NGUYỄN THỊ SINH KHẢO SÁT QUAN NIỆM VỀ BỆNH TẬT Ở BỆNH NHÂN CÓ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2015 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠN
Trang 1NGUYỄN THỊ SINH
KHẢO SÁT QUAN NIỆM VỀ BỆNH TẬT Ở BỆNH NHÂN
CÓ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG
KHÓA 2011 - 2015
Người hướng dẫn khoa học:
ThS HOÀNG LAN VÂN
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ phía nhà trường, thầy cô, gia đình và bạn bè
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô Hoàng Lan Vân, người cô đáng kính đã hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận trong suốt thời gian qua Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ts Nguyễn Thị Thanh Hương, ThS Lưu Tuyết Minh đã có những góp ý thiết thực để em có thể hoàn thành khóa luận của mình tốt nhất
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Khoa Điều dưỡng Hộ Sinh – Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương, thư viện trường Đại học Y Hà Nội đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng đào tạo đại học đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm thi đã dành thời gian đọc và góp ý cho khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Tôi xin cảm ơn những bệnh nhân tham gia trong nghiên cứu này đã hợp tác và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu hoàn thành khóa luận Cuối cùng với lòng biết ơn vô bờ con xin cảm ơn bố mẹ, bạn bè, những người thân yêu nhất đã luôn bên cạnh con, tạo điều kiện, động viên giúp đỡ con trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
Nguyễn Thị Sinh
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả trình bày trong bản khóa luận này là trung thực, khách quan
và chưa từng công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào trước đây
Hà Nội, ngày … tháng 6 năm 2015
Người thực hiện
Nguyễn Thị Sinh
Trang 4ADA : Hiệp hội đái tháo đường Mỹ
(American Diabetes Association) BMI : Chỉ số khối cơ thể
(Body Mass Index) CSM : Mô hình lý thuyết về những cảm nhận thông thường
(Commen Sense Model) ĐTĐ : Đái tháo đường
ĐTĐTK : Đái tháo đường thai kỳ
IPQ : Bộ câu hỏi quan niệm về bệnh tật
(Illness Perception Questionnaire) IPQ-R : Bộ câu hỏi quan niệm về bệnh tật cập nhật
(Revised Illness Perception Questionnaire) Tổng IPQ-R : Tổng điểm trung bình về quan niệm về bệnh
WHO : Tổ chức Y tế thế giới
(World Health Organization)
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đái tháo đường thai kỳ 3
1.1.1 Đái tháo đường thai kỳ 3
1.1.2 Chẩn đoán 3
1.1.3 Dịch tễ 4
1.1.4 Các yếu tố nguy cơ đối với ĐTĐ thai kỳ 5
1.1.5 Hậu quả của ĐTĐ thai kỳ 6
1.2 Lý thuyết quan niệm về bệnh 7
1.3 Nghiên cứu về quan niệm của người bệnh về bệnh tật 10
1.4 Các bộ công cụ về quan niệm của người bệnh về bệnh tật 10
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 13
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu 13
2.2 Phương pháp chọn mẫu 13
2.3 Phương pháp nghiên cứu 13
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 13
2.3.2 Công cụ nghiên cứu 14
2.3.3 Chỉ số và biến số nghiên cứu 15
2.4 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 16
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu: thu thập qua bộ câu hỏi 17
2.4.2 Xử lý số liệu: sử dụng phần mềm SPSS 16 17
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu 17
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18
Trang 63.1.2 Một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng 19
3.2 Quan niệm bệnh tật trên bệnh nhân ĐTĐTK 23
3.2.1 Quan niệm của bệnh nhân về biểu hiện của bệnh 23
3.2.2 Quan niệm của bệnh nhân về bệnh đái tháo đường thai kì 24
3.2.3 Quan niệm của bệnh nhân về các nguyên nhân dẫn đến bệnh 27
3.3 Liên quan của các đặc điểm nhân khẩu học đến quan niệm của bệnh nhân về bệnh ĐTĐTK 29
3.3.1 Liên quan của tuổi đến quan niệm bệnh tật 29
3.3.2 Liên quan của trình độ văn hóa đến quan niệm bệnh tật 30
3.3.3 Liên quan của nghề nghiệp đến quan niệm bệnh tật 31
3.3.4 Liên quan của nơi cư trú đến quan niệm bệnh tật 32
3.4 Liên quan của đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng đến quan niệm bệnh ĐTĐTK 33
3.4.1 Liên quan của tiền sử gia đình có ĐTĐ đến quan niệm bệnh tật 33
3.4.2 Liên quan của chế độ điều trị đến quan niệm bệnh tật 34
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 35
4.1 Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu 35
4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học 35
4.1.2 Đặc điểm lâm sàng 36
4.2 Quan niệm về bệnh tật 38
4.2.1 Kết quả mô tả về quan niệm về triệu chứng nhận biết bệnh, quan niệm bệnh tật và nguyên nhân gây bệnh 39
4.2.2 Các yếu tố liên quan đến quan niệm bệnh tật 41
4.2.3 Hạn chế của nghiên cứu 43
KẾT LUẬN 44
KHUYẾN NGHỊ 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu 18
Bảng 3.2 Một số đặc điểm lâm sàng 19
Bảng 3.3 Tiền sử ĐTĐTK ở lần mang thai trước 20
Bảng 3.4 Đường máu gần nhất đo tại bệnh viện lúc đói 21
Bảng 3.5 Theo dõi đường máu tại nhà 22
Bảng 3.6 Phần trăm của các triệu chứng nhận biết bệnh 23
Bảng 3.7 Quan niệm của bệnh nhân về bệnh ĐTĐTK 24
Bảng 3.8 Quan niệm về nguyên nhân gây bệnh ĐTĐTK 27
Bảng 3.9 Liên quan của nhóm tuổi đến quan niệm bệnh tật 29
Bảng 3.10 Liên quan của trình độ văn hóa đến quan niệm bệnh tật 30
Bảng 3.11 Liên quan của nghề nghiệp đến quan niệm bệnh tật 31
Bảng 3.12 Liên quan của nơi cư trú đến quan niệm bệnh tật 32
Bảng 3.13 Liên quan của tiền sử gia đình có ĐTĐ đến quan niệm bệnh tật 33 Bảng 3.14 Liên quan của chế độ điều trị đến quan niệm bệnh tật 34
Trang 8Biểu đồ 3.1 Mức độ tìm hiểu thông tin về bệnh ĐTĐTK 20Biểu đồ 3.2 Các kênh thông tin đã sử dụng để tìm hiểu về bệnh ĐTĐTK 21Biểu đồ 3.3 Chế độ điều trị hiện tại của bệnh nhân 22
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, đái tháo đường đang trở thành một vấn đề sức khỏe toàn cầu Đái tháo đường là một trong ba bệnh có tốc độ gia tăng nhanh nhất thế giới.Theo Tổ chức y tế thế giới, trong năm 2014 tỉ lệ toàn cầu của bệnh tiểu đường được ước tính là 9% trong số những người từ 18 tuổi trở lên [1] Dự đoán tới năm 2030, đái tháo đường sẽ là một trong 7 nguyên nhân chính gây
tử vong trên thế giới [2], trong đó, 80% tỉ lệ chết do bệnh là ở các nước đang phát triển và các nước có thu nhập thấp [3]
Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là một thể đặc biệt của đái tháo đường, cũng đang nổi lên như một vấn đề đáng quan tâm vì tỷ lệ mắc bệnh cũng như các biến chứng cho thai nhi và mẹ Theo Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ, tỷ lệ Đái tháo đường thai kỳ có thể dao động từ 1%- 14% tùy theo địa điểm, thời gian nghiên cứu, vùng địa lý và chủng tộc [4], [5], [6], [7] Đái tháo đường thai kỳ có thể gây nhiều tai biến cho mẹ và thai nhi như sảy thai, thai chết lưu, tiền sản giật, tử vong chu sinh, đẻ khó do thai to Nguy cơ đối với người mẹ sau sinh là tăng huyết áp và mắc đái tháo đường typ 2 thực sự [7], [8]
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về chẩn đoán, điều trị và quản lí ĐTĐTK [9], [10] Tại Việt Nam, ĐTĐTK cũng bắt đầu được quan tâm nghiên cứu Nghiên cứu tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2000 cho thấy tỉ lệ mắc ĐTĐTK là 3,6% [11] Tác giả Tạ Văn Bình và cộng sự đưa ra kết quả mắc ĐTĐTK là 5,7% năm 2004 [4] Hầu hết các nghiên cứu mới tập trung vào chẩn đoán sàng lọc và điều trị ĐTĐTK
Bộ câu hỏi đánh giá nhận thức về bệnh của Rona Moss-Morris ra đời xuất phát từ một nhu cầu đối phó với những vấn đề tâm lý và đánh giá nhận thức của người bệnh về nguyên nhân, thời gian, hậu quả,… trên các bệnh về
Trang 10tim, viêm khớp dạng thấp, ung thư, bệnh vẩy nến, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính và đái tháo đường [12] Hiện nay, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào
về vần đề tâm lý, quan niệm và nhận thức về bệnh trên người bệnh mắc đái tháo đường thai kỳ
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với đề tài: “Khảo sát quan niệm
về bệnh tật ở bệnh nhân có bệnh đái tháo đường thai kỳ đang điều trị tại bệnh viện phụ sản Trung Ương năm 2015” với hai mục tiêu sau:
1 Mô tả các quan niệm về bệnh của bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến các quan niệm đó
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đái tháo đường thai kỳ
1.1.1 Đái tháo đường thai kỳ
- Định nghĩa: ĐTĐ thai kỳ được định nghĩa là tình trạng rối loạn dung nạp glucose ở bất kỳ mức độ nào, có thể khởi phát hoặc được phát hiện lần đầu tiên trong lúc mang thai Định nghĩa này không loại trừ trường hợp bệnh nhân đã có tình trạng rối loạn dung nạp glucose từ trước (nhưng chưa được phát hiện) hay là xảy ra đồng thời với quá trình mang thai [7], [13], [14]
- Một số đặc điểm của ĐTĐTK [4]:
ĐTĐTK thường xuất hiện trong thời kỳ mang thai và thường mất đi sau khi sinh Tuy vậy, nguy cơ mắc lại ĐTĐTK vẫn còn cao trong những lần mang thai tiếp theo, khoảng một nửa số người từng bị ĐTĐTK sẽ mắc ĐTĐ typ 2 sau này
ĐTĐTK thường xuất hiện vào khoảng tuần thứ 24 của thai kỳ, khi nhau thai bắt đầu sản xuất ra một lượng lớn các hormone gây kháng insulin
ĐTĐTK rất khó phát hiện nếu không được làm xét nghiệm máu vì bệnh nhân thường không có các dấu hiệu hay triệu chứng
Trang 12Thời điểm lấy máu Ngưỡng giá trị chẩn đoán
1.1.3 Dịch tễ
Theo công bố của Tổ chức Y tế thế giới, năm 1985 toàn thế giới có 30 triệu người mắc ĐTĐ, năm 2000 là 157,3 triệu, ước tính đến năm 2010 có khoảng 215,6 triệu người bị ĐTĐ Dự kiến đến năm 2025 con số này sẽ tăng thành 300 - 330 triệu người [15] Cùng với đó, ĐTĐ thai kỳ cũng không ngừng gia tăng, tỷ lệ này thay đổi khác nhau tùy theo quốc gia, theo vùng, theo chủng tộc và theo tiêu chuẩn chẩn đoán áp dụng
Tỷ lệ ĐTĐ thai kỳ theo nhóm chủng tộc – nghiên cứu của Moses [16]:
Trang 13Tác giả Năm Địa điểm Tỉ lệ
Đoàn Hữu Hậu 1997 Bệnh viện Nhân dân Gia Định
thành phố Hồ Chí Minh 2.1% Ngô Thị Kim Phụng 1999 Quận 4 thành phố Hồ Chí Minh 3,9%
Đỗ Trung Quân và cộng sự 2000 Bệnh viện Phụ sản Hà Nội 3,6%
Tạ Văn Bình và cộng sự 2002 –
2004
Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Tô Thị Minh Nguyệt 2007 Bệnh Viện Từ Dũ TP HCM 10,69%
Vũ Bích Nga 2008 Khoa Phụ sản Bệnh viện Bạch
1.1.4 Các yếu tố nguy cơ đối với ĐTĐ thai kỳ
Các nghiên cứu dịch tễ học về ĐTĐ thai kỳ phát hiện những phụ nữ mắc ĐTĐ thai kỳ có xu hướng hay gặp ở những người nhiều tuổi, có thừa cân trước khi mang thai Vì vậy, theo khuyến cáo của Hội nghị Quốc Tế lần thứ 4
về ĐTĐ thai kỳ năm 1998 tại Mỹ đưa ra các thai phụ sau có nguy cơ dễ mắc ĐTĐ thai kỳ [22]:
- Béo phì
- Tiền sử gia đình
- Tiền sử đẻ con ≥ 3500g
- Tiền sử bất thường về dung nạp glucose
- Đường niệu dương tính
- Tuổi mang thai
- Tiền sử sản khoa bất thường
- Chủng tộc
Trang 141.1.5 Hậu quả của ĐTĐ thai kỳ
- Hậu quả trước mắt:
+ Đối với mẹ: ĐTĐ thai kỳ gây ra hậu quả trước mắt đối với người mẹ
là làm tăng nguy cơ bị các tai biến sản khoa [18] như:
o Tăng huyết áp, nhiễm độc thai nghén
o Sảy thai, thai chết lưu, đẻ non
o Tăng tỷ lệ mổ đẻ do thai to không đẻ đường dưới được
+ Đối với thai nhi và trẻ sơ sinh: ĐTĐ thai kỳ gây ra các hậu quả [23]:
o Do thai to và phân bố mỡ chủ yếu ở vùng ngực nên làm tăng nguy
cơ đẻ khó và dễ bị các sang chấn tổn thương sau đẻ như liệt đám rối thần kinh cánh tay, trật khớp vai, gãy xương đòn
o Hội chứng suy hô hấp cấp chu sinh: các thai phụ ĐTĐ thai kỳ tăng nguy cơ đẻ non Do đó, phổi thai nhi chưa trưởng thành nên dễ bị suy hô hấp lúc sinh ra
o Tăng tỉ lệ tử vong chu sinh
o Ngoài ra, trẻ còn dễ mắc các dị tật bẩm sinh
- Hậu quả lâu dài [18] [24]:
o Đối với người mẹ, ĐTĐ thai kỳ làm tăng nguy cơ trở thành ĐTĐ typ 2 Tỷ lệ mắc ĐTĐ typ 2 tăng theo thời gian, sau sinh bệnh nhân được làm xét nghiệm chẩn đoán khoảng 30% - 50% thai phụ ĐTĐ thai kỳ sẽ bị ĐTĐ typ 2 trong 10 đến 15 năm sau sinh Ngoài ra, các thai phụ ĐTĐ thai kỳ sẽ tăng nguy cơ bị ĐTĐ thai kỳ trong những lần có thai sau đó Họ cũng dễ bị béo phì sau đẻ nếu không có chế
độ ăn và tập luyện thích hợp
o Đối với con của các bà mẹ bị ĐTĐ thai kỳ, về lâu dài trẻ sẽ tăng nguy cơ béo phì, tăng nguy cơ ĐTĐ typ 2
Trang 151.1.6 Điều trị ĐTĐ thai kỳ
- Mục tiêu điều trị: glucose máu cần đạt cho thai phụ ĐTĐ thai kỳ theo Hội ĐTĐ Hoa Kỳ 2004 [10]:
Glucose máu lúc đói ≤ 5,8 mmol/l
Glucose máu sau ăn 2h ≤ 7,2 mmol/l
HbA1C ≤ 6%
- Chế độ ăn: Chế độ ăn là nền tảng của việc điều trị ĐTĐ thai kỳ Chế
độ ăn cân đối không có đường hấp thu nhanh, giàu canxi và sắt, thành phần glucid từ 50 – 55%, chế độ ăn không dưới 1800kcal và dưới 220g glucid mỗi ngày
- Luyện tập: Đối với phụ nữ có thai, vấn đề luyện tập phải thận trọng, hình thức tập luyện có thể là đi bộ chậm 10 – 15 phút hàng ngày, hoặc đạp xe 20 – 30 phút/ ngày
- Thuốc hạ đường huyết: Theo Hiệp hội ĐTĐ Mỹ 2006 [8], chỉ có Metformin và Acarbose có thể dùng cho phụ nữ có thai Tuy nhiên các nghiên cứu sử dụng thuốc viên điều trị ĐTĐ thai kỳ vẫn chưa đủ sâu và rộng về tính an toàn trong thời gian mang thai, vì vậy không nên sử dụng để điều trị ĐTĐ thai kỳ
- Điều trị bằng insulin: Điều trị bằng insulin khi các mục tiêu kiểm soát đường huyết không đạt được với chế độ ăn Phác đồ cổ điển kết hợp 1 mũi tiêm insulin trung bình hay hỗn hợp trung bình – nhanh vào buổi chiều, với 1 mũi tiêm insulin nhanh trước ăn sáng và trước ăn trưa
1.2 Lý thuyết quan niệm về bệnh
Quan niệm về bệnh tật hay đại diện của bệnh tật là niềm tin và mong đợi của bệnh nhân về bệnh của họ Đại diện của bệnh tật là trung tâm của lý thuyết sự tự điều chỉnh của Leventhal Lý thuyết này cho rằng đại diện bệnh
Trang 16tật xác định những đánh giá của con người về tình trạng bệnh và hành vi sức khỏe của họ [25]
Các học thuyết về sự tự điều chỉnh và mô hình lí thuyết về những cảm nhận thông thường (Common Sense Model – CSM), trong những năm gần đây, đã được áp dụng trong nhiều học thuyết Vì vậy, nhiều mối quan tâm tập trung về sự khác nhau giữa học thuyết về sự tự điều chỉnh và các mô hình lí thuyết về hành vi sức khỏe và hành vi bệnh tật Sự khác nhau đó bao gồm sự phản hồi, sự thúc đẩy và mục tiêu theo đuổi Các học thuyết về sự tự điều chỉnh cho rằng con người nhìn chung có hai mục tiêu cố hữu: 1/ sống sót; và 2/ gắn kết Khi bệnh tật đe dọa sự sống sót của một người và cảm nhận về sự gắn kết, mô hình nhận thức, động lực và hành vi sẽ phát triển cùng với quá trình bệnh tật và có thể xác định cách người đó thích ứng với bệnh tật như thế nào [25] Để quản lí bệnh tật yêu cầu: 1/ đối mặt với thách thức của sự mất toàn vẹn bản thân; 2/ yêu cầu sự tự điều chỉnh về tình cảm và thể chất; và 3/ yêu cầu sự hiểu rõ những vấn đề có ý nghĩa với từng cá nhân trong mối liên
hệ với mục tiêu sức khỏe và hành vi bảo vệ sức khỏe Sự tự điều chỉnh của bệnh tật thường diễn ra trong một môi trường xã hội mà trong đó thành viên gia đình và bạn vè đóng vai trò quan trọng với sự chia sẻ suy nghĩ và tình cảm
về bệnh tật Mô hình lí thuyết về những cảm nhận thông thường (CSM) của
sự tự điều chỉnh được phát triển bởi tác giả Leventhal, và cộng sự (1984) nhằm để hiểu và giải thích về hành vi sức khỏe và bệnh tật [25]
Mô hình CSM về sự tự điều chỉnh dựa trên hệ thống song song gồm cảm nhận dễ bị tổn thương và trải nghiệm cụ thể ví dụ như các triệu chứng gặp phải Hai cách thức của sự tự điều chỉnh này tương tác tạo nên sự thích nghi của cá nhân với bệnh tật thông qua điều khiển cảm xúc và các triệu chứng [25] Người bệnh hình dung lại bệnh tật dựa trên những cách thức trên từ đó họ đề ra mục tiêu để tự kiểm soát bệnh Dựa theo mô hình CSM,
Trang 17có năm lĩnh vực đại diện cho bệnh tật bao gồm: 1/ Nhận biết bệnh (về dấu hiệu và triệu chứng bệnh); 2/ thời gian bệnh; 3/ hậu quả bệnh; 4/ kiểm soát bệnh; 5/ nguyên nhân bệnh
Mỗi lĩnh vực gồm những biến số định tính xuất phát từ hệ thống tâm sinh lí phức tạp Các đánh giá của cá nhân về các yếu tố xã hội và văn hóa cũng như những trải nghiệm của họ về bệnh, ví dụ như đau, mệt mỏi, buồn nôn, nổi ban, tình trạng trì trệ về thể chất và đầu óc, và sự thay đổi tính tình, tâm trạng là những thành tố quan trọng đóng góp vào sự hình dung về bệnh tật [25], [26] Hình dung về bệnh tập trung vào sự cấp tính, mạn tính hoặc sự tái phát của bệnh tật dựa trên giao tiếp với chuyên gia chăm sóc y tế, thành viên gia đình và các bệnh nhân khác hơn là bản chất sinh học của bệnh đó Quan niệm của người bệnh về các khía cạnh như tuổi của họ, tuổi thọ mong đợi, sức khỏe tổng quát, và miễn dịch tốt tương tác với quan niệm của họ trong năm lĩnh vực đại diện cho bệnh tật (nhận biết bệnh, thời gian bệnh, hậu quả, kiểm soát và nguyên nhân) Mối quan hệ giữa quan niệm của người bệnh
và hình dung bệnh tật đóng vai trò trong xác định các phương thức đối phó với bệnh tật nhằm giúp cho người bệnh đó có thể kiểm soát, quản lí bệnh tật [25], [27]
Nghiên cứu trước đây đã tìm ra nguyên nhân tại sao người bệnh không tuân thủ chế độ ăn điều trị dựa trên mô hình CSM và sự hình dung bệnh tật Người bệnh tìm kiếm mối liên quan giữa sự hình dung về bệnh và phương thức để đối phó với bệnh tật, trong đó bao gồm cả quan niệm của họ về sự cần thiết của việc điều trị bệnh [27] Những đánh giá của bản thân người bệnh này được dựa trên thông tin về loại điều trị và phân loại điều trị, trải nghiệm điều trị trước đó của bản thân họ và người khác, cũng như tiêu chuẩn xã hội và văn hóa về điều trị Tác giả Horne (2003) [27] đã giải thích về mối quan hệ đặc biệt của năm thành tố đại diện bệnh tật trong mô hình CSM bao gồm: nhận
Trang 18biết bệnh, thời gian bệnh, hậu quả bệnh, kiểm soát bệnh; nguyên nhân bệnh với quan niệm về sự cần thiết của việc điều trị bệnh
1.3 Nghiên cứu về quan niệm của người bệnh về bệnh tật
Timmers, và cộng sự (2008) thực hiện nghiên cứu về quan niệm bệnh tật trên người bệnh phải lọc máu và mối quan hệ với chất lượng cuộc sống [28] Quan niệm về bệnh và chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng bộ công cụ
“Bộ câu hỏi quan niệm về bệnh tật- chỉnh sửa” (IPQ-R) và bộ câu hỏi SF-36,
91 người bệnh lọc máu và 42 người bệnh lọc màng bụng So sánh giữa hai nhóm người bệnh, nhóm lọc màng bụng có nhiều kiểm soát bệnh và hiểu biết tốt hơn về bệnh tật Quan niệm bệnh tật giải thích từ 17 đến 51% điểm số chất lượng cuộc sống Trong đó, người bệnh có nhiều triệu chứng, nhiều hậu quả bệnh, nhận biết bệnh tốt và nhiều hậu quả bệnh tiêu cực, kiểm soát bệnh kém
là có liên quan đến điểm thấp hơn ở cảm nhận về sự khỏe mạnh
Nghiên cứu của A Del Castillo và cộng sự (2013) thực hiện nghiên cứu quan niệm bệnh tật về bệnh tăng huyết áp [29] đã tìm ra được một số yếu tố liên quan đến quan điểm bệnh tật như: giới, tuổi, trình độ văn hóa, kinh nghiệm của gia đình ( đã sống chung với người có tăng huyết áp)
1.4 Các bộ công cụ về quan niệm của người bệnh về bệnh tật
Các bộ công cụ gồm có IPQ, IPQ Brief và IPQ-R IPQ (Illness Perception Questionnaire) là một phương pháp mới đánh giá nhận thức liên quan đến đặc trưng của bệnh [12] [30] IPQ bao gồm 5 bảng cung cấp thông tin về 5 thành phần đã được tìm thấy làm nền tảng liên quan đến nhận thức đặc trưng của bệnh 5 bảng đánh giá đồng nhất: triệu chứng của bệnh nhân với bệnh kết hợp, nguyên nhân của bệnh, nhận thức về thời gian của bệnh, những thay đổi và ảnh hưởng của bệnh và điều trị bệnh Nó được sử dụng trong việc nghiên cứu trên các bệnh về tim, viêm khớp dạng thấp, ung thư, bệnh phổi tắc
Trang 19nghẽn mạn tính, suy kiệt, đái tháo đường, bệnh Addison Tuy nhiên, một trong những hạn chế của bộ công cụ này là khó khăn cho các tác giả khi kết luận nhận thức như thế nào về bệnh tật của bệnh nhân, bởi vì mỗi bệnh có triệu chứng và nguyên nhân gây ra riêng và mỗi bệnh nhân đã nhận thức về bệnh tật của họ khác nhau Dựa trên việc sử dụng và khả năng thích ứng của IPQ với các bệnh nhân và bệnh khác nhau, Moss-Morris, và cộng sự (2002)
đã đánh giá lại và quyết định sửa đổi IPQ (IPQ-R) để chính xác hơn với mô hình CSM, để đánh giá chính xác hơn nhận thức của bệnh nhân về bệnh [30] IPQ Brief được thiết kế để đánh giá nhanh chóng các cơ quan đại diện nhận thức và tình cảm của bệnh tật IPQ Brief có khá nhiều ưu điểm như ngắn gọn, tốc độ hoàn thiện bộ câu hỏi nhanh, hữu ích cho những người cao tuổi,…
và hữu ích trong các nghiên cứu có quy mô rộng lớn Tuy nhiên, IPQ Brief cũng có một hạn chế lớn là phản ánh thông tin không chính xác nếu bệnh nhân không hiểu những gì đã được viết
IPQ-R là bộ câu hỏi đã được sửa đổi, có điểm mạnh là bệnh nhân có thể
tự báo cáo và quy mô đã được điều chỉnh để cho phép đáp ứng trong các ngôn ngữ khác nhau Tuy nhiên cũng có hạn chế như bộ câu hỏi khá dài (80 mục)
và khó cho những người hạn chế trong việc đọc và viết
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi IPQ-R IPQ-R gồm ba phần:
Phần 1 về trải nghiệm các triệu chứng bệnh Người bệnh được hỏi có hay không có về 14 triệu chứng khác nhau và nếu họ tin rằng những triệu chứng
Trang 20- Thời gian tái bệnh (4 quan điểm)
- Hậu quả bệnh (6 quan điểm)
- Kiểm soát cá nhân (6 quan điểm)
- Kiểm soát điều trị (5 quan điểm)
- Hiểu biết về bệnh (5 quan điểm)
- Mức độ ảnh hưởng đến cảm xúc (6 quan điểm)
Phần 3 là 18 yếu tố được cho là nguyên nhân gây ra bệnh, quan niệm của mỗi người là khác nhau và không có câu trả lời là đúng hay sai cho câu hỏi:
- Tác nhân gây ra bệnh mang tính tâm lý (6 quan điểm)
- Các yếu tố nguy cơ (7 quan điểm)
- Hệ miễn dịch (3 quan điểm)
- Tai nạn/ ngẫu nhiên (2 quan điểm)
Trang 21CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương
+ Khoa khám bệnh: Phòng các sản phụ được làm nghiệm pháp dung nạp đường huyết, được chẩn đoán và trả kết quả tại đây
+ Khoa phụ sản 1: Khoa điều trị có bệnh nhân tiểu đường thai kì nằm điều trị nội trú
- Thời gian: Từ 20/3/2015 – 30/ 4/2015
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
+ Bệnh nhân được lựa chọn sau khi thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose tại phòng khám do bác sỹ chẩn đoán
+ Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Bệnh nhân không đồng ý tham gia
+ Bệnh nhân mắc ĐTĐ typ 2
2.2 Phương pháp chọn mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (lấy tất)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Trang 22Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Công cụ nghiên cứu
Bộ câu hỏi bao gồm 3 phần (phụ lục A):
Phần A: Các thông tin chung của bệnh nhân: đặc điểm nhân khẩu học, tiền sử gia đình, tiền sử bản thân,…
Phần B: Các triệu chứng bệnh nhân gặp phải trong vòng 2 tuần trở lại thời điểm phỏng vấn
Phần C: Quan niệm về bệnh tật, sử dụng “Bộ câu hỏi về quan niệm về bệnh tật cập nhật” (IPQ-R) của Moss-Morris (phụ lục A), bao gồm 38 quan niệm sử dụng thang điểm likert 5 điểm và 18 nguyên nhân gây ra bệnh
Bộ công cụ được đồng ý sử dụng của tác giả (phụ lục C) và được dịch ra tiếng việt và bản tiếng việt được một nghiên cứu viên độc lập xem lại, rà soát Cách cho điểm:
Phần nhận biết trải nghiệm triệu chứng bệnh của bệnh nhân:
Trang 23Với điểm số cao hơn cho thấy quan niệm/niềm tin tích cực hơn về thời gian bị bệnh, thời gian tái bệnh, hậu quả bệnh, kiểm soát cá nhân, kiểm soát điều trị và ảnh hưởng của bệnh đến cảm xúc; sự hiểu biết của bệnh nhân về bệnh
Phần nguyên nhân gây bệnh:
Quan niệm của mỗi người là khác nhau, và không có một câu trả lời đúng cho những câu hỏi này Chúng tôi quan tâm nhất trong quan niệm của bệnh nhân mà họ cho rằng đó là nguyên nhân gây ra bệnh ĐTĐTK, hơn là những gì có thể là bác sỹ, gia đình hay bạn bè có thể đã gợi ý cho họ Và với những nguyên nhân gợi ý đưa ra trong bộ câu hỏi thì các bệnh nhân sẽ cho biết mức độ đồng ý hay không đồng ý với những ý kiến đó
2.3.3 Chỉ số và biến số nghiên cứu
Trang 24Chỉ số và biến số Công cụ thu thập số
Trang 252.4.1 Phương pháp thu thập số liệu: thu thập qua bộ câu hỏi
Cách thức tiến hành: Người bệnh được chẩn đoán là ĐTĐTK sẽ được tiếp
cận để mời tham gia vào nghiên cứu Nghiên cứu viên sẽ phỏng vấn trực tiếp đối tượng bằng bộ câu hỏi có sẵn
- Mời các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu
- Các bệnh nhân được giải thích mục đích của nghiên cứu và sau khi đồng
ý tham gia nghiên cứu, các bệnh nhân được giải thích cách trả lời bộ câu hỏi
- Thu thập các thông tin qua bộ câu hỏi (phụ lục A)
- Sau khi thu thập xong chúng tôi nhập và xử lý số liệu bằng SPSS 16.0
2.4.2 Xử lý số liệu: sử dụng phần mềm SPSS 16
Các chỉ số nhân trắc học và đặc điểm lâm sàng sẽ được phân tích theo tỉ
lệ phần trăm Phân tích mô tả của các lĩnh vực quan điểm bệnh tật sẽ được áp dụng tính mean và độ lệch chuẩn T-test, anova được áp dụng để phân tích mối liên quan giữa các chỉ số nhân trắc học, đặc điểm lâm sàng và các lĩnh vực của quan niệm về bệnh tật của người bệnh có đái tháo đường thai kì p<0.05 được đặt là mức có khác biệt về thống kê
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi về quan niệm của người bệnh về bệnh tật
đã được sự đồng ý của tác giả bộ câu hỏi (phụ lục C)
Nghiên cứu được thực hiện thông qua sự cho phép của Bệnh viện Phụ sản Trung Ương và Trường Đại học Y Hà Nội
Tất cả người bệnh tham gia nghiên cứu sẽ được cung cấp đầy đủ thông tin về nghiên cứu và tham gia hoàn toàn tự nguyện Người bệnh có quyền rút khỏi nghiên cứu bất kì lúc nào và không có bất kì vấn đề ảnh hưởng tới việc điều trị của họ
Trang 26CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu
Nơi cư trú Thành phố (n = 63)
Nông thôn (n = 21)
75% 25% Trình độ học
vấn
Chưa tốt nghiệp PTTH (n = 8)
PTTH (n = 13) Cao đẳng/đại học/sau đại học (n = 63)
9,5% 15,5% 75% Nghề nghiệp Nông dân/công nhân (n = 12)
Tự do (n = 21) Văn phòng/tri thức (n = 51)
14,3% 25,0% 60,7% Nhận xét:
- Tỉ lệ bệnh nhân trong nhóm tuổi từ < 35 chiếm chủ yếu (71,4%), nhóm
≥ 35 chiếm 28,6% Các bệnh nhân có tuổi trung bình là 32,50 ± 5,13 Tuổi thấp nhất là 22 và cao nhất là 44
- Đa số bệnh nhân tham gia nghiên cứu là ở khu vực thành phố chiếm tỷ lệ 75,0%
Trang 27- Trong nhóm bệnh nhân tham gia nghiên cứu có 75% bệnh nhân có trình
độ học vấn là cao đẳng/đại học/sau đại học, có15,5% là tốt nghiệp PTTH và có 9,5% là chưa tốt nghiệp PTTH
- Nghề nghiệp chủ yếu của nhóm bệnh nhân tham gia nghiên cứu là văn phòng/tri thức chiếm 60,7%; công nhân/nông dân chiếm 14,3% Tự do gồm buôn bán kinh doanh nhỏ và nội trợ chiếm 25,0%
3.1.2 Một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
> 23 (thừa cân, béo phì) (n = 25)
6,0% 64,3% 29,7%
Số lần mang thai Lần đầu (n = 40)
≥ 2 (n = 44)
47,6% 52,4% Tiền sử gia đình
có ĐTĐ
Có (n = 19) Không (n = 65)
22,6% 77,4% Tuần thai chẩn
đoán
< 24 tuần (n = 14)
≥ 24 tuần (n = 70)
16,7% 83,3% Nhận xét:
- Đa số các bệnh nhân tham gia có chỉ số BMI ở mức bình thường (64,3%), có 29,7% bệnh nhân có BMI ≥ 23 và chỉ có 6,0% bệnh nhân
có BMI<18 BMI trung bình trước khi mang thai là 22,15 ± 2,70 BMI nhỏ nhất là 15,82 và lớn nhất là 28,89
- Có 52,3% bệnh nhân thai lần thứ 2 trở lên và 47,6% bệnh nhân là mang thai lần đầu
- Trong tổng số 84 bệnh nhân, có 22,6 % bệnh nhân trong gia đình có bố hoặc mẹ hoặc anh chị em ruột bị ĐTĐ typ 2
- Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu chủ yếu được chẩn đoán là ĐTĐTK từ tuần thai thứ 24, chiếm 83,3% Tuần thai trung bình được chẩn đoán là 28,18 ± 6,67 Chẩn đoán sớm nhất ở tuần thứ 8 và muộn
nhất ở tuần 38
Trang 28* Ghi chú: 44 là số bệnh nhân mang thai lần 2 trở lên
Nhận xét: Trong những bệnh nhân mang thai lần thứ 2 trở lên, có 4 người
(9,09%) là có tiền sử ĐTĐTK, có 34 người (77,27%) không bị ĐTĐTK và 6 người (13,64%) không kiểm tra đường máu
Mức độ tìm hiểu thông tin về bệnh ĐTĐTK
Biểu đồ 3.1 Mức độ tìm hiểu thông tin về bệnh ĐTĐTK
Nhận xét: Có 36,9% bệnh nhân thường xuyên tìm hiểu về bệnh ĐTĐTK,
31,0% bệnh nhân hiếm khi tìm hiểu về bệnh ĐTĐTK
Trang 29Các kênh thông tin đã sử dụng để tìm hiểu thông tin về bệnh ĐTĐTK
Biểu đồ 3.2 Các kênh thông tin đã sử dụng để tìm hiểu về bệnh ĐTĐTK
Nhận xét: Kênh thông tin được sử dụng nhiều nhất là qua internet (72,6%),
tiếp đó là qua nhân viên y tế ( 29,8%), tivi ( 25,0%)
Đường máu gần nhất đo tại bệnh viện lúc đói
Bảng 3.4 Đường máu gần nhất đo tại bệnh viện lúc đói
Nhận xét: Có 65,5% bệnh nhân có đường máu lúc đói là ≤ 5,8 Đường máu
trung bình là 5,92 ± 1,50 Đường máu thấp nhất là 4,1 và cao nhất là 11,3
Trang 30Sự tự theo dõi đường máu tại nhà của bệnh nhân
Bảng 3.5 Theo dõi đường máu tại nhà
Nhận xét: Có 34,4% bệnh nhân có theo dõi đường máu ở nhà, phần lớn là
không theo dõi đường máu ở nhà (65,5%)
Chế độ điều trị đang áp dụng của bệnh nhân
Biểu đồ 3.3 Chế độ điều trị hiện tại của bệnh nhân
Nhận xét: Trong tổng số 84 bệnh nhân, có 52,4% bệnh nhân tham gia không
thực hiện chế độ điều trị gì; 20,2% phải điều trị bằng insulin, và 42,9% bệnh
nhân thực hiện chế độ ăn và luyện tập
Trang 313.2 Quan niệm bệnh tật trên bệnh nhân ĐTĐTK
3.2.1 Quan niệm của bệnh nhân về biểu hiện của bệnh
Bảng 3.6 Phần trăm của các triệu chứng nhận biết bệnh
34,5 33,3 31,0 29,8 22,6 17,9 17,9 15,5 4,8 4,8
Chú thích: % của những người trả lời là “Có”
Nhận xét: Phần trăm số bệnh nhân trả lời “Có” với mỗi triệu chứng bệnh mà
họ tự nhận biết và họ đã trải qua Kết quả cho thấy, khó ngủ và mệt mỏi là hai triệu chứng thường gặp nhất ở bệnh nhân có đái tháo đường thai kì (59,5% và 51,2%) Ngoài ra, yếu người và khó thở cũng là hai triệu chứng được báo cáo hay gặp trên những bệnh nhân này với 35,7%
Trang 323.2.2 Quan niệm của bệnh nhân về bệnh đái tháo đường thai kì
Bảng 3.7 Quan niệm của bệnh nhân về bệnh ĐTĐTK
bệnh của tôi thay đổi lớn hàng ngày
gian bệnh tốt lên và xấu đi theo chu kì
52,4
51,2
34,6 26,2
Trang 334 Bệnh của tôi gây ra hậu quả nghiêm trọng về kinh tế tài chính
ra những khó khăn cho những người thân của tôi
86,9
83,4 63,1
Trang 3452,4 23,9
61,9 57,2 39,3 30,9
Tổng điểm
của 38IP
Mean ± SD = 120,98 ± 9,63 Min = 93; Max = 141 Chú thích: % của những người trả lời “ đồng ý” và “rất đồng ý”
r: số điểm đảo ngược lại
Trang 35vĩnh viễn, trong đó cũng có khoảng 17,9% bệnh nhân cho rằng bệnh chỉ tồn tại một thời gian ngắn
- Về thời gian tái bệnh: Hơn một nửa số bệnh nhân cho rằng các triệu chứng bệnh tái lại theo chu kì (52,4%), tuy nhiên đến 51,2% bệnh nhân lại nghĩ rằng bệnh rất khó đoán trước
- Về hậu quả bệnh: Cho thấy bệnh nhân có quan niệm khá tiêu cực về hậu quả bệnh đái tháo đường thai kì đến cuộc sống của họ Có 59,5% bệnh nhân cho rằng bệnh ĐTĐTK là một bệnh nghiêm trọng; 55,9% bệnh nhân cho rằng bệnh này sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho cuộc sống của họ và có 48,8% cho rằng bệnh ĐTĐTK sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng về kinh tế tài chính, tuy nhiên cũng có 55,9% bệnh nhân thấy là bệnh ĐTĐTK không có nhiều ảnh hưởng tới cuộc sống của họ
- Kiểm soát cá nhân: Với mean = 20,08 cho thấy bệnh nhân có quan niệm tích cực về kiểm soát cá nhân Có 92,9% bệnh nhân nghĩ rằng quá trình bệnh ĐTĐTK phụ thuộc vào họ, và có nhiều việc họ có thể làm để kiểm soát các triệu chứng bệnh (84,6%)
- Kiểm soát điều trị: Chúng tôi thấy rằng, các bệnh nhân có quan niệm tích cực về kiểm soát điều trị Có 94,0% bệnh nhân tin rằng việc điều trị có thể kiểm soát bệnh ĐTĐTK, điều trị sẽ có hiệu quả chữa khỏi bệnh ĐTĐTK (89,3%)
- Hiểu biết về bệnh: Chúng tôi thấy rằng, nhìn chung bệnh nhân cho thấy mức độ hiểu biết về bệnh còn chưa đầy đủ, có 66,6% bệnh nhân không hiểu gì về bệnh ĐTĐTK, 64,3% cho rằng ĐTĐTK là bí ẩn đối với họ và hơn một nửa thấy rằng bệnh ĐTĐTK không có gì dễ hiểu với họ (59,5%)
- Ảnh hưởng đến cảm xúc: Các bệnh nhân có quan niệm khá tiêu cực ảnh hưởng đến cảm xúc Có 75,0% bệnh nhân thấy rằng mang bệnh ĐTĐTK khiến họ cảm thấy lo âu và 70,2% thấy lo lắng khi nghĩ về bệnh ĐTĐTK
3.2.3 Quan niệm của bệnh nhân về các nguyên nhân dẫn đến bệnh
Bảng 3.8 Quan niệm về nguyên nhân gây bệnh ĐTĐTK
Tác nhân gây ra bệnh mang tính tâm lý
Trang 361 Căng thẳng/ stress 25,0
2 Thái độ của bản thân, ví dụ như suy nghĩ tiêu cực về cuộc sống, 17,9
3 Các vấn đề gia đình hoặc lo lắng gây ra 9,5
5 Tình trạng tâm lý của tôi như buồn chán, cô đơn,… 11,9
Các yếu tố nguy cơ
Hệ miễn dịch
Tai nạn/ Ngẫu nhiên
Chú thích: % của những người trả lời “ đồng ý” và “rất đồng ý”
Nhận xét: Chúng tôi thấy rằng, nhóm các yếu tố nguy cơ có % cao nhất
(58,4% là do ăn kiêng hoặc thói quen ăn uống, do hành vi của bản thân là 38,1%), do đó theo quan niệm của người bệnh nhóm này được cho là những yếu tố nguyên nhân liên quan tới bệnh đái tháo đường thai kì
Trang 373.3 Liên quan của các đặc điểm nhân khẩu học đến quan niệm của bệnh nhân về bệnh ĐTĐTK
3.3.1 Liên quan của tuổi đến quan niệm bệnh tật
Bảng 3.9 Liên quan của nhóm tuổi đến quan niệm bệnh tật
< 35 ( n = 60) ≥ 35 ( n = 24)
p Mean ± SD Mean ± SD
Tổng IPQ-R 120,62 ± 10,33 121,88 ± 7,70 0,591 Thời gian bị bệnh 13,42 ± 3,91 14,08 ± 4,60 0,504 Hậu quả bệnh 18,70 ± 4,48 18,62 ± 3,83 0,943
Kiểm soát cá nhân 20,43 ± 1,99 19,21 ± 2,02 0,013
Kiểm soát điều trị 19,85 ± 2,79 19,71 ± 2,20 0,825 Hiểu biết về bệnh 15,85 ± 4,12 17,00 ± 4,47 0,263 Thời gian tái bệnh 12,95 ± 2,18 12,92 ± 3,08 0,956 Ảnh hưởng đến cảm xúc 19,42 ± 4,74 20,33 ± 3,62 0,397
Nhận xét: Chúng tôi chỉ tìm thấy một sự khác biệt đáng kể là nhóm < 35 tuổi
tin vào việc kiểm soát cá nhân vào bệnh ĐTĐTK so với nhóm còn lại, có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 Ngoài ra, nhóm ≥ 35 tuổi có quan niệm tích cực hơn về thời gian bị bệnh, hiểu biết về bệnh và ảnh hưởng đến cảm xúc mặc dù không có ý nghĩa về mặt thống kê