Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành trên đối tượng là nữ VTN từ 12-15 tuổi tại một trường THCS để tìm hiểu xem thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi của các em trong vấn đề sức kh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ĐỖ MAI OANH
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI CHĂM SÓC SỨC KHỎE GIỚI TÍNH
Ở NỮ SINH TRƯỜNG THCS XÃ LIÊM HẢI, HUYỆN TRỰC NINH,
TỈNH NAM ĐỊNH NĂM HỌC 2014-2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Khóa 2011-2015 Chuyên ngành: Y tế công cộng
HÀ NỘI – 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ĐỖ MAI OANH
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI CHĂM SÓC SỨC KHỎE GIỚI TÍNH
Ở NỮ SINH TRƯỜNG THCS XÃ LIÊM HẢI, HUYỆN TRỰC NINH,
TỈNH NAM ĐỊNH NĂM HỌC 2014-2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHÓA 2011-2015 CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Vũ Diễn
HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội, Phòng Đào tạo Đại học, đã tạo điều kiện cho em trong suốt thời gian học tập
và nghiên cứu tại trường!
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Trường Đại học Y Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế công cộng, các thầy cô trong bộ môn Sức khỏe môi trường đã tận tình dạy dỗ, giúp
đỡ em trong 4 năm học tại trường cũng như trong quá trình hoàn thành khóa luận này!
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn TS Vũ Diễn – người thầy hướng dẫn đã dành nhiều thời gian tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận của mình!
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô, các bác và các anh chị đang công tác tại trường THCS Liêm Hải đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình lấy số liệu phục vụ cho khóa luận này!
Cảm ơn những người bạn, những bậc tiền bối vì sự quan tâm, giúp đỡ, động viên của mọi người trong suốt quá trình học tập cũng như trong cuộc sống! Cảm ơn cậu em trai đã luôn đứng về phía chị trong bất kể hoàn cảnh nào!
Đặc biệt, con xin cảm ơn bố mẹ đã luôn dành cho con tình yêu thương và những điều kiện tốt nhất để con yên tâm học tập và hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp đại học!
Sinh viên
Đỗ Mai Oanh
Trang 4CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
_ Phòng Đào tạo đại học – Trường Đại học Y Hà Nội
_ Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế công cộng
_ Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp, năm học 2014-2015
Em xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của em, toàn bộ số liệu thu thập và xử lý một cách khách quan, trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ một tài liệu nào khác
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2015
Sinh viên
Đỗ Mai Oanh
Trang 5Vị thành niên
Vị thành niên và thanh niên World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Chăm sóc sức khỏe giới tính 3
1.2 Vai trò của chăm sóc sức khỏe giới tính 4
1.3 Tình hình chăm sóc sức khỏe giới tính ở vị thành niên 9
1.4 Sơ lược về địa điểm nghiên cứu: 13
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Địa điểm nghiên cứu: 15
2.2 Đối tượng nghiên cứu: 15
2.3 Thời gian nghiên cứu: 15
2.4 Phương pháp nghiên cứu: 15
2.5 Biến số và các chỉ số nghiên cứu 16
2.6 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 19
2.7 Sai số và cách khắc phục: 20
2.8 Phương pháp xử lý số liệu 21
2.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 21
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 22
Trang 73.2 Kiến thức của nữ sinh về sức khỏe giới tính 23
3.3 Thái độ chăm sóc sức khỏe giới tính của nữ sinh 30
3.4 Hành vi trong chăm sóc sức khỏe giới tính của nữ sinh 32
3.5 Nhu cầu tìm hiểu, tư vấn về sức khỏe giới tính của nữ sinh 35
Chương 4: BÀN LUẬN 39
KẾT LUẬN 54
KHUYẾN NGHỊ 56
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n=217) 22
Bảng 3.2 Kiến thức của nữ sinh về những thay đổi khi dậy thì (n=217) 23
Bảng 3.3 Kiến thức của nữ sinh về kinh nguyệt (n=133) 23
Bảng 3.4 Kiến thức của nữ sinh về có thể có thai khi tiếp xúc với người khác giới trưởng thành (n=217) 24
Bảng 3 5 Kiến thức của nữ sinh về ảnh hưởng xấu của nạo phá thai đến sức khỏe (n=217) 25
Bảng 3.6 Kiến thức của nữ sinh về nguyên nhân, hậu quả, 27
Bảng 3.7 Kiến thức của nữ sinh về xâm hại, lạm dụng tình dục (n=217) 28
Bảng 3 8 Kiến thức chung về sức khỏe giới tính của nữ sinh (n=217) 29
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Kiến thức của nữ sinh về các BPTT (n=217 ) 24 Biểu đồ 3 2 Kiến thức của nữ sinh về một số BLTQĐTD (n=217) 26 Biểu đồ 3.3 Thái độ của nữ sinh đối với hành vi quan hệ tình dục ở tuổi VTN (n=217) 30 Biểu đồ 3.4 Thái độ của nữ sinh với việc tìm hiểu, chăm sóc sức khỏe giới tính (n=217) 31 Biểu đồ 3.5 Tự đánh giá của nữ sinh trong vệ sinh cơ quan sinh dục (n=217) 33 Biểu đồ 3.6 Tự đánh giá của nữ sinh trong vệ sinh kinh nguyệt (n=133) 33 Biểu đồ 3 7 Nhu cầu về đối tượng cung cấp thông tin 35 Biểu đồ 3.8 Nhu cầu về nguồn cung cấp thông tin sức khỏe giới tính của nữ sinh (n=215) 36 Biểu đồ 3.9 Nhu cầu về các nội dung sức khỏe giới tính muốn tìm hiểu của
nữ sinh (n=215) 37 Biểu đồ 3 10 Nhu cầu về hình thức tiếp cận thông tin 38
Sơ đồ 3.1 Xử trí của nữ sinh khi có biểu hiện rối loạn kinh nguyệt (n=96) 32
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên thế giới, vấn đề sức khỏe vị thành niên (VTN) luôn được quan tâm
và đầu tư, bởi vấn đề này trực tiếp liên quan đến sự phát triển, tồn vong của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Là một lực lượng nòng cốt của xã hội, “thế hệ tương lai” được tu dưỡng với hi vọng sẽ kế thừa và xây dựng phát triển xã hội, giải quyết các thách thức mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, bất ổn kinh tế, đại dịch HIV/AIDS,… Ngày nay, trẻ VTN có nhiều điều kiện để phát triển cả về thể chất, tinh thần, tiếp cận thông tin và hội nhập Song song với
đó là những chuẩn mực đạo đức thay đổi, tệ nạn xã hội gia tăng, kéo theo nhiều hệ quả tác động đối với VTN, một trong đó là xu hướng quan hệ tình dục trước hôn nhân Tình trạng này cùng với sự thiếu quan tâm, thiếu hiểu biết về sức khỏe giới tính ở VTN dẫn đến nhiều vấn đề xã hội trầm trọng như mang thai ngoài ý muốn, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD), nhiễm HIV/AIDS, xâm hại, lạm dụng tình dục… [1], [2]
Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó 20% là ở lứa tuổi VTN Trên cả nước có 5% em gái sinh con trước
18 tuổi, 15% sinh con trước 20 tuổi [3] Theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2005,
có 90844 người nhiễm HIV, 14560 người bị AIDS và 8494 người tử vong, trong đó 0,84% trẻ dưới 13 tuổi, 8,36% từ 13-19 tuổi Cũng như nhiều quốc gia, các vấn đề về sức khỏe giới tính ở VTN đang là những vấn đề nan giải và cần quan tâm giải quyết ở nước ta
Hiện nay có không ít các nghiên cứu về các lĩnh vực liên quan đến sức khỏe giới tính VTN nhằm góp phần cải thiện, nâng cao sức khỏe của các em Những nghiên cứu ở VTN này thường tập trung chủ yếu trên đối tượng từ 15-
19 tuổi, như các cuộc Điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam – SAVY 1 (2003) và SAVY 2 (2008) với quy mô hơn mười nghìn thanh thiếu niên trên khắp các vùng miền cả nước Số ít các nghiên cứu còn lại thực
Trang 11hiện trên đối tượng VTN 12-15 tuổi như nghiên cứu của Lê Huỳnh Thị Cẩm Hồng tại thành phố Hồ Chí Minh (2008) hay nghiên cứu tại một xã trung du miền núi Bắc Bộ của tỉnh Phú Thọ của Nguyễn Thị Tiến (2013) [4], [5]
Xác định được mức độ cần thiết của một nghiên cứu trên lứa tuổi THCS (12-15 tuổi) ở một vùng nông thôn đồng bằng để góp thêm một cái nhìn khách quan về tình hình sức khỏe giới tính ở VTN Việt Nam, do nguồn lực có hạn, chúng tôi chọn tiến hành nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe giới tính ở nữ sinh tại trường THCS xã Liêm Hải, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định Lựa chọn đối tượng nghiên cứu xuất phát từ nguyên nhân nữ giới là đối tượng phải chịu những gánh nặng bệnh tật lớn từ vấn đề sức khỏe sinh sản như tử vong
do biến chứng trong lúc mang thai và khi sinh, thương tổn, nhiễm trùng… [6]
Đề tài: “Kiến thức, thái độ và hành vi chăm sóc sức khỏe giới tính ở
nữ sinh trường THCS xã Liêm Hải, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định năm học 2014-2015”
Mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe giới tính của
nữ sinh trường THCS xã Liêm Hải, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định năm học 2014-2015
2 Mô tả nhu cầu tìm hiểu, tư vấn về sức khỏe giới tính của nữ sinh
trường THCS xã Liêm Hải, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định năm học
2014-2015
Trang 12Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Chăm sóc sức khỏe giới tính
Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và
xã hội, chứ không phải chỉ là không có bệnh hay thương tật [7]
Giới tính là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nữ giới và nam giới và không thể thay đổi được Chỉ có một số khác biệt nhỏ về vai trò của nam giới
và phụ nữ về mặt sinh học và sinh lý trên cơ sở giới tính [8], [9]
Sức khỏe sinh sản là một trạng thái khỏe mạnh, hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống, chức năng
và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tổn thương
hệ thống sinh sản [10]
Sức khoẻ sinh sản vị thành niên là những nội dung nói chung của sức khoẻ sinh sản nhưng được ứng dụng phù hợp cho lứa tuổi VTN Sức khỏe giới tính là một phần trong sức khỏe sinh sản VTN Khi mà ở tuổi vị thành niên sớm và giữa (10-15 tuổi), vấn đề về làm mẹ, chăm sóc trước, trong và sau sinh, KHHGĐ… ít được đề cập đến hơn do chưa thực sự cần thiết, nên cụm từ “sức khỏe giới tính” được dùng thay vì “sức khỏe sinh sản” để làm giảm mức độ nặng nề của vấn đề và gói gọn thông tin cần thiết hơn Ở lứa tuổi từ 10 đến 15 tuổi, những em gái bắt đầu có những dấu hiệu dậy thì dẫn đến những thay đổi về thể chất và tâm lý Đây chính là lúc các em cần được cung cấp những kiến thức về sức khỏe giới tính như dậy thì, sinh lý thụ thai, các BLTQĐTD, bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục (NKĐSD), thực hành vệ sinh, vệ sinh kinh nguyệt đúng cách, chế độ ăn uống, hoạt động phù hợp, có các kỹ năng sống cần thiết… để có thể phát triển khỏe mạnh toàn diện
Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành trên đối tượng là nữ VTN từ 12-15 tuổi tại một trường THCS để tìm hiểu xem thực trạng kiến thức, thái độ
và hành vi của các em trong vấn đề sức khỏe giới tính như thế nào Chúng tôi
Trang 13muốn biết mức độ hiểu biết, cách nhìn nhận của các em về vấn đề này như thế nào? (Có biết về dậy thì, các BLTQĐTD, các biện pháp tránh thai,… không?) Và với những hiểu biết đó, cách nhìn nhận đó các em đã áp dụng vào việc chăm sóc sức khỏe giới tính của bản thân ra sao? (Hành vi như thế nào?) Các em có những nhu cầu tìm hiểu và tư vấn gì về sức khỏe giới tính? Chính là tìm ra chăm sóc sức khỏe giới tính ở chính các em chứ không đề cập đến các dịch vụ cung cấp trong lĩnh vực này đối với các em
1.2 Vai trò của chăm sóc sức khỏe giới tính
1.2.1 Tuổi vị thành niên và những vấn đề liên quan
Lứa tuổi VTN là lứa tuổi từ 10-19 tuổi [11] Đây là giai đoạn chuyển tiếp
từ trẻ em sang người lớn, đặc trưng bằng những thay đổi về thể chất, trí tuệ và mối quan hệ xã hội chuyển từ đơn giản đến phức tạp Lứa tuổi này trẻ bắt đầu trưởng thành về cơ thể, về tâm lý xã hội, là giai đoạn quyết định về hành vi sức khỏe, nhân cách của trẻ sau này [12] Tuổi VTN được chia ra 3 giai đoạn phát triển [11]:
em gái VTN Tuy nhiên có những dấu hiệu khác xuất hiện trước, sau dấu hiệu này vẫn là những đặc trưng của tuổi dậy thì [3], [11]:
_ Phát triển núm vú, quầng vú
_ Mọc lông sinh dục: lông mu, lông nách
_ Tử cung, âm đạo, buồng trứng phát triển to ra, xương hông nở ra
Trang 14_ Phát triển chiều cao nhanh chóng
_ Các tuyến bã hoạt động mạnh, xuất hiện trứng cá
Theo phân loại của Tanner, tuổi dậy thì trải dài qua 5 giai đoạn và có nhiều dấu hiệu nhận thấy sớm hơn nhiều so với lần đầu tiên xuất hiện kinh nguyệt, và tỷ lệ có kinh lần đầu ở các giai đoạn dậy thì như sau:
Giai đoạn I: 0%
Giai đoạn II: 0%
Giai đoạn III: 25%
Giai đoạn IV: 65%
Giai đoạn V: 10%
Tuổi có kinh lần đầu ở nữ VTN Việt Nam theo kết quả điều tra của SAVY 2 là 14,2 tuổi Các em gái sống ở thành thị thường bắt đầu hành kinh sớm hơn những em gái sống ở nông thôn, nhất là các em dân tộc thiểu số Trên thực tế, các em cái ở thành thị hành kinh lần đầu sớm hơn gần 1 năm so với các em gái người dân tộc thiểu số [3]
Bên cạnh những thay đổi về thể chất, tùy theo từng giai đoạn phát triển của thời kỳ VTN mà có những biến đổi tâm lý khác nhau Trẻ VTN bắt đầu
có xu hướng tách ra, ít phụ thuộc vào cha mẹ hơn Trẻ chuyển từ sinh hoạt gia đình sang sinh hoạt bạn bè, tín ngưỡng để đạt được sự độc lập Và cũng vì muốn được độc lập nên nhiều khi trẻ chống đối lại cha mẹ, những người mà
có lẽ trước kia là hình mẫu của chúng Trẻ luôn cố gắng khẳng định mình như một người lớn, tò mò, thích khám phá, thích thử nghiệm Những em gái thích làm dáng, trang điểm, và trở nên dịu dàng Trẻ thường có những hành vi bắt chước người lớn, cũng dễ tự ái và dễ bị kích động Trẻ bắt đầu xây dựng giá trị bản thân từ thông tin thu thập được từ gia đình, nhà trường, bạn bè, các hoạt động văn hóa Từ đây trẻ cũng học cách biểu lộ cảm xúc và điều khiển cảm xúc trong các mối quan hệ xã hội, tình bạn, tình yêu Trong mối quan hệ yêu đương ở tuổi này sẽ xuất hiện tình yêu bạn bè, khó phân biệt giữa tình
Trang 15yêu và tình bạn, nhưng lại dễ mơ mộng và một khi đổ vỡ thì dễ chán nản, suy sụp Trẻ bắt đầu phát triển suy nghĩ về giá trị đạo đức, và định hướng mục tiêu cuộc sống Nhưng ở giai đoạn này trẻ thường thích lập luận, suy diễn thực tế theo quan điểm lý tưởng hóa, nhìn cuộc sống toàn màu hồng, nên niềm tin dễ sụp đổ và khi đó thường nhanh chóng mất niềm tin [2], [12]
1.2.2 Những nguy cơ sức khỏe của vị thành niên nữ
Những vấn đề sức khỏe từ nguy cơ thai nghén: Ở tuổi này, các em chưa hiểu đầy đủ hoặc chưa được hướng dẫn đầy đủ về sinh lý thụ thai nên dễ
để xảy ra việc mang thai ngoài ý muốn Cơ thể các em chưa phát triển đầy đủ, đặc biệt là hệ thống sinh sản, vì vậy mà việc mang thai ở thời kỳ này mang lại rất nhiều nguy cơ về sức khỏe, cho cả các em và em bé: tai biến do xảy thai, nhiễm độc thai nghén, mẹ thiếu máu, suy dinh dưỡng, can thiệp khi sinh, tai biến sản khoa, tử vong khi sinh, trẻ nhẹ cân, còi xương, suy dinh dưỡng… [12], [13] Tỷ lệ rất lớn các em gái ở tuổi VTN khi có thai thường đi phá thai
Do các em xấu hổ, lúng túng, hoặc sợ tai tiếng nên không tìm đến các cơ sở y
tế hoặc trung tâm KHHGĐ để có lời khuyên thích đáng dẫn đến phá thai, phá thai muộn hoặc phá thai tại các cơ sở không đảm bảo an toàn Và dẫn kèm theo đó là những hậu quả rất không đáng có về sức khỏe: viêm nhiễm phụ khoa, nguy cơ vô sinh, nguy cơ tử vong… [12]
Nguy cơ mắc các BLTQĐTD, HIV/AIDS: Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), hàng năm có 250 triệu người bị nhiễm các BLTQĐTD và đứng đầu
là ở lứa tuổi từ 20-24, thứ 2 là ở tuổi 15-19, và có 1/20 phụ nữ ở tuổi VTN bị nhiễm BLTQĐTD mỗi năm Lý do tỷ lệ này cao ở tuổi VTN là vì ở tuổi này thường có những cuộc tình ngẫu hứng nên không phòng hộ hoặc không biết cách phòng hộ, nhất là ít sử dụng bao cao su Nguy cơ lớn nữa là họ giao hợp với nhiều đối tượng hoặc một đối tượng nhưng lại có nhiều bạn tình Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS qua đường tình dục đang có chiều hướng gia tăng và đối tượng nhiễm thì có xu hướng trẻ hóa Năm 2007, theo WHO, trên toàn thế
Trang 16giới khoảng 45% tổng số trường hợp nhiễm HIV mới là người trong độ tuổi
15 đến 24 [12]
Ngoài ra còn một số nguy cơ sức khỏe hay gặp ở vị thành niên nữ [12] Kinh nguyệt không đều: những vòng kinh đầu tiên do không phóng noãn nên thường kinh không đều, tình trạng này thường kéo dài 6 tháng đến 1 năm sau đó ổn định Tuy nhiên có nhiều trường hợp kinh nguyệt không đều do yếu
tố di truyền hoặc do cơ thể phát triển nhanh mà cung cấp dinh dưỡng không đầy đủ dẫn đến thiếu dinh dưỡng Tình trạng đau bụng kinh cũng thường xảy
ra ở những vòng kinh do co thắt tử cung bởi tác động của prostagladin hoặc
do lỗ tử cung quá nhỏ, tử cung phải co mạnh để tống các niêm mạc ra ngoài Trứng cá: là mối quan tâm bận lòng của phần lớn VTN Trứng cá xuất hiện nhiều ở mặt do tăng mẫn cảm với androgen do tuyến thượng thận tiết ra,
đã kích thích những tế bào tuyến tăng tiết nên những mụn trứng cá bị nhiễm khuẩn tạo thành mụn mủ Sau khi nặn các mụn này da thường thâm đen lại, sần sùi, thay đổi thẩm mỹ ở da mặt có thể gây biến động về tâm lý
Viêm âm hộ: nhiều trường hợp các trẻ gái bị tăng tiết dịch hoặc ngứa viêm đỏ vùng sinh dục ngoài, hoặc tăng tiết dịch bất thường dẫn đến nguy cơ
vô sinh
1.2.3 Yếu tố bảo vệ đối với sức khỏe giới tính vị thành niên
Gia đình và giáo dục là những yếu tố mang tính bảo vệ, hỗ trợ cho sự phát triển của trẻ VTN trong bối cảnh văn hóa của Việt Nam
Cha mẹ là những người ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần và thể chất của trẻ Những VTN có mối quan hệ gắn bó thân thiết với các thành viên trong gia đình, được quan tâm, được tạo điều kiện hơn sẽ có tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân, tự tử, hành vi bạo lực thấp hơn so với những trẻ ít gắn bó với gia đình Sự quan tâm của người thân cũng giúp các em có những suy nghĩ lạc quan hơn, tích cực hơn và lập trường vững vàng hơn [14], [15], [16]
Trang 17Cùng với gia đình, giáo dục cũng là một yếu tố bảo vệ đối với trẻ VTN Các môn học về giáo dục sức khỏe, sức khỏe giới tính ở trường cung cấp cho các em những kiến thức cần thiết về giới tính như sinh lý thụ thai, các BLTQĐTD…, các kỹ năng mềm để bảo vệ bản thân trước các yếu tố nguy cơ như lạm dụng tình dục… Sự nghiêm túc giảng dạy các môn học có tính chất nhạy cảm, cũng như sự tiếp nhận tư vấn sức khỏe giới tính của các thầy cô giáo sẽ giúp các em tiếp thu kiến thức về sức khỏe giới tính một cách đúng đắn và tích cực hơn [14], [15]
1.2.4 Vai trò chăm sóc sức khỏe giới tính ở vị thành niên
Công ước quốc tế CEDAW (Convention on the Elimination of all Forms
of Discrimination against Women) năm 1979 là một thỏa thuận quốc tế cơ bản xác định quyền của các bé gái và phụ nữ, yêu cầu các chính phủ loại bỏ
mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại trẻ em gái và phụ nữ
Cựu Tổng thư kí Liên hợp quốc Kofi A Annan đã từng phát biểu: “Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, đặc biệt là xóa đói giảm nghèo sẽ không thể thực hiện được nếu các vấn đề về dân số và sức khỏe sinh sản không được giải quyết một cách triệt để Vì vậy cần phải nỗ lực hơn nữa để đẩy mạnh quyền của phụ nữ, đầu tư cho giáo dục và y tế, bao gồm cả sức khỏe sinh sản
và kế hoạch hóa gia đình” [17]
Sức khỏe giới tính là một phần quan trọng của sức khỏe sinh sản VTN Trong khi đó sức khỏe sinh sản VTN là một trong mười nội dung của chăm sóc sức khỏe sinh sản đã được Bộ Y tế công nhận ở nước ta
Năm 2010 thế giới đã có hơn 1,2 tỉ người trong độ tuổi VTN, chiếm khoảng 1/5 dân số thế giới Ở Việt Nam, VTN và thanh niên chiếm hơn 40% dân số, nghĩa là tương đương khoảng 36 triệu người Trẻ VTN được gọi là
“thế hệ tương lai”, và đây cũng là một phần đáng kể của thế hệ công dân toàn cầu hiện tại – đang sống, lao động và đóng góp cho các gia đình, cộng đồng,
Trang 18xã hội Vì vậy các em đáng được công nhận, được bảo vệ và chăm sóc, được
sử dụng các hàng hóa và dịch vụ thiết yếu, được tạo cơ hội và được hỗ trợ [1] Trong khi đó, thai nghén và sinh đẻ ở tuổi VTN dẫn đến nhiều hậu quả
về kinh tế và xã hội bên cạnh những hậu quả về sức khỏe như [12]:
_ Hạn chế khả năng học tập dẫn đến giảm cơ hội tìm được việc làm tốt _ Không có tiền: suy yếu sức khỏe cả mẹ cả con
_ Nhà nước phải chi trả trực tiếp trợ cấp về y tế, xã hội để giải quyết khó khăn cho mẹ và con Xã hội phải chi trả gián tiếp những hậu quả do học vấn kém và các vật liệu kém hiệu quả của những người lao động kém lành nghề
_ Làm tăng tốc độ phát triển dân số
_ Nhiều khi lâm vào hoàn cảnh khó khăn, VTN bỏ học để tìm cách tự cứu: đi làm, từ bỏ quyền làm mẹ, có khi giết đứa trẻ mới sinh hoặc bi quan,
tự sát, làm gái mại dâm
Như vậy chăm sóc sức khỏe giới tính ở trẻ VTN là việc cần thiết, quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn
1.3 Tình hình chăm sóc sức khỏe giới tính ở vị thành niên
1.3.1 Tình hình chăm sóc sức khỏe giới tính ở vị thành niên trên thế giới
Theo WHO, hằng năm, trên thế giới có khoảng 16 triệu em gái tuổi từ 15 đến 19 sinh con, chiếm gần 11% số ca sinh toàn cầu Tại các nước đang phát triển khoảng 40% số phụ nữ có thai và sinh con dưới 20 tuổi, đặc biệt ở Tây Phi tỷ lệ này lên tới 56% Mỗi năm trung bình có 4,4 triệu VTN nữ ở các nước đang phát triển phải nạo phá thai trong điều kiện không an toàn [18] Nghiên cứu tại một số nước đang phát triển cho thấy hầu hết VTN đều
có kiến thức về phòng tránh thai Một số quốc gia ở vùng Caribe và Mỹ La tinh tỷ lệ này dao động từ 67% đến 99%; vùng cận sa mạc Sahara, Châu Phi
là 78% đến 84,6% và vùng Châu Á, Đông Nam Á là trong khoảng 91% đến
Trang 1993,3% Bao cao su và thuốc uống tránh thai là hai BPTT được biết đến nhiều nhất Các biện pháp truyền thống như tính vòng kinh hay xuất tinh ngoài được biết đến ít hơn [19] Có 25% các em nữ trong số 370 học sinh trung học được khảo sát tại Nga biết rằng BCS chỉ nên sử dụng một lần [20] Một nghiên cứu tiến hành năm 2012, trên nữ VTN ở một thành phố của Thái Lan của Soiy Anusornteerakul và cộng sự, cho thấy 56,0% các em gái biết đến bao cao su,
và 63,0% các em biết về viên thuốc tránh thai [21]
Một nghiên cứu tại Jamaica (thuộc vùng Caribe) trên 500 học sinh trong
độ tuổi từ 11-14 tuổi cho thấy chỉ có 27% các em nữ biết rằng có thể mang thai khi quan hệ tình dục lần đầu Tại Ấn Độ, 80% các cô gái đến bệnh viện phá thai không biết rằng QHTD có thể mang thai hay mắc các BLTQĐTD và 90% không biết về các BPTT [20]
Điều tra gần đây cho thấy 83% thanh niên Philipine cho rằng mình đã miễn dịch với HIV Ở Indonesia, 61% trẻ em gái tuổi từ 15 đến 19 biết về AIDS nhưng không biết hoặc không chắc phải tự bảo vệ mình khỏi nhiễm HIV như thế nào Tại Trung Quốc, 50% của 2500 trẻ em gái tuổi từ 15-20 không thể kể tên một cách nào để tự bảo vệ mình khỏi bị nhiễm HIV [22] Trong khi một cuộc khảo sát ở Kenya (thuộc miền đông Châu Phi) trên đối tượng là nhóm phụ nữ trẻ (15-24 tuổi) cho kết quả nữ giới có tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn nam giới trung bình từ 2 đến 4 lần [23]
Ở Iraq vẫn còn tới 25% các cô gái kết hôn trước tuổi 18 và 6% kết hôn trước tuổi 15 Trong số 1671 phụ nữ Ethiopia (một quốc gia Đông Phi) được khảo sát, 17% kết hôn trước 15 tuổi [24] Các số liệu khảo sát hộ gia đình cho thấy ở các quốc gia đang phát triển 11% nữ giới ở độ tuổi 15-19 tuổi cho biết
đã từng quan hệ tình dục trước 15 tuổi Hiện tượng quan hệ tình dục sớm ở trẻ VTN có mối liên hệ chặt chẽ với khả năng biến chứng cao trong quá trình mang thai và sinh nở - một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở
Trang 20nữ giới độ tuổi 15-19 trên khắp thế giới – cũng như làm tăng nguy cơ mắc các BLTQĐTD và có thai ngoài ý muốn [1]
Trong một nghiên cứu của Williams E Nwagwu, được tiến hành trên
1011 nữ VTN trong các trường trung học của một thành phố của Nigeria (thuộc Tây Phi) năm 2007, cho kết quả 66,2% nữ sinh mong muốn được nhận thông tin sức khỏe giới tính từ cha mẹ, 56,2% nữ sinh mong muốn nhận được những thông tin này từ các giáo viên trong trường học của họ, và 74% nữ sinh tìm đến nguồn thông tin là internet khi có nhu cầu tìm hiểu sức khỏe giới tính [25]
Hiện nay các nước trên thế giới đang rất quan tâm tới việc giải quyết các vấn đề liên quan đến sức khỏe giới tính Một trong các biện pháp quan trọng
mà nhiều nước đã áp dụng đó chính là việc truyền thông giáo dục (IEC: Information – Education – Communication) Theo điều tra của Quỹ dân số của Liên hợp quốc UNFPA, tại 151 quốc gia có ứng dụng các mục tiêu của IEC thì có 133 quốc gia (88%) báo cáo đã giúp trẻ VTN tiếp cận có hiệu quả với thông tin về chăm sóc sức khỏe giới tính [26], [27]
1.3.2 Tình hình chăm sóc sức khỏe giới tính ở vị thành niên tại Việt Nam
Tính đến năm 2011 nước ta có khoảng 17,4% dân số trong độ tuổi VTN [28] Tình trạng tảo hôn và quan hệ tình dục trước hôn nhân vẫn còn nhiều lo ngại Giới trẻ chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về giới tính, tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe giới tính, sức khỏe tình dục không dễ dàng, đặc biệt là VTN/TN sống ở nông thôn và miền núi [29]
Theo thống kê, Việt Nam là nước có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi VTN cao nhất Đông Nam Á Số liệu của Vụ Sức khỏe Bà mẹ -Trẻ em (Bộ Y tế) cho thấy, tỷ lệ vị thành niên có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm: Năm 2010: 2,9%; năm 2011: 3,1%; năm 2012: 3,2%, tương ứng
tỷ lệ phá thai ở lứa tuổi này là 2,2% (2010), 2,4% (2011) và 2,3% (2012) Theo Tổng cục Dân số-KHHGĐ, mặc dù tỷ lệ phá thai ở Việt Nam trong 10
Trang 21năm gần đây giảm, nhưng tỷ lệ nạo phá thai ở trẻ VTN, thanh niên lại có dấu hiệu gia tăng, chiếm hơn 20% các trường hợp nạo phá thai [29]
Theo điều tra từ SAVY 2 tuổi dậy thì ở nữ VTN là 14,21 giảm so với con
số 14,46 từ kết quả điều tra từ SAVY 1 Theo một nghiên cứu tại Chí Linh, Hải Dương có 60,3% VTN/TN biết đến ít nhất một dấu hiệu dậy thì của nữ giới [30] Nhận thức về dậy thì ở nhóm trẻ em gái 14-17 tuổi cao hơn ở nhóm
nữ lớn tuổi hơn, cho thấy đã có tiến bộ trong kiến thức và có sự cởi mở hơn
về những vấn đề này [31]
Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở VTN Việt Nam ngày càng sớm Tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở nữ là 18 tuổi theo điều tra của SAVY 2 (2008), giảm 1,5 năm so với kết quả điều tra của SAVY 1 (2003) [3] Tuy nhiên, kiến thức của VTN về phòng tránh thai, HIV
và các BLTQĐTD khác vẫn còn rất hạn chế Theo SAVY 1 (2003), các thanh niên được khảo sát có mức độ nhận thức cao hơn về các bệnh viêm gan B, bệnh Lậu, và bệnh giang mai (62-72%) so với các BLTQĐTD khác như bệnh Chlamydia và bệnh Trichomonas (chỉ có 7-25%) Một khảo sát về sức khoẻ sinh sản thanh thiếu niên năm 2004 cho biết 23% thanh thiếu niên không biết
gì về BLTQĐTD Ở nông thôn tỷ lệ người không biết về BLTQĐTD là 40%, trong đó nam nhiều hơn nữ [32] Trong số ca nhiễm HIV/AIDS được ghi nhận có khoảng 10% thanh niên dưới 20 tuổi và khoảng 50% các ca nhiễm mới HIV xảy ra ở người dưới 25 tuổi [33] Năm 2006, chỉ có 46% phụ nữ độ tuổi 15-19 có kiến thức toàn diện về lây truyền HIV/AIDS [31]
Thái độ đối với hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của VTN cũng
có sự thay đổi qua thời gian Từ kết quả điều tra của SAVY 1, có 23% nữ VTN/TN có thái độ “thoáng” đối với hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân Con số này đã tăng lên 30% ở kết quả điều tra của SAVY 2 [3] Thái độ này trong nghiên cứu của Lê Huỳnh Thị Cẩm Hồng tại quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh (2008) trên 669 học sinh THCS là 20,3% [4]
Trang 22Theo nghiên cứu của Đoàn Kim Thắng và cộng sự tại 4 trường tại Hà Nội, hầu hết VTN tỏ ra quan tâm nhiều hơn đến vấn đề tâm lý tuổi dậy thì (88,4%), và cách phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục (93,9%) [34] Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trẻ VTN mong muốn được cung cấp thông tin về sức khỏe giới tính từ bạn bè, mẹ và nhân viên y tế nhiều hơn so với các đối tượng khác như cha hay thầy cô giáo, và nhu cầu tìm hiểu các thông tin về vấn đề này từ những buổi học giáo dục sức khỏe do nhà trường tổ chức, qua sách báo tài liệu hay qua internet của các em là lớn hơn nhiều so với các nguồn thông tin khác [4], [34]
1.4 Sơ lược về địa điểm nghiên cứu:
1.4.1 Xã Liêm Hải
Xã Liêm Hải là một xã đồng bằng, diện tích 510 ha Dân số 13000 nhân khẩu 80% dân số theo Phật giáo, còn lại là Thiên chúa giáo Toàn bộ là dân tộc Kinh Điện đường trường trạm: 100% điện, đường bê tông hóa, trạm y tế chuẩn giai đoạn 2, trường mầm non, trường tiểu học chuẩn giai đoạn 1 Giáo dục đứng thứ 3/24 của toàn huyện Tình hình sức khỏe giới tính của VTN xã không có gì đáng lưu ý Ngoài thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, các cán bộ nhân viên của trạm y tế xã phối hợp với trường THCS tổ chức tiêm phòng uốn ván cho nữ sinh và tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho học sinh của trường
1.4.2 Trường THCS Liêm Hải
Trường THCS Liêm Hải được thành lập năm 1960, hiện nay do thầy Vũ Đức Tuấn làm hiệu trưởng Trường có 44 cán bộ, giáo viên, công nhân viên đang công tác Năm học 2014-2015 trường có 623 học sinh trong đó có 222 học sinh nữ trên tổng 16 lớp gồm 4 khối 6, 7, 8, 9 Với diện tích 8575 m2khuôn viên trường gồm 3 dãy nhà, trong đó có 18 phòng học, 5 phòng bộ môn, các phòng chức năng khác cùng sân trường rộng và vườn cây, sân thể
Trang 23dục Trường đón bằng Trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn I vào năm 2006 Trong chương trình các môn học tại nhà trường có lồng ghép giảng dạy về sức khỏe giới tính Ngoài ra, nhà trường thường xuyên phối hợp với y tế địa phương, trạm y tế xã, để tư vấn sức khỏe cho học sinh, tổ chức khám mắt, tiêm phòng cho học sinh
Trang 24Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu:
Trường THCS xã Liêm Hải, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
Các em nữ sinh từ lớp 6 đến lớp 9 trường THCS Liêm Hải
Tiêu chuẩn lựa chọn:
_ Là nữ sinh từ lớp 6 đến lớp 9 đang học tại trường năm học 2014-2015 _ Đồng ý tham gia nghiên cứu, không phân biệt có hộ khẩu thường trú tại địa phương hay không
Tiêu chuẩn loại trừ
_ Không đồng ý tham gia nghiên cứu
_ Có vấn đề về sức khỏe tâm thần, không trả lời được đầy đủ các câu hỏi trong bộ công cụ
Đại diện giáo viên, nhân viên y tế đang công tác tại trường THCS Liêm Hải
2.3 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 09/2014 đến 05/2015
2.4 Phương pháp nghiên cứu:
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu:
Điều tra mô tả cắt ngang
Trang 25Zα/2: giá trị Z thu được từ bảng Z ứng với giá trị α
Bước 3: tiến hành điều tra tất cả nữ sinh đủ tiêu chuẩn chọn có mặt tại lớp thời điểm tiến hành điều tra, năm học 2014-2015
Cuối cùng số phiếu điều tra thu về là 217 phiếu hợp lệ
Ngoài ra tiến hành phỏng vấn sâu 16 thầy cô giáo chủ nhiệm các lớp học
có các em nữ sinh tham gia nghiên cứu, và 1 nhân viên y tế trường học năm học 2014-2015
2.5 Biến số và các chỉ số nghiên cứu
ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
14, 15)
Trang 262 Khối lớp Tỷ lệ nữ sinh theo các khối lớp (6, 7, 8,
có (không) ở nhà thường xuyên
6 Đã từng tham gia giáo dục
giới tính
Tỷ lệ nữ sinh theo việc đã từng tham gia GDGT (rồi, chưa)
KIẾN THỨC VỀ SỨC KHỎE GIỚI TÍNH
7 Kiến thức về thay đổi bình
thường khi đến tuổi dậy
thì
Tỷ lệ nữ sinh có kiến thức đúng (chưa đúng) về thay đổi bình thường về thể chất ở tuổi dậy thì
Tỷ lệ nữ sinh có kiến thức đúng (chưa đúng) về thay đổi bình thường về tâm
lý ở tuổi dậy thì
8 Kiến thức về kinh nguyệt Tỷ lệ nữ sinh có kiến thức đúng (chưa
đúng) về biểu hiện rối loạn kinh nguyệt
Tỷ lệ nữ sinh có kiến thức đúng (chưa đúng) về biểu hiện bình thường trong
kỳ kinh nguyệt
9 Kiến thức về tiếp xúc con
trai con gái có thể có thai
Tỷ lệ nữ sinh có kiến thức đúng (chưa đúng) về tiếp xúc con trai con gái có thể có thai
10 Kiến thức về các biện Tỷ lệ nữ sinh có kiến thức đúng (chưa
Trang 2712 Kiến thức về ảnh hưởng
xấu của NPT đến sức khỏe
Tỷ lệ nữ sinh có kiến thức đúng (chưa đúng) về ảnh hưởng xấu của NPT đến sức khỏe
13 Kiến thức về xâm hại, lạm
THÁI ĐỘ VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE GIỚI TÍNH
15 Thái độ đối với hành vi
quan hệ tình dục ở tuổi
VTN
Tỷ lệ nữ sinh đồng ý (phản đối) với hành vi quan hệ tình dục tuổi VTN
16 Thái độ đối với việc tìm
hiểu, chăm sóc sức khỏe
giới tính
Tỷ lệ nữ sinh cho rằng cần thiết (không cần thiết) tìm hiểu, chăm sóc sức khỏe giới tính
HÀNH VI CHĂM SÓC SỨC KHỎE GIỚI TÍNH
17 Thực hành vệ sinh cơ quan
sinh dục
Tỷ lệ nữ sinh có hành vi đúng (không đúng) trong vệ sinh cơ quan sinh dục
18 Thực hành vệ sinh kinh
nguyệt
Tỷ lệ nữ sinh có hành vi đúng (không đúng) trong vệ sinh kinh nguyệt
19 Thực hành xử trí rồi loạn Tỷ lệ nữ sinh có (không ) xử trí khi có
Trang 28kinh nguyệt biểu hiện rối loạn kinh nguyệt
20 Thực hành xử trí nhiễm
khuẩn sinh dục
Tỷ lệ nữ sinh có (không) xử trí khi có biểu hiện nhiễm khuẩn sinh dục
NHU CẦU TÌM HIỂU, TƯ VẤN VỀ SỨC KHỎE GIỚI TÍNH
21 Nhu cầu về đối tượng
cung cấp thông tin về sức
khỏe giới tính
Tỷ lệ từng đối tượng cung cấp thông tin về giới tính mà nữ sinh có nhu cầu
22 Nhu cầu về nguồn cung
cấp thông tin về sức khỏe
giới tính
Tỷ lệ từng nguồn cung cấp thông tin về giới tính mà nữ sinh có nhu cầu
23 Nhu cầu về nội dung tìm
hiểu, tư vấn về sức khỏe
giới tính
Tỷ lệ nữ sinh có (không) nhu cầu đối với từng nội dung sức khỏe giới tính
24 Nhu cầu về hình thức tìm
hiểu về sức khỏe giới tính
Tỷ lệ nữ sinh có (không) nhu cầu đối với từng hình thức tìm hiểu sức khỏe giới tính
2.6 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
Phỏng vấn nữ sinh gián tiếp qua bộ câu hỏi tự trả lời (phụ lục 1)
_ Tập trung tất cả nữ sinh theo khối
_ Phổ biến mục đích, yêu cầu và nội dung điều tra
_ Phát phiếu cho nữ sinh
_ Hướng dẫn các nữ sinh trả lời phiếu
_ Quá trình điều tra được giám sát bởi các thầy cô giáo chủ nhiệm của các em nữ sinh và điều tra viên là sinh viên Y4 Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội
Trang 29 Phỏng vấn sâu đại diện thầy cô giáo, nhân viên y tế đang công tác tại trường THCS Liêm Hải
Nội dung phỏng vấn: tìm hiểu quan điểm của thầy cô và nhân viên y tế về sức khỏe giới tính, giáo dục giới tính của học sinh THCS theo phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu ở phụ lục 2, 3
_ Đối tượng nghiên cứu không hiểu rõ ý của câu hỏi hoặc trao đổi ý kiến với nhau
Cách khắc phục:
_ Chuẩn hóa bộ câu hỏi trước khi đưa vào nghiên cứu
_ Nghiên cứu thử trên một số nữ sinh của trường THCS Liêm Hải năm học 2014-2015 để điều chỉnh bộ câu hỏi cho phù hợp
_ Hướng dẫn cẩn thận và đầy đủ về cách điền phiếu khảo sát cho điều tra viên – là các sinh viên lớp Y tế công cộng khóa 2011-2015 và các cộng tác viên là các thầy cô giáo chủ nhiệm các lớp học được tiến hành điều tra
_ Giải thích cho đối tượng hiểu về mục đích sử dụng thông tin của nghiên cứu
_ Người giám sát có mặt thường xuyên ở các nơi tiến hành nghiên cứu
để giám sát và hỗ trợ nhóm nghiên cứu Các phiếu điều tra được nhóm nghiên cứu kiểm tra ngay sau khi hoàn thành phỏng vấn và thu nhận phiếu, với những phiếu thông tin thu thập chưa đầy đủ hoặc không hợp lý phải được yêu cầu nhóm nghiên cứu bổ sung ngay trước khi nộp lại cho người giám sát
Trang 302.8 Phương pháp xử lý số liệu
_ Số liệu định lượng sau khi thu thập sẽ được làm sạch và nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 Các phân tích sẽ được thực hiện bằng phần mềm STATA 10.0
_ Thống kê mô tả: dùng bảng phân bố tần suất, tỷ lệ, biểu đồ, sơ đồ để thể hiện sự phân bố của các biến số
_ Cách đánh giá kiến thức đúng hay chưa đúng, hành vi đúng hay sai dựa theo cách đo lường được đề cập ở phụ lục 4
_ Số liệu định tính sau khi được thu thập sẽ được tổng hợp, mã hóa và phân tích
_ Kết quả định lượng được so sánh, kết hợp với kết quả định tính thu được từ việc phỏng vấn sâu các thầy cô giáo và nhân viên y tế của trường
2.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành dưới sự đồng ý của lãnh đạo và thầy cô trường THCS Liêm Hải và các bậc phụ huynh của các nữ sinh tham gia nghiên cứu
Nghiên cứu không vi phạm pháp luật và thuần phong mỹ tục
Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của đối tượng nghiên cứu
Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác
Kết quả nghiên cứu được phản hồi với các bên liên quan
Sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ những nữ sinh có nhu cầu chăm sóc sức khỏe giới tính
Trang 31Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n=217)
sống cùng
Có mẹ sống cùng nhưng mẹ không thường xuyên ở nhà
Đã có kinh nguyệt Rồi
Chưa
133
84
61,3 38,7
Nhận xét: Bảng 3.1 cho thấy 217 nữ sinh điều tra phân bố khá đều ở các
khối lớp, trong đó nữ sinh khối 9 (15 tuổi) chiếm tỷ lệ cao nhất 34,1%, và nữ sinh khối 6 (12 tuổi) chiếm tỷ lệ thấp nhấp 16,6% Trong số 217 nữ sinh tham gia nghiên cứu có đến 96,3% chưa từng tham gia GDGT lần nào Trong khi
đó đã có 61,3% nữ sinh đã dậy thì (đã có kinh nguyệt) Có 89,9% nữ sinh có
mẹ sống cùng trong gia đình, nhưng vẫn còn 13,4% nữ sinh có mẹ sống cùng nhưng mẹ không thường xuyên ở nhà
Trang 323.2 Kiến thức của nữ sinh về sức khỏe giới tính
Bảng 3.2 Kiến thức của nữ sinh về những thay đổi khi dậy thì (n=217)
Kiến thức đúng và đủ
Kiến thức đúng nhưng chưa đủ
Kiến thức chưa đúng
Nhận xét: Bảng 3.2 cho thấy 15,7% nữ sinh có kiến thức đúng và đủ về
thay đổi thể chất ở tuổi dậy thì Tỷ lệ nữ sinh biết những thay đổi về tâm lý là 0,9% Tỷ lệ nữ sinh có kiến thức chưa đúng về thay đổi tâm lý là 26,7% cao hơn tỷ lệ nữ sinh có kiến thức chưa đúng về thay đổi thể chất 13,8%
Bảng 3.3 Kiến thức của nữ sinh về kinh nguyệt (n=133)
Kiến thức đúng và
đủ
Kiến thức đúng nhưng chưa đủ
Kiến thức chưa đúng
Nhận xét Bảng 3.3: Tỷ lệ nữ sinh có kiến thức đúng và đủ về biểu hiện
bình thường trong kỳ kinh nguyệt là 1,5% và 3,0% nữ sinh có kiến thức đúng
và đủ về biểu hiện rối loạn kinh nguyệt Tỷ lệ nữ sinh có kiến thức chưa đúng
về biểu hiện của rối loạn kinh nguyệt là 27,8% cao hơn nhiều so với tỷ lệ nữ sinh có kiến thức chưa đúng về biểu hiện bình thường trong kỳ kinh nguyệt 0,8%
Trang 33Bảng 3.4 Kiến thức của nữ sinh về có thể có thai khi tiếp xúc với
người khác giới trưởng thành (n=217)
Nhận xét Bảng 3.4: Có 71% nữ sinh tham gia nghiên cứu biết quan hệ tình
dục có thể có thai Tỷ lệ nữ sinh không biết tiếp xúc nào giữa con trai và con gái có thể có thai là 24,5%
Biểu đồ 3.1 Kiến thức của nữ sinh về các BPTT (n=217 )
Nhận xét Biểu đồ 3.1: Bao cao su là BPTT được biết đến nhiều nhất với
54,8% nữ sinh biết đến Tiếp đó là thuốc tránh thai hằng ngày với 31,8% nữ
54.8 31.8
18
25.8 6.5
35
bao cao su thuốc tránh thai hàng ngày
thuốc tránh thai khẩn cấp
tính ngày dựa vào chu kỳ
quan hệ đứng không biết
Trang 34sinh và phương pháp tính ngày dựa vào chu kỳ kinh chiếm 25,8% Có 35% nữ
sinh không biết BPTT nào
Bảng 3.5 Kiến thức của nữ sinh về ảnh hưởng xấu của nạo phá thai
đến sức khỏe (n=217)
Kiến thức đúng và đủ
Kiến thức đúng nhưng chưa đủ
Kiến thức chưa đúng
Nhận xét Bảng 3.5: Có 24% nữ sinh có kiến thức đúng và đủ về ảnh hưởng
xấu của NPT đến sức khỏe, 61,3% nữ sinh có kiến thức đúng nhưng chưa đủ
và 14,7% nữ sinh có kiến thức chưa đúng về vấn đề này
Trang 35Biểu đồ 3.2 Kiến thức của nữ sinh về một số BLTQĐTD (n=217)
Nhận xét Biểu đồ 3.2: HIV/AIDS là BLTQĐTD được biết đến nhiều nhất
với 80,2% nữ sinh biết đến, sau đó là bệnh giang mai với 17,1% Có 18,4%
nữ sinh không biết một BLTQĐTD nào
80.2 17.1
5.5 6 9.7 4.6
25.8 18.4
HIV/AIDS
Giang mai Lậu Sùi mào gà
Viêm gan B
Nhiễm nấm
Viêm âm đạo do vi khuẩn
không biết
Trang 36Bảng 3.6 Kiến thức của nữ sinh về nguyên nhân, hậu quả,
cách phòng tránh các BLTQĐTD và NKĐSD (n=217)
Kiến thức đúng và đủ
Kiến thức đúng nhưng chưa đủ
Kiến thức chưa đúng
Nhận xét Bảng 3.6: Trong số nữ sinh biết đến BLTQĐTD và NKĐSD, tỷ
lệ nữ sinh có kiến thức đúng và đủ về nguyên nhân mắc BLTQĐTD và NKĐSD là 6,2%, hậu quả khi mắc BLTQĐTD và NKĐSD là 18,1% và cách phòng tránh BLTQĐTD và nhiễm khuẩn sinh dục là 8,5% Có 44,6% nữ sinh
có kiến thức chưa đúng về nguyên nhân mắc BLTQĐTD và NKĐSD, 32,2%
nữ sinh có kiến thức chưa đúng về hậu quả khi mắc BLTQĐTD và NKĐSD
và có 10,7 % nữ sinh có kiến thức chưa đúng về cách phòng tránh BLTQĐTD
và NKĐSD
Trang 37Bảng 3.7 Kiến thức của nữ sinh về xâm hại, lạm dụng tình dục
và đủ
Kiến thức đúng
nhưng chưa đủ
Kiến thức chưa đúng
Nhận xét Bảng 3.7: Có 35,0% nữ sinh biết đến hành vi xâm hại, lạm dụng
tình dục Có 65% nữ sinh không biết đến hành vi xâm hại, lạm dụng tình dục
Trang 38Bảng 3 8 Kiến thức chung về sức khỏe giới tính của nữ sinh (n=217)
Kiến thức đúng và đủ
Kiến thức đúng nhưng chưa đủ
Kiến thức chưa đúng
Nhận xét Bảng 3.8: Như vậy tỷ lệ kiến thức chung đúng về sức khỏe giới
tính của nữ sinh là 27,2% Trong đó, tỷ lệ có kiến thức đúng và đủ là 0% và tỷ
lệ có kiến thức đúng nhưng chưa đủ là 27,2% Có 72,8% nữ sinh có kiến thức chưa đúng về sức khỏe giới tính
Đa số thầy cô giáo được phỏng vấn cũng khẳng định rằng kiến thức của
nữ sinh về sức khỏe giới tính còn hạn chế (12/16 thầy cô), hầu hết kiến thức
về sức khỏe giới tính các em có được tại trường học là từ các môn học nội khóa như Sinh học và Giáo dục công dân Số ít các thầy cô còn lại cho rằng kiến thức của các em là tốt, nằm vào các thầy cô giáo chủ nhiệm các lớp 9 (4/16 thầy cô)
Nhân viên y tế trường học cũng cho rằng kiến thức của nữ sinh trong trường về sức khỏe giới tính còn yếu kém, do chưa có một chương trình ngoại khóa chính thống nào về vấn đề này được tổ chức
Đa số cô giáo cho biết số lượng nữ sinh đến hỏi, xin tư vấn từ các cô giáo hoặc nhân viên y tế về sức khỏe giới tính còn rất ít (7/10 cô giáo)
Trang 393.3 Thái độ chăm sóc sức khỏe giới tính của nữ sinh
Biểu đồ 3.3 Thái độ của nữ sinh đối với hành vi quan hệ tình dục ở
tuổi VTN (n=217)
Nhận xét Biểu đồ 3.3: Có 87% nữ sinh phản đối hành vi quan hệ tình dục ở
tuổi VTN 9% nữ sinh cho rằng đây là hành vi hoàn toàn bình thường nhưng không đồng ý và 4% nữ sinh đồng ý với hành vi này
4%
9%
87%
Trang 40Biểu đồ 3.4 Thái độ của nữ sinh với việc tìm hiểu, chăm sóc sức khỏe
giới tính (n=217)
Nhận xét Biểu đồ 3.4: Có 93% nữ sinh cho rằng việc tìm hiểu kiến thức,
chăm sóc sức khỏe giới tính là cần thiết Chỉ có 1% nữ sinh thấy việc này là không cần thiết