Theo định nghĩa bộ môn Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng trường đại học Y Hà Nội :“HPQ là một nhóm bệnh đường hô hấp cùng có chung một hội chứng khó thở ra, khò khò, ho khạc đờm với 3 quá trìn
Trang 1Hà Nội - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
_ _
CUNG QUANG HƯNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2009 - 2015
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.BS HOÀNG THỊ LÂM
Hà Nội - 2015
Trang 2Bảng 3.1: Đặc điểm về tuổi 30
Bảng 3.2 :Thời gian mắc hen phế quản 31
Bảng 3.3: Tiền sử bệnh dị ứng trong gia đình của bệnh nhân hen 33
Bảng 3.4: Yếu tố làm bùng phát cơn hen 34
Bảng 3.5: Bệnh nhân mang thai nhập viện vì cơn HPQ(n=9) 35
Bảng 3.6: Phân bố một số triệu chứng lâm sàng của hen 35
Bảng 3.7: Tính chất ho của các bệnh nhân trong nghiên cứu (n=22) 36
Bảng 3.8: Phân loại mức độ cơn hen của bệnh nhân hen lúc vào viện 36
Bảng 3.9: Dấu hiệu X-Quang của bệnh nhân 37
Bảng 3.10: Các thông số chức năng hô hấp (n=16) 38
Bảng 3.11: Công thức máu của bệnh nhân hen 39
Bảng 3.12: Phân bổ Kali máu của bệnh nhân hen 40
Bảng 3.13: Giá trị IgE của bệnh nhân hen (n=10) 40
Bảng 3.14: Kết quả khí máu động mạch (n=14) 41
Bảng 3.15: Dùng thuốc điều trị tại nhà của bệnh nhân hen(n=25) 42
Bảng 3.16: Các thuốc điều trị bệnh nhân hen 43
Bảng 3.17: Xác định sự phụ hợp giữa việc sử dụng kháng sinh và số lượng bạch cầu 45
Bảng 3.18: Xác định sự phù hợp giữa việc sử dụng kháng sinh và triệu chứng lâm sàng ho đờm mủ 45
Bảng 3.19: Thời gian nằm viện của bệnh nhân hen 46
Bảng 3.20: Kết quả điều trị 46
Trang 3DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ phân bố giới tính bệnh nhân hen phế quản 32Biểu đồ 3.2: Biểu đồ phân bố địa lý mắc bệnh HPQ 32Biểu đồ 3.2 Biểu đồ phản ánh một số bệnh dị ứng kèm theo 33Biểu đồ 3.4: Biểu đồ về chức năng thông khí của bệnh nhân HPQ (n=16) 39
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Đại học Trường Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong những năm học tại trường
TS.BS Hoàng Thị Lâm – Bác sỹ Trung tâm Dị ứng – Miễn dịch Lâm
sàng Bệnh viện Bạch Mai – là người trực tiếp hướng dẫn và đóng góp những
ý kiến quý báu cho luận văn của tôi
PGS.TS Nguyễn Văn Đoàn – Giám đốc Trung tâm Dị ứng Miễn dịch Lâm
sàng, Bệnh viện Bạch Mai vì đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được học tập và tham gia nghiên cứu tại Trung tâm
Các thầy, cô trong hội đồng khoa học, các thầy, cô trong các bộ môn đã góp nhiều công sức giảng dạy, đào tạo tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Phòng kế hoạch tổng hợp, phòng lưu trữ hồ sơ bệnh án bệnh viện Bạch Mai, các nhân viên trung tâm Dị ứng - MDLS, các nhân viên trong thư viện trường Đại học Y Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Bố Mẹ tôi, người đã sinh thành, nuôi dưỡng, hướng nghiệp cho tôi và những người thân, bạn bè đã luôn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2015
Trang 5Cung Quang Hưng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp tiến hành dưới sự hướng dẫn của thầy hướng dẫn Các kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học, khóa luận hay tài liệu tham khảo nào
Hà Nội, ngày 30 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Cung Quang Hưng
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Vài nét lịch sử 4
1.2 Định nghĩa về Hen Phế Quản 6
1.3 Dịch tễ học 8
1.4 Phân loại về hen 8
1.4.1 Phân loại theo Rackemann cải biên năm 2000 8
1.4.2 Phân loại hen theo mức độ 10
1.4.3 Đánh giá độ nặng của hen phế quản 10
1.5 Cơ chế bệnh sinh của hen 11
1.5.1 Viêm là quá trình chủ yếu trong hen 12
1.5.2 Co thắt phế quản 13
1.5.3 Gia tăng tính đáp ứng đường thở 14
1.6 Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng trong hen 15
1.6.1 Khai thác tiền sử dị ứng 15
1.6.2.Triệu chứng cơ năng 15
1.6.3 Triệu chứng thực thể 17
1.6.4 Triệu chứng cận lâm sàng 17
1.7 Chẩn đoán hen 20
1.7.1 Chẩn đoán xác định 20
1.7.2 Chẩn đoán phân biệt 20
1.7.3 Chẩn đoán thể bệnh 22
1.7.4 Chẩn đoán mức độ 22
1.8 Điều trị hen phế quản 24
1.8.1 Điều trị cắt cơn tại bệnh viện 24
1.8.2 Điểu trị dự phòng tại cộng đồng 22
1.9 Nguy cơ và hậu quả do hen phế quản gây ra 26
Trang 71.9.1 Đối với người bệnh 26
1.9.2 Đối với gia đình 26
1.9.3 Tổn thất về kinh tế rất lớn 26
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
2.2 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2.2 Tiêu chuẩn tuyển chọn 27
2.2.3 Tiêu chuẩn loại trừ 28
2.2.Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1.Tiến cứu mô tả 28
2.2.2 Phương tiện nghiên cứu 28
2.2.3 Cách thức tiến hành 28
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 30
3.1.1 Đặc điểm về tuổi của bệnh nhân trong nghiên cứu: 30
3.1.2 Đặc điểm về giới 31
3.1.3 Đặc điểm về địa lý 32
3.1.4 Tiền sử bản thân bệnh nhân 32
3.1.5 Tiền sử gia đình có bệnh dị ứng 33
3.1.6 Một số yếu tố làm bùng phát cơn hen 34
3.1.7 Yếu tố thai nghén với các bệnh nhân HPQ 35
3.2 Đặc điểm lâm sàng người bệnh HPQ 35
3.3 Đặc điểm cận lâm sàng 37
3.3.1 Dấu hiệu X-Quang 37
3.3.2 Đặc điểm về chức năng hô hấp: 38
3.3.3 Xét nghiệm máu 39
3.3.4 Phân bổ Kali máu của bệnh nhân 40
3.3.5 Các đặc điểm dị ứng đặc hiệu trên cận lâm sàng 40
Trang 83.4 Điều trị hen phế quản 42
3.4.1 Các thuốc dự phòng dã dùng trước khi vào viện: 42
3.4.2 Thuốc điều trị HPA tại khoa Dị ứng – MDLS 43
3.4.3 Thời gian điều trị tại khoa Dị ứng – MDLS 46
3.4.4 Kết quả điều trị 46
PHẦN 4: BÀN LUẬN 47
4.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 47
4.1.1 Đặc điểm về tuổi của bệnh nhân trong nghiên cứu 47
4.1.2 Đặc điểm về giới 47
4.1.3 Đặc điểm về địa lý 48
4.1.4 Tiền sử bản thân bệnh nhân 48
4.1.5 Tiền sử gia đình 49
4.1.6 Một số các yếu tố làm bùng phát cơn hen 49
4.2 Một số đặc điểm lâm sàng 50
4.2.1 Triệu chứng lâm sàng 50
4.2.2 Phân loại mức độ cơn hen của bệnh nhân lúc vào viện 51
4.3 Dấu hiệu cận lâm sàng 52
4.3.1 Kết quả X-quang 52
4.3.2 Chức năng hô hấp 53
4.3.3 Công thức máu 54
4.3.4 Giá trị Kali máu 55
4.3.5 Giá trị IgE của bệnh nhân hen phế quản 55
4.3.6 Kết quả khí máu động mạch 55
4.4 Điều trị hen phế quản 56
4.4.1 Các thuốc dự phòng trước khi vào viện 56
4.4.2 Các thuốc sử dụng trong điều trị HPQ 57
4.4.3 Thời gian nằm viện 60
4.4.4 Kết quả điều trị 60
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VIẾT TẮT
ICS Inhaled Corticosteroid Corticoid dạng hít
LABA Long acting β2 agonist Thuốc cường β2 tác dụng kéo
dài GINA Global Initiative for Asthma Chiến lược toàn cầu về hen
PEF Peak Expiratory Flow Lưu lượng đỉnh
SABA Short acting β2 agonist Thuốc cường β2 tác dụng
ngắn WHO World Health Organization Tổ chức y tế thế giới
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Hen Phế Quản là một trong những bệnh viêm đường hô hấp mạn tính khá phổ biến và ngày càng gia tăng được phản ánh nhiều qua y văn thế giới cũng như ở Việt Nam Bệnh đặc trưng bằng các cơn hen tái phát (khó thở, thở rít, khò khè, ho, nặng ngực,…) có thể hồi phục tự nhiên hoặc sau sử dụng thuốc giãn phế quản [1]
Hen phế quản là một bệnh được đề cập từ lâu, từ thời Trung Quốc cổ đại hơn 5000 năm trước và nghiên cứu từ rất sớm (từ thời Hypocrates) cả về chẩn đoán, điều trị và dự phòng Tuy nhiên cơ chế bệnh sinh còn nhiều vấn đề chưa sáng tỏ nên việc điều trị còn nhiều khó khăn [1]
Năm 1902, phát hiện sốc phản vệ của Richet đã làm cơ sở cho việc nghiên cứu cơ chế chẩn đoán điều trị hen và các bệnh dị ứng Và từ đó đã mở
ra thời kì nghiên cứu về cơ chế bệnh sinh cũng như đề ra các phương pháp chẩn đoán, điều trị hen rõ ràng hơn
Ngày nay, với tiến bộ của khoa học kỹ thuât trong y học, bệnh nguyên
và cơ chế bệnh sinh hen phế quản đã có những bước tiến mới Trong chẩn đoán
và điều trị hen phế quản cũng đạt được những kết quả đáng nể Do xuất hiện trên thị trường những thuốc giãn phế quản thế hệ mới có tác dụng kéo dài nhằm cắt cơn hay dự phòng cơn hen, ngoài ra còn có nhiều những thuốc và cách thức mới như liệu pháp miễn dịch đặc hiệu, nên mặc dù diễn biến phức tạp, nhiều trường hợp đã qua khỏi cơn hen nặng và có hiệu quả tối ưu kiếm soát các triệu chứng của hen phế quản
Tren thế giới, tỉ lệ mắc hen trung bình hiện nay là khoảng 4-16% dân số mỗi nước [2] Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới, hiện trên thế giới có khoảng 300 triệu người mắc hen, ước tính đến năm 2025 con số đó sẽ tăng lên
400 triệu người Con số mắc hen vẫn không ngừng gia tăng mỗi năm, chi phí
Trang 12cho bệnh nhân, gia đình và cả xã hội [3]
Độ lưu hành bệnh cứ mỗi năm lại tăng lên 2 lần, tỉ lệ tử vong do hen ngày càng tăng lên[4] Còn ở Việt Nam, theo báo cáo gần đây thì tỉ lệ mắc hen vào khoảng 5% dân số Bệnh viện Bạch Mai đưa ra con số cao hơn, 6-7% [5] Theo tác giả Hoàng Thị Lâm và công sự tỷ lệ mắc hen phế quản tại khu vực Hà Nội, bao gồm thành thị và nông thôn chiếm 5,6% và không cso sự sai khác lớn theo giới [6] Nhiều nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra, hen phế quản trong cộng đồng không giảm đi mà còn ngày càng cao Từ năm 1961 đến năm
1995, số người mắc hen đã tăng 3 lần ở Việt Nam Số trẻ em nhỏ hơn 15 tuổi mắc bệnh cũng tăng lên vào khoảng 10% Số bệnh nhân hen phải nhập viện
và cấp cứu cũng tăng lên nhiều so với trước kia Thời gian vừa qua, số bệnh nhân hen được điều trị dù đã được kiếm soát chặt chẽ hơn, xong vẫn còn nhiều bệnh nhân được điều trị theo các tuyến y tế cơ sở địa phương vẫn còn khá tùy tiện, thậm chí lạm dụng thuốc, họ cũng không có được hiểu biết về bệnh và ý thức sử dụng thuốc, cũng như cách điều trị một cách rõ ràng [7]
Bắt đầu từ năm 1992, chiến lược toàn cầu phòng chống hen đã được hình thành và hoàn chỉnh qua mỗi năm, tạo nên sự thống nhất giữa việc chẩn đoán và điều trị hen trên phạm vi toàn thế giới Việc phối hợp “hai trong một” nghĩa là một dụng cụ hít có hai loại thuốc corticoid hít (ICS) và thuốc cường beta2 tác dụng kéo dài làm nền tảng của phòng chống hen ngoài cộng đồng Nhưng số người mắc hen vẫn không giảm mà ngày một gia tăng, trở thành gánh nặng cho chính bản thân, gia đình và xã hội Đồng thời số người mắc cơn hen kịch phát phải nhập viện cũng ngày càng gia tăng
Vẫn đề đặt ra là, tại sao việc tìm ra nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh và điều trị hen đã có những bước tiến đáng kể Đồng thời công tác dự phòng hen trong cộng đồng cũng đã có những bước tiến đáng kể trên phạm vị toàn cầu
Trang 13và ở Việt Nam [2], vậy mà vẫn còn những bệnh nhân phải nhập viện cấp cứu
vì tình trạng hen nặng: khó thở nặng, có rối loạn thông khí, rối loạn khuếch tán khí phải can thiệp cấp cứu vì suy hô hấp [8] Đặc biệt điều này rất dễ xảy
ra ở trẻ em và người cao tuổi
Để góp phần tìm hiều, nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị của bệnh hen phế quản, đề tài của chúng tôi được thực hiện với 2 mục tiêu sau:
1 Tìm hiểu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân Hen phế quản được điều trị tại Trung tâm Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng bệnh viện Bạch Mai (7/2014-4/2015)
2 Bước đầu đánh giá điều trị ở bệnh nhân hen phế quản trong nghiên cứu trên
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Vài nét lịch sử
Hen – theo thuật ngữ là “asthma” – trong tiếng Hy Lạp cổ, ásthma nghĩa là sự thở hổn hển, khó thở, thở vội Những hiểu biết về hen có từ cách đây hàng ngàn năm, từ thời Trung Hoa cổ đại cho tới Hy Lạp cổ đại Vua thần Nông là người đầu tiên dùng Ma hoàng đế để chữa hen Hippocrate (460-377) định nghĩa hen là sự khó thở theo cơn.[1]
Aretaeus (100), một bác sĩ bậc thầy ở thời Hy Lạp cổ đại đã có mô tả lâm sàng về bệnh hen Galen (130-200) đã đề cập đến hen nói chung và đồng tình với những văn bản trước đó của Hippocrate và ở mức độ nào đó với Aretaeus Ông mô tả hen là một sự nghẽn tắc ở phế quản và trị bệnh đó bằng cách uống rượu với máu của chim cú.[9]
Moses Maimonides (1135-1204 AD), các giáo sĩ và là nhà triết học sống ở Andalucia (Tây Ban Nha), Morocco và Ai Cập, cũng là một bác sĩ hành nghề y trong triều đình của Sultan Saladin của Ai Cập và Syri Trong số nhiều văn bản y khoa, Maimonides đã viết nghiên cứu về hen cho một bệnh nhân của ông là Hoàng tử Al-Afdal Ông có tiết lộ rằng triệu chứng bệnh nhân của ông thường bắt đầu như những cơn cảm lạnh thông thường vào những tháng ẩm ướt Cuối cùng bệnh nhân thở hổn hển và ho cho đến khi bật đờm
ra Ông cũng lưu ý rằng những tháng trời khô ở Ai cập thì có thể làm cho bệnh nhân đỡ bệnh hơn.[9]
Jean Baptiste Van Helmont (1579-1644) một bác sĩ, nhà hóa học, sinh
lý bệnh học từ Bỉ cho rằng hen có nguồn gốc từ những đường dẫn khí bên trong phổi
Trang 15Bernardino Ramazzini (1633-1714), được biết đến là cha đẻ của mảng
y học thể thao, đã phát hiện ra sự liên hệ giữa hen và bụi hữu cơ Ông cũng cho rằng hen có liên quan đến cảm ứng với tập luyện thể lực
Hen được mô tả như một bệnh tâm lý, với cách chữa trị cơ bản là kết hợp giữa việc phân tích tâm lý và chữa trị bằng lời nói Các nhà phân tích tâm
lý học cho rằng hen có thể được chữa trị như với cách chữa trị bệnh trầm cảm
Lý thuyết tâm thần này cuối cùng đã bị bác bỏ và hen đã lại được hiểu như một bệnh lý liên quan đến thay đổi sinh lý bệnh cơ thể
Hen, được hiểu là một bệnh lý viêm, điều này không thực sự được công nhận cho tới những năm 60 thời điểm mà thuốc kháng viêm bắt đầu được sử dụng
Thể kỷ XX đã ghi nhận những tiến bộ vượt bậc việc nghiên cứu cơ chế, chẩn đoán và điều trị hen Công trình nghiên cứu sốc phản vệ của Richet và Portier năm 1902 đã mở đầu những nghiên cứu về cơ chế hen và các bệnh dị ứng Nhờ Cohen (1900) với Theophylin, Caryerr (1950) với cortison, Gelfand (1951) đề xuất sử dụng corticoid khí dung Cox và Altounyan (1967) phát hiện cromone đầu tiên chữa hen là cromoglycate de sodium Từ năm 1969 xuất hiện nhiều thuốc điều trị hen có hiệu quả như Salbutamol khí dung, đầu tiên là Ventolin (1969), terbutalin (Bricanyl) năm 1971, corticoid khí dung beclometason (Becotide), budeonide (Pulmicort) và năm 1993 xuất hiện corticoid khí dung loại mới fluticason (Flixotide) Các thuốc cường beta2 tác dụng kéo dài (LABA) được ứng dụng năm 1988 như salmeterol (Serevent), forrmoterol (Foradil) dẫn đến hình thành thuốc phối hợp LABA+ICS như Seretide, Symbicort là những thuốc có hiệu quả trong điều trị dự phòng hen.[10]
Những năm cuối thế kỷ XX, bắt đầu từ năm 1992, đã mở đầu thời kỳ đổi mới với những tiến bộ to lớn trong phòng chống hen toàn cầu với công ước quốc tế chẩn đoán và điều trị hen (1993), chương trình phòng chống hen toàn cầu (GINA) năm 1998, hoàn chỉnh năm 2000, 2002, …và tiếp tục hoàn
Trang 16năm 2014 Chương trình kiểm soát hen triệt để (GOAL) được công bố 2/2014 tiếp tục giúp cho việc kiểm soát hen hiệu quả hơn nữa.[11]
Như vậy, mặc dù hen là bệnh được biết đên từ lâu, nhưng phải đến thế
kỉ XX, các nghiên cứu về hen mới thực sự đi sâu và có hiệu quả Tuy vậy các quan điểm về định nghĩa, phân loại, bệnh nguyên, bệnh sinh còn có nhiều ý kiến khác nhau Vì vậy, hen trở thành một môn học riêng, thành chuyên đề thảo luận của nhiều quốc gia và thế giới Và hiện nay các hiểu biết của chúng
ta về hen đang trên đường hoàn thiện
1.2 Định nghĩa về Hen Phế Quản
Có rất nhiều định nghĩa về HPQ
Theo định nghĩa của OMS (1974): “Hen phế quản là bệnh có những cơn khó thở do nhiều nguyên nhân và do gắng sức kèm theo dấu hiệu lâm sàng thắt nghẽn phế quản”[12] Hội Lồng ngực và trường Đại Học Y Khoa Hoa Kỳ (1975): “Hen là một bệnh có tính quá mẫn đường thở và nhiều nguyên nhân khác nhau biểu hiện bằng kéo dài thời gian thở ra, có thể khỏi tự nhiên hoặc do điều trị”[4]
Theo định nghĩa bộ môn Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng trường đại học
Y Hà Nội :“HPQ là một nhóm bệnh đường hô hấp cùng có chung một hội chứng (khó thở ra, khò khò, ho khạc đờm) với 3 quá trình bệnh lý chính:
- Viêm niêm mạc đường hô hấp
- Co thắt phế quản
- Gia tăng phản ứng đường hô hấp
Theo GINA, hen gây ra các triệu chứng như thở khò khè (wheezing), khó thở (SOB – shortness of breath), tức ngực và ho với những tính chất về thời điểm xuất hiện, tần số và cường độ khác nhau Các triệu chứng này có liên quan đến luồng khí thay đổi khi thở ra, là sự khó thở để đẩy khí ra khỏi phổi do nguyên nhân co thắt phế quản làm hẹp đường dẫn khí (bronchoconstriction –
Trang 17airway narrowing), thành của ống dẫn khí dày lên và gia tăng chất tiết Những thay đổi về luồng khí này cũng có thể gặp ở những người không mắc bệnh hen, nhưng nó thường biểu hiện nhiều hơn ở hen
Hen là một bệnh lý mạn tính thường gặp và nặng tiềm tàng, đặt một gánh nặng đáng kể cho bệnh nhân, gia đình và cộng đồng Nó gây ra các triệu chứng hô hấp, hạn chế các hoạt động hàng ngày, các cơn hen tấn công mà đôi khi yêu cầu chăm sóc y tế khẩn cấp hoặc cũng có thể dẫn tới tử vong
May mắn thay, hen lại có thể điều trị hiệu quả được và hầu hết bệnh nhân đều có thể kiểm soát tốt được bệnh hen Khi hen được kiểm soát tốt bệnh nhân có thể:
- Tránh được các triệu chứng gây phiền toái cả ngày và đêm
- Cần ít hoặc không cần thuốc giảm cơn
- Đời sống hoạt động thể chất năng động
- Chức năng phổi bình thường hoặc gần như bình thường
- Tránh được các cơn hen đột ngột kịch phát xảy đến (nặng lên đột ngột, hoặc một cơn tấn công – exacerbations, attacks)
Theo WHO (World Health Organization), hen là một bệnh không lây nhiễm, đặc trưng bởi sự tấn công thường xuyên tái lại nhiều lần của sự khó thở, và thở khò khè, có sự khác nhau về cường độ và tần số giữa người này và người khác Triệu chứng có thể xảy ra ở nhiều lần trong ngày hoặc trong tuần đối với cá nhân người bị bệnh, ở một số người thì triệu chứng lại xấu đi sau những hoạt động thể lực hoặc về đêm Trong suốt cơn hen, niêm mạc của ống phế quản phù nề, sưng lên gây ra sự bít tắc và hẹp lại của đường dẫn khí, làm giảm lưu lượng lưu thông khí vào ra trong phổi Các triệu chứng tái đi tái lại nhiều lần và xảy ra thường xuyên gây mất ngủ, mệt mỏi, giảm hoạt động thể lực cũng như công việc và học tập Hen có tỷ lệ tử vong tương đối thấp so với các bệnh lý mãn tính khác [4]
Trang 18HPQ là một trong những bệnh mạn tính phổ biến nhất ảnh hưởng đến
cả trẻ em và người lớn, nhưng vẫn chưa được tìm hiểu kỹ về nguyên nhân gây hen Mặc dù yếu tố di truyền đã được chứng minh một cách rõ ràng là liên quan đến hen, nhưng sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường thì cũng có thể giải thích về sự biến đổi mang tính toàn cầu trong tỷ lệ mắc các bệnh dị ứng
và hen phế quản
1.4 Phân loại về hen
1.4.1: Phân loại theo Rackemann cải biên năm 2000:[1][13]
Hen Atopi Nồng độ IgE tăng cao, bệnh nhân
mẫn cảm với nhiều dị nguyên, tiền sử
dị ứng cá nhân và gia đình Hen không Atopi sớm Thường là hen nặng, dai dẳng
Hen không Atopi muộn Thường có hội chứng tăng tế bào ái
toan, polip mũi, viêm xoang Hen kết hợp một số bệnh phổi khác Hen trong bệnh phổi tắc nghẽn mãn
tính, khí thũng phổi Hen kết hợp với viêm động mạch Hội chứng Chen - Strau, viêm nút
quanh động mạch Hen do gắng sức Thường gặp ở trẻ dưới 15 tuổi
Hen dạng ho Ho khan mạn tính
Hen do aspirin Hen có 3 biểu hiện: bất dung nạp
aspirin, viêm mũi, polip mũi, khó thở
Trang 19Hen nghề nghiệp Hen do xơ nhiễm phổi với một số hơi,
khí nơi sản xuất
Trang 201.4.2 Phân loại hen theo mức độ:[14][2]
Bậc hen Triệu
chứng
Triệu chứng về đêm
Cơn cấp FEV1 hoặc
PEF dự tính
Dao động FEV1 hoặc PEF
Bậc 1: nhẹ,
từng cơn
Cơn <1 lần/ tuần
không có triệu chứng giữa các cơn
≤ 2 lần/
tháng
Nhẹ, không giới hạn hoạt động thể lực
> 2 lần/
tháng
Có thể ảnh hưởng đến hoạt động thể lực và giấc ngủ
≤ 60% >30%
1.4.3.Đánh giá độ nặng của hen phế quản
Độ nặng của hen được đánh giá hổi cứu từ mức điều trị cần thiết để kiểm soát triệu chứng và đợt kịch phát Độ nặng của hen không phải là một đặc điểm bất biến và có thể thay đổi theo tháng hoặc theo năm
Trang 21Độ hen được đánh giá khi bệnh nhân đã điều trị với thuốc kiếm soát đều đặn trong vài tháng
- Hen nhẹ: hen được kiểm soát tốt với điều trị bậc 1 và bậc 2, nghĩa là khi dùng thuốc cắt cơn khi cần, hoặc điều trị với thuốc kiểm soát nhẹ như ICS liều thấp, kháng thụ thể leukotriene hoặc chromone
- Hen trung bình: là hen được kiểm soát tốt với điều trị bậc 3, ví dụ như ICS/LABA liều thấp
- Hen nặng: là hen không được kiểm soát, ở bậc 4, bậc 5 Phải sử dụng ICS/LABA liều cao để ngừa hen trở nên “không kiểm soát” hoặc hen vẫn
“không kiểm soát” dù điều trị ở mức này
1.5 Cơ chế bệnh sinh của hen
Những nghiên cứ mới nhất về hen cho thấy cơ chế phát sinh của bệnh rất phức tạp, bao gồm
- Nhiều quá trình bệnh lý: Viêm mạn tính đường thở
Co thắt cơ trơn phế quản
Gia tăng đáp ứng đường thở
Trang 221.5.1 Viêm là quá trình chủ yếu trong hen:[1][2]
Hiện tượng viêm trong HPQ theo cơ chế miễn dịch – dị ứng có sự tham gia của nhiều yếu tố khác nhau
- Các tế bào gây viêm như đại thực bào, bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm, mastocyte, tế bào T và B
- Nhiều tế bào viêm: đại thực bào Th0, Th2, tế bào mast, eosinophile, basophile, lymphocyte, tế bào biểu mô, tế nào nội mô
- Nhiều chất trung gian hóa học: các chất trung gian tiên phát (histamin, serotonin, protaglandin, các neuropeptides), các cytokines (interleukin
từ 1 đến 18, GMCSF, TNFalpha, TNF-beta, TNF-gamma)
Trong cơ chế của hen, có vai trò của các phân tử kết dính (adhesion molecules) Các phân tử kết dính hoạt hóa các tế bào viêm (eosinophile Basophile) và vận chuyển các tế bào viêm theo đường tuần hoàn đến vị trí viêm Những phân tử kết dính là glycoprotein, chủ yếu là:
Trang 23+ ICAM1 (intercellular adhesion molecule 1)
+ ICAM2 (intercellular adhesion molecule 2)
+ VCAM1 (vascular cell adhesion molecule 1)
+ LFA-1 (lymphocyte fuction related antigen 1)
- Nhiều enzym khác
1.5.2 Co thắt phế quản
- Hậu quả của hiện tượng viêm nói ở trên gây nên tình trạng co thắt phế quản Ngoài ra, ở trẻ bị HPQ, thụ thể β2 bị suy giảm làm cho enzym adenylcyclase kém hoạt hóa, gây nên thiếu hụt AMPc ở cơ trơn phế quản Tình trạng này làm cho icon calci xâm nhập vào trong tế bào, đồng thời dưỡng bào bị thoái hóa hạt giải phóng các chất hóa học trung gian gây co thắt phế quản
- Rối loạn hệ thần kinh tự động giao cảm làm tăng tiết cholin kích thích
hệ cholinergic làm giải phóng các chất trung gian hóa học và tăng GMPc nội bào gây phản xạ co thắt phế quản
Trang 24trò của leukotrien, đó là những sản phẩm chuyển hóa của acid arachidonic theo đường 5-lipooxygenase hình thành 2 type leukotriens: sulfido – peptid và LTB4 Thực chất các sulfido-peptid là chất SRS-A (slow reacting substance
of anaphylaxic) có tác dụng co thắt phế quản mạnh hơn 1000 lần so với histamin và quá trình co thắt phế quản kéo dài hơn
- Prostaglandin đặc biệt là PGD2 do mastocyte tiết ra thúc đẩy sự giải phóng histamin và quá trình co thắt phế quản kéo dài hơn
1.5.3 Gia tăng tính đáp ứng đường thở
Với 2 quá trình viêm và co thắt phế quản, đường thở đã bị xẹp nhiều Tuy vậy, cơn hen chỉ thực sự bùng phát (cơn hen cấp) mỗi khi đường thở bị co thắt khi đáp ứng với tác nhân kích thích Như vậy, tác nhân tăng tính đáp ứng phế quản đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh của HPQ
- Tăng tính phản ứng phế quản làm mất cân bằng giữa hệ adrenergic và hệ cholinergic dẫn đến tình trạng ưu thế thụ thể alpha so với beta, tăng ưu thế của GMPc so với AMPc nội bào, biến đổi hàm lượng enzym phosphidiesterase nội bào, rối loạn chuyển hóa prostaglandin
- Sự gia tăng tính phản ứng phế quản là cơ sở để giải thích sự xuất hiện cơn HPQ do gắng sức, do khói các loại (khói bếp than, thuốc lá, xăng,…) không khí lạnh và các mùi khó chịu khác Tăng phản ứng phế quản được chứng minh bằng thử nghiệm acetylcholin hoặc methacholin
- Sự gia tăng tính phản ứng phế quản trong HPQ dần dần làm thay đổi hình thái tổ chức giải phẫu bệnh trong lòng phế quản của trẻ bị HPQ + Thâm nhiễm tế bào viêm (dưỡng bào, tế bào lympho T, bạch cầu ái toan và các tế bào khác) có vai trò quan trọng trong viêm
+ Phù nề mô kẽ, thâm nhiễm bạch cầu ái toan
+ Phá hủy biểu mô phế quản và làm dày lớp màng đáy
Trang 25+ Tăng số lượng tế bào tiết nhày và phì đại các tuyến dưới niêm mạc + Phì đại và tăng sinh tế bào cơ trơn phế quản
+ Giãn mạch
+ Nút nhầy trong lòng phế quản
Như vậy, quá trình viêm trong hen là quá trình chủ yếu, gây nên các hiện tượng khác nhau như co thắt phế quản, gia tăng tính đáp ứng đường thở,
cả ba quá trình của hen
1.6 Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng trong hen[1][15][16][11]
+ Tiền sử hen khi nhỏ
+ Tiền sử các bệnh dị ứng của bản thân
+ Tiền sử gia đình mắc hen
+ Tiền sử gia đình mắc các bệnh dị ứng khác (các bệnh dị ứng khác có thể là hen, chàm, viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc mùa xuân… có thể phối hợp với hen hoặc riêng lẻ một mình)
+ Tiền sử các bệnh lý phối hợp: tiểu đường, tăng huyết áp…
1.6.2.Triệu chứng cơ năng
- Tiền triệu: hắt hơi, sổ mũi, ngứa mắt, buồn ngủ, ho khan
- Ho: lúc đầu là ho khan, sau xuất tiết nhiều đờm dãi, ho dai dẳng không
có giờ giấc nhất định, ho nhiều về đêm, nhất là khi thay đổi thời tiết
Trang 26hiển vi thấy có bạch cầu ái toan, vòng xoắn Cushmann và tính thể Charcott-Leyden Nếu đờm có mủ tức là có bội nhiễm viêm phế quản do
vi khuẩn
- Khó thở: chủ yếu là khó thì thở ra, kéo dài Trường hợp nhẹ khó thở chỉ xuất hiện khi gắng sức, khi ho, khi khóc, cười hoặc khi nuốt
Trường hợp điển hình khó thở biểu hiện thường xuyên kiểu khó thở ra,
có tiếng khò khè, cò cử chủ yếu về ban đêm gần sáng Trước khi xuất hiện cơn khó thở khò khè thường xuyên xuất hiện một số dấu hiệu báo trước như hắt hơi, ngứa mũi, ngạt mũi, chảy nước mũi, hoặc một số triệu chứng khác như cảm giác tức nặng ngực…
Tóm lại, trên lâm sàng, khi nào nghĩ đến hen?
Khi có một trong 4 triệu chứng sau trở lên:
- Ho, thường tăng về đêm
+ Thay đổi thời tiết
+ Lông, biểu bì gia súc
Trang 27+ Thời tiết thay đổi
+ Gắng sức
+ Thuốc (aspirin, NSAID, chẹn Beta giao cảm)
+ Cảm xúc mạnh (stress gắng sức)
1.6.3 Triệu chứng thực thể
Nhìn: có thể có các dấu hiệu co kéo hõm ức, co kéo cơ hô hấp phụ
Gõ phổi: có thể thấy vang hơn bình thường, vùng đục trước tim giảm, lồng ngực như bị dãn ra
Nghe: có tiếng ran rít, ran ngáy, tiếng thở khò khòe, rì rào phế nang âm sắc trở nên rít, đặc biệt khi thở ra mạnh và kéo dài Ngoài cơn hen phổi hoàn toàn bình thường
Đôi khi có thể nghe thấy ran ẩm, ran nổ nếu có bội nhiễm
1.6.4 Triệu chứng cận lâm sàng
Để chẩn đoán hen có nhiều xét nghiệm cận lâm sàng được đưa ra, tuy nhiên phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay có:
a Đo chức năng hô hấp
- Dung tích sống (VC) Dung tích sống là số lít khí huy động được từ vị trí hít vào tối đa đến vị trí thở ra tối đa, nó phải bao gồm ba thể tích khí huy động được:
VC=IRV+TV+ERV
Trong đó, IRV là thể tích hít vào tối đa ERV là thể tích thở ra tối đa
TV là thể tích khí lưu thông
Trong hen, dung tích sống giảm
- FEV1 Là thể tích thở ra tối đa trong giây đầu tiên sau khi đã hít vào tối
đa
Trang 28hen, tùy vào bậc hen mà FEV1 có thể giảm =<80% so với giá trị lý thuyết hoặc nhỏ hơn
FEV1 phụ thuộc vào:
+ Độ thông thoáng của đường dẫn khí
+ Độ đàn hồi của phổi và lồng ngực
- Tỷ lệ Tiffeneau giảm Chỉ số Tiffeneau = FEV1/VC (%), bình thường Tiffeneau ≥70% so với trị số lý thuyết Tiffeneau đánh giá tắc nghẽn đường hô hấp
- Lưu lượng thở ra ở quãng giữa của FVC (kí hiệu FEF 25-75), nó đánh giá mức độ thông thoáng phế quản vừa và nhỏ
- Các lưu lượng đỉnh tức thời, là lưu lượng đỉnh tại một điểm xác định cao nhất đạt được một lần thở FVC
- Các lưu lượng thở ra tại vị trí còn lại 75%, 50%, 25% (với các kí hiệu PEF75, PEF50, PEF25)
Các thông số lưu lượng ở các thể tích phổi khác nhau đánh giá vị trí tắc nghẽn, nó phụ thuộc vào tính đàn hồi của phổi và lồng ngực
- Với phương tiện gọn nhẹ, đơn giản gần đây người ta thường sử dụng dụng cụ đo lưu lượng đỉnh (Peak Flow Meter) để đo lưu lượng đỉnh thở
ra (PEF-Peak Expiratory Flow), phương pháp này giúp chẩn đoán và tiên lượng HPQ Đã xuất hiện 2 loại PFM tại Việt Nam, loại điện tử và loại cơ
Trong đo chức năng hô hấp, có nhiều thông số được máy đưa ra, nhưng theo các khuyến cáo của GINA và theo kinh nghiệm của thầy thuốc lâm sàng, thường dùng các chỉ số: VC (FVC), PEF, FEV1, Tiffeneau
Trang 29b Test giãn phế quản: giúp cho khẳng định chẩn đoán khả năng hồi phục phế quản, biểu hiện bằng >15% (hoặc >200ml) FEV1, hoặc lưu lượng đỉnh (LLĐ) sau hít 400mcg salbutamol 10 đến 20 phút
c Xét nghiệm đặc hiệu:
Để tìm nguyên nhân (dị nguyên gây bệnh) có thể làm một số xét nghiệm miễn dịch:
+ Prick test (test lẩy da)
+ Xác định IgE toàn phần và IgE đặc hiệu sau khi đã khai thác tiền
sử dị ứng và làm các thử nghiệm lẩy da, thử nghiệm kích thích với các
- Số lượng hồng cầu bình thường
- Tăng hematocrit và nồng độ các huyết sắc tố tỷ lệ với mức độ và thời gian thiếu oxy trong máu
- Bạch cầu ái toan thường tăng, có thể lên trên 5%, có trường hợp lên tới 30% trong thể hen nặng, kéo dài hoặc hen có mẫn cảm với mốt số thuốc kháng sinh và ký sinh trùng
f Xét nghiệm đờm:
BC ưa axit, bạch cầu đa nhân trung tính tăng, xuất hiện nhiều đại thực bào, có thể thấy nhiều vi khuẩn
Trang 301.7.2 Chẩn đoán phân biệt
+ Trào ngược dạ dày thực quản
+ Bất thường hoặc tắc nghẽn đường hô hấp: nhũn sụn thanh, khí phế quản, hẹp khí phế quản do chèn ép, xơ, ung thư, dị dạng quai động mạch chủ, dị vật, dò thực – khí quản
+ Thoái hóa nhầy nhớt
+ Hen tim: suy tim trái do THA, hẹp hai lá
+VPQ tắc nghẽn MT: tiền sử ho khạc đờm kéo dài, RL tắc nghẽn cố định
Trang 31+Hội chứng tăng thông khí: chóng mặt, miệng khô, thở dài, histeria… + Đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính – COPD
Trang 321.7.3 Chẩn đoán thể bệnh
1.7.4 Chẩn đoán mức độ[2]
Các chỉ số Nhẹ Trung bình Nặng Sắp ngừng
thở Khó thở Khi đi lại,
bệnh nhân có thể nằm ngửa được
Khi nói
Tiếng khóc của trẻ thường ngắn hơn, khó bú,
ăn kém, trẻ thích ngồi dễ chịu hơn
Khi nghỉ ngơi Trẻ bỏ
ăn, bỏ bú
Cúi về phía trước
Nói chuyện Từng câu dài Từng câu
ngắn, ngắt quãng
Từng từ
Tri giác Có thể kích
thích
Thường kích thích
Thường kích thích
Ngủ gà, lẫn lộn
Tần số thở Tăng Tăng Thường >
30l/ph Các giới hạn tri giác của nhịp thở cho suy hô hấp ở trẻ
Thường có Thường có Vận động
ngực bụng nghịch
Trang 33thường Khò khè Trung bình,
thường ở cuối thì thở
ra
Nhiều Nhiều Im lặng
Mạch <100 100-200 <120 Nhịp tim
chậm Giới hạn nhịp tim bình thường ở trẻ
SaO2 >95% 91-95% <90%
Suy hô hấp dễ xảy ra ở trẻ nhỏ so với trẻ vị thành niên hoặc người trưởng thành
Trang 341.8.1 Điều trị cắt cơn tại bệnh viện
Với cơ chế sinh bệnh của bệnh hen phế quản là 3 quá trình: viêm, co thắt phế quản và gia tăng tính đáp ứng của đường thở, thì điều trị HPQ cũng phải giải quyết được 3 quá trình đó
Khi bênh nhân vào viện, trước tiên cần giải quyết cơn hen cấp tính cho bệnh nhân
- Cường Beta 2 tác dụng ngắn – SABA: Salbutamol (Ventolin), Terbutalin (Bricanyl), Fenoterol (Berotec) Thuốc có tác dụng sau 3-5 phút, nhưng chỉ tồn tại trong cơ thể 4 giờ Đây là những thuốc cắt cơn tốt nhất
- Kháng cholinergic: Ipratropimum (Atrovent), Oxytropium (Tersigat Cắt cơn sau 1h hiệu quả điều trị dãn phế quản thấp
- Thuốc hủy phó giao cảm: thường dùng Ipratropium, tác dụng dãn phế quản không mạnh bằng thuốc cường Beta2 Tác dụng tối đa sau khi dùng 30-90 phút và giữ được >4h Dùng phối hợp với cường Beta thì tác dụng mạnh và kéo dài hơn
- Nhóm Xathin: hiện nay thường dùng Diaphylin đường truyền, còn Theophylin ít dùng vì liều độc gần liều điêu trị
- Alpha – leucotrien
- Các thuốc chống viêm hiện nay thường dùng là corticosteroid và cromolyn, nedorcomil (cấu trúc tương tự cromolyn nhưng tác dụng mạnh hơn) Thường dùng dưới dạng phun, dạng khí dung để giảm tác động toàn thân của thuốc
- Một số phương pháp điểu trị khác:
+ Thở O2
+ Kháng sinh
Trang 35+ Giảm ho, long đờm
+ Bồi phụ nước, điện giải
+ Thuốc điều trị các bệnh phối hợp nếu có
- Hiện nay đã có phương pháp điều trị giải mẫn cảm đặc hiệu, tuy nhiên ở
VN chưa phổ biến phương pháp này
1.8.2 Điểu trị dự phòng tại cộng đồng
Mục tiêu của điều trị hen là đạt được và duy trì kiểm soát bệnh hen mà không có những tác dụng phụ từ việc điều trị thuốc như vậy, điểu trị quan trọng trong điều trị hen là điểu trị dự phòng tại nhà để hạn chế tối
đa số lần có cơn khó thở phải nhập viện cấp cứu của các bệnh nhân Bắt đầu từ năm 1992, việc điểu trị dự phòng hen được triển khai trên phạm vi toàn cầu với việc kết hợp của 2 loại thuốc vào một dạng chế phẩm: corticoid hít (ICS) và LABA Hai thuốc này kết hợp, bổ xung điều trị cho nhau và đem lại nhứng hiệu quả khả quan
Điều trị dự phòng hen phải tùy theo bậc hen mà người bệnh mắc phải người bệnh cần được điều trị trong một thời gian dài, có giám sát của nhân viên y tế và xét việc nâng/giảm liều thuốc tương ứng với bậc của hen sau mỗi 3-6 tháng
Chương trình GINA đề xuất các khái niệm kiểm soát hen triệt để [3](gọi tắt là GOAL) với 7 tiêu chí [11]
Kiểm soát triệu để Kiểm soát tốt Thức giấc ban đêm Không
Trang 364 lần/ tuần Triệu chứng ban ngày Không 2 ngày/ tuần
LLĐ ban ngày 80% 80%
Duy trì ít nhất 7 ngày trên 8 tuần, theo dõi 56 tuần
1.9 Nguy cơ và hậu quả do hen phế quản gây ra:[1][2][15][18]
1.9.1 Đối với người bệnh
Sức khỏe ngày càng giảm sút, mất ngủ gây suy nhược thần kinh, bi quan, lo lắng Khả năng lao động giảm gây mất việc, thất học, chất lượng cuộc sống giảm sút, ảnh hưởng đến hạnh phúc cá nhân và gia đình Nhiều trường hợp tử vong do không cứu chữa kịp thời
1.9.2 Đối với gia đình
Coi người bệnh như một gánh nặng, ít quan tâm và động viên người bệnh kiên trì điều trị Có hai quan điểm trái ngược nhau: không quan tâm, xem nhẹ nguy cơ của bệnh, hoặc cho rằng bệnh không điều trị được
1.9.3 Tổn thất về kinh tế rất lớn
Thiệt hại do hen gây ra cho xã hội bao gốm các chi phí trực tiếp (khám bệnh, xét nghiệm, tiền thuốc, viện phí,…) và các chi phí gián tiếp: ngày nghỉ, giảm khả năng lao động, chất lượng cuộc sống giảm sút Báo cáo của tổ chức y tế thế giới năm 1998 cho thấy ở nhiều nước bệnh hen gây phí tổn cả hai căn bệnh hiểm nghèo của thế kỉ là HIV/AIDS và lao động lại
Chi phí chữa bệnh trực tiếp và gián tiếp cho HPQ ở Mỹ là 6,4 tỷ USD (1990) tăng lên 11 tỷ đô la năm 2000 Ở Pháp là 8 tỷ Frang Pháp
Ở Việt Nam, với số liệu đã báo cáo ở trên, ước tính có khoảng 5% dân số mắc bệnh hen, con số vào khoảng hơn 4 triệu người Chỉ riêng tại thành phố HCM
1996, theo thống kê của ISSAC mỗi năm tiêu tốn trung bình khoảng 108 triệu USD cho việc chữa bệnh, hơn 4 tỷ đồng mất đi do điều trị thiếu hiệu quả với
Trang 37gần 300.000 ngày công lao động bị mất Những con số thống kể ở Hà Nội cho thấy, mỗi bệnh nhân hen nếu không được kiểm soát tốt mỗi năm phải vào viện cấp cứu trung bình 2-4 lần, mỗi lần nhập viện chi phí lên khá cao, chưa
kể tổn thất gây ra do nghỉ học, nghỉ việc và giảm chất lượng cuộc sống
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: bệnh nhân tại Trung tâm Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng, bệnh viện Bạch Mai
- Thời gian nghiên cứu: từ đầu tháng 07/2014đến hết tháng 4/ 2015
2.2.Đối tượng nghiên cứu
2.2.1.Đối tượng nghiên cứu: 30 bệnh nhân được điều trị nội trú tại khoa
dị ứng – MDLS bệnh viện Bạch Mai từ tháng 7/2014 – tháng 4/2015
2.2.2 Tiêu chuẩn tuyển chọn:
Các đặc điểm lâm sàng: Bệnh nhân được chẩn đoán HPQ theo tiêu chuẩn của tổ chức y tế thế giới và theo GINA 2006 với các triệu chứng khi vào viện như:
- Khó thở tái đi tái lại nhiều lần, nặng lên về đêm và sáng sớm
- Ho tái đi tái lại nhiều lần, có thể ho khan, ho đờm quánh, đờm vàng…
- Khò khè thở rít tái lại nhiều lần
- Nặng ngực, cảm giác nặng ngực
- Trong cơn hen có ran rít, ran ngáy tại phổi
- Tiền sử bản thân và gia đình mắc các bệnh dị ứng khác như chàm, mày đay, viêm mũi dị ứng, dị ứng thức ăn, dị ứng phấn hoa, côn trùng…
Các đặc điểm cận lâm sàng
- Có rối loạn thông khí tắc nghẽn: FEV1 <80% giá trị lý thuyết
Trang 38với giá trị ban đầu sau 10-15 phút dùng 200-400 mcg albuterol hoặc tương đương
- PEF cải thiện ≥ 20% sau hít thuốc giãn phế quản hoặc thay đổi trong ngày >20%
2.2.3 Tiêu chuẩn loại trừ:
Theo tiêu chuẩn loại trừ của GINA, những trường hợp chưa rõ ràng là hen phế quản hoặc các bệnh lý không phải là hen như dị vật đường thở, COPD,… Và những người không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Tiến cứu mô tả
2.2.2 Phương tiện nghiên cứu:
Hỏi bệnh, khám bệnh và theo dõi bệnh nhân với các đặc điểm được ghi trong bệnh án mẫu Đánh giá lại trước, trong và sau điều trị
2.2.3 Cách thức tiến hành
Các bệnh nhân sau khi được đưa vào khoa Dị ứng – MDLS Được hỏi bệnh, tiền sử bệnh, tiền sử gia đình, các bênh lý đi kèm và liên quan, thăm khám, ghi lại triệu chứng cơ năng và thực thể của bệnh nhân, theo dõi lâm sàng và các kết quả cận lâm sàng, các thuốc điều trị
Khi bệnh nhân ra viện, đánh giá kết quả điều trị
Quy trình được thực hiện theo mẫu bệnh án ở cuối bài luận văn
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Nhập và quản lý số liệu bằng phần mềm quản lý số liệu EPIDATA
- Xử lý, phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0, với các thuật toán:
- Tính các thống kê mô tả của biến định tính: tần số, tỷ lệ phần trăm
Trang 39- Tính các thống kê mô tả của biến định lượng: tính trị số trung bình, độ lệch chuẩn, lớn nhất, nhỏ nhất
- So sánh các tỷ lệ bằng kiểm định ᵪ2 , Ztest
- So sánh trung bình bằng kiểm định Kruskall- wallis
- Đánh giá mối tương quan giữa các biến số bằng chỉ số r, kiểm định spearman
2.4 Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu được sự đồng ý của Bộ môn Dị ứng-Miễn dịch lâm sàng, trung tâm Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng, bệnh viện Bạch Mai
- Nghiên cứu được tiến hành dựa trên sự hợp tác, tự nguyện của đối tượng nghiên cứu
- Các thông tin của đối tượng nghiên cứu được bảo mật hoàn toàn