1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tiểu luận cao học tài chính tiền tệ lam phat va tác hại của lạm phát với nền kinh tế nước ta

13 226 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Một Nhà nước muốn điều hành tốt cả nền kinh tế vĩ mô và vi mô thì trước hết phải có những chính sách kinh tế tốt. Một trong những vấn đề kinh tế vĩ mô như công ăn việc làm, lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế đầu tư, xuất nhập khẩu một khi đã bị biến động thì sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế. Lạm phát cũng vậy, nếu một quốc gia xảy ra lạm phát thì nó sẽ tác động đến toàn bộ đời sống kinh tế xã hôi Không phải có lạm phát là xấu, lạm phát ở một mức độ vừa phải sẽ có tác động kích thích tăng trưởng kinh tế. Lạm phát ở nước ta trong những năm gần đây vẫn ở mức độ vừa phải, năm 1999 còn có giảm phát. Tuy nhiên, từ đầu năm đến nay hiện tượng tăng gía ở nước ta đã là vấn đề gây xôn xao trong dân chúng, trong các doanh nghiệp. Nó tác động không tốt đến thu nhập của người dân, đến quá trính sản xuất trong xã hội. Phải chăng nước ta đã xẩy ra lạm phát? Và nếu thực sự lạm phát xẩy ra thì nó sẽ tác động không tốt đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho nền sản xuất bị ngưng trệ, đặc biệt là những ngành phải nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, làm cho mức tiêu dùng xã hội giảm xuống.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Một Nhà nước muốn điều hành tốt cả nền kinh tế vĩ mô và vi mô thì trước hết phải có những chính sách kinh tế tốt Một trong những vấn đề kinh

tế vĩ mô như công ăn việc làm, lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế đầu tư, xuất nhập khẩu một khi đã bị biến động thì sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh

tế Lạm phát cũng vậy, nếu một quốc gia xảy ra lạm phát thì nó sẽ tác động đến toàn bộ đời sống kinh tế xã hôi

Không phải có lạm phát là xấu, lạm phát ở một mức độ vừa phải sẽ có tác động kích thích tăng trưởng kinh tế Lạm phát ở nước ta trong những năm gần đây vẫn ở mức độ vừa phải, năm 1999 còn có giảm phát Tuy nhiên, từ đầu năm đến nay hiện tượng tăng gía ở nước ta đã là vấn đề gây xôn xao trong dân chúng, trong các doanh nghiệp Nó tác động không tốt đến thu nhập của người dân, đến quá trính sản xuất trong xã hội Phải chăng nước ta đã xẩy

ra lạm phát? Và nếu thực sự lạm phát xẩy ra thì nó sẽ tác động không tốt đến toàn bộ nền kinh tế Nó làm cho nền sản xuất bị ngưng trệ, đặc biệt là những ngành phải nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, làm cho mức tiêu dùng xã hội giảm xuống

Trang 2

NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM LẠM PHÁT.

1 Khái niệm lạm phát.

Lạm phát là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền kinh tế hàng hóa tiền

tệ, còn sản xuất hàng hóa và lưu thông tiền tệ thì còn lạm phát, vấn đề là chỉ nên kiềm chế lạm phát ở mức nào là hợp lý, bởi vì lạm phát ở mức đó không khác gì tăng cung về tiền tệ, do đó kíck thích sản xuất và tiêu dùng Có nhiều quan điểm về lạm phát tuy nhiên có thể đưa ra một khái niệm đủ rộng về lạm phát: lạm phát là hiện tượng giá cả tăng nhanh, liên tục và kéo dài làm cho tiền tệ mất giá so với hàng hóa, ngoại tệ và vàng Ngoài ra còn có một số khái niệm về lạm phát

Theo Các Mác trong bộ tư bản: lạm phát là việc tràn đầy các kênh, các luồng lưu thông các tờ giấy bạc thừa, dẫn đến gía cả tăng vọt ông cho rằng lạm phát là “ bạn đường của chủ nghĩa tư bản, ngoài việc bóc lột người lao động bằng giá trị thặng dư, chủ nghĩa tư bản còn gây ra lạm phát để bóc lột người lao động một lần nữa, do lạm phát làm tiền lương thực tế của người lao động giảm xuống

Nhà kinh tế học Samuelson thì cho rằng: lạm phát biểu thị một sự tăng lên trong mức giá cả chung Theo ông: “lạm phát xẩy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng – giá bánh mì, dầu xăng, xe ô tô tăng, giá đất, tiền thuê

tư liệu sản xuất tăng”

Còn Milton Friedman thì quan niệm: “lạm phát là việc giá cả tăng nhanh

và kéo dài” Ông cho rằng: “ Lạm phát luôn luôn và bao giờ cung là một hiện tượng của tiền tệ” Ý kiến đó của ông đã được đa số các nhà kinh tế thuộc

phái tiền tệ và phái Keynes tán thành

Trang 3

2 Nguyên nhân của lạm

a Lạm phát cầu kéo.

Hình: Lạm phát cầu kéo

Có một chính cách khác mà mục tiêu công ăn việc làm có thể dẫn đến chính sách tiền tệ lạm phát Ngay cả khi công ăn việc làm đầy đủ, thất nghiệp lúc nào cũng tồn tại do những xung đột xảy ra trên thị trường lao động, làm cho những người công nhân và những người chủ khó gặp nhau Do vậy một

tỷ lệ thất nghiệp khi có công ăn việc làm đầy đủ (tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên) sẽ lớn hơn không Nếu những người hoạch định chính sách ấn định một chỉ tiêu thất nghiệp thấp quá dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, thì điều đó có thể tạo ra một địa bàn cho một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao hơn và làm cho lạm phát phát sinh Chúng ta co thể chỉ ra điều đó xẩy ra như thế nào bằng cách sử dụng đồ thị hình

Nếu những nhà hoạch định chính sách có một chỉ tiêu thất nghiệp là 4% chẳng hạn thấp hơn tỷ lệ tự nhiên là 6%, thì họ sẽ cố gắng đạt được một chỉ tiêu sản phẩm lớn hơn mức tỷ lệ tự nhiên của sản phẩm Mức chỉ tiêu sản phẩm đó ký hiệu là Yt trên hình Giả định lúc đầu chúng ta ở điểm 1, nền kinh

tế ở mức tự nhiên của sản phẩm, nhưng dưới mức sản phẩm Yt Để đạt được mức tỷ lệ thất nghiệp là 4%, các nhà hoạch định chính sách sẽ ban hành

AS4

AS3 AS2 AS1

AD 1

AD 2

AD 3

AD 4

Tổng

mức giá

cả P

Tổng sản phẩm,Y

Trang 4

những chính sách để tăng tổng cầu, và tác động của những chính sách đó di chuyển đường tổng cầu đến AD2 và nền kinh tế đến điểm 1’ Sản phẩm đạt mức sản lượng Yt và đạt được mục tiêu thất nghiệp 4%

Nếu tỷ lệ lạm phát được chỉ tiêu hoá ở tại mức tỷ lệ tự nhiên là 6% thì

sẽ không có vấn đề gì Tuy nhiên, bởi vì ở tại mức Yt tỷ lệ 4% thất nghiệp là dưới mức tỷ lệ tự nhiên, nên lương sẽ tăng lên và đường tổng cung sẽ di chuyển vào đến AS2, đưa nền kinh tế từ điểm 1’ sang điểm 2 Nền kinh tế lại lui về tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên 6% nhưng ở mức giá cả P2 cao hơn Chúng ta

có thể dừng ở đây, nhưng bởi vì thất nghiệp lại cao hơn mức chỉ tiêu, các nhà hoạch định chính sách sẽ di chuyển đường tổng cẩu ra đến AD3 để đạt đến chỉ tiêu sản phẩm đến điểm 2’, và toàn bộ quá trình sẽ tiếp tục đẩy nền kinh tế đến điểm 3 và xa hơn nữa Kết quả là gía cả tăng liên tục và lạm phát xẩy ra

Các nhà hoạch định chính sách sẽ có khả năng tiếp tục di chuyển đường tổng cầu ra như thế nào? chúng ta biết rằng chính sách tài chính không thể làm được điểu đó vì chúng ta biết rằng có một giới hạn trong chi tiêu của chính phủ và giảm thuế Thay vào đó họ sẽ áp dụng một chính sách tiền tệ, tức là liên tục tăng cung tiền tệ

b Lạm phát chi phí đẩy.

Để hiêu về lạm phát chi phí đẩy, ta sẽ phân tích hình vẽ dưới đây lúc đầu nền kinh tế đang ở tại điểm 1, là giao điểm của đường tổng cầu AD1 và

AS4

AS3 AS2 AS1

AD 1

AD 2

AD 3

AD 4

Tổng

mức giá

cả P

Tổng sản phẩm,Y

Hình: Lạm phát chi phí đẩy

Trang 5

đường tổng cung AS1 Giả định là công nhân đấu tranh đòi tăng lương thanh công bởi vì họ muốn tăng lương thực tế hoặc họ dự đoán lạm phát sẽ lên cao,

vì vậy họ đòi hỏi và đạt được tăng lương để khớp với mức lạm phát ảnh hưởng của việc tănng lương như vậy là làm cho đường tổng cung di chuyển vào đến AS2 nếu chính sách tài chính và tiền tệ của chính phủ vẫn không thay đổi, thì nền kinh tế sẽ chuyển từ điểm 1’ là giao điểm của đường tổng cung AS2 với đường AD1 Sản phẩm sẽ giảm xuống dưới mức tỷ lệ tự nhiên của nó (Y’) trong khi mức giá cả tăng lên đến P1’

Do sản phẩm giảm và thất nghiệp tăng, họ sẽ thực hiện chính sách nhằm tăng đường tổng cầu lên đến AD2 do đó chúng ta lai quay lại với mức sản phẩm tự nhiên tai điểm 2 và với mức giá cả P2

Công nhân đã đòi tăng lương rồi, nay có thể họ lại đòi tăng lương nữa Thêm vào đó, các công nhân khác bây giờ có thể thấy rằng lương của mình bầy giờ đã sụt xuống so với những người khác, do đó họ sẽ lại đòi tăng lương của mình lên Kết quả là đường tổng cung lại di chuyển vào AS3

Thất nghiệp lại phát triển khi chúng ta chuyển đến điểm 2’, và các chính sách lại đưa đường tổng cầu đến AD3 và đưa nền kinh tế trở lại tình hình công ăn việc làm đầy đủ với mức gía cả P3 Nếu quá trình này tiếp tục, thì kết quả là việc tăng liên tục của mức giá cả, nghĩa là một tình trạng lạm phát chi phí đẩy

Chính sách tiền tệ lạm phát đóng một vai trò gì trong lạm phát chi phí đẩy? Lạm phát chi phí đẩy chỉ có thể xẩy ra khi đường tổng cầu di chuyển ra ngoài liên tục, trong cách phân tích của Keynes, sự di chuyển đầu tiên của đường tổng cầu đến AD2 chắc chắn có thể đạt được bằng một sự tăng lên của việc chi tiêu của chính phủ hoặc bằng một đợt giảm xuống của thuế Nhưng

về sự di chuyển tiếp theo của đường tổng cầu đến AD3 và tiếp theo, tiếp theo nữa sẽ như thế nào? Những giới hạn về mức chi tiêu tối đa của chính phủ và mức tối thiểu của thuế sẽ ngăn chặn việc sử dụng chính sách tài chính của chính phủ trong thời gian dài Như vậy nó không được sử dụng để di chuyển

Trang 6

liên tục đường tổng cầu Mặt khác đường tổng cầu có thể di chuyển liên tục ra ngoài bằng cách liêng tục tăng trưởng cung tiền tệ, nghĩa là bằng việc đi đến

một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao hơn Do đó lạm phát chi phí đẩy cũng là một

hiện tượng tiền tệ vì nó không có thể tự xẩy ra mà không có chính sách điều hoà được các nhà hoach định chính sách tiền tệ đồng ý một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao hơn

II ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT TỚI NƯỚC TA.

1 Thực trạng lạm phát ở nước ta.

Diễn biến về chỉ số gía tiêu dùng (CPI) của Việt Nam mấy năm trở lại đây, gần nhất là từ đầu năm 2003 đến nay không thể hiện sự tăng mức giá liên tục

Từ tháng 3/2004 theo số liệu của Tổng cục Thống kê mức giá có xu hướng tăng qua các tháng Đến tháng 9/2004, CPI tăng 8% so với năm trước

Các nhà nghiên cứu kinh tế đều thống nhất rằng, chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng qua tăng ở ngoài mức dự kiến, chủ yếu là do tác động tăng giá của một

số mặt hàng nhập khẩu thiết yếu và tăng giá lương thực phẩm Vậy các mặt hàng chủ yếu này đến cuối năm có xu hướng biến động và mức độ tác động đến chỉ số gía như thế nào? Chúng ta có thể đánh giá xu hướng biến động của các mặt hàng chủ yếu sau đây

1.1 Mặt hàng thép.

Theo đánh giá của tổ điều hành thị trường trong nước, đến đầu tháng 8 giá thép liên tục tăng, đặc biệt là giá phôi thép đẵ tăng 73,8% so với cùng kỳ năm 2003 và tăng gần 57% so với mức giá bình quân cả năm 2003 Giá thép tăng do nhu cầu thép trên thế giới tăng, nguồn cung ứng các nguyên liệu thô trở nên khan hiếm, chi phí vận chuyển gia tăng do biến động trên thị trường dầu mỏ, thép dự trữ của nhiều nước nhập khẩu giảm mạnh và tác động của giá đồng đôla Mỹ giảm

Giá phôi thép trên thế giới đến đầu tháng 8 đã có dấu hiệu giảm, nhưng theo đánh giá của các chuyên gia thương mại, trong thời gian tới giá thép vẫn

Trang 7

còn có nhiều biến động phức tạp.Về nhu cầu thép trong nước, Bộ Công Nghiệp cho biết năm 2004 nhu cầu thép của Việt Nam là 3 triệu tấn, trong khi chỉ có khả năng sản xuất được 750.000 tấn Theo đó chúng ta chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu thép trong nước, số còn lại phải nhập khẩu Như vậy có thể nói là giá thép trong nước vẫn chịu tác động của giá thép thế giới

1.2 Về giá xăng dầu.

Xăng dầu đáp ứng nhu cầu trong nước nhưng mà phải nhập khẩu hoàn toàn, do vậy giá xăng dầu trong nước chịu tác động của giá xăng dầu trên thế giới Trong 9 tháng qua giá xăng dầu đã tăng tới mức kỷ lục, cho đến thời điểm bây giờ giá dầu đã lên tới 53USD/1thùng

Theo dự báo của Cơ quan năng lượng Mỹ cho thấy giá xăng dầu tiếp tục tăng cao và có thể vượt 60USD/1thùng Như vậy là giá xăng dầu trên thế giới gia tăng kéo theo giá xăng dầu trong nước tăng và kéo theo nó là hàng loạt các mặt hàng khác tăng giá như nghành vận chuyển, phân bón vv…

1.3 Về giá phân bón.

Giá phân bón trong nước cũng chịu sự tác động của giá phân bon trên thị trường thế giới do nguồn phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu là do nhập khẩu Trong thời gian qua, giá phân bón tăng chủ yếu do tác động của giá phân bón trên thị trường quốc tế cộng với chi phí vận chuyển, bốc xếp Trong khi sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu phân bón Như vậy khả năng từ nay đến cuối năm giá phân bón vẫn chịu ảnh hưởng của sự tăng giá phân bón trên thị trường quốc tế

1.4 Về gía tân dược.

Nhóm dược phẩm y tế tăng giá 5,2 % so với tháng 12/2004 Giá dược phẩm y tế tăng một phần do giá nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất thuốc tăng, công tác quản lý, phương thức cung ứng thuốc gây nên tình trạng độc quyền và một số công ty kinh doanh dược phẩm lợi dụng tình thế đó để độc chiếm thị trường

Trang 8

2 Hậu quả của lạm phát tới nền kinh tế nước ta.

2.1 Giảm sút của đồng tiền giấy.

Trong chế độ lưu thông tiền giấy, tiền giấy sụt giá thường được biểu hiện trên ba mặt, sụt giá đối với hàng hoá, sụt giá đối với ngoại tệ và sụt gió so với vàng Ba mặt biểu hiện này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và mức độ biến động của từng mặt một không nhất trí với nhau

- Tiền giấy sụt giá đối với vàng

Trong tình trạng lạm phát, giá trị thực tế mà tiền giấy đại biểu xuống do

"giá" vàng biểu hiện bằng tiền giấy khi mua vàng cao hơn "giá" vàng trước đó

- Tiền giấy sụt giá đối với hàng hoá

Do lạm phát, sức mua của tiền tệ giảm đi nên giá cả hàng hoá tăng lên, điều đó chứng tỏ tiền giấy sụt giá so với hàng hoá

- Tiền giấy sụt giá đối với ngoại tệ

Ngoại tệ cũng là một hàng hoá đặc biệt, do vậy ngoại tệ có giá cả Trên thị trường hối đoái, tiền tệ của nước có thị trường hối đoái xuống giá thì giá

cả của ngoại tệ cũng sẽ tăng lên

Tiền giấy sụt giá đối với vàng, đối với hàng hoá, do vậy ngoại tệ biểu hiện ở các mặt "giá" vàng tăng lên, giá hàng hoá tăng lên, tỷ giá hối đoái tăng lên có một sự quan hệ mật thiết với nhau và mức độ biến động không nhất trí với nhau

2.2.ảnh hưởng xấu đến thu nhập.

Trong trường hợp thu nhập danh nghĩa không thay đổi, lạm phát xẩy ra

sẽ làm thu nhập thực của người lao động giảm xuống Cái mà người mua xem

là giá cả thì cũng chính là cái mà người bán xem là thu nhập Với 1000.000 đồng tiền lương một tháng hiện nay, một công nhân sẽ mua được 2 tạ gạo (với giá gạo là 5000đ/1kg) Vào năm sau nếu tiền lương của người công nhân này không thay đổi, nhưng tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế là 50% so với năm

Trang 9

trước, tức là giá gạo tăng lên đến 7.500/1kg thì với số tiền lương nhận được, người công nhân này chỉ có thể mua được 133,3 kg gạo mà thôi

2.3 Tạo nên sự bất ổn trong nền kinh tế.

Vì tác dụng tái phân phối của nó, lạm phát còn làm tăng những căng thẳng kinh tế và xã hội Những căng thẳng giữa người lao động và người quản

lý, giữa chính phủ và nhân dân, và giữa những người tiêu dùng có thể bao trùm lên toàn bộ xã hội và các thể chế của nó

Một người đã nhận xét như sau: cái chi phí thực tế quan trọng của lạm phát chính là cái mà nó tác động đến đạo đức, đến sự cấu kết xã hội, và đến thái độ cư xử của người này đến người khác

II GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT.

1 Giải pháp tác động vào cầu.

Chính phủ cần có chiến lược chú trọng phát triển nguồn nguyên liệu, xây dựng cơ sở nguyên liệu trong nước tránh phụ thuộc quá nhiều vào nước ngoài và đặc biệt là chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế Đối với việc điều hành giá cả, trước mắt chưa thực hiện tăng giá đối với các mặt hàng thiết yếu do nhà nươc định giá như giá điện, than, xi măng, xăng dầu; các mặt hàng do các doanh nghiệp nhà nước cung ứng như: gía cước vận tải công cộng, vận tải đường sắt, đường thủy, đường hàng không Tiếp tục thực hiện chính sách giảm giá đối với các dịch

vụ bưu chính viễn thông theo lộ trình

Tỷ lệ lạm phát tăng cao ngay lập tức ngân hàng nhà nước phải dùng các biện pháp có thể giảm cung tiền tệ như ngừng thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu đối với các tổ chức tín dụng, dừng việc mua vào các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, không phát hành tiền bù đắp bội chi ngân sách nhà nước Áp dụng các biện pháp làm giảm lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế như: ngân hàng trung ương bán ra các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, bán ngoại tệ và vay, phát hành các công cụ nợ

Trang 10

của Chính phủ để vay tiền trong nền kinh tế để bù đắp khoản thâm hụt của ngân sách Nhà nước, tăng lãi suất tiền gửi đặc biệt là lãi suất tiết kiệm dân cư

Các biện pháp này rất có hiệu lực vì trong một thời gian ngắn nó có thể giảm bớt được một khối lượng khá lớn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế quốc dân, do đó giảm được sức ép lên giá cả hàng hoá và dịch vụ trên thị trường Ở Việt Nam, các biện pháp này đã đựơc áp dụng thành công vào cuối những năm 80, đến những năm 90

2 Giải pháp tác động vào cung.

Kiểm soát chặt chẽ chi phí sản xuất, chi phí lưu thông giá thành và giá

cả đối với các hàng hoá, dịch vụ độc quyền hoặc quan trọng thiết yếu Tập trung chỉ đạo trước hết đối với các ngành chịu tác động lớn do tăng giá, hạn chế tối đa các tác động tiêu cực của sự biến động giá cả tới sản xuất Về phía các doanh nghiệp cần có biện pháp tiết kiệm nghiêm ngặt chi phí sản xuất, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh để ổn định giá sản phẩm bán ra Trước mắt thực hiện tốt chỉ thị thực hiện tiết kiệm 10% xăng dàu của thu tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ chi phí sản xuất và giá bán của các sản phẩm độc quyền, chống tình trạng lợi dụng tăng giá bán phi kinh tế của các doanh nghiệp

Tăng cường năng lực quản lý điều hành thị trường, chống đầu cơ, độc quyền hoặc liên kết độc quyền về gía, lũng đoạn thị trường Mục tiêu là đảm bảo cân đối quan hệ cung cầu trên thị trường trong mọi tình huống, không để mất cân đối cung cầu giữa sản xuất trong nước và nhập khẩum, giữâ các vùng miền, giữa các thời kỳ trong năm Trước mắt cần tập trung quản lý, điều hoà việc thu mua gạo xuất khẩu, có tiến độ xuất khẩu gạo hợp lý, tránh tình trạng tranh mua tranh bán đẩy giá lên Tiếp tục thực hiện chủ trương kiểm soát để phá giá độc quyển trong nhập khẩu và phân phối thuốc chữa bệnh, kỉêm soát chặt chẽ việc phân phối thuốc trong các bệnh viện Có biện pháp kiên quyết chống đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại; sắp xếp lại mạng lưới phân phối lưu thông hàng hoá hợp lý, điều hoà tốt việc lưu thông các mặt hàng hóa thiết

Ngày đăng: 07/03/2018, 12:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w