê duyệt, là đấu mối giao thông quan trọng nối Thủ
đô Hà Nội với các Tỉnh phía Bắc
Tổng diện tích đất tự nhiên: 18.230 ha; trong đó: đất nông nghiệp 9.785
ha Huyện có 23 xã, 1 thị trấn, 156 thôn, làng và 62 tổ dân phố Đến nay huyện có 85 làng văn hoá, trong đó có 35 làng văn hoá cấp Thành phố Dân
số trên 331.000 người, trong đó: dân cư đô thị chiếm 11% Thu nhập chính của người dân từ nông nghiệp (80%)
Trang 25Có 33,3km đường sông (sông Hồng, sông Đuống, sông Cà Lô) và 21km sông nội huyện (sông Thiếp)
Có 33km đường sắt, 4 ga thuộc các tuyến Hà Nội đi Lào Cai, Hà Nội – Thái Nguyên và có đường QL3, quốc lộ Thăng Long – Nội Bài, QL23
Về công nghiệp Đông Anh có 2 khu công nghiệp lớn: khu công nghiệp Đông Anh và khu công nghiệp Thăng Long Ngoài ra trên địa bàn huyện còn
có một số làng nghề truyền thống đang được đầu tư và phát triển mạnh tại các
xã Liên Hà, Vân Hà, Dục Tú… Đóng trên địa bàn huyện có trên 700 công ty TNHH, 355 công ty cổ phần, 105 doanh nghiệp tư nhân, gần 30 công ty nhà nước một thành viên và trên 13000 hộ kinh doanh cá thể
Thu nhập chính của người dân từ nông nghiệp (80%)
Huyện Đông Anh có hai bệnh viện là bệnh viện Bắc Thăng Long và bệnh viện đa khoa Đông Anh Đa số phụ nữ đến hai bệnh viện để khám thai và sinh con tại hai bệnh viện này Theo thống kê từ hai bệnh viện năm 2012, có
11600 phụ nữ mang thai có chăm sóc tiền sản và sinh con tại đây
Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Đông Anh dưới sự giúp đỡ của Dự
án PAVE
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ mang thai tại huyện Đông Anh
Tiêu chuẩn lựa chọn: Phụ nữ mang thai dưới 24 tuần tại huyện Đông
Anh được lấy từ danh sách quản lý thai nghén của các trạm y tế xã của huyện Đông Anh
Trang 26Tiêu chuẩn loại trừ:
Những thai phụ không có hộ khẩu thường trú tại địa điểm nghiên cứu và thường xuyên di chuyển khỏi địa điểm nghiên cứu
Những phụ nữ bị những bệnh nặng như: bệnh tiểu đường nặng, ung thư, bệnh tim mạch phức tạp, bại liệt hoặc bệnh tâm thần nặng cũng bị loại khỏi nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
2.3.2.1 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được ước tính dựa trên công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô
tả ước tính tỷ lệ:
Với mức ý nghĩa thống kê α = 0,05
Khoảng sai lệch mong muốn d = 0,05
Tỉ lệ phụ nữ mang thai có CMDs trong một nghiên cứu đã làm = 0,412 [7]
Cỡ mẫu cần thiết tính được là 373
Nghiên cứu này sử dụng một phần số liệu từ Dự án PAVE Số liệu được lấy từ danh sách các phụ nữ mang thai đến khám và được phỏng vấn tại Bệnh viện Bắc Thăng Long trong 5 tháng (từ ngày 01/04/2014 đến ngày 31/08/2014) thu được tổng số 497 phụ nữ
2.3.2.2 Cách chọn mẫu
Trang 27Bệnh viện Bắc Thăng Long là nơi dự án PAVE khám và phỏng vấn phụ
nữ mang thai của 6 xã: Liên Hà, Vân Hà, Vân Nội, Kim Nỗ, Kim Chung và Bắc Hồng Chọn tất cả những phụ nữ mang thai đến phỏng vấn trong danh sách quản lý của dự án từ ngày 01/04/2014 đến ngày 31/08/2014 thu được tổng số là 497 phụ nữ mang thai
2.3.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu
- Dân tộc - Dân tộc của phụ nữ mang thai Danh mục
- Tôn giáo - Tôn giáo của phụ nữ mang thai Danh mục
Nhị phân
Trang 28đánh giá triệu chứng lo âu và trầm cảm (WHO)
- Khi cần có thể nhờ cậy được sự giúp
đỡ của người thân trong gia đình phụ
nữ hoặc gia đình chồng
Nhị phân
Trang 292.4 Kỹ thuật và phương pháp thu thập thông tin
Kỹ thuật: Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu
Công cụ thu thập số liệu: Bộ câu hỏi định lượng do Dự án PAVE thiết kế
2.5 Quy trình thu thập số liệu
Giai đoạn 1: Chuẩn bị
- Xin phép lãnh đạo đơn vị nơi tiến hành phỏng vấn
- Tiến hành nghiên cứu định tính thăm dò (phỏng vấn thăm dò, quan sát) các đối tượng cung cấp thông tin chính, là những người chuyên trách về dân số và quản lý thai sản tại trạm y tế xã/thị trấn tại huyện Đông Anh
- Quan sát các cơ sở y tế tại địa điểm định nghiên cứu Bố trí phòng
đủ riêng tư, kín đáo, an toàn và trang thiết bị, cơ sở vật chất như bàn, ghế, quạt điện để có thể phỏng vấn phụ nữ
- Lấy danh sách phụ nữ có thai được quản lý tại trạm y tế xã/thị trấn
để có thể lập danh sách phụ nữ trong nghiên cứu
- Xây dựng bộ công cụ định lượng
Giai đoạn 2: Thử nghiệm bộ công cụ và cơ sở vật chất đã chuẩn bị
- Gửi giấy mời cho 15 phụ nữ mang thai đủ tiêu chuẩn trong danh sách
- Tiến hành phỏng vấn phụ nữ tại cơ sở
Trang 30- Đánh giá phản hồi của phụ nữ mang thai, của cộng tác viên tại xã/thị trấn về bộ công cụ và cơ sở vật chất nơi tiến hành phỏng vấn
- Sửa đổi bộ công cụ và bổ sung, thay đổi cơ sở vật chất nếu cần Giai đoạn 3: Nghiên cứu định lượng trên quần thể nghiên cứu
- Gửi giấy mời cho các phụ nữ thuộc quần thể nghiên cứu
- Sử dụng bộ câu hỏi định lượng đã xây dựng để phỏng vấn trực tiếp các phụ nữ trong nghiên cứu
2.6 Sai số trong nghiên cứu
Sai số trong quá trình thu thập thông tin
Đây là những sai số trong quá trình thu thập thông tin gây ra bởi cách điều tra viên đặt câu hỏi hoặc do khả năng nắm bắt câu hỏi của các đối tượng còn hạn chế, hoặc do sai sót khi ghi chép thông tin
Phát triển bộ câu hỏi đơn giản, dễ hiểu
Điều phối viên giám sát quá trình thu thập số liệu và đánh giá kết quả điều tra với tỷ lệ 5%
Trang 31Tổ chức buổi họp thảo luận đánh giá công việc cuối mỗi tuần điều tra, rút kinh nghiệm cho tuần điều tra sau
2.7 Phân tích số liệu
Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata, sau đó được làm sạch, xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 Các biến số được trình bày theo tần suất và tỷ lệ phần trăm Mối liên quan giữa các yếu tố ảnh hưởng và thực trạng rối loạn tâm thần thường gặp được trình bày bằng tỷ suất chênh OR và ước lượng khoảng 95% CI
2.8 Đạo đức nghiên cứu
Sự an toàn của người trả lời và nhóm nghiên cứu là rất quan trọng Các nhà nghiên cứu không được gây thiệt hại cho người tham gia nghiên cứu và bảo vệ họ bất cứ cách nào có thể
Những người tham gia nghiên cứu sẽ được đảm bảo tính bảo mật thông tin
Chỉ được phỏng vấn phụ nữ mag thai khi được sự đồng ý của họ thông qua bản đồng thuận tham gia nghiên cứu
Tất cả các thành viên trong nhóm nghiên cứu sẽ được lựa chọn
và được đào tạo chuyên nghiệp và tiến hành một cách cẩn thận
Phụ nữ tham gia nghiên cứu sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích của nghiên cứu và lợi ích của họ
Các kết quả của nghiên cứu sẽ được phản hồi cho cộng đồng và các viện liên quan
Trang 32CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ
3.1 Thực trạng rối loạn tâm thần thường gặp ở phụ nữ có thai dưới 24 tuần tuổi
3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Bảng thông tin chung của phụ nữ mang thai
Trang 343.1.2 Tỉ lệ phụ nữ có thai dưới 24 tuần tuổi có rối loạn tâm thần thường gặp
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ phụ nữ có thai dưới 24 tuần có CMDs
Biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ có rối loạn tâm thần thường gặp trong nhóm phụ
nữ mang thai tham gia nghiên cứu là 21,5% (107/497 phụ nữ)
3.1.3 Phân bố mắc CMDs giữa các nhóm đối tượng
Bảng 3.2: Bảng phân bố tỷ lệ CMDs theo nhóm tuổi