1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại BV phổi TW năm 2015 và một số yếu tố liên quan

70 219 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI PHẠM QUANG HUY NHU CẦU SỬ DỤNG CÁC DỊCH VỤ Y TẾ THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG NĂM 2015 VÀ MỘT SỐ YẾU

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHẠM QUANG HUY

NHU CẦU SỬ DỤNG CÁC DỊCH VỤ Y TẾ THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG

NĂM 2015 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ VĂN HỢI

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cám ơn: Ban giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội, Phòng Đào tạo Đại học đã tạo điều kiện cho em trong suốt thời gian học tập và

nghiên cứu tại trường

Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Trường Đại học Y Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng, các thầy cô trong Bộ môn Thống kê Y học đã tận tình dạy dỗ, giúp đỡ em

trong 4 năm học tại trường cũng như trong quá trình hoàn thành khóa luận này

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cám ơn TS LÊ VĂN HỢI - người thầy hướng dẫn đã dành nhiều thời gian tận tình chỉ bảo, hướng

dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận của mình

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám đốc và các điều dưỡng của Bệnh viện Phổi Trung Ương đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để em được tham gia nghiên cứu này và sử dụng một phần kết quả nghiên cứu làm khóa luận tốt nghiệp của em

Mình luôn cám ơn sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của bạn bè trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống

Đặc biệt, con cám ơn gia đình đã luôn dành cho con sự yêu thương và những điều kiện tốt nhất để con yên tâm học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Trang 3

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi : - Phòng Đào tạo Đại học - Trường Đại học Y Hà Nội

- Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng

- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp, năm học 2014 – 2015

Em xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của em, toàn bộ số liệu được thu thập và xử lý một cách khách quan, trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ một tài liệu nào khác

Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2015

Sinh viên

PHẠM QUANG HUY

Trang 4

OR Tỷ suất chênh (Odd Ratio)

L/khuyên Lời khuyên

N/viên Nhân viên

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ i

Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 12

1.1 Khái quát về dịch vụ y tế theo yêu cầu 12

1.1.1 Khái niệm và tính chất của dịch vụ y tế theo yêu cầu 12

1.1.2 Khái niệm về nhu cầu và phương pháp nghiên cứu xác định nhu cầu CSSK 15

1.1.3 Nguồn gốc, phân loại và lợi ích của các dịch vụ y tế theo yêu cầu : 16

1.2 Một số nghiên cứu về dịch vụ y tế trên thế giới và ở Việt Nam 20

1.2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài : 20

1.2.2 Nghiên cứu tại Việt Nam 21

1.3 Thông tin về Bệnh viện Phổi Trung Ương 22

1.3.1 Thông tin chung về bệnh viện 22

1.3.2 Mục tiêu của bệnh viện 23

1.3.2 Sơ lược về quá trình khám chữa bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương 23

1.4 Các văn bản pháp luật liên quan tới chăm sóc sức khỏe 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27

2.2 Thiết kế nghiên cứu 27

2.3 Đối tượng nghiên cứu 27

2.3.1.Tiêu chuẩn lựa chọn 27

2.4.Cỡ mẫu và chọn mẫu 27

2.5.Biến số và chỉ số 28

2.6.Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu 31

2.7 Quy trình thu thập số liệu 32

2.8 Sai số và cách khống chế sai số 32

Trang 6

2.9.Quản lý, xử lý và phân tích số liệu 32

2.10.Vấn đề đạo đức nghiên cứu 32

Chương 3 KẾT QUẢNGHIÊN CỨU 33

3.1 Đặc điểm của người bệnh tại tại Bệnh viện Phổi Trung Ương 33

3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học 33

3.2.Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ theo yêu cầu 36

3.2.1 Nhu cầu sử dụng dịch vụ lựa chọn bác sĩ chữa bệnh 36

3.2.2 Nhu cầu lựa chọn thời gian thực hiện phẫu thuật/thủ thuật 38

3.3.3 Nhu cầu cầu lựa chọn kĩ thuật và sử dụng thuốc, vật tư có chất lượng cao hơn so với mức thông thường 39

3.3.4 Nhu cầu về người chăm sóc hộ thay người nhà 40

3.4 Mối liên quan giữa một số đặc điểm củangười bệnh với nhu cầu dịch vụ y tế theo yêu cầu 42

3.4.1 Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu dịch vụy tế theo yêu cầu 42

Chương 4 BÀN LUẬN 53

4.1 Thông tin chung của người bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương: 53

4.2 Mức độ nhu cầu của người bệnh về các dịch vụ y tế theo yêu cầu 55

4.2.1 Nhu cầu về dịch vụ lựa chọn bác sĩ 55

4.2.2 Nhu cầu về dịch vụ lựa chọn thời gian, kĩ thuật, thuốc, vật tư tiêu hao với chất lượng cao hơn so với quy định 56

4.2.3 Nhu cầu về dịch vụ người chăm sóc hộ 56

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh 57

KẾT LUẬN 60

KIẾN NGHỊ 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm về trình độ học vấn, nghề nghiệp, mức thu nhập của người

bệnh 34 Bảng 3.2 Những khâu mà người bệnh muốn được lựa chọn bác sĩ và cơ sở để

người bệnh lựa chọn bác sĩ 37 Bảng 3.3 Nhu cầu lựa chọn kĩ thuật và sử dụng thuốc, vật tư có chất lượng

cao hơn so với mức thông thường 39 Bảng 3.4 Yêu cầu của người bệnh về tuổi tác, giới tính và trình độ của người

chăm sóc hộ 40 Bảng 3.5 Yêu cầu của người bệnh đối với người chăm sóc hộ về công việc

hàng ngày 41 Bảng 3.6 Yêu cầu của người bệnh đối với người chăm sóc hộ về thời gian

chăm sóc hàng ngày 41 Bảng 3.7: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu về

dịch vụ lựa chọn bác sĩ theo yêu cầu 42 Bảng 3.8: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu về

dịch vụ lựa chọn thời gian thực hiện thủ thuật 43 Bảng 3.9: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu về

dịch vụ lựa chọn kĩ thuật với chất lượng cao hơn so với quy định 45 Bảng 3.10: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu

về dịch vụ lựa chọn thuốc với chất lượng cao hơn so với quy định 48 Bảng 3.11: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu

về dịch vụ lựa chọn vật tư tiêu hao có chất lượng cao hơn so với quy định 49 Bảng 3.12: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu

về dịch vụ người chăm sóc hộ 51

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Sự phân bố người bệnh theo nhóm tuổi 33

Biểu đồ 3.2 Sự phân bố của người bệnh theo giới 34

Biểu đồ 3.3 Khoảng cách từ nhà người bệnh đến bệnh viện 35

Biểu đồ 3.4 Nhu cầu sử dụng bảo hiểm y tế của người bệnh 35

Biểu đồ 3.5 Nhu cầu sử dụng dịch vụ lựa chọn bác sĩ chữa bệnh của người bệnh 36 Biểu đồ 3.6 Nhu cầu lựa chọn thời gian thực hiện phẫu thuật/ thủ thuật sớm hơn thông thường 38 Biểu đồ 3.7 Nhu cầu về người chăm sóc hộ thay người nhà của người bệnh 40

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dịch vụ y tế là dịch vụ đặc biệt bao gồm các hoạt động của nhân viên y

tế như khám, chữa bệnh phuc vụ người bệnh và gia đình Trong dịch vụ này thì người sử dụng dịch vụ (người bệnh) sẽ ít có khả năng đánh giá chất lượng dịch vụ một cách chính xác mà họ chỉ đánh giá qua sự chăm sóc của nhân viên y tế, qua trang thiết bị và cơ sở vật chất Dịch vụ y tế là một loại hình dịch vụ rất đặc thù, người sử dụng dịch vụ sẽ biết ít thông tin về dịch vụ mà mình được cung cấp mà bị lệ thuộc hoàn toàn vào người cung cấp dịch vụ Người bệnh phải thực hiện đầy đủ những yêu cầu của bác sĩ về phương pháp điều trị, thời gian điều trị và họ chỉ được lựa chọn nơi điều trị

Ở Việt Nam hiện nay, tình trạng quá tải ở các cơ sở y tế đặc biệt là các bệnh viện đầu ngành đang trở nên rất phổ biến Theo báo cáo của viện chiến lược và chính sách y tế,TLSD giường thường xuyên trên 100% và dao động

từ 120% đến 150%, thậm chí tới 200% ở một số bệnh viện lớn như BV Bạch Mai, BV K và BV Ung bướu TP Hồ Chí Minh[1] Dựa trên số liệu khảo sát, tình trạng quá đông người bệnh xuất hiện cả ở khu vực phòng khám lẫn khu vực điều trị nội trú: 2-3 người bệnh/1 giường, 1 bác sỹ phòng khám phải khám 60 - 100 người bệnh/ngày là phổ biến Báo cáo đã chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân chính gây ra quá tải là do nhu cầu chữa bệnh của người bệnh ngày càng tăng trong khi số giường bệnh và bác sĩ không tăng hoặc tăng

ít không đáp ứng đủ nhu cầu của người bệnh Hậu quả của quá tải trong các

cơ sở y tế là không đảm bảo chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh cũng như sự

an toàn của người bệnh đặc biệt với các người bệnh là trẻ em, người già, phụ

nữ có thai Rất nhiều các trường hợp lây nhiễm chéo, nhiễm trùng bệnh viện

đã xảy ra do sự quá tải này Không những thế, do số lượng người bệnh quá đông nên thời gian khám cho từng người bệnh ở khoa khám bệnh không được đảm bảo Trước tình trạng này, Bộ Y tế đã đưa ra một số giải pháp chống quá

Trang 11

tải bệnh viện, trong đó có việc khuyến khích các cơ sở y tếlàm việc vào ngày thứ 7, chủ nhật trong tuần và ngoài giờ hành chính[2] Nhiều bệnh viện đã bố trí thêm ca trực, làm ngoài giờ để đáp ứng nhu cầu của người bệnh làm ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên y tế và chất lượng dịch vụ

Bệnh viện Phổi Trung Ương là một bệnh viện đầu ngành về chuyên khoa hô hấp Theo kết quả báo cáo hoạt động của bệnh viện trong 6 tháng đầu năm 2013, quy mô giường bệnh của bệnh viện năm 2013 là 500 giường.Công suất sử dụng giường bệnh 6 tháng đầu năm 2013 là 108,9%[3] Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu sẽ giúp giảm bớt sự quá tải cho bệnh viện, tăng chất lượng các dịch vụ khám chữa bệnh, đảm bảo quyền và lợi ích cho người bệnh, mang đến cho người bệnh nhiều sự lựa chọn hơn trong việc khám chữa bệnh.Nghiên cứu này nhằm cung cấp những bằng chứng giúp cho Ban Lãnh đạo và quản lý của Bệnh viện Phổi Trung Ương lập kế hoạch và triển khai cung cấp các loại hình dịch vụ theo yêu cầu này.Để có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của

người bệnh, chúng tôi thực hiện nghiên cứu : “ Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ

y tế theo yêu cầu của người bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương năm 2015

và một số yếu tố liên quan” với 2 mục tiêu

1 Mô tả mức độ nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương

2 Mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương

Trang 12

Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái quát về dịch vụ y tế theo yêu cầu

1.1.1 Khái niệm và tính chất của dịch vụ y tế theo yêu cầu

Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người C Mác cho rằng : "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển"[5]

những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản

Dịch vụ y tế theo yêu cầu cũng là một loại dịch vụ Đây là một trong những loại dịch vụ phổ biến nhất trong xã hội nhằm cung cấp nhu cầu về chăm sóc sức khỏe cho người dân nhưng nó cũng sẽ có một số điểm khác biệt

so với dịch vụ y tế, vì dịch vụ y tế theo yêu cầu sẽ phục vụ một bộ phận người bệnh và người nhà có yêu cầu được chăm sóc sức khỏe cao hơn so với bình thường Họ muốn được sử dụng trang thiết bị, thuốc men với chất lượng cao, muốn được khám và chữa bệnh bởi những bác sĩ mà họ được chọn lựa với thời gian khám được họ lựa chọn … Đây là dẫn chứng của một số dịch vụ y tế theo yêu cầu phổ biến

Dịch vụ y tế theo yêu cầu có một số tính chất sau

a, Tính không mất đi:

Sau khi cung ứng dịch vụ thì kĩ năng dịch vụ sẽ không bị mất đi Ví dụ như là sau khi thực hiện xong một ca phẫu thuật thành công thì bác sĩ sẽ

Trang 13

không bị mất đi khả năng của mình Đây là một tính chất quan trọng thể hiện tính lâu dài và liên tục của dịch vụ y tế

b, Tính vô hình và phi vật chất :

Dịch vụ chỉ có thể nhận thức được bằng tư duy hay giác quan chứ ta không thể cầm, nắm sản phẩm dịch vụ được, dịch vụ cũng không thể đo lường được bằng các phương pháp đo lường thông thường về thể tích, trọng lượng giống như người bệnh không thể biết trước kết quả khám bệnh trước khi đi khám bệnh

c, Tính không thể phân chia:

Qúa trình tiêu thụ và sản xuất ra dịch vụ diễn ra đồng thời Trong dịch

vụ y tế, phải luôn có sự đồng hành giữa người bệnh và người cung cấp dịch

vụ Hai nhóm này phải gắn bó tạo thành một khối thống nhất Người cung cấp phải luôn lắng nghe ý kiến của người bệnh để có thể hoàn thiện dịch vụ của mình Người bệnh và gia đình phải tôn trọng và tuyệt đối tuân thủ những yêu cầu của người cung cấp dịch vụ vì dịch vụ y tế là một loại hình dịch vụ đặc biệt có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Khác với sản xuất vật chất, sản xuất dịch vụ không thể làm sẵn để lưu kho sau đó mới đem tiêu thụ đặc biệt là dịch vụ y tế Đây là loại hình dịch vụ thiết yếu cần đảm bảo tính liên tục và liên tục được cải tiến qua từng ngày

Dịch vụ y tế luôn phải được gắn bó với nguồn gốc của nó Ở đây nguồn gốc chính là người cung cấp dịch vụ có thể là bệnh viện hoặc một tổ chức hợp pháp nào đó hoạt động trong ngành y tế Người cung cấp không chỉ cung cấp dịch vụ mà còn phải bảo đảm chất lượng dịch vụ phải tuân thủ các quy định của Bộ Y Tế cũng như thực thi đúng pháp luật Không những thế, nước ta đang hòa nhập cùng với bạn bè quốc tế, các nhà cung cấp dịch

vụ còn phải luôn nâng cấp chất lượng dịch vụ, áp dụng những thành tựu khoa học mới nhất vào thực tiễn

d, Tính không ổn định và khó xác định chất lượng:

Trang 14

Chất lượng dịch vụ thường dao động trong một biên độ rất rộng, tùy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ (ví dụ, người cung ứng, thời gian, địa điểm cung ứng phục vụ) Đây là một tính chất đặc thù của dịch vụ y tế Người bệnh biết rất ít thông tin liên quan đến dịch vụ y tế phục vụ cho chính bản thân họ Họ lựa chọn nơi để điều trị dựa trên rất nhiều nguồn thông tin khác nhau như là theo danh tiếng của bệnh viện, theo lời khuyên của người bệnh khác hay người quen, thậm chí một số người bệnh hoàn cảnh khó khăn còn phải lựa chọn nơi điều trị theo mức viện phí mà họ có thể chi trả Ở một

số nơi hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nhiều người bệnh sử dụng các dịch vụ y

tế tại địa phương mặc dù những nơi khám chữa bệnh cho họ có trang thiết bị nghèo nàn, tay nghề bác sĩ chưa cao dẫn đến nhiều trường hợp người bệnh điều trị chưa dứt điểm được bệnh, đến lúc đưa lên tuyến trên thì bệnh đã có nhiều biến chứng Nhiều nơi có trình độ văn hóa lạc hậu, vùng đồi núi cách bệnh viện hay trạm xá đến mấy quả đồi, nhiều người đã không đến bệnh viện hay trạm xá mà lại tin tưởng các thầy cúng dẫn để chữa bệnh mang lại những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người bệnh Các thí dụ trên cho thấy hoàn cảnh tạo ra dịch vụ y tế đóng vai trò thiết yếu đến chất lượng dịch

vụ

e, Dịch vụ không thể lưu giữ được:

Cũng giống như các loại dịch vụ khác, dịch vụ y tế không thể lưu giữ được Chúng ta không thể mua các dịch vụ y tế như khám chữa bệnh rồi để dành lúc nào cần thì dùng Đặc điểm này không phải là vấn đề quá lớn nếu nhu cầu là ổn định và có thể dự báo trước như là vào mùa nóng thì các bệnh truyền nhiễm như sốt rét, sốt siêu vi trùng … tăng đột biến nên nhu cầu về thuốc và dịch vụ y tế liên quan đến các bệnh này sẽ tăng rõ rệt Nhưng thực tiễn nhu cầu dịch vụ y tế thường không ổn định, luôn dao động nên nhà cung ứng dịch vụ sẽ gặp những vấn đề trở ngại về vấn đề sử dụng nhân lực và cơ

sở vật chất kỹ thuật Do vậy nhà cung cấp dịch vụ y tế cần phải nghiên cứu

Trang 15

thật cẩn thận nhu cầu về dịch vụ để cân đối được vấn đề sử dụng các nguồn lực sao cho hợp lí, tránh lãng phí

f, Dịch vụ y tế cần đến hàm lượng chất xám rất lớn:

Đây là lợi thế cũng như trở ngại lớn nhất cho những người làm trong ngành y tế Do là một công việc đặc thù liên quan đến sức khỏe con người nên việc tuyển chọn nhân lực rất khắt khe Không chỉ phải có năng lực chuyên môn, những người làm nghề y cần có lòng thương người như Bác Hồ

đã có lời tuyên dương với ngành y: “Lương y như từ mẫu“ Ngành Y là ngành rất vinh quang nhưng đi kèm với nó là trách nhiệm Trách nhiệm với sức khỏe người bệnh, trách nhiệm với xã hội, hơn thế nữa là trách nhiệm với lương tâm của người thầy thuốc Tuy nhiên để thu hút những cá nhân ưu tú tham gia vào sự nghiệp cứu người thì các nhà cung cấp dịch vụ y tế cần có chế độ đãi ngộ hợp lí để những người thầy thuốc có thể an tâm hành nghề

1.1.2 Khái niệm về nhu cầu và phương pháp nghiên cứu xác định nhu cầu CSSK

Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong

Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao

Nhu cầu có các đặc điểm sau : + Không ổn định, luôn biến đổi theo từng hoàn cảnh

+ Năng động thích nghi với hoàn cảnh

+ Không bao giờ thỏa mãn một lúc nhiều nhu cầu

+ Nhu cầu không bao giờ có giới hạn

- Phương pháp nghiên cứu xác định nhu cầu chăm sóc sức khỏe là cách thức

Trang 16

tiến hành những nghiên cứu tìm hiểu về những yêu cầu và nguyện vọng người dân vềcác nhu cầu chăm sóc sức khỏe như nhu cầu về khám chữa bệnh, nhu cầu sử dụng thuốc chất lượng cao …

- Nghiên cứu xác định nhu cầu chăm sóc sức khỏe là một loại hình nghiên cứu rất phổ biến, mang tính thực tế cao, đem lại nhiều ích lợi cho người sử dụng dịch vụ y tế cũng như người cung cấp dịch vụ y tế Nhờ có ý kiến, phản hồi từ người dân mà người cung cấp dịch vụ có thể hoàn thiên và nâng cao chất lượng của các loại hình chăm sóc sức khỏe, cung cấp đầy đủ

và kịp thời những nhu cầu về chăm sóc sức khỏe của người dân

1.1.3 Nguồn gốc, phân loại và lợi ích của các dịch vụ y tế theo yêu cầu :

Trong những năm qua do có chính sách mở cửa và cải cách đến từ ngành y tế, nền y tế Việt Nam ngày càng phát triển Sau đây là một số biến đổi rõ nét

+ Phân hóa trong thu nhập, khiến nhu cầu về dịch vụ y tế cũng phân hóa Thu nhập bình quân tăng, khiến yêu cầu về chất lượng dịch vụ y tế, đặc biệt là chất lượng của cơ sở vật chất nâng cao Người bệnh mong muốn không chỉ thầy thuốc giỏi mà họ còn muốn được sử dụng những trang thiết bị, các tiện nghi khác như điều hòa nhiệt đồ, ti vi, tủ lạnh …

+ Bệnh viện công lập chuyển từ không thu viện phí sang thu một phần hoặc thu đủ viện phí rồi một số nơi có khuynh hướng tiến đến tự chủ hoàn toàn về kinh tế để đảm bảo nguồn ngân sách ổn định cho bệnh viện Do không còn là dịch vụ miễn phí nên yêu cầu của người dân về chất lượng dịch vụ y tế cũng tăng lên, người bệnh chấp nhân trả tiền viện phí nên họ có quyền được hưởng dịch vụ có chất lượng tốt nhất Việc tự chủ về kinh tế giúp giảm lệ thuộc vào ngân sách cùa nhà nước nhưng cũng là thử thách rất lớn cho các bệnh viện Bệnh nhân là người sử dụng các dịch vụ y tế, họ có quyền lựa chọn

và sử dụng dịch vụ ở những nơi mà họ cho là có chất lượng tốt nhất, phù hợp với hoàn cảnh cũng như điều kiện kinh tế của họ Nếu các bệnh viện không

Trang 17

thường xuyên nâng cao tay nghề bác sĩ cũng như nâng cấp cơ sở vật chất thì

có thể xảy ra hiện tượng mất cân bằng thu-chi trong bệnh viện

+ Cơ sở y tế tư nhân ngày càng phát triển, các bệnh viện tư xuất hiện càng nhiều Các bệnh viện tư với lợi thế về cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ tốt đã thu hút được rất nhiều bác sĩ có tay nghề cao Hơn thế nữa, khi dân số tăng lên nên nhu cầu về dịch vụ y tế ngày càng lớn mà các cơ sở y tế của nhà nước không phát triển đáp ứng đủ nhu cầu này dẫn đến thực trạng quá tải cho các cơ sở y tế công lập đặc biệt là tuyến trung ương Các cơ sở y tế tư nhân đã xuất hiện và giải quyết một phần bài toán này Một số người bệnh có điều kiện đã lựa chọn khám chữa bệnh ở nước ngoài Điều này cho thấy người bệnh ngày càng có nhiều sự lựa chọn Họ có quyền lựa chọn nhũng dịch vụ tốt và phù hợp nhất với họ

Trên thực tế hiện nay có rất nhiều dịch vụ y tế theo yêu cầu đã được thực hiện và đã có những kết quả đáng kể Sau đây em xin giới thiệu một vài dịch vụ y tế theo yêu cầu Đó là dịch vụ chữa bệnh và dịch vụ người chăm sóc hộ của người bệnh

A, Dịch vụ chữa bệnh của người bệnh:

Cũng như các bệnh viện tuyến trung ương khác, hàng năm bệnh viện Phổi trung ương có hàng ngàn lượt người bệnh đến khám và điều trị Do vậy, tình trạng quá tải đã xảy ra thường xuyên ở khu vực khám bệnh cũng như khu vực nội trú, việc 2-3 người bệnh/1 giường bệnh đã trở nên phổ biến tại bệnh viện Nguyên nhân của tình trạng này là do sự tin tưởng của người bệnh vào uy tín và chất lượng khám, chữa bệnh của bệnh viện Không chỉ người bệnh ở Hà Nội mà người bệnh ở các khu vực phía Bắc cũng cố gắng đến bệnh viện để khám và điều trị Nhu cầu của người bệnh ngày càng lớn trong khi số giường bệnh và bác sĩ tăng ít dẫn đến không đáp ứng đủ nhu cầu của người bệnh Điều này dẫn đến rất nhiều hệ quả không tốt cho người bệnh và các nhân viên y tế trong bệnh viện Việc quá tải khiến cho chất

Trang 18

lượng dịch vụ khám chữa bệnh không được đảm bảo do có quá đông người bệnh nên thời gian khám của từng người bệnh sẽ rút ngắn lại Do đặc thù của các bệnh liên quan đến đường hô hấp, nếu tập trung nhiều người bệnh tại một địa điểm thì việc lây nhiễm chéo là hoàn toàn có thể xảy ra ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của người bệnh đặc biệt là người già, trẻ em, người tàn tật và phụ nữ có thai Nhu cầu của người bệnh quá lớn nên bệnh viện phải bố trí thêm ca trực, làm ngoài giờ ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên y tế Không những thế, việc đứng xếp hàng quá lâu của người bệnh hay làm việc dưới áp lực cao của bác sĩ khiến cho cả người bệnh và bác sĩ đều mệt mỏi và căng thẳng

Ngày nay, nước ta đang hòa nhập và mở cửa với thế giới, ngành y tế cũng không ngoại lệ Bệnh viện tư xuất hiện càng nhiều, một số người bệnhcòn lựa chọn ra nước ngoài để khám chữa bệnh Người bệnh càng ngày càng có nhiều sự lựa chọn để sử dụng các dịch vụ y tế Tiêu chí để lựa chon của người bệnh không chỉ là năng lực điều trị của bác sĩ mà còn ở trang thiết bị, cơ

sở vật chất của cơ sở y tế Nhu cầu này đặc biệt rõ rệt ở các người bệnh-những người phải ở tại bệnh viện lâu dài Dịch vụ chữa bệnh theo yêu cầu sẽ giải quyết một phần cho nhu cầu này

Dịch vụ chữa bệnh theo yều cầu bao gồm dịch vụ lựa chọn bác sĩ, lựa chọn thời gian chữa bệnh và làm các thủ thuật, lựa chon kĩ thuật công nghệ cao , lựa chọn thuốc và vật tư tiêu hao chất lượng cao

a Dịch vụ lựa chọn bác sĩ :

Dịch vụ này như tên gọi mang đến cho người bệnh nhiều sự lựa chọn

về bac sĩ sẽ điều trị cho họ Người bệnh hoàn toàn có thể dựa trên học vị hay

sự giới thiệu của người quen để lựa chọn bác sĩ mà họ tin tưởng Dịch vụ này thể hiện sự dân chủ và khách quan trong quá trình khám chữa bệnh với phương châm lấy người bệnh làm trung tâm Đây là dịch vụ đã được áp

Trang 19

dụng vào thực tế tại rất nhiều bệnh viện lớn và đã được nhiều kết quả mang tính khả quan

b Dịch vụ lựa chọn thời gian chữa bệnh và tiến hành thủ thuật:

Trong thời buổi kinh tế thị trường, thời gian là vàng bạc Trên thực tế,

để được khám và tiến hành thủ thuật,người bệnh sẽ phải đứng xếp hàng rất lâu Sự quá tải của bệnh viện đã khiến cho người bệnh mất rất nhiều thời gian để chờ đợi Điều này gây thiệt hại rất lớn cho người bệnh về tiền bac, sức khỏe và cả tâm lí Dịch vụ lựa chon thời gian sẽ giúp giải quyết một phần sự quá tải đó Người bệnh có thể chủ động đặt lịch hẹn khám và tiến hành thủ thuật với bác sĩ và đến đúng thời gian hẹn thì người bệnh đến khám

và thực hiện thủ thuật Dịch vụ này giúp giảm các tiêu cực trong bệnh viện

và sẽ giúp người bệnhthoải mái về tâm lí, giảm thiệt hại về thời gian, công việc …

c Dịch vụ lựa chọn kĩ thuật công nghệ cao, lựa chọn thuốc và vật tư

chất lượng cao:

Y tế là một trong những ngành được chính phủ và nhà nước quan tâm đặc biệt Do đó ngành y tế trong những năm vừa qua đã có những bước tiến vượt bậc, tiếp thu được rất nhiều thành tựu công nghệ tiên tiến nhất từ bạn

bè quốc tế Những người được hưởng lợi nhiều nhất từ những thành quả đó chính làngười bệnh Họ càng ngày càng có nhiều sự lựa chọn Trong số đó, dịch vụ lựa chon kĩ thuật công nghệ cao cũng như thuốc và vật tư chất lượng cao giúp người bệnh tùy vào hoàn cảnh có thế lựa chọn cho họ những kĩ thuật, thuốc và vật tư phù hợp nhất Hiện nay trên thị trường trôi nổi rất nhiều thuốc và vật tư được quảng cáo đến từ nước ngoài nhưng thực chất chúng không rõ xuất xứ với chất lượng kém Dịch vụ này sẽ giúp người bệnh an tâm về chất lượng và giá cả của thuốc và vật tư chất lượng cao

B Dịch vụ người chăm sóc hộ đối với người bệnh:

Xã hội ngày nay bận rộn hơn bao giờ hết Khi trong gia đình có một người thân phải điều trị trong bệnh viện, thì tất cả các thành viên trong gia

Trang 20

đình đều phải có trách nhiệm chăm sóc người ốm Họ phải chia nhau thời gian để trông nom, chăm sóc người ốm Điều này ảnh hưởng rất lớn đến thời gian, công việc, sức khỏe của người nhà người bệnh Dịch vụ người chăm sóc hộ đối với người bệnh sẽ giúp giải quyết một phần vấn đề này Dịch vụ này sẽ cung cấp cho người nhà người bệnh nhiều sự lựa chọn về nguồn gốc người chăm sóc, tuổi của người chăm sóc, trình độ của người chăm sóc Không những thế, bạn có thể lựa chọn thời gian của người chăm sóc, có thể chăm sóc bán thời gian hoặc cả ngày, cách ngày hoặc cả tuần Những người chăm sóc hộ sẽ giúp chăm sóc người bệnh những công việc hàng ngày như

ăn uống, tắm rửa, vệ sinh sạch sẽ, giúp đỡ người bệnh đi lại

1.2 Một số nghiên cứu về dịch vụ y tế trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài :

- Shipman C & Dale J (1996) nghiên cứu về sự đánh giá của bác sỹ đối với nhu cầu khám chữa bệnh ngoài giờ theo các nhu cầu về thể chất, tâm sinh lý và xã hội ở một vùng của Vương quốc Anh 66% các yêu cầu khám bệnh ngoài giờ có liên quan đến các yêu cầu về thể chất, tâm sinh lý và xã hội và 10.7% các trường hợp là không xác định được mối liên quan [6]

- Salisbury (2002) xem xét các nghiên cứu nhu cầu về dịch vụ khám bệnh ngoài giờ của bác sỹ ở nước Anh cho thấy tất cả các dịch vụ ngoài giờ đều tính thêm chi phí gia tăng ( night visit fees), mức tăng tùy thuộc vào từng khu vực, trình độ của bác sĩ [7]

- Kajal & Guibo (2003) tiến hành nghiên cứu phân tích nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoại viện của các cựu chiến binh được hỗ trợ bởi Medicare phát hiện rằng số tiền chênh lệch sau khi được Medicare hỗ trợ và khoảng cách từ nhà đến bệnh viện làm giảm khả năng lựa chọn dịch vụ chăm sóc ngoại viện Một số yếu tố khác như thu nhập, tình trạng bảo hiểm, phương tiện đi lại, công việc, sức khỏe và tình trạng các chẩn đoán cũng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoại viện [8]

Trang 21

- Eric và cộng sự (2007) tiến hành nghiên cứu về nhu cầu khám, chăm sóc và điều trị ngoài giờ trong dịch vụ khám bệnh và cấp cứu ở Hà Lan thấy rằng bác sỹ tiếp nhận 88% thăm khám ngoài giờ, trong khi đó bộ phận cấp cứu chỉ phải tiếp nhận 12% các dịch vụ này Phần lớn các nhu cầu khám ngoài giờ của các đối tượng nam giới trưởng thành là các chấn thương, trong

đó có 19% là các chấn thương gẫy xương [9]

1.2.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

-Trần Thanh Long ( 2011) đã tiến hành khảo sát nhu cầu về dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người sử dụng dịch vụ tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Tỷ lệ người sử dụng dịch vụ đã từng khám tại bệnh viện chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm người đến khám bệnh (57,5%) và thấp nhất

ở nhóm người bệnh ngoại trú (14,5%) Phần lớn người bệnh đều cho rằng bệnh viện nên và rất nên triển khai dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà, trong

đó khám ngày Thứ 7 & Chủ nhật và ngoài giờ ngày thường có tỷ lệ cao nhất (72,9% & 18,5% và 72,9% & 14,7%) Đối với người bệnh ngoại trú, hầu hết người bệnh ngoại trú đều cho rằng bệnh viện nên triển khai dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà, trong đó khám ngoài giờ ngày thường và buổi chiều ngày thường có tỷ lệ cao nhất (62,1% & 9,9% và 62,7% & 12,5%).[10]

-Hoàng Văn Minh và Kim Bảo Giang nghiên cứu về tỷ lệ hiện mắc, mô hình sử dụng dịch vụ y tế và chi phí điều trị một số bệnh mạn tính của người dân Thành phố Hà Đông, Hà Nội năm 2009 Kết quả cho thấy tỉ lệ hiện mắc của bệnh mãn tính rất cao là 28.7% Trong lần gần đây nhất có nhu cầu chăm sóc, điều trị, phần lớn (57,8%) những người mắc bệnh mạn tính đã tự điều trị tại nhà, 17.8 % người bệnh đến bệnh viện tỉnh, 11,4 % người bệnh đến bệnh viện tuyến TƯ [11]

-Theo Báo Cáo về sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế tuyến

xã tại tỉnh Điện Biên của UNICEF, Tỷ lệ người được hỏi đánh giá thái độ của cán bộ y tế xã ở mức quan tâm chu đáo khi cung cấp dịch vụ KCB chiếm

Trang 22

74,0% Tỷ lệ người sử dụng dịch vụ đánh giá nhân viên y tế có thái độ quan tâm chu đáo khi cung cấp dịch vụ khám thai chiếm 73,8%, khi cung cấp dịch

vụ CSBMTE trong và sau sinh chiếm 68,5%, khi cung cấp dịch vụ tiêm chủng chiếm 73,5% Phần lớn người sử dụng dịch vụ đánh giá chất lượng của 5 dịch

vụ cung cấp bởi trạm y tế ở mức khá và tốt Có rất ít người đánh giá chất lượng dịch vụ ở mức kém hoặc trung bình Tỷ lệ người sử dụng dịch vụ đánh giá chất lượng dịch vụ ở mức tốt đối với dịch vụ KCB chiếm 65,0%, đối với dịch vụ khám thai chiếm 70,8%, đối với dịch vụ CSSKBMTE trong và sau sinh chiếm 57,3%, đối với dịch vụ tiêm chủng chiếm 72,6% [12]

-Bùi Thùy Dương (2010) đã tiến hành nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người bệnh và người nhà người bệnh tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2010 cho thấy người bệnh và người nhà người bệnh đều có nhu cầu cao sử dụng dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà (53.3% - 90.3%), nhất là dịch vụ khám vào ngày thứ 7 và chủ nhật.[13]

1.3 Thông tin về Bệnh viện Phổi Trung Ương

1.3.1 Thông tin chung về bệnh viện

Bệnh viện Phổi Trung ương tiền thân là Viện Chống Lao Trung Ương, được thành lập ngày 26/4/1957 theo Nghị định số 273/TTg của Thủ tướng Chính phủ Đây là một trong những viện nghiên cứu được thành lập sớm nhất của ngành Y tế Viện có nhiệm vụ nghiên cứu về bệnh lao, chữa cho người bệnh lao tại Viện và điều trị ngoại trú, tổ chức an dưỡng cho người bệnh lao, phát hiện bệnh lao trong cộng đồng, giáo dục ý thức về phòng lao và đào tạo cán bộ chuyên khoa

Từ khi thành lập tới nay Viện đã có 3 lần đổi tên phù hợp với chức năng nhiệm vụ theo từng giai đoạn Năm 1985, Viện được đổi tên thành Viện Lao và Bệnh Phổi đảm nhận nhiệm vụ rộng hơn, là Viện chuyên khoa đầu ngành về Lao và Bệnh Phổi

Trang 23

Năm 2003, Viện đổi tên lại là Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung Ương Cơ chế hoạt động đã chuyển từ Viện nghiên cứu có giường bệnh sang bệnh viện chuyên khoa cao nhất của cả nước về Lao và Bệnh phổi

Năm 2009, để phù hợp với nhiệm vụ mới với mục đích tập trung nghiên cứu sâu hơn và toàn diện hơn về các bệnh phổi, bệnh viện đổi tên thành Bệnh viện Phổi Trung ương, là bệnh viện chuyên khoa hạng I trực thuộc Bộ Y tế theo quyết định số 4449/QĐ-BYT ngày 13/11/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế Bệnh viện Phổi Trung ương là bệnh viện chuyên khoa tuyến cao nhất về Lao và Bệnh phổi Bệnh viện là đơn vị thường trực điều hành và là đầu mối hợp tác quốc tế của Dự án phòng chống lao, Chương trình chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em, và là

cơ sở thực hành đào tạo đại học và sau đại học trong lĩnh vực chuyên khoa [15]

1.3.2 Mục tiêu của bệnh viện

1 Tăng cường các chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng: Áp dụng các kỹ thuật phát hiện sớm bệnh lao, quản lý tốt và điều trị ngoại trú có hiệu quả, phát hiện sớm các bệnh phổi như ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh hen phế quản Xây dựng đường lối chiến lược hướng dẫn, chẩn đoán và điều trị phòng bệnh thống nhất trên toàn quốc những bệnh lao

và bệnh phổi ngoài lao

2 Triển khai các kỹ thuật mũi nhọn về chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng

3 Quản lý theo dõi sức khoẻ thực hiện các kỹ thuật phục hồi chức năng

cho người bệnh sau điều trị nội ngoại khoa trong bệnh viện [18]

1.3.2 Sơ lược về quá trình khám chữa bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương

Theo kết quả báo cáo hoạt động của bệnh viện trong 6 tháng đầu năm

2013, hoạt động khám, chữa bệnh của bệnh viện vẫn được duy trì với chất lượng cao mặc dù số người bệnh điều trị nội trú nhiều, công suất sử dụng giường bệnh

ở mức cao Đặc biệt là ở một số khoa tình trạng quá tải cũng thường xuyên xảy ra tại khu vực điều trị như: khoa Lao, Bệnh Màng phổi, khoa Ung bướu

Trang 24

với tỉ lệ quá tải từ 130 – 150%.Quy mô giường bệnh của bệnh viện năm 2013

là 500 giường, công suất sử dụng giường bệnh 6 tháng đầu năm 2013 là 108,9% tăng 2,1% so với 6 tháng đầu năm 2012 So sánh với số liệu của 6 tháng đầu năm 2012 cho thấy hoạt động khám bệnh nói chung của bệnh viện khá tốt với số lần khám bệnh tăng 2,5%, Số người khám bệnh tăng 4,5%, Số xét nghiệm theo dõi chức năng hô hấp giảm 6,6 %, Số XN Sinh hóa giảm 1,4%, Số

XN chụp phim thường quy giảm 5,1%, Số XN Siêu âm giảm 6,0% Nguyên nhân của vấn đề này có thể là do nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng cao, khả năng tiếp cận các dịch vụ ở tuyến trên dễ dàng hơn (do giao thông được cải thiện, mức thu nhập tăng, số người có thu nhập cao tăng lên), ngoài ra mức viện phí giữa bệnh viện các tuyến chênh nhau không nhiều nên người dân dồn vào các tuyến trên [14]

Hoạt động khám bệnh là một chuỗi các công việc diễn ra tại khoa Khám bệnh và có liên quan đến nhiều đơn vị trong bệnh viện như bộ phận thu viện phí, các phòng XN và bộ phận đón tiếp người bệnh nhập viện Khoa khám bệnh có nhiệm vụ tiếp nhận người bệnh, khám bệnh, làm các thủ tục nhập viện, điều trị ngoại trú Đây là nơi đầu tiên người bệnh tiếp cận với bệnh viện, cũng là nơi có ảnh hưởng nhiều nhất đến tâm lý của người bệnh, góp phần quan trọng tác động đến chất lượng điều trị, chăm sóc, chẩn đoán đúng, sát bệnh Nếu chỉ định xét nghiệm đúng sẽ tiết kiệm chi phí cho người bệnh Nếu khám bệnh đúng thì sẽ tiết kiệm thời gian cho người bệnh Về nhân lực phục vụ cho hoạt động khám bệnh, trong 6 tháng đầu năm 2013, bệnh viện vẫn duy trì 06 phòng khám chuyên khoa với 05 bác sĩ, 14 điều dưỡng Bộ phận thu viện phí có 09 nhân viên làm việc tại 12 cửa phục vụ Các cửa được phân chia rõ ràng từ cửa số 1 đến cửa số 3 phục vụ người bệnh có BHYT, từ cửa số 4 đến cửa số 6 phục vụ người bệnh đến khám tự nguyện, từ cửa số 7 đến cửa số 9 phục vụ người bệnh nhập viện, từ cửa số 10 đến cửa số 12 phục

vụ người bệnh thanh toán ra viện, đóng dấu XN

Trang 25

1.4 Các văn bản pháp luật liên quan tới chăm sóc sức khỏe

Luật Khám bệnh, chữa bệnh (Luật số 40/2009/QH12) đã được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009 Luật này gồm 9 chương và 91 điều Đây là đạo luật đầu tiên về khám bệnh, chữa bệnh bảo đảm, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người bệnh, Nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh, Giảm phiền hà cho người bệnh, Xác định nền tảng cho sự phát triển y học thực chứng vì quyền lợi của người bệnh, và là cơ

sở pháp lý điều chỉnh mối quan hệ giữa người bệnh với người hành nghề và

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Điều 43 về điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối với phòng khám chuyên khoa hoặc bác sỹ gia đình thì phải đủ các điều kiện sau:

Trang 26

• Đáp ứng các quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành

• Có đủ người hành nghề phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn

• Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải có thời gian hành nghề khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 36 tháng

• Và có chuyên môn phù hợp với loại hình hành nghề [16]

Thông tư số 30/TT-BYT, ngày 23/12/1987 quy định về tổ chức khám bệnh ngoài giờ có quản lý đã đáp ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, giảm bớt số người bệnh nằm viện, mở rộng việc chữa bệnh ngoại trú, giảm số người bệnh phải chờ đợi ở phòng khám, những người có khả năng mua thuốc theo đơn thầy thuốc tự trả tiền và cải thiện một cách chính đáng, hợp lý cho cán bộ ngành y tế với các nội dung sau:

- Khám và chữa tất cả các chuyên khoa

- Phẫu thuật thì hạn chế trong mức độ tiểu phẫu thuật

- Các dịch vụ kỹ thuật khác (như nạo thai, hút điều hoà kinh nguyệt, đặt vòng, truyền dịch) hoặc các phẫu thuật khác như nạo V.A, cắt Amiđan kể cả các phẫu thuật cao hơn cũng có thể làm nhưng phải có giấy phép đặc biệt của

Sở Y tế và ý kiến chủ nhiệm khoa bệnh viện tỉnh thuộc chuyên khoa đó của địa phương đồng ý Mục đích là để phát triển chữa ngoại trú nhưng phải bảo đảm điều kiện chất lượng về cán bộ cũng như cơ sở vật chất

- Các dịch vụ thuộc chức năng điều dưỡng, kỹ thuật viên được khuyến khích thực hiện tại nhà và ngay cả trong bệnh viện nhưng đều có quản lý và

có quy định theo hợp đồng cụ thể với nhân dân Ví dụ: Đo huyết áp tại nhà, tiêm tại nhà, xoa bóp bấm huyệt tại nhà, thay băng, săn sóc bổ sung tại bệnh viện ngoài giờ, hướng dẫn tập luyện tại nhà v.v

- Các hợp đồng quản lý sức khoẻ có thù lao theo chế độ thầy thuốc riêng, điều dưỡng riêng cũng được khuyến khích

Không được phép làm các dịch vụ ngoài 5 điều quy định trên đây [17]

Trang 27

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địađiểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hànhtừ ngày 12/05/2015 đến ngày 19/05/2015 tại Bệnh viện Phổi Trung Ương

2.2 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.3 Đối tượng nghiên cứu

2.3.1.Tiêu chuẩn lựa chọn

Người bệnhđang điều trị tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương

2.3.2.Tiêu chuẩn loại trừ

 Những người không đồng ý tham gia vào nghiên cứu sau khi được giải thích rõ mục đích và mục tiêu của nghiên cứu

 Người bệnh sức khỏe yếu, không có khả năng tự điền phiếu trả lời

n:cỡ mẫu cần thiết

α: Mức ý nghĩa thống kê (Chọn  = 0,05 ứng với độ tin cậy 95% thay vào bảng ta được Z(1 – α/2) = 1,96)

p = 0,5: ước tính tỷ lệ nhu cầu về dịch vụ y tế theo yêu cầu là 50%

 = 0,1sai số mong muốn giữa mẫu nghiên cứu và quần thể

Thay vào công thức ta được: n = 384

Trang 28

Áp dụng công thức hiệu chỉnh cỡ mẫu cho quần thể hữu hạn:

n1= n.N/(n+N)

Trong đó:

n1: cỡ mẫu được rút ra từ quần thể này

n: cỡ mẫu tính theo quần thể vô hạn(n=384)

N: tổng số NB trong thời gian nghiên cứu (N=800)

Thay vào công thức ta được: n1 = 260

Trên thực tế tổng số mẫu nghiên cứu là 283

Cách chọn mẫu:Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Trong thời gian

từ ngày 12/05 đến ngày 19/05, ta phát phiếu tự điền đến các khoa phòng lâm sàng trong bệnh viên và thu lại phiếu trả lời của người bệnh cho đến khi đủ cỡ

Loại biến Mục tiêu 1: Mô tả mức độ sử dụng về dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương

Nhu cầu về lựa chọn

bác sĩ

1:Có 2:Không

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Nhị phân

Các khâu để lựa chọn

bác sĩ

1:Điều trị tại buồng

2:Phẫu thuật/thủ thật

Bộ câu hỏi

Phỏng vấngián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Danh mục

Cơ sở để lựa chọn bác 1: theo trình độ Bộ câu Phỏng vấn gián Danh

Trang 29

Biến số Định nghĩa Công cụ

thu thập

Kỹ thuật thu thập

Loại biến

2:theo l/khuyên của người quen 3:theo l/khuyên n/viên y tế 4:theo chi phí

hỏi tiếp qua bộ câu

hỏi tự trả lời

mục

Nhu cầu về lựa chọn

thời gian chữa bệnh

1: Có 2: Không

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Nhị phân

Nhu cầu về sử dụng kĩ

thuật cao hơn so với

quy định

1: Có 2: Không

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Nhị phân

Nhu cầu về sử dụng

thuốc chất lượng cao

1: Có 2: Không

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Nhị phân

Nhu cầu về vật tư tiêu

hao chất lượng cao

1: Có 2: Không

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Nhị phân

Nhu cầu về người

chăm sóc hộ

1: Có 2: Không

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Nhị phân

Yêu cầu về trình độ

người chăm sóc hộ

1:lao động đã qua đào tạo 2:điều dưỡng

sơ cấp 3:điều dưỡng trung cấp

4:tùy bệnh viện

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Thứ hạng

Yêu cầu về tuổi người 1:20-30 tuổi Bộ câu Phỏng vấn gián Thứ

Trang 30

Biến số Định nghĩa Công cụ

thu thập

Kỹ thuật thu thập

Loại biến

chăm sóc hộ 2:>30-45 tuổi

3:>45-55 tuổi 4:tùy bệnh viện

hỏi tiếp qua bộ câu

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Danh mục

Yêu cầu về công việc

của người chăm sóc

hộ

1:Ăn uống 2:đi vệ sinh 3:tắm rửa 4:đấm lưng,bóp tay chân…

5:hỗ trợ đi lại

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Danh mục

Yêu cầu về thời gian

chăm sóc hàng ngày

1: Có 2: Không

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Thứ hạng

Mục tiêu 2: Mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương

* Một số thông tin chung về người bệnh

hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Nhị phân

2:Nữ

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Rời rạc

Trìnhđộ học vấn 1:Cấp 1.2

2:Cấp 3

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu

Thứ hạng

Trang 31

Biến số Định nghĩa Công cụ

thu thập

Kỹ thuật thu thập

Loại biến

3:CĐ, ĐH trở lên

hỏi tự trả lời

Nghề nghiệp 1:học sinh,sinh

viên 2:công chức, viên chức

3:d/n ngoài công lập

4:Công nhân, nông dân

5:Hưu trí

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Danh mục

Thu nhập bình quân

đầu người của gia đình

1:<5 triệu 2:5-10 triệu/tháng 3:>10-15 triệu/tháng 3:>15 triệu/tháng

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Thứ hạng

Khoảng cách từ nhà

đến Bệnh viện

1:<5km 2:5-10 km 3:>10-15 km 4:>15km

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Thứ hạng

Bảo hiểm y tế 1: Có

2: Không

Bộ câu hỏi

Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Nhị phân

2.6.Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu

Số liệu sẽ được thu thập bằngphương pháp phỏng vấngián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời

Trang 32

2.7 Quy trình thu thập số liệu

- Bộ câu hỏi tự điền được soạn thảo và góp ý trực tiếp từ thầy Lê Văn Hợi Sau khi được sự đồng ý của Ban Giám Đốc Bệnh Viện Phổi Trung Ương, bộ câu hỏi sẽ được chuyển đến các khoa lâm sàng và được phát tận tay đến người

bệnh Cuối cùng, các phiếu trả lời được tập hợp lại, làm sạch và xử lí số liệu 2.8Sai số và cách khống chế sai số

Nhằm tránh một số sai số có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu: sai số nhớ lại, sai số thu thập thông tin, sai số không trả lời ta tiến hành một số biện pháp sau:

- Sai số nhớ lại: Thiết kế bộ câu hỏi chuẩn và giám sát hoạt động trong suốt quá trình điều tra phiếu

- Sai số thu thập thông tin: Phỏng vấn thử và hoàn thiện bộ câu hỏi trước khi tiến hành nghiên cứu

- Sai số không trả lời: Hướng dẫn cho người được phỏng vấn mục đích nghiên cứu, động viên đối tượng hợp tác nghiên cứu

2.9.Quản lý, xử lý và phân tích số liệu

Số liệu sau khi được thu thập làm sạch và nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 2.1 Phần mềm thống kê Stata 10 được sử dụng trong phân tích

số liệu Cả thống kê mô tả và suy luận sẽ được thực hiện Mức ý nghĩa thống

kê α=0,05 sẽ được sử dụng trong thống kê suy luận

2.10.Vấn đề đạo đức nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của đối tượng nghiên cứu

- Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác

- Nghiên cứu chỉ được tiến hành sau khi được Ban Giám Đốc Bệnh viện Phổi Trung ương thông qua

Trang 33

Chương 3 KẾT QUẢNGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm của người bệnh tại tại Bệnh viện Phổi Trung Ương

3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học

Biểu đồ 3.1 Sự phân bố người bệnh theo nhóm tuổi

Nhận xét :

 Người bệnh 30-49 tuổi (48,4)%) chiếm tỉ lệ lớn nhất và người bệnh dưới 30 tuổi (17%) chiếm tỉ lệ ít nhất

Trang 34

Biểu đồ 3.2 Sự phân bố của người bệnh theo giới

Doanh nghiệp ngoài công lập 40 14,13

Trang 35

Biểu đồ 3.3 Khoảng cách từ nhà người bệnh đến bệnh viện

Ngày đăng: 07/03/2018, 13:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w