1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hành vi tìm kiếm hỗ trợ đối với phụ nữ bị bạo lực thể xác trong khi mang thai tại huyện đông anh HN năm 2014 2015

77 172 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số yếu tố nguy cơ liên quan tới tình trạng bạo lực thể xác đối với phụ nữ mang thai: .... Hành vi tìm kiếm giúp đỡ của phụ nữ bị bạo lực thể xác trong khi mang thai.. 28Bảng 3.4: Tần

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO

HÀNH VI TÌM KIẾM HỖ TRỢ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC THỂ XÁC TRONG KHI MANG THAI TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI NĂM 2014 - 2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA

KHÓA 2009 – 2015

Hà Nội – 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO

HÀNH VI TÌM KIẾM HỖ TRỢ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC THỂ XÁC TRONG KHI MANG THAI TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI NĂM 2014 - 2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA

KHÓA 2009 – 2015

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS.NGUYỄN THỊ THÚY HẠNH

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các phòng ban, các bộ môn và các thầy cô giáo Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng cùng các thầy cô trường Đại học Y Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, giảng dạy em suốt quá trình học tập

Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ, bác sĩ Phòng Đào tạo đại học và Phòng Công tác Chính trị và Học sinh sinh viên đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành khóa luận

Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Bộ môn Dân số học vì những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập vừa qua

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Thị Thúy Hạnh đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cán bộ và nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội – những người đã nhiệt tình hợp tác và tạo điều kiện để việc thu thập số liệu của tôi thành công và thuận tiện

Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng biết ơn sâu sắc nhất tới gia đình và những người bạn đã đồng hành, giúp đỡ, ủng hộ và khuyến khích tôi

Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 2015

Sinh viên

Trần Thị Phương Thảo

Trang 4

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

LỜI CAM ĐOAN Kính gửi:

Ban giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội

Phòng Đào tạo đại học, trường Đại học Y Hà Nội

Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, trường Đại học

Y Hà Nội

Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp

Em là Trần Thị Phương Thảo, là sinh viên tổ 28 lớp Y6H, trường Đại học Y

Hà Nội Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tự bản thân em thực hiện Các số liệu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố tại công trình nghiên cứu khoa học khác

Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 2015

Sinh viên

Trần Thị Phương Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Khái niệm và định nghĩa: 3

1 2 Phân loại: 4

1.3 Thực trạng bạo lực thể xác đối với phụ nữ có thai: 5

1.3.1 Trên thế giới: 5

1.3.2 Tại Việt Nam 6

1.4 Ảnh hưởng của bạo lực thể xác tới sức khỏe của phụ nữ có thai 7

1.4.1 Ảnh hưởng tới sức khỏe thể chất: 7

1.4.2 Ảnh hưởng tới sức khỏe tinh thần: 7

1.4.3 Ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản: 8

1.5 Một số yếu tố nguy cơ liên quan tới tình trạng bạo lực thể xác đối với phụ nữ mang thai: 9

1.5.1 Nhóm yếu tố thông tin cơ bản của phụ nữ: 9

1.5.2 Nhóm yếu tố khác: 9

1.6 Hành vi tìm kiếm hỗ trợ của phụ nữ khi bị bạo lực thể xác: 10

1.6.1 Trên thế giới: 10

1.6.2 Tại Việt Nam: 13

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: 16

2.2 Đối tượng nghiên cứu: 17

2.3 Thiết kế nghiên cứu: 17

2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu: 17

2.4.1 Cỡ mẫu: 17

2.4.2 Cách chọn mẫu: 18

2.5 Kỹ thuật và quy trình thu thập thông tin: 18

2.5.1 Kỹ thuật thu thập thông tin: 18

2.5.2 Quy tình thu thập số liệu: 19

2.6 Biến số và chỉ số nghiên cứu: 20

Trang 6

2.6.1 Các thông tin cơ bản: 20

2.6.2 Biến số cho mục tiêu 1: 20

2.6.3 Biến số cho mục tiêu 2: 21

2.7 Quản lí chất lượng số liệu: 21

2.7.1 Các loại sai số: 21

2.7.2 Cách khắc phục: 22

2.8 Xử lý và phân tích số liệu: 22

2.9 Đạo đức nghiên cứu: 22

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

3.1 Thông tin chung đối tượng: 24

3.2 Thực trạng phụ nữ bị bạo lực thể xác: 25

3.3 Hành vi tìm kiếm giúp đỡ của phụ nữ bị bạo lực thể xác trong khi mang thai 33

3.3.1 Thực trạng chia sẻ với người khác: 33

3.3.2 Các yếu tố liên quan tới sự chia sẻ ở phụ nữ: 37

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 40

4.1 Phụ nữ có thai bị bạo lực thưa hơn và nhẹ hơn, rất ít khi bị đấm đá vào bụng 40

4.2 Phụ nữ Đông Anh ít chia sẻ về tình trạng bị bạo lực của mình: 43

4.3 Hạn chế của nghiên cứu: 47

KẾT LUẬN 48

KHUYẾN NGHỊ 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

WHO World Health Organization Tổ chức y tế thế giới

IPV Intimate partner violence Bạo lực trong các cặp sống chung

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 24Bảng 3.2: Bảng phân bố tình trạng bị bạo lực thể xác ở phụ nữ có thai 27Bảng 3.3: Bảng phân bố các hành vi bạo lực đối với phụ nữ trong đời và trong lần mang thai này 28Bảng 3.4: Tần suất của bạo lực thể xác đối với phụ nữ do chồng gây ra trong đời, trước khi mang thai lần này và trong lần mang thai này 30Bảng 3.5: Thực trạng chia sẻ giữa các nhóm đối tượng phụ nữ bị bạo lực thể xác 33Bảng 3.6: Mối liên quan giữa sự chia sẻ khi bị bạo lực lúc mang thai và các đặc điểm cá nhân của đối tượng 37Bảng 3.7: Mối liên quan giữa sự chia sẻ khi bị bạo lực lúc mang thai đặc điểm của người chồng 38Bảng 3.8: Mối liên quan giữa sự chia sẻ khi bị bạo lực lúc mang thai và mức

độ sử dụng rượu của người chồng 38Bảng 3.9: Mối liên quan giữa sự chia sẻ khi bị bạo lực lúc mang thai và việc sống gần bố mẹ hai bên 39Bảng 3.10: Mối liên quan giữa sự chia sẻ khi bị bạo lực lúc mang thai và việc nhận được giúp đỡ từ gia đình khi gặp khó khăn 39

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Thực trạng bị bạo lực thể xác trong đời ở phụ nữ 25Biểu đồ 3.2: Thực trạng bị bạo lực thể xác ở phụ nữ mang thai 26Biểu đồ 3.3: Phân bố mức độ bạo lực thể xác trên phụ nữ có thai 26Biểu đồ 3.4: So sánh tình trạng bạo lực thể xác do chồng gây ra, trước khi mang thai và khi đang mang thai 29Biểu đồ 3.5: Tần suất chăm sóc y tế phụ nữ nhận được khi bị thương tích nặng do chồng gây ra 31Biểu đồ 3.6: Phụ nữ nói với nhân viên y tế về nguyên nhân thực sự của chấn thương khi được chăm sóc y tế cho các chấn thương nặng 32Biểu đồ 3.7: Tỉ lệ phụ nữ có thai bị bạo lực thể xác chia sẻ với người khác 33Biểu đồ 3.8: Phân bố sự chia sẻ với những người khác nhau đối với phụ nữ có thai bị các mức bạo lực thể xác 35Biểu đồ 3.9: Phân bố người giúp đỡ đối với những đối tượng phụ nữ có thai chịu các mức bạo lực khác nhau 36

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH

Sơ đồ 1.1 Mô hình phân loại bạo lực theo Tổ chức Y tế thế giới 4Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 16

Trang 10

Các số liệu từ Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt

Nam (2010) cho biết: “Một nửa số phụ nữ từng bị chồng gây bạo lực chưa

từng nói với bất cứ ai về vấn đề mà mình phải hứng chịu cho tới khi được phỏng vấn Hầu hết phụ nữ bị bạo lực (87%) chưa bao giờ tìm kiếm sự hỗ trợ từ các dịch vụ chính thống hoặc từ những người có thẩm quyền.” [2] Những con số này cho thấy việc tìm kiếm sự hỗ trợ của những phụ nữ bị bạo lực ở Việt Nam còn vô cùng hạn chế

Trong phạm vi của khảo sát này, chúng tôi tìm hiểu về thực trạng bạo lực trong các cặp sống chung (IPV) và phản ứng của nhóm phụ nữ bị bạo lực bởi chồng khi đang mang thai, liệu rằng nhóm phụ nữ này có tỉ lệ bị bạo lực hay mức độ phản ứng có khác biệt nào so với nhóm phụ nữ chung hay không? Phụ nữ đã là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương [1] nhưng phụ nữ mang thai còn đang mang sứ mệnh quan trọng - tạo ra thế hệ tiếp theo, duy trì giống nòi nên càng nhận được nhiều sự quan tâm, chú ý

Theo kết quả của Dự án “Can thiệp chăm sóc y tế đối với nạn nhân của bạo

lực trên cơ sở giới” được tiến hành trong giai đoạn tháng 05/2002 đến tháng

Trang 11

12/2009, trong số 1885 nạn nhân tiếp cận hai bệnh viện Đức Giang và Đông Anh thì có 80,3% bị bạo lực tinh thần; 66,2% bị bạo lực thể chất; 13,3% bị bạo lực tình dục trong đó 8,8% có các tổn thương liên quan đến sức khỏe sinh sản [7] Điều này cho thấy tỉ lệ cao của nhóm bạo lực thể xác trong phân bố hình thái bạo lực tại hai bệnh viện này

Còn theo kết quả Nghiên cứu quốc gia cho thấy phụ nữ bị bạo lực thường xuyên có nguy cơ cao bị sảy thai, nạo thai và thai chết lưu so với phụ nữ chưa bao giờ bị bạo lực [2] Tổng số có 5% phụ nữ đã từng mang thai bị bạo lực thể xác ít nhất trong một lần mang thai Có tới 22% trong số này bị đấm hoặc

đá vào bụng và hơn 99% cho biết người gây ra bạo lực chính là cha của đứa trẻ chưa chào đời [2] Để tìm hiểu thực trạng phụ nữ bị bạo lực thể xác trong khi mang thai phải hứng chịu và phản ứng của phụ nữ, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu “Hành vi tìm kiếm hỗ trợ đối với phụ nữ bị bạo lực thể xác trong

khi mang thai tại huyện Đông Anh – Hà Nội năm 2014-2015” với các mục

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm và định nghĩa:

Theo Liên hợp quốc, bạo lực đối với phụ nữ là “bất kỳ hành vi bạo lực trên cơ

sở giới nào dẫn đến, hoặc có thể dẫn đến tổn hại về thể xác, tình dục hoặc tâm thần hoặc gây đau khổ cho phụ nữ, kể cả việc đe dọa có những hành vi như vậy, áp bức hoặc độc đoán tước bỏ tự do, dù diễn ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư” [13]

Bạo lực tâm lý và tình cảm được xác định bằng những hành động hoặc đe dọa

hành động, như chửi bới, kiểm soát, hăm dọa, làm nhục và đe dọa nạn nhân Hình thức bạo lực này có thể bao gồm các thủ đoạn cưỡng bức [11]

Bạo lực thể xác được định nghĩa là một hoặc nhiều hành động tấn công có

chủ ý về thể xác bao gồm nhưng không chỉ giới hạn trong các hành vi như: xô đẩy, tát, ném, giật tóc, cấu véo, đấm, đá hoặc làm cho bị bỏng, được thực hiện với khả năng gây đau đớn, thương tích hoặc tử vong [11]

Bạo lực thể xác cũng có thể được mô tả là những hành động:

(1) Tát hoặc ném vật gì đó vào người làm tổn thương phụ nữ

(2) Đẩy hoặc xô thứ gì đó vào người, kéo tóc phụ nữ

(3) Đánh, đấm hoặc đánh bằng vật có thể khiến phụ nữ tổn thương

Trang 13

sử dụng vũ khí (3,4,5,6) được xác định là hành vi bạo lực thể xác nghiêm trọng [4]

Bạo lực tình dục được định nghĩa là việc sử dụng sức mạnh, cưỡng bức hoặc

đe dọa về tâm lý để ép buộc người phụ nữ tham gia quan hệ tình dục ngoài ý muốn của mình, cho dù hành vi đó có thực hiện được hay không [11]

Bạo lực trong các cặp sống chung (IPV): là hành vi bạo lực về thể chất, tình

dục và bạo lực tinh thần do chồng hoặc bạn tình gây ra Trong nghiên cứu này chúng tôi dùng từ “Bạo lực do chồng” để phù hợp với văn hóa Việt Nam [2]

Chồng/Bạn tình trong nghiên cứu này có thể là những người đã kết hôn hoặc

chưa kết hôn; người có quan hệ tình dục với người khác giới; sống cùng nhau,

ly thân, ly hôn hoặc những người đang trong thời gian hẹn hò [2]

1.2 Phân loại:

Theo Báo cáo toàn cầu về bạo lực và sức khỏe (2002) của Tổ chức Y tế thế giới, các loại hình bạo lực được phân loại theo hệ thống như sau: [11]

Sơ đồ 1.1 Mô hình phân loại bạo lực theo Tổ chức Y tế thế giới

Một trong những hình thức bạo lực phổ biến nhất đối với phụ nữ là bạo lực gây ra bởi chồng hay bạn tình nam giới sống chung [11] Trong nghiên cứu

Trang 14

này chúng tôi chỉ đề cập đến bạo lực được thực hiện bởi người đàn ông với vợ của họ

1.3 Thực trạng bạo lực thể xác đối với phụ nữ có thai:

1.3.1 Trên thế giới:

Theo Nghiên cứu đa quốc gia về Sức khỏe phụ nữ và Bạo lực gia đình (2005) của WHO tại 10 quốc gia, có sự khác biệt lớn về tỉ lệ phụ nữ bị bạo lực thể xác giữa các khu vực nghiên cứu khác nhau Tỉ lệ phụ nữ bị bạo lực thể xác trong đời dao động từ 13% ở Nhật Bản cho tới 61% ở vùng nông thôn Peru [4] Tỉ lệ này tại Mỹ là 32,9% [15]

Hành vi phổ biến nhất của bạo lực thể xác là phụ nữ bị chồng tát, với tỉ lệ từ 9% ở Nhật Bản đến 52% ở nông thôn Peru Ở hầu hết các khu vực trong nghiên cứu, 11-21% phụ nữ đã bị chồng đấm [4] Mức độ nghiêm trọng của bạo lực được xếp hạng theo khả năng gây ra chấn thương Trường hợp bị tát,

xô hoặc đẩy được xác định là hành vi bạo lực thể xác trung bình Trường hợp

bị đấm, đá, kéo, đe dọa bằng vũ khí hoặc có sử dụng vũ khí được xác định là hành vi bạo lực thể xác nghiêm trọng [4] Theo định nghĩa này, tỉ lệ phụ nữ bị bạo lực thể chất nghiêm trọng dao động từ 4% ở Nhật Bản đến 49% ở nông thôn Peru, hầu hết các khu vực khác ở khoảng 13-26% [4]

Đối với phụ nữ có thai, trong các quốc gia đã được WHO nghiên cứu thì có từ 11-44% phụ nữ mang thai báo cáo rằng mình bị bạo lực trong quá trình mang thai, trừ tại Nhật Bản thì con số này là 8% Từ một phần tư tới một nửa số phụ

nữ bị bạo lực thể xác trong khi mang thai đã bị đấm hoặc đá vào giữa bụng

Có tới hơn 90% các trường hợp, phụ nữ mang thai bị tấn công bởi cha đẻ của thai nhi, trong đa số trường hợp thì hai người đang chung sống cùng với nhau vào thời điểm đó [4] Trong một nghiên cứu khác tại 19 quốc gia trong giai đoạn 1998-2007, tỉ lệ phụ nữ từng bị bị bạo lực thể xác bởi chồng trong quá

Trang 15

trình mang thai dao động từ 2% ở Úc, Đan Mạch, Campuchia, Phi-líp-pin tới 13,5% ở Uganda Hơn một nửa số nước trong nghiên cứu có tỉ lệ từ 3,8-8,8%

Tỉ lệ dường như cao hơn tại Châu Phi và Châu Mỹ Latinh, thấp hơn tại châu

Âu và châu Á [6]

Đa số phụ nữ mang thai bị bạo lực thể xác đã có những trải nghiệm bị bạo lực thể xác từ trước đó nhưng từ 13% (tại Ethiopia) đến khoảng 50% (tại thành thị Brazil, Serbia và Montenegro) phụ nữ cho biết họ bị đánh đập lần đầu tiên là trong quá trình mang thai [4]

1.3.2 Tại Việt Nam

Theo báo cáo của Nghiên cứu quốc gia, tỷ lệ bị bạo lực thể xác trong đời do chồng gây ra đối với phụ nữ Việt Nam là 31,5% và tỷ lệ này ở nông thôn cao hơn so với thành thị (32,6% so với 28,7%) Tỷ lệ bị bạo lực thể xác hiện tại của Việt Nam là 6,4% (nông thôn 6,8% và thành thị là 5,6%) Hầu hết các hành vi bạo lực hiện tại, nếu xảy ra trong phần lớn các trường hợp, xảy ra nhiều hơn một lần (thường là 2-5 lần), thậm chí cả những hành vi nặng/ nghiêm trọng mà nhiều phụ nữ không đề cập Khi tần suất các sự kiện bạo lực thể xác cao thì mức độ nặng/ nghiêm trọng cũng gia tăng [2]

Bạo lực đối với phụ nữ đang mang thai được coi là bạo lực nghiêm trọng không những chỉ tác động tới người phụ nữ mà còn gây nguy nhiểm cho bào thai Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực thể xác ít nhất một lần trong khi mang thai là 4,7

% (nông thôn 4,9% và thành thị là 4,2%) Bạo lực đối với phụ nữ đang mang thai phổ biến ở những phụ nữ chưa học hết lớp 1 Có tới 22% phụ nữ đã từng

bị đánh trong khi mang thai, bị đấm và đá vào bụng Có tới 99,4% phụ nữ bị đánh trong lần mang thai gần đây nhất bởi chính bố đứa trẻ Mang thai là giai đoạn nguy cơ đối với bạo lực: khoảng ¼ phụ nữ nói rằng bị bạo lực trong suốt thời kỳ mang thai [2] Điều này phù hợp với một nghiên cứu trên phụ nữ

Trang 16

Trung Quốc, cho rằng việc mang thai chính là yếu tố nguy cơ khiến phụ nữ bị bạo lực nhiều hơn [5]

1.4 Ảnh hưởng của bạo lực thể xác tới sức khỏe của phụ nữ có thai

1.4.1 Ảnh hưởng tới sức khỏe thể chất:

Phụ nữ có thai bị bạo lực có thể báo cáo là có sức khỏe thể chất tiêu cực như: tình trạng sức khỏe kém, chất lượng cuộc sống kém, tăng sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Và việc bị bạo lực vẫn là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến chấn thương ở phụ nữ Những nạn nhân – phụ nữ có thai có thể đã bị đá, đấm, đẩy xuống cầu thang, đe dọa bằng dao, bóp cổ, gây bỏng, bị đẩy ra ngoài khi

ô tô đang chạy hay bị ném các vật vào người Trong một nghiên cứu khác, các nạn nhân bị những vết cắt, bầm tím, gãy xương, chấn thương, chấn thương răng, dao đâm, chảy máu âm đạo, đau đầu dai dẳng Người ta ước tính rằng khoảng 10% số ca nhập viện do chấn thương trong thai kì là kết quả của hành động gây thương tích có chủ ý đối với phụ nữ mang thai (Chambliss, 2008) [3]

Trong khảo sát tại Việt Nam, 26% phụ nữ từng bị chồng gây bạo lực thể xác hoặc tình dục cho biết đã bị thương tích do hậu quả trực tiếp từ hành vi bạo lực Trong số này, 60% cho biết họ bị thương tích 2 lần trở lên và 17,4% bị thương tích 5 lần trở lên [2]

1.4.2 Ảnh hưởng tới sức khỏe tinh thần:

Phụ nữ bị bạo lực trong khi mang thai có liên quan đến triệu chứng trầm cảm

ở phụ nữ, cả trong quá trình mang thai và sau sinh Phụ nữ bị bạo lực trong khi mang thai có dấu hiệu chán nản và được chứng minh lâm sàng là trầm cảm nhiều gấp 2,5 lần so với phụ nữ không bị bạo lực Ngoài trầm cảm, phụ

nữ mang thai còn có các biểu hiện khác nhau về tâm thần (cảm thấy không được thấu hiểu, lo ngại nhu cầu không được đáp ứng, cảm thấy cô đơn, dễ tức

Trang 17

giận,…) và dễ xung đột với người khác (những người làm cho cuộc sống của phụ nữ khó khăn, người không đáng tin cậy, người làm đau phụ nữ,…) Hai tác giả Casanueva và Martin (2007) phát hiện ra rằng nạn nhân của bạo lực trong khi mang thai có nhiều vấn đề về mặt cảm xúc như sợ hãi, hiểu lầm, lo lắng và cô lập Bị bạo lực trong khi mang thai cũng liên quan chặt chẽ với stress, nạn nhân có biểu hiện căng thẳng nhiều hơn phụ nữ không bị bạo lực Nhiều phụ nữ mang thai bị bạo lực nghĩ mình phải chịu trách nhiệm về hành

vi của chồng họ Những biểu hiện tâm thần có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống cũng như hoạt động hàng ngày của phụ nữ sau sinh [3] Việc bị bạo lực trong khi mang thai cũng làm tăng đáng kể việc sử dụng thuốc

lá, rượu, và/hoặc các loại thuốc bất hợp pháp Sự căng thẳng liên quan đến bạo lực trong khi mang thai làm nạn nhân bắt đầu hoặc duy trì sử dụng các loại chất khác nhau như là một cơ chế đối phó hoặc một phương tiện để tự giải tỏa [3]

1.4.3 Ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản:

Theo WHO, phụ nữ bị bạo lực trong khi mang thai có thể gây ra những hậu quả như: sẩy thai, thai chết lưu, sinh non, chấn thương thai nhi, sinh con nhẹ cân hoặc sinh con nhỏ hơn so với tuổi thai Bạo lực trong cũng có thể chiếm một phần nhỏ trong nguyên nhân gây tử vong mẹ mặc dù điều này thường không được công nhận bởi các nhà hoạch định chính sách [12]

Trong một nghiên cứu tại Mỹ, có 24% mẹ sinh non đã từng bị bạo lực thể xác trong khi có thai, so với tỉ lệ 8% sinh non ở nhóm không bị bạo lực [14] Kết quả số liệu Nghiên cứu quốc gia Việt Nam chỉ ra rằng 21,3% phụ nữ bị bạo lực thể xác đã từng bị sảy thai, trong khi đó tỷ lệ này ở những phụ nữ không bị bạo lực là 15,9% Tỷ lệ phần trăm phụ nữ bị bạo lực thể xác đã từng nạo hút thai là 30,1%, trong khi tỷ lệ này ở phụ nữ không bị bạo lực chỉ có

Trang 18

21% Có 15,7% phụ nữ bị bạo lực thể xác cho biết là con của họ chết sau khi sinh Tỷ lệ thai chết lưu ở phụ nữ bị bạo lực thể xác là 4,7% [2]

Trong nghiên cứu can thiệp tại hai bệnh viện Đức Giang và Đông Anh, trong

số 1885 nạn nhân bị bạo lực nói chung, có 8,8% có tổn thương về sức khỏe sinh sản, trong đó: bộ phận sinh dục bị tổn thương (49,2%), bị viêm nhiễm (40,8%), nạo thai (25%) và xảy thai (2,5%) [7]

1.5 Một số yếu tố nguy cơ liên quan tới tình trạng bạo lực thể xác đối với phụ nữ mang thai:

1.5.1 Nhóm yếu tố thông tin cơ bản của phụ nữ:

- Tuổi: Phụ nữ ở độ tuổi trẻ có nguy cơ bị bạo lực trong khi mang thai cao

hơn

- Trình độ học vấn: Phụ nữ có trình độ học vấn thấp có nguy cơ bị bạo lực

trong khi mang thai cao hơn

- Việc làm: Phụ nữ thất nghiệp tăng nguy cơ bị bạo lực khi có thai hơn

- Tình trạng hôn nhân: Phụ nữ độc thân, ly thân, ly hôn có thể tăng nguy cơ bị

bạo lực trong khi có thai

1.5.2 Nhóm yếu tố khác:

- Phụ nữ có những trải nghiệm bạo lực từ nhỏ: Trẻ em chứng kiến bạo lực gia

đình hoặc bị bạo lực gia đình từ nhỏ nhiều khả năng tiếp tục trở thành nạn nhân của bạo lực khi trưởng thành Tuy nhiên, mối quan hệ này chưa được

nghiên cứu đầy đủ đối với tình trạng bạo lực trong khi có thai

- Hành vi tình dục độc quyền: Nếu bạn tình nam giới có hành vi tình dục độc

quyền (nền tảng là sự ghen tuông và sở hữu) thì bạn tình nữ có nguy cơ bị bạo lực cao hơn Nếu cha đẻ của đứa trẻ nghi ngờ và buộc tội về sự chung thủy

của vợ thì nguy cơ cô ấy bị bạo lực trong thời gian có thai cũng tăng lên

Trang 19

- Sự gia trưởng: Sự gia trưởng của bạn tình nam giới có liên quan đến nguy

cơ bị bạo lực trong thời kì phụ nữ mang thai Tuy nhiên, mối liên quan vẫn chưa được đánh giá một cách đầy đủ

- Sự cô lập xã hội: Sự hiện hữu của mạng lưới hỗ trợ xã hội là một yếu tố

giúp bảo vệ phụ nữ khỏi bạo lực trong khi có thai

- Bạo hành bằng lời nói: Các nghiên cứu cũng cho thấy bạo lực tinh thần gắn

liên với nguy cơ tăng bạo lực thể xác và/ hoặc bạo lực tình dục trong khi mang thai

- Nông thôn/Thành thị: Phụ nữ cư trú ở vùng nông thôn bị hạn chế khả năng

tiếp cận cả dịch vụ y tế và dịch vụ xã hội, có thể bị tăng nguy cơ bị đối xử bất công

- Chồng/bạn tình nghiện rượu: Phụ nữ có nguy cơ bị bạo lực nhiều hơn nếu

chồng có vấn đề về rượu so với những phụ nữ có chồng không có vấn đề về

rượu

1.6 Hành vi tìm kiếm hỗ trợ của phụ nữ khi bị bạo lực thể xác:

1.6.1 Trên thế giới:

1.6.1.1 Người mà phụ nữ chia sẻ về tình trạng bạo lực:

Theo Nghiên cứu đa quốc gia của WHO, trong số các phụ nữ bị bạo lực thì hai phần ba ở Bangladesh, khoảng một nửa ở Samoa và vùng nông thôn Thái Lan, đã không nói với ai về bạo lực trước cuộc phỏng vấn Ngược lại, khoảng 80% phụ nữ bị bạo lực ở Brazil và Namibia đã nói với ai đó, thường là gia đình hoặc bạn bè Có rất ít phụ nữ bị bạo lực thể chất nói vấn đề này với những dịch vụ chính thống hay người có trách nhiệm [4]

Trang 20

1.6.1.2 Người cố gắng giúp đỡ phụ nữ:

Mặc dù có nhiều phụ nữ trả lời rằng họ có nói vấn đề bị bạo lực với với bạn

bè và gia đình của mình nhưng có rất ít người từng thực sự nhận được giúp

đỡ Từ 34%-59% phụ nữ bị bạo lực thể xác nói rằng chưa từng có ai hỗ trợ

họ Một phần tư phụ nữ nông thôn ở Tanzania đã nói chuyện với các vị lãnh đạo địa phương nhưng chỉ 7% nhận được sự giúp đỡ Cũng không rõ liệu sự giúp đỡ này có cải thiện được tình trạng bạo lực hay không [4]

1.6.1.3 Chính quyền hay cơ quan mà phụ nữ tìm tới:

Phần lớn phụ nữ bị bạo lực thể xác (từ 55-95%) cho biết họ chưa bao giờ tìm đến các cơ quan chức năng Tại Bangladesh, Nhật Bản, Samoa, và nông thôn Thái Lan, nạn nhân bạo lực thể xác rất ít liên hệ với chính quyền và các cơ quan đoàn thể Chỉ có ở Namibia và Peru đã có hơn 20% phụ nữ bị bạo lực thể xác liên hệ với cảnh sát, và hơn 20% ở Namibia và Tanzania tìm tới sự giúp đỡ của dịch vụ chăm sóc sức khỏe Trong 8 khu vực, ít hơn 10% phụ nữ

bị bạo lực thể xác tìm đến dịch vụ y tế Tại Ethiopia và nông thôn Tanzania, con số tương ứng là 15% và 31% nạn nhân tìm đến sự giúp đỡ của lãnh đạo địa phương, trong khi ở Brazil, 15% phụ nữ tìm sự giúp đỡ ở các lãnh đạo tôn giáo [4]

1.6.1.4 Lí do khiến phụ nữ tìm kiếm và không tìm kiếm sự giúp đỡ:

Những lí do được đưa ra thường xuyên nhất để tìm kiếm sự giúp đỡ liên quan đến: bạo lực mức độ nghiêm trọng; ảnh hưởng đến con cái; bạn bè hoặc gia đình khuyên tìm kiếm sự giúp đỡ [4]

Lí do phổ biến nhất khi phụ nữ không tìm kiếm sự giúp đỡ là: họ coi tình trạng bạo lực đó là bình thường hoặc không nghiêm trọng (29% ở nông thôn Peru cho đến 86% ở Samoa); sợ bị bạo lực nhiều hơn nữa; sợ mất con cái; sợ

Trang 21

gây xấu hổ cho gia đình Một số cảm thấy mọi người sẽ không tin điều mình nói ra, hoặc là việc nói ra sẽ không giúp đỡ cải thiện tình hình Tuy nhiên, ngay cả ở những nước có dịch vụ hỗ trợ tốt cho phụ nữ bị bạo hành thì các rào cản như sợ hãi, kì thị, nguy cơ mất con cái khiến nhiều phụ nữ không tìm đến dịch vụ hỗ trợ [4]

1.6.1.5 Phụ nữ đánh lại khi bị bạo hành:

Tỉ lệ phụ nữ bị bạo lực thể xác phản kháng đánh lại chồng rất khác nhau ở các quốc gia, từ 6% ở nông thôn Bangladesh đến 79% ở đô thị Brazil Ở 8 trong

số 15 địa điểm nghiên cứu (Nhật Bản, Serbia và Montenegro, ở cả đô thị và nông thôn Brazil, Peru, và Thái Lan), hơn một nửa số phụ nữ bị bạo lực thể xác trả lời họ đã phản kháng lại Phụ nữ bị bạo lực thể xác nghiêm trọng có khả năng phản kháng lại cao hơn phụ nữ bị bạo lực thể xác ở mức độ trung bình [4]

1.6.1.6 Việc bỏ nhà đi

Từ 19-51% phụ nữ bị bạo lực thể xác đã rời khỏi nhà trong ít nhất 1 đêm Từ 8-21% cho biết họ đã rời khỏi nhà từ 2-5 đêm Bạo lực nghiêm trọng là lý do chính khiến người phụ nữ phải bỏ nhà đi Trong hầu hết các trường hợp, những người phụ nữ bỏ nhà đi sẽ đến nhà người thân, và một phần nhỏ hơn đến bạn bè hay hàng xóm Có rất ít nơi cung cấp các dịch vụ tạm trú cho phụ

nữ bị bạo lực [4]

1.6.1.7 Lí do quay về

Có rất nhiều lí do khác nhau khiến phụ nữ lựa chọn quay trở về nhà, phổ biến

là phụ nữ không thể bỏ con ở lại, vì lợi ích của gia đình Những lí do khác là phụ nữ vẫn còn yêu chồng, chồng yêu cầu cô trở về, cô đã tha thứ cho anh ta hay nghĩ rằng anh ta sẽ thay đổi, hoặc là gia đình nghĩ rằng cô nên trở về

Trang 22

Những phụ nữ chưa bao giờ rời khỏi nhà cũng đưa ra các lí do tương tự, và thêm vào đó là họ không biết phải đi đâu [4]

1.6.2 Tại Việt Nam:

1.6.2.1 Người mà phụ nữ chia sẻ về tình trạng bạo lực:

Số liệu cho thấy ở Việt Nam có gần một nửa phụ nữ (49,6%) trên toàn quốc nói là họ chưa từng kể với bất kỳ ai về hành vi bạo lực của chồng Phụ nữ ở nông thôn ít tiết lộ hơn về chuyện này so với phụ nữ thành thị (51,5% so với 44,5%) Nếu phụ nữ có kể với ai đó về hành vi bạo lực của chồng thì đó chủ yếu là các thành viên trong gia đình (42,7%) Trong một số trường hợp phụ

nữ cũng kể với hàng xóm hoặc bạn bè về hành vi bạo lực của chồng mình: 20% kể với hàng xóm và 16,8% kể với bạn bè [2]

Có nhiều lí do được đưa ra để giải thích tại sao phụ nữ lại im lặng khi bị bạo lực như: xấu hổ khi công khai chuyện nhà, sợ mất con, sợ vợ chồng li dị; vì tìm kiếm sự hỗ trợ của cộng đồng mà không có kết quả; thậm chí vì sự khác biệt của vùng miền, dân tộc [8]

1.6.2.2 Người cố gắng giúp đỡ phụ nữ:

Có khoảng 44,2% phụ nữ ở khu vực thành thị và 47,5% phụ nữ ở nông thôn nói rằng chẳng có ai tìm cách giúp họ cả Tỉ lệ người tìm cách giúp đỡ họ cao nhất là thành viên trong gia đình (43,8% phụ nữ bị bạo lực), 19,9% nói rằng hàng xóm cố giúp đỡ Ở khu vực thành thị có nhiều bạn bè tìm cách giúp đỡ chị em bị chồng bạo lực hơn là ở nông thôn (16,2% ở thành thị và 11,3% ở nông thôn) Trong khi đó ở nông thôn có nhiều hàng xóm tìm cách giúp đỡ những phụ nữ bị bạo hành hơn ở thành phố (21,7% ở nông thôn và 15,2 % ở thành thị) [2]

Trang 23

1.6.2.3 Những chính quyền hay cơ quan mà phụ nữ tìm tới:

87,1% phụ nữ từng bị chồng bạo hành chưa bao giờ tìm đến bất kỳ cơ quan/tổ chức nào để được giúp đỡ Chỉ có từ 1,7% đến 6,3% phụ nữ bị bạo hành đã đến các cơ quan khác nhau để được giúp đỡ Cơ quan/cá nhân có thẩm quyền

mà phụ nữ thường tìm đến để nhờ giúp đỡ nhất là lãnh đạo địa phương/trưởng thôn/tổ trưởng dân phố (6,3%), tiếp đó là công an/hội đồng nhân dân và cơ sở

y tế, rồi sau nữa là các tổ chức xã hội Chỉ có 4 phụ nữ (khoảng 0,3%) trả lời

đã từng đến nhà tạm lánh/mái ấm [2]

1.6.2.4 Lí do khiến phụ nữ tìm kiếm và không tìm kiếm sự giúp đỡ:

Nếu phụ nữ có tìm kiếm sự giúp đỡ có thì họ thường tìm kiếm trong trường hợp bạo lực đã rất nghiêm trọng Lý do phổ biến mà khiến phụ nữ không tìm kiếm sự giúp đỡ đưa ra là do quan niệm rằng những gì đang xảy ra là “bình thường và không nghiêm trọng” đối với họ Những lý do khác liên quan đến

kỳ thị của xã hội về bạo lực do chồng gây ra và lo ngại về hậu quả [2]

Một phần lí do là phụ nữ mất lòng tin về chính quyền khi chính quyền nhiều địa phương vẫn coi đây là chuyện thuộc phạm vi gia đình.[2] Một phần khác,

có lẽ chính là do Luật Từ khi Luật Phòng chống bạo lực gia đình ra đời năm

2007, Luật có quy định sẽ xử phạt hành chính người chồng đánh vợ, và trong trường hợp bạo hành, người vợ phải chứng minh được mình bị thương tật trên 11% thì mới đủ căn cứ khởi tố [9] Tuy nhiên, trên thực tế tại địa phương, nhiều khi chính người vợ là người phải nộp tiền phạt Điều này làm mất đi sự nghiêm minh của Pháp luật và mất tác dụng răn đe Hơn nữa, việc chứng minh tỉ lệ thương tật, không phải lúc nào y tế cơ sở cũng đủ khả năng thực hiện nên việc giám định trở nên khá phiền phức [8]

Trang 24

1.6.2.5 Phụ nữ đánh lại khi bị bạo hành:

Số liệu của Việt Nam cho thấy có khoảng từ 10,4% phụ nữ ở nông thôn và 18,8% phụ nữ ở thành thị đã từng đánh lại chồng ít nhất một lần và 7,6% phụ

nữ thành thị và 5% phụ nữ nông thôn đã từng đánh lại chồng từ 2-5 lần [2]

nữ thường quay về nhà vì gia đình

Những phụ nữ từng bị bạo lực mà chưa bao giờ bỏ nhà đi cũng đưa ra những

lý do tương tự cho việc không bỏ đi khỏi nhà của mình Họ ở lại vì không muốn xa rời con cái (49,3%), vì gia đình (32,6%), tha thứ cho chồng (16,6%),

vì sự thiêng liêng của hôn nhân (14,1%), vì yêu chồng (14,4%), nghĩ là chồng

sẽ thay đổi (8,1%), không muốn sống độc thân (5,6%) và chẳng có chỗ nào để

đi (3,7%)

Trang 25

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội từ tháng 09/2014 – 05/2015

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

Huyện Đông Anh nằm ở phía bắc của thành phố Hà Nội Về vị trí, phía đông, đông bắc giáp huyện Yên Phong và thị xã Từ Sơn thuộc tỉnh Bắc Ninh, phía nam giáp sông Hồng, giáp giới quận Tây Hồ và quận Bắc Từ Liêm, phía đông nam giáp Sông Đuống, giáp giới quận Long Biên và huyện Gia Lâm, phía tây giáp huyện Mê Linh, phía bắc giáp huyện Sóc Sơn, Hà Nội Về hành chính, huyện Đông Anh gồm 23 xã và 1 thị trấn

Đông Anh là một Huyện ngoại thành, ở vị trí cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô

Hà Nội, nằm trong vùng quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ và

Trang 26

du lịch đã được Chính phủ và Thành phố phê duyệt, là đấu mối giao thông quan trọng nối Thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Bắc

Tổng diện tích đất tự nhiên: 18.230 ha; trong đó đất nông nghiệp 9.785 ha Dân số trên 331.000 người, trong đó: dân cư đô thị chiếm 11%

Giao thông: Có 33,3 km đường sông (sông Hồng, sông Đuống, sông Cà Lồ)

và 20 km sông nội huyện (sông Thiếp – Ngũ Huyện khê); có 33 km đường sắt, 4 ga thuộc các tuyến Hà Nội - Lào Cai; Hà Nội - Thái Nguyên và có đường quốc lộ 3, quốc lộ Thăng Long - Nội Bài, quốc lộ 23

Công nghiệp: Đông Anh có 2 khu công nghiệp lớn: Khu công nghiệp Đông Anh và khu công nghiệp Thăng Long Ngoài ra, trên địa bàn Huyện còn có một số làng nghề truyền thống đang được đầu tư và phát triển mạnh tại các xã Liên Hà, Vân Hà, Dục Tú…

Nghiên cứu được chúng tôi thực hiện tại huyện Đông Anh là một phần của

Dự án PAVE (Intimate Partner Violence and Reproductive Health in

Tanzania and Vietnam) Dự án đang được thực hiện trong giai đoạn

2013-2017

2.2 Đối tượng nghiên cứu:

Phụ nữ có thai <34 tuần sinh sống tại huyện Đông Anh, Hà Nội

2.3 Thiết kế nghiên cứu:

Thiết kế định lượng: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu:

2.4.1 Cỡ mẫu:

Ta có công thức tính cỡ mẫu ước tính tỷ lệ cho một quần thể:

Trong đó:

Trang 27

+ n: cỡ mẫu của nghiên cứu

+ mức ý nghĩa thống kê α = 0,05, độ tin cậy của thống kê là 95%

+ Lấy p=0,05

(Theo Nghiên cứu quốc gia, tỉ lệ phụ nữ bị bạo lực thể xác ít nhất một lần trong khi mang thai là 5%.[2])

+ Sai số mong muốn, chọn ε = 0,4

Thay các giá trị trên vào công thức, ta được kết quả n = 457

Nghiên cứu này sử dụng một phần số liệu từ Dự án PAVE Số liệu được lấy

từ danh sách phụ nữ mang thai đến khám và được phỏng vấn tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh trong 5 tháng (từ ngày 01/04/2014 đến ngày 31/08/2014) Có tổng số 508 phụ nữ đồng ý tham gia nghiên cứu

2.4.2 Cách chọn mẫu:

Chọn mẫu có chủ đích Phụ nữ có thai <34 tuần trong danh sách phụ nữ mang thai đến khám thai tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh trong thời gian 5 tháng thu thập số liệu được

2.5 Kỹ thuật và quy trình thu thập thông tin:

2.5.1 Kỹ thuật thu thập thông tin:

- Kỹ thuật: Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu dựa trên bộ công cụ có sẵn

- Công cụ thu thập số liệu: Bộ câu hỏi định lượng đã được chuẩn bị trước

Để tăng tính an toàn cho cuộc phỏng vấn, dựa vào kinh nghiệm của Nghiên

cứu quốc gia, chúng tôi đặt tên bộ câu hỏi là “Trải nghiệm cuộc sống và sức

khỏe sinh sản của phụ nữ mang thai”

- Người thực hiện: 3 điều tra viên là các chuyên trách dân số tuyến xã của huyện Đông Anh Các điều tra viên này sẽ phỏng vấn đối tượng tại Bệnh viện

Trang 28

đa khoa Đông Anh Tại bệnh viện bố trí phỏng vấn trong phòng riêng để đảm bảo riêng tư, kín đáo

2.5.2 Quy tình thu thập số liệu:

Giai đoạn 1: Chuẩn bị

- Xin phép lãnh đạo đơn vị nơi tiến hành phỏng vấn

- Tiến hành nghiên cứu định tính thăm dò (phỏng vấn thăm dò, quan sát) các đối tượng cung cấp thông tin chính, là những người chuyên trách về dân số và quản lý thai sản tại trạm y tế xã/thị trấn tại huyện Đông Anh

- Quan sát các cơ sở y tế tại địa điểm định nghiên cứu Bố trí phòng

đủ riêng tư, kín đáo, an toàn và trang thiết bị, cơ sở vật chất như bàn, ghế, quạt điện để có thể phỏng vấn đối tượng

- Lấy danh sách phụ nữ có thai được quản lý tại trạm y tế xã/thị trấn

để có thể lập danh sách đối tượng phỏng vấn

- Xây dựng bộ công cụ định lượng

- Tập huấn điều tra viên là các chuyên trách dân số xã

Giai đoạn 2: Thử nghiệm bộ công cụ và cơ sở vật chất đã chuẩn bị

- Gửi giấy mời cho 15 đối tượng đủ tiêu chuẩn trong danh sách

- Tiến hành phỏng vấn đối tượng tại cơ sở

- Đánh giá phản hồi của đối tượng, của chuyên trách dân số về bộ công cụ và cơ sở vật chất nơi tiến hành phỏng vấn

- Sửa đổi bộ công cụ và bổ sung, thay đổi cơ sở vật chất nếu cần Giai đoạn 3: Tiến hành nghiên cứu định lượng

- Gửi giấy mời cho các đối tượng đủ tiêu chuẩn đến bệnh viện đa khoa Đông Anh để mời tham gia nghiên cứu

Trang 29

- Sử dụng bộ câu hỏi định lượng đã xây dựng để phỏng vấn trực tiếp các đối tượng nghiên cứu

2.6 Biến số và chỉ số nghiên cứu:

2.6.1 Các thông tin cơ bản:

- Thông tin cơ bản về đối tượng (phụ nữ có thai): Họ và tên, năm sinh, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng kết hôn, dân tộc, tôn giáo

- Thông tin cơ bản về chồng của đối tượng: năm sinh, nghề nghiệp, trình

độ học vấn, hành vi sử dụng rượu

2.6.2 Biến số cho mục tiêu 1:

Thực trạng phụ nữ trong khi mang thai bị bạo lực thể xác tại huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2014 – 2015

 Hình thức bạo lực thể xác:

- Tát hoặc ném vật gì đó vào người làm tổn thương

- Đẩy hoặc xô thứ gì vào người, kéo tóc

 Tần suất của bạo lực:

- Trước khi mang thai

- Trong khi mang thai

Trang 30

- Trong đời (từ khi kết hôn cho tới thời điểm phỏng vấn)

- Trong lần mang thai này

 Bạo lực trực tiếp đến thai nhi:

- Đã từng bị đấm, đá vào bụng khi đang mang thai

- Bị đấm, đá vào bụng khi mang thai lần này

- Ai là người đấm, đá vào bụng

 Thương tích do bạo lực và chăm sóc y tế:

- Thương tích nặng đến mức cần chăm sóc y tế

- Nói với nhân viên y tế về nguyên nhân thực sự của chấn thương

2.6.3 Biến số cho mục tiêu 2:

Mô tả hành vi tìm kiếm giúp đỡ của phụ nữ trong khi mang thai bị bạo lực thể xác tại huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2014 – 2015

- Tỉ lệ % phụ nữ chia sẻ với ai đó khi bị bạo lực

- Đối tượng được người phụ nữ chia sẻ khi bị bạo lực

- Đối tượng giúp đỡ người phụ nữ khi bị bạo lực

- Mối liên quan giữa việc chia sẻ của phụ nữ với:

+ Yếu tố thuộc về bản thân đối tượng: tuổi, học vấn, nghề nghiệp

+ Yếu tố thuộc về người chồng: học vấn, nghề nghiệp, mức độ sử dụng rượu

+ Yếu tố khác: sống gần bố mẹ vợ/bố mẹ chồng, khi gặp khó khăn có thể cậy nhờ gia đình vợ/gia đình chồng giúp đỡ

2.7 Quản lí chất lượng số liệu:

2.7.1 Các loại sai số:

- Sai số trong quá trình thu thập thông tin

+ Do cách điều tra viên đặt câu hỏi chưa rõ ràng

+ Do khả năng nắm bắt và hiểu câu hỏi của các đối tượng còn hạn chế

Trang 31

+ Do sai sót khi ghi chép thông tin

- Sai số nhớ lại

+ Do đối tượng nghiên cứu phải nhớ lại về thời điểm trước đó hoặc trong một khoảng thời gian trước khi được phỏng vấn

- Đối tượng nghiên cứu không trả lời trung thực những câu hỏi được đặt ra

+ Do cách đặt câu hỏi trong bộ câu hỏi hoặc của điều tra viên chưa hợp lý, tế nhị khiến đối tượng e ngại trả lời

2.7.2 Cách khắc phục:

+ Lựa chọn và tập huẩn kỹ cho điều tra viên: Đã lựa chọn điều tra viên là các cộng tác viên dân số tại các xã Các điều tra viên đều là nữ, sinh sống tại huyện Đông Anh nên quen thuộc với địa bàn nghiên cứu, lại công tác trong lĩnh vực y tế nên dễ tạo thiện cảm với đối tượng

+ Phát triển bộ câu hỏi đơn giản, dễ hiểu, tế nhị

+ Điều phối viên giám sát quá trình thu thập số liệu

+ Tổ chức buổi họp thảo luận đánh giá công việc cuối mỗi tuần điều tra, rút kinh nghiệm cho tuần điều tra sau

2.8 Xử lý và phân tích số liệu:

Số liệu được xử lý và nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, sau đó được làm sạch, phân tích bằng phần mềm STATA 11

2.9 Đạo đức nghiên cứu:

Nghiên cứu này là một phần của đề tài nghiên cứu lớn trong khuôn khổ dự án

“Tác động của bạo lực đến sức khỏe sinh sản tại Tanzania và Việt Nam” (dự

án PAVE) đã được Hồi đồng đạo đức của trường Đại học Y Hà Nội phê duyệt

Trang 32

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, nhóm nghiên cứu sẽ thực hiện theo các Hướng dẫn về đạo đức và an toàn cho nghiên cứu bạo lực gia đình do WHO (2001) [10] như sau :

 Sự an toàn của người trả lời và nhóm nghiên cứu là quan trọng nhất, chi phối tất cả quyết định của dự án

 Các tỉ lệ của nghiên cứu cần được tính toán một cách khoa học và xây dựng dựa trên các nghiên cứu đã có trước để để hạn chế báo cáo thiếu về tình hình bạo lực

 Những người tham gia nghiên cứu sẽ được đảm bảo tính bảo mật thông tin

và phải được sự đồng ý của họ thông qua bản đồng thuận tham gia nghiên cứu

 Tất cả các thành viên trong nhóm nghiên cứu sẽ được lựa chọn và được đào tạo chuyên nghiệp và tiến hành một cách cẩn thận

 Phụ nữ tham gia nghiên cứu sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích của nghiên cứu và lợi ích của họ

 Thực hiện nguyên tắc giữ bí mật và giấu tên tất cả các thông tin liên quan đến người được phỏng vấn, đặc biệt là phụ nữ bạo lực gia đình và trầm cảm sau sinh Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu không được gây thiệt hại cho người tham gia và bảo vệ họ bất cứ cách nào có thể

 Các kết quả của nghiên cứu sẽ được phản hồi cho cộng đồng và các viện liên quan

Trang 33

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung đối tượng:

Bảng 3.1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Trang 34

Bảng 3.1 cho chúng ta thấy: trong số phụ nữ mang thai tham gia trả lời phỏng vấn thì đa phần có độ tuổi trẻ, nhỏ hơn 35 tuổi, trong đó nhóm 25-34 tuổi chiếm quá nửa (51,0%) và nhiều hơn nhóm 16-24 tuổi Về dân tộc, gần như tất cả thuộc dân tộc Kinh, chỉ có một người thuộc dân tộc khác (Mường) Về tôn giáo, đa số không theo tôn giáo nào, chỉ có 1,4% theo đạo Thiên chúa và 1,0% theo đạo Phật Về học vấn, đa phần phụ nữ đã có học vấn 12 năm trở lên, phụ nữ đã hoàn thành bậc đại học/cao đẳng/trung cấp và trung học phổ thông, chiếm tỉ lệ lần lượt là 44,3% và 37,6% Số lượng người có nghề nghiệp

là công nhân viên chức chiếm quá nửa (58,7%), nông dân thì nhiều hơn sinh viên nhưng cũng có một tỉ lệ không nhỏ (22,4%) làm việc những ngành nghề khác (buôn bán nhỏ, thất nghiệp )

3.2 Thực trạng phụ nữ bị bạo lực thể xác:

Biểu đồ 3.1: Thực trạng bị bạo lực thể xác trong đời ở phụ nữ

Trang 35

Biểu đồ 3.2: Thực trạng bị bạo lực thể xác ở phụ nữ mang thai

Biểu đồ 3.3: Phân bố mức độ bạo lực thể xác trên phụ nữ có thai

Biểu đồ 3.1,3.2 và 3.3 cho thấy, trong số 508 phụ nữ tham gia trả lời phỏng vấn, có 15,6% phụ nữ đã bị chồng bạo lực thể xác trong suốt thời gian sống chung Khi họ đang mang thai lần này, có 6,1% phụ nữ bị bạo lực Trong số phụ nữ bị bạo lực lúc mang thai, 16,1% bị bạo lực ở mức độ nghiêm trọng

Trang 36

Bảng 3.2: Bảng phân bố tình trạng bị bạo lực thể xác ở phụ nữ có thai

Bảng 3.2 cho thấy, phụ nữ có độ tuổi 35-42 bị bạo lực thể xác nhiều hơn phụ

nữ ở hai nhóm tuổi còn lại (17,4% so với 6,2% ở nhóm 16-24 tuổi và 5,0% ở nhóm 25-34 tuổi) Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05, kiểm định Fisher's exact test)

Bảng 3.2 cũng cho chúng ta thấy phụ nữ có học vấn càng cao thì tỉ lệ bị bạo lực càng giảm Trong số phụ nữ có học vấn tiểu học, có 25% phụ nữ bị bạo lực, nhưng với nhóm phụ nữ có học vấn cao đẳng/đại học thì chỉ 2,7% bị bạo lực Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05, kiểm định Fisher's exact test)

Nhóm phụ nữ làm công nhân viên chức có tỉ lệ bị bạo lực thể xác nhỏ hơn các nhóm nghề nghiệp khác (chỉ 2,3%) Nhóm phụ nữ làm nông dân bị bạo lực

Trang 37

thể xác nhiều nhất với 17,6%, tiếp đó là nhóm sinh viên (15%), cuối cùng là nhóm nghề nghiệp khác với 7,0% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05, kiểm định Fisher's exact test)

Bảng 3.3: Bảng phân bố các hành vi bạo lực đối với phụ nữ trong đời và

trong lần mang thai này

Hành vi bạo lực thể xác Trong đời Trong lần mang

bị tát hoặc ném vật gì đó vào người làm tổn thương Trong 79 phụ nữ bị bạo lực thể xác trong suốt thời gian sống cùng chồng, có tới 77 người đã trả lời từng bị bạo lực theo hình thức này Trong khi phụ nữ mang thai, các hành vi bạo lực này đều có xu hướng giảm (trừ hành vi đá, kéo lê, đánh đập tàn nhẫn),

Trang 38

đặc biệt là phụ nữ không còn bị đe dọa sử dụng hoặc đã sử dụng dụng cụ vũ khí để làm tổn thương nữa Một phụ nữ có thể phải chịu một hoặc nhiều hành

vi bạo lực do chồng mình gây ra

Biểu đồ 3.4: So sánh tình trạng bạo lực thể xác do chồng gây ra, trước khi

mang thai và khi đang mang thai

Câu hỏi so sánh về tình trạng bạo lực trước và trong khi có thai chỉ được hỏi với phụ nữ đã trả lời Có khi được hỏi về những hành vi bạo lực từng phải chịu trong suốt thời gian sống chung (xem thêm ở biểu đồ 3.1 và bảng 3.3) Vậy nên, ở câu hỏi này chỉ có 79 phụ nữ được hỏi và trả lời Biểu đồ 3.4 cho chúng ta một kết quả tương đối phù hợp với bảng 4 khi có tới gần 70% phụ

nữ cảm thấy tình trạng bạo lực giảm đi trong khi mình mang thai Song, cũng

có tới một phần tư cảm thấy tình trạng không được cải thiện, thậm chí có 3.8% còn cảm thấy tình trạng tồi tệ hơn

Ngày đăng: 07/03/2018, 13:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w