Tại địa phương có 16 hộ nuôi cá cảnh chủ yếu là cá chép Nhật và một số loại cá khác như ba đuôi, tứ vân, xiêm… Để hiểu rõ hơn về kết quả, hiệu quả nuôi cá kiểng, đề tài phân tích các chỉ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ HỒNG LÀI
HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ CHÉP NHẬT
TẠI XÃ TÂN NHỰT HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH TẾ NÔNG LÂM
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ HỒNG LÀI
HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ CHÉP NHẬT
TẠI XÃ TÂN NHỰT HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Kinh Tế Nông Lâm
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS THÁI ANH HÒA
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2012
Trang 3Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Hiệu quả kinh tế của
mô hình nuôi cá chép Nhật tại xã Tân Nhựt huyện Bình Chánh Thành phố Hồ
Chí Minh” do Phạm Thị Hồng Lài, sinh viên khóa 2008 – 2012, ngành Kinh Tế Nông
Lâm,đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _
Thái Anh Hòa Người hướng dẫn,
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Để có được kết quả như ngày hôm nay tôi xin chân thành cảm ơn
Cảm ơn cha mẹ và gia đình đã sinh con ra, dạy dỗ và nuôi con khôn lớn, tạo mọi điều kiện cho con học tập để con được như ngày hôm nay
Chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, quý thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm TP.HCM, Ban chủ nhiệm và toàn thể quý thầy cô Khoa Kinh Tế đã truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt thời gian học tập
Xin chân thành cảm ơn thầy Thái Anh Hòa, người đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn đến anh Hồng, anh Bình, chị Ly và nhiều cô chú, anh chị trong UBND xã đã giúp đỡ, tạo những điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập
Cảm ơn những người bạn thân yêu của tôi, các bạn đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, động viên an ủi tôi trong những lúc khó khăn
Xin chân thành cảm ơn và tri ân tất cả mọi người!
Trang 5NỘI DUNG TÓM TẮT
PHẠM THỊ HỒNG LÀI Tháng 06 năm 2012 “Hiệu quả kinh tế của mô hình
nuôi cá chép Nhật tại xã Tân Nhựt huyện Bình Chánh Thành phố Hồ Chí Minh”
PHAM THI HONG LAI June 2012 “Economic efficiency of Carp Nishikigoi
Cultivation at Tan Nhut commune Binh Chanh district Ho Chi Minh city”
Tân Nhựt là một xã thí điểm của chương trình nông thôn mới với các mô hình kinh tế phù hợp Trong đó nuôi cá kiểng là một mô hình mới và được bà con quan tâm Tại địa phương có 16 hộ nuôi cá cảnh chủ yếu là cá chép Nhật và một số loại cá khác như ba đuôi, tứ vân, xiêm… Để hiểu rõ hơn về kết quả, hiệu quả nuôi cá kiểng, đề tài phân tích các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất
cá nhằm đưa ra một số đề xuất góp phần nâng cao năng suất cá
Qua thu thập số liệu thứ cấp từ ủy ban xã, niên giám thống kê, sách báo, internet,…và phỏng vấn 16 hộ nông dân nuôi cá chép Nhật, từ những tính toán tổng hợp, phân tích, so sánh đã chứng minh được mô hình nuôi cá chép Nhật là có hiệu quả Chi phí cho một năm sản xuất cá kiểng/1.000m2 là 26.744.559 đồng Sản lượng bình quân của một năm nuôi cá tính trên 1.000m2 là 5.378 con Với mức giá là 2.667 đồng/con thì mỗi 1.000m2 người dân thu được giá trị tổng sản lượng là 54.054.833 đồng, sau khi trừ đi tổng chi phí thì lợi nhuận thu được là 27.310.274 đồng Qua đó tính toán được tỉ suất LN/CP là 1,02 lần và tỉ suất TN/CP là 1,07 lần cho thấy mô hình nuôi cá cảnh mang lại hiệu quả Sau khi tính toán và phân tích hồi quy thì kết luận được các biến như thức ăn, giống, công chăm sóc, chi phí chữa bệnh, học vấn có ảnh hưởng đến năng suất cá
Mô hình nuôi cá kiểng phù hợp với điều kiện tự nhiên và mang lại hiệu quả cho
bà con nông dân Tuy nhiên đa số bà con sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân chưa tiếp cận khoa học kỹ thuật mới Các cán bộ khuyến nông nên chủ động tạo dựng các buổi tập huấn để bà con tham gia, góp phần nâng cao năng suất và đưa mô hình nuôi cá kiểng phát triển
Trang 6MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
DANH MỤC PHỤ LỤC x
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu đề tài 2
1.5 Cấu trúc của luận văn 3
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 4
2.1 Tổng quan về xã Tân Nhựt 4
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 4
2.1.2 Đánh giá chung 11
2.2 Tổng quan về nuôi cá kiểng 11
2.2.1 Lịch sử phát triển nghề cá 11
2.2.2 Đặc điểm cá chép Nhật 13
2.2.3 Thị trường cá kiểng 17
2.3 Tổng quan tài liệu có liên quan 20
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Cơ sở lí luận 21
3.1.1 Giá trị cá cảnh 21
3.2 Các chỉ tiêu kinh tế 21
3.2.1 Doanh thu 21
3.2.2 Thu nhập 22
3.2.3 Lợi nhuận 22
3.3 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế 22
Trang 73.3.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế 22
3.3.2 Tỉ suất lợi nhuận trên chi phí 22
3.3.3 Tỉ suất thu nhập trên chi phí 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 22
3.4.2 Phương pháp xử lí số liệu 23
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Tình hình nuôi cá cảnh của xã Tân Nhựt 25
4.1.1 Hiện trạng nuôi cá cảnh tại huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh 25
4.1.2 Đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng đến năng suất cá 26
4.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội của các hộ nuôi cá cảnh 27
4.2 Phân tích kết quả, hiệu quả sản xuất cá trong một năm/1000m2 30
4.2.1 Tổng hợp chi phí cố định bình quân cho một năm sản xuất cá kiểng/1000m2 30
4.2.2 Tổng hợp chi phí vật chất bình quân cho một năm sản xuất cá kiểng/1000m2 33
4.2.3 Tổng hợp chi phí lao động cho một năm sản xuất cá kiểng 35
4.2.4 Tập hợp chi phí cho một năm sản xuất cá kiểng/1000m2 37
4.2.5 Kết quả sản xuất của một năm nuôi cá/1000m2 39
4.2.6 Hiệu quả sản xuất của một năm nuôi cá/1000m2 40
4.3 Phân tích so sánh hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá ghép và mô hình nuôi cá kiểng 41
4.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất 41
4.4.1 Xác định mô hình hồi qui hàm sản xuất 41
4.4.2 Kiểm định tính hiệu lực của mô hình 43
4.4.3 Báo cáo kết quả phân tích hồi quy 46
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
5.1 Kết Luận 48
5.2 Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 8NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Hiện Trạng Sử Dụng Đất 6
Bảng 2.2 Dân Số Xã Tân Nhựt Năm 2010 7
Bảng 2.3 Hộ Nông Nghiệp, Lao Động, Nhân Khẩu Nông Nghiệp Qua Các Năm 7
Bảng 2.4 Dân Số và Lao Động, 2010 9
Bảng 4.1 Diện Tích Nuôi Trồng Thủy Sản Huyện Bình Chánh 25
Bảng 4.2 Quy Mô Diện Tích 26
Bảng 4.3 Chất Lượng Nước Nuôi Cá 27
Bảng 4.4 Quy Mô Nhân Khẩu 28
Bảng 4.5 Số Năm Kinh Nghiệm 28
Bảng 4.6 Độ Tuổi của Người Trực Tiếp Nuôi Cá 29
Bảng 4.7 Trình Độ Học Vấn 29
Bảng 4.8 Chi Phí Thuê Đất Canh Tác, Chi Phí Đào Ao và Vét Ao/1000m2 31
Bảng 4.9 Tình Hình Tài Sản Lưới Sử Dụng của Nông Hộ/1000m2 31
Bảng 4.10 Tình Hình Tài Sản Máy Sục Khí của Nông Hộ/1000m2 31
Bảng 4.11 Tình Hình Tài Sản Bể Ấp Trứng của Nông Hộ/1000m2 32
Bảng 4.12 Tổng Hợp Chi Phí Cố Định Cho Một Năm Nuôi Cá/1000m2 32
Bảng 4.13 Chi Phí Thức Ăn/1000m2 33
Bảng 4.14 Chi Phí Giống/1000m2 33
Bảng 4.15 Tổng Hợp Chi Phí Nhiên Liệu, Chi Phí Chữa Bệnh/1000m2 34
Bảng 4.16 Tổng Hợp Chi Phí Vật Chất Cho Một Năm Nuôi Cá/1000m2 34
Bảng 4.17 Tổng Hợp Chi Phí Lao Động Đào Ao, Vét Ao/1000m2 35
Bảng 4.18 Tổng Hợp CP Lao Động Chăm Sóc cho Một Năm Nuôi Cá/1000m2 36
Bảng 4.19 Tổng Hợp Chi Phí Lao Động Một Năm Nuôi Cá/1000m2 37
Bảng 4.20 Tập Hợp Chi Phí cho Một Năm Nuôi Cá/1000m2 38
Bảng 4.21 Giá Trị Tổng Sản Lượng của Một Năm Nuôi Cá/1000m2 39
Bảng 4.22 Kết Quả Sản Xuất của Một Năm Nuôi Cá/1.000m2 39
Bảng 4.23 Hiệu Quả Sản Xuất của Một Năm Nuôi Cá/1000m2 40
Bảng 4.25 Kết Quả của Mô Hình Hồi Quy Sau Khi Bỏ Biến X4 và X8 43
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Cơ Cấu Giá Trị Đóng Góp của Các Ngành trong Cơ Cấu Đóng Góp 10 Hình 2.2 Một Số Màu Sắc Cá Chép Nhật 15 Hình 2.3 Bố Trí Bể Cho Cá Sinh Sản 16
Trang 11DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ Lục 1: Kết Suất Mô Hình Hồi Qui Ban Đầu
Phụ lục 2: Kết Suất Mô Hình Hồi Qui Sau Khi Bỏ Biến X4 và X8 Phụ Lục 3: Kết Suất Hình Hồi Qui Sau Khi Bỏ Biến
Phụ lục 4: Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến
Phụ lục 5: Kiểm Tra Phương Sai của Sai Số Thay Đổi
Phụ lục 6: Bảng Câu Hỏi
Trang 12có khả năng cạnh tranh cao; nông thôn hiện đại, văn minh; nông dân có đời sống vật chất và tinh thần phát triển, không quá chênh lệch so với đô thị và có đóng góp hiệu quả vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố Ban chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới thành phố đang khẩn trương triển khai nhiệm vụ được giao Ngoài xã Tân Thông Hội (Củ Chi) đại diện vùng ven đô ở các tỉnh phía Nam, thành phố chọn 5 xã: Tân Nhựt (Bình Chánh), Xuân Thới Thượng (Hóc Môn), Lý Nhơn (Cần Giờ), Nhơn Đức (Nhà Bè) và Thái Mỹ (Củ Chi) làm các xã thí điểm xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tại địa bàn Tân Nhựt, Bình Chánh đã xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp phù hợp với nông nghiệp đô thị đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường, dịch bệnh – mang lại hiệu quả kinh tế cao Chẳng hạn, mô hình Nuôi cá kiểng, Trồng các loại rau ăn an toàn, Trồng cây ăn trái – rau kết hợp với du lịch sinh thái, Nuôi cá thâm canh, Trồng lúa đặc sản – Rau, …
Nuôi cá kiểng có thể xem là một mô hình nông nghiệp hiện đại Trước đây nghề nuôi cá kiểng chỉ tồn tại với mục đích chính là phục vụ cho nhu cầu giải trí đơn thuần của một số ít người đam mê cá kiểng và cũng chưa thể phát triển rộng rãi như hiện nay, vì việc nuôi cá kiểng đòi hỏi những hiểu biết nhất định về kỹ thuật cho từng loại
cá Trong thời gian gần đây, tốc độ đô thị hóa nhanh, cuộc sống người dân ngày càng được nâng cao vì vậy nghề nuôi cá kiểng cũng theo đó mà phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, thư giãn ngày càng cao của mọi tầng lớp nhân dân Nghề nuôi cá
Trang 13kiểng đã tỏ ra khá phù hợp với chương trình nông nghiệp đô thị ven đô Nghề này thích hợp ở chỗ không chiếm nhiều diện tích, tận dụng được mặt bằng, không gây ô nhiễm môi trường Hiện nay, việc nuôi cá kiểng không chỉ là để phục vụ cho việc giải trí đơn thuần mà nó đã trở thành một mô hình kinh tế mang lại thu nhập cao, ổn định cho nhiều hộ gia đình
Trên địa bàn xã Tân Nhựt đang phát triển mô hình nuôi cá kiểng, nhiều nhất là loại cá chép Nhật Nuôi cá kiểng mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng nếu áp dụng tại
xã Tân Nhựt thì hiệu quả như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến năng suất cá? Làm thế nào để nâng cao năng suất? Thu nhập và lợi nhuận cuối cùng của bà con nông dân nhận được là bao nhiêu? Đời sống của họ có thực sự được cải thiện?
Từ những vấn đề nêu trên, được sự cho phép của khoa kinh tế dưới sự hướng dẫn của thầy Thái Anh Hòa, đề tài “ Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá chép Nhật tại xã Tân Nhựt huyện Bình Chánh Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất
- Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá chép Nhật
- Đề xuất một số ý kiến để nâng cao hiệu quả của mô hình
1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài có thể giúp người dân sử dụng tốt hơn nguồn lực sẵn có, ứng dụng vào quá trình sản xuất một cách hợp lí để từng bước cải thiện đời sống người dân nuôi cá kiểng
1.4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi không gian: Xã Tân Nhựt, Huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí
Minh
Trang 14Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng
3/2012 đến 6/2012
Đối tượng nghiên cứu: Cá chép Nhật
1.5 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được chia thành 5 chương trong đó:
Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Giới thiệu một số khái niệm chung về chỉ tiêu kinh tế, chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là phần chính của đề tài
Trình bày về tình hình nuôi cá kiểng tại Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và địa bàn Tân Nhựt, Bình Chánh nói riêng
Đánh giá hiện trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cá, phân tích các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
Phía Bắc giáp xã Lê Minh Xuân và phường Tân Tạo
Phía Đông giáp xã Tân Kiên
Phía Tây giáp xã Bình Lợi và xã Tân Bửu, huyện Bến Lức tỉnh Long An
Phía Nam giáp Thị trấn Tân Túc và xã Tân Bửu, huyện Bến Lức tỉnh Long An
Xã Tân Nhựt được chia ra làm 5 ấp: 1, 2, 3, 4, 6 (do ấp 5 sát nhập với ấp 2) Diện tích tự nhiên
Xã có diện tích tự nhiên là 2.344,07 ha, chiếm 9,28% diện tích tự nhiên của huyện; trong đó diện tích sản xuất nông nghiệp là 1.841,91 ha, chiếm 78,57% diện tích
tự nhiên của xã
Đặc điểm địa hình, khí hậu
Địa hình xã Tân Nhựt tương đối bằng phẳng, hơi dốc từ phía Đông sang phía Tây và từ phía Bắc xuống phía Nam, nơi thấp nhất là vùng giáp kênh đê bao Long An
Tân Nhựt thuộc vùng trũng thấp, đầm lầy của huyện Bình Chánh có cao độ từ 0,5m - 1m, hệ thống kênh rạch khá chằng chịt
Khí hậu (gió, mưa, nắng, nhiệt độ, độ ẩm …): Xã Tân Nhựt thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo
Trang 16Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình trong năm: 26,60C
Nhiệt độ cao nhất: 360C (vào tháng 4)
Nhiệt độ thấp nhất: 210C (vào tháng 12)
Lượng mưa
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mưa nhiều vào tháng 6 đến tháng 9, lượng mưa khoảng 250-310 mm/tháng Số ngày mưa khoảng 151 ngày trong năm
Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.300 – 1.700mm
Tuy nhiên, trong mùa mưa vẫn có những tháng hạn như: hạn Bà Chằng tháng 7
- 8 hàng năm
Gió
Chủ yếu là gió mùa phân bố vào các tháng:
Từ tháng 2-5 gió Đông Nam hoặc Nam, vận tốc trung bình 1,5-2,5 m/s
Từ tháng 5-9 thịnh hành gió Tây hoặc Tây – Nam, vận tốc trung bình 1,5-3 m/s
Từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau: gió Đông Bắc, vận tốc trung bình 1-1,5 m/s
so với năm 2010 là do quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đã làm cho
Trang 17diện tích nông nghiệp ngày càng thu hẹp, bên cạnh đó là việc chuyển mục đích sử dụng đất để làm vườn, nhà ở…
Bảng 2.1 Hiện Trạng Sử Dụng Đất
ĐVT: Ha
năm 2010 năm 2012
1.1 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp 1.633,11 1.464,70
1.1.1.2 Đất trồng cây hàng năm còn lại 81,60 104,30
ha đất nông nghiệp khác); đất phi nông nghiệp 483,58 ha chiếm 20,63% diện tích đất của xã, đất chưa sử dụng là 18,58 ha chiếm 0,79%
Trang 18Tài nguyên nước
Trên địa bàn xã có 31 kênh, rạch lớn với tổng chiều dài 48.635 km, phân bố
tương đối đồng đều ở các ấp Đây là điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và
nuôi trồng thuỷ sản
Với tổng diện tích mặt nước trên địa bàn toàn xã tương đối lớn Trong đó chủ
yếu là diện tích ao, hồ phục vụ nuôi trồng thuỷ sản là 197,5 ha (chiếm khoảng
91,13%), còn lại là diện tích sông, rạch
c) Nhân lực
Dân số
Bảng 2.2 Dân Số Xã Tân Nhựt Năm 2010
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Bình Chánh,2010 Dân số toàn xã tính đến ngày 31/12/2010 là 20.869 người, 4.942 hộ gia đình,
mật độ dân số bình quân 889 người/km2
Bảng 2.3 Hộ Nông Nghiệp, Lao Động, Nhân Khẩu Nông Nghiệp Qua Các Năm
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Bình Chánh,2010 Trong đó:
Số hộ nông nghiệp: 1.150 hộ với 4.851 nhân khẩu chiếm 23,27 %
Số hộ phi nông nghiệp và dịch vụ khác: 3.792 hộ với 15.981 nhân khẩu chiếm 76,73%
Dân số của xã phân bố không đồng đều tại các ấp, chủ yếu tập trung dọc theo
các kênh rạch, trục đường chính trong xã thuận lợi cho sản xuất và kinh doanh Công
Trang 19tác dân số kế hoạch hoá gia đình được thường xuyên quan tâm tuyên truyền nên trong thời gian qua đã đạt được những kết quả tốt (65%)
Tuy nhiên, xã Tân Nhựt phía Bắc có cụm khu công nghiệp Lê Minh Xuân và phía Nam đang trình phê duyệt xây dựng Khu dân cư tam giác xã Tân Nhựt với diện tích 83,54 ha Vì vậy một số ấp nằm trong khu vực này thời gian tới sẽ có tốc độ đô thị hoá nhanh, điều này tác động về cơ cấu kinh tế và hình thành các khu vực công nghiệp, khu dân cư tập trung, khu vực kinh tế,…Sẽ dẫn đến sự thay đổi nhất định về việc sử dụng đất trên địa bàn xã, từ đó làm thay đổi một phần về phân bố dân cư, phát triển sản xuất
Lao động
Số người trong độ tuổi lao động của xã năm 2010 là 16.313 người chiếm tỉ lệ 78,31% trong đó lao động trong nông nghiệp là 6.849 người chiếm 41,98% Điều này cho thấy lực lượng trong lĩnh vực nông nghiệp khá dồi dào Tuy nhiên trên địa bàn ngày càng nhiều xí nghiệp, nhà máy nên nhu cầu lao động phi nông nghiệp ngày càng tăng, cảnh báo cho sự thiếu lao động nông nghiệp trong tương lai
Trang 20Bảng 2.4 Dân Số và Lao Động, 2010
Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt Lao động phân theo kiến thức phổ thông như sau:
+ Bậc tiểu học: chiếm 60%, lao động chủ yếu ở lứa tuổi 45 – 60
+ Bậc trung học cơ sở: chiếm 27,96%
+ Bậc trung học phổ thông: chiếm 12,04%
Tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên môn: Trong 16.313 lao động của xã, chỉ có
3.341 lao động (chiếm 20,48% tổng số lao động) đã qua đào tạo chuyên môn, phân ra
như sau:
+ Sơ cấp (3 tháng trở lên): 67,15%; tỷ lệ trong nông nghiệp 5,21%
+ Trung cấp: 24,25%, tỷ lệ trong nông nghiệp 4,75%
+ Đại học: 8,60%, tỷ lệ trong nông nghiệp 0,04 %
2.1 Đang đi học (dưới độ tuổi lao động) 2.073 85,95
Trang 21Hình 2.1 Cơ Cấu Giá Trị Đóng Góp của Các Ngành trong Cơ Cấu Đóng Góp
Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt
Cơ cấu giá trị đóng góp của các ngành không đều Cao nhất là nông nghiệp chiếm 75,42%, tiếp theo là TM, DV chiếm 13,76% và thấp nhất là CN, TTCN chiếm 10.82% Điều này cho thấy nông nghiệp là ngành chủ lực của xã, thương mại, dịch vụ, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tuy có phát triển nhưng chưa mạnh
Thu nhập bình quân đầu người: 15 triệu đồng/người/năm
Số lượng hộ nghèo: theo tiêu chí 12 triệu đồng/người/năm là 1,048 hộ chiếm 17.87 % tổng số hộ toàn xã (5,864 hộ) Nếu theo tiêu chí của Thành phố giai đoạn 1 là
6 triệu đồng/người/năm: chỉ còn 28 hộ, chiếm khoảng 0.48 % trên tổng số hộ của xã (5,864 hộ)
Nhìn chung, nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế, chiếm khoảng 75.42% tổng thu nhập, chủ yếu các ngành (nuôi cá, trồng rau, sản xuất phôi nấm bào ngư, nấm linh chi, trồng lúa, cây ăn trái…)
Hình thức tổ chức sản xuất
Số doanh nghiệp: có 328 doanh nghiệp, cơ sở chế biến, sản xuất kinh doanh trên địa bàn chủ yếu thuộc lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp (khu công nghiệp Lê Minh Xuân), thương mại dịch vụ
Kinh tế tập thể: 04 tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp (cá, rau, se nhang) và 01 hợp tác xã Ngày Mới thành lập vào tháng 6/2011 nhưng hiện nay vẫn chưa đi vào hoạt động
Trang 222.1.2 Đánh giá chung
Là xã thuần nông, trong thời gian tới do tác động của quá trình đô thị hoá và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, trong đó sự phát triển các lĩnh vực kinh tế công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp – Thương mại dịch vụ sẽ tác động một phần đến
sự phát triển nông nghiệp tại địa phương Một số lao động nông nghiệp chuyển dịch sang lao động công nghiệp, thương mại dịch vụ
Lao động nông nghiệp tham gia sản xuất chính đa số đã lớn tuổi tuy có kinh nghiệm nhưng khả năng tiếp thu kỹ thuật chậm và năng suất lao động thấp
Đào tạo nghề cho lực lượng trong độ tuổi lao động
Đội ngũ kỹ sư nông nghiệp còn hạn chế, việc đưa kỹ thuật về tận các hộ dân cũng lúng túng và chưa có kế hoạch cụ thể
Tình hình thực hiện chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn xã trong thời gian qua được các cấp chính quyền, địa phương tạo mọi điều kiện quan tâm, tuy nhiên hiệu quả chưa cao do hạn chế trong việc tìm ra cây, con giống mới phù hợp điều kiện địa phương; việc tiêu thụ nông sản phẩm cây trồng vật nuôi còn gặp nhiều khó khăn vì nông dân chủ yếu nuôi trồng dưới dạng nhỏ lẻ không đáp ứng được yêu cầu của thị trường, nông dân chưa mạnh dạn đầu tư mở rộng hay chuyển đổi sang cây trồng vật nuôi khác, chưa đẩy mạnh được hoạt động các tổ hợp tác Quan hệ sản xuất chưa được cải thiện, kinh tế tập thể chưa phát huy hiệu quả
2.2 Tổng quan về nuôi cá kiểng
Trang 23b) Thời kỳ thập niên 60
Vào năm 1960, ngoài cá đá, cá tàu, hắc kim, bảy màu, hồng kiếm… còn có cánh buồm, tứ vân, hồng nhung, ông tiên, heo, tai u (tai tượng)… Lúc này đã có bao ni-lông để đóng gói, vận chuyển cá cảnh đã biết bơm ôxy…
Thức ăn cá cảnh vào đầu thập niên 60 chủ yếu là lăng quăng đỏ (sau gọi là bo
bo, moina) và lăng quăng đen Đến năm 1965 thì trùn chỉ xuất hiện, nhưng phải 5 năm sau đó, khoảng 1970, thì trùn chỉ mới phổ biến và được nhiều người biết
Vào năm 1960, thị trường hồ kiếng cho cá cảnh đã xuất hiện, đến năm 1965 thì xuất hiện hồ kiếng nẹp sắt, lượng hàng xuất đi miền trung khá mạnh…
Đặc điểm giai đoạn này là các loài cá tự nhiên (còn gọi là cá sông) đã xuất hiện khá đa dạng trong nuôi cảnh, và đã bắt đầu có xuất khẩu cá sông đi nước ngoài từ năm
1962 Trong nước cũng có người chơi cá sông tự nhiên, còn được gọi là “cá lạ”, bao gồm các loài: chuột, ét mọi, chốt các loại, chạch các loại, sơn, nô lệ, he, thủy tinh, trèn, ngựa nam, hô, bã trầu kim cương…
Vào năm 1963, ông Tư Hạnh là người đầu tiên nhập 40 con cá bảy màu đuôi tam giác với giá 11.000 đồng, một số tiền khá lớn vào thời đó Từ đó cho đến 5 năm sau, thị trường chỉ bán cá bảy màu đực, không bán con cái…
Vào năm 1963 đã sản xuất được cá heo (sau còn gọi tai tượng phi), và vào năm
1964 đã sản xuất cá tai tượng Nam Dương (sau gọi là tai tượng Việt Nam)
Từ năm 1967 trở đi, thị trường cá cảnh phát triển mạnh, hàng sản xuất không kịp bán, một phần do cá đã xuất được bằng đường hàng không nên đi xa với lượng nhiều Cá đóng hàng đi trong nước rất mạnh, bán nhiều từ Đà Nẵng tới Phan Thiết, mạnh nhất là xuất đi Đà Nẵng Cá tàu vẫn là hàng chủ lực, bên cạnh các loài cá phổ biến khác như ông tiên, tứ vân, ngựa, cánh buồm, hắc mô ly, hồng bửu xẹt, làm bửu xẹt, đầu lân kim cương, kiếm, hòa lan, cá kiết, phụng hoàng, kim tiền báo… Thời kỳ này cá cảnh có giá trị rất lớn, đóng một thùng hàng cá cảnh có thể mua được một xe honda (33.500 đồng/chiếc) Thời này có ba cơ sở lớn nhất là Ba Đức, Tư Hạnh và Ba Hóa
c) Thời kỳ thập niên 70
Thời kỳ đầu thập niên 70 có nhiều kiểu hình cá cảnh mới được nhập nội góp phần làm phong phú thị trường trong nước
Trang 24Giai đoạn sau 1975, những cơ sở lớn có ao hồ đa số chuyển sang làm cá thịt, riêng những cơ sở gia đình qui mô nhỏ vẫn trụ lại và tiếp tục sản xuất, duy trì nguồn giống…
d) Thời kỳ thập niên 80 đến nay
Giai đoạn từ 1990 trở đi bắt đầu nhập nhiều loài cá cảnh mới về, do có nhiều khách nước ngoài vô đặt hàng Từ 1990 cá cảnh bắt đầu xuất khẩu nhiều đi nước ngoài, đầu tiên là Đài Loan, sau đến Pháp, Singapore, Tiệp, Đức, Mỹ…
Từ sau năm 1990 là giai đoạn bùng phát nhiều loài và kiểu hình cá kiểng mới: trân châu các loại, tai tượng đuôi đỏ, hải tượng, koi, phi phụng, vương miện, sấu mỏ vịt, thanh tử quang, hắc kỷ, neon, cầu vồng, rambo…
2.2.2 Đặc điểm cá chép Nhật
a) Nguồn gốc
Cá chép màu có nguồn gốc từ cá chép hoang dại ở Nhật Bản và được gọi là cá“koi” Nhật Bản có một từ đặc biệt để gọi cá hoang dại là “Magoi”chép màu và con lai “magoi” gọi là “koi” Những con chép “koi” này được lai tạo để tạo màu gọi là Nishiki
Tất cả có hàng trăm vạn cá”koi”có màu sắc khác nhau nhưng đều có tên khoa học là Cyprinus carpio Theo “Manual to Nishikikoi” của Takio kuroki thì cá chép Nhật xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc cách đây 2.500 năm Có thể người Trung Quốc tạo ra màu sắc đốm trên cơ thể cá, còn người Nhật thì phát hiện ra chúng và cũng là người gọi chúng bằng cái tên Nishikigoi (trích bởi Phan Tấn Phước, Diệp Thị Quế Ngân, 2011)
Người Nhật là người đầu tiên tạo ra những thay đổi tự nhiên và phát triển chúng
xa hơn Những người nông dân trồng lúa ở đây sử dụng chúng làm thức ăn như các loài cá khác Nhưng vào các năm 1820, 1830 họ bắt đầu cho đẻ một vài con cá chép theo sự hấp dẫn về thẩm mỹ, đa dạng về màu sắc và giữ chúng trong nhà như những vật cưng Từ đó niềm yêu thích cá “koi” lan rộng ra nhiều vùng và cả nước Nhật Niềm yêu thích cá “koi” ở Nhật càng tăng cao hơn khi mà Hoàng đế Hirohito được tặng cá “koi” vào năm 1914 Hầu hết những ai có cùng sở thích là cá “koi” đều xem Niigata là nơi sinh ra cá Nishikigoi Ngày nay, có hơn 100 loài có màu sắc khác nhau
ở cá “koi”
Trang 25Nhưng theo Mills (1993) và Võ Văn Chi (1993) (trích bởi Phan Tấn Phước, Diệp Thị Quế Ngân, 2011) cho rằng cá chép Nhật có nguồn gốc từ Nhật Bản được du nhập vào Việt Nam những năm gần đây, là giống cá nuôi hồ lý tưởng.Vì vậy, ở Nhật người ta có cả nghề truyền thống lâu đời về các vườn cây thủy sinh Tuy nhiên, vẫn chưa có tài liệu nào thống nhất ghi nhận nguồn gốc xuất xứ của cá chép Nhật
Theo Mills (1993) cho rằng cá chép Nhật thuộc bộ : Cypriniformes, họ : Cyprinidae, giống : Cyprinius, loài : Cyprinus carpio và có tên tiếng Anh là Common carp Ở Việt Nam thì được gọi là Cá Chép Nhật, hay người ta thường gọi loại cá này bằng tên Nhật “Nishiki Koi” có nghĩa là cá chép có màu gấm (TS Trần Viết Mỹ, 2010)
b) Phân bố
Cá chép có phân bố tự nhiên ở cả châu Âu và châu Á Riêng cá chép Koi có nguồn gốc từ cá chép đen (black common carp hay Magoi) được mang từ Trung Quốc sang Nhật và được người Nhật tạo ra đột biến màu sắc với ba dạng màu đầu tiên là koi
đỏ, trắng và vàng nhạt từ năm 1804 – 1830 (McDowall et al., 1989; trích bởi Phan Tấn Phước, Diệp Thị Quế Ngân, 2011) Cá chép vây dài được tạo ra ở Nhật vào thập niên
80 và được dự đoán là kết quả lai tạo giữa cá koi và cá chép vây dài Indo Môi trường nuôi sẽ ảnh hưởng nhiều đến sự tồn tại và tăng trưởng của cá Cá chép Nhật có thể sống trong môi trường nước có độ mặn 14o/oo, hàm lượng oxy thấp nhất trong bể nuôi
là 2mg/L, độ pH từ 4 – 9, nhiệt độ nước 20 – 27oC (Võ Văn Chi, 1993; trích bởi Phan Tấn Phước, Diệp Thị Quế Ngân, 2011) Nhưng theo Lê Thị Thanh Muốn (2001; trích bởi Phan Tấn Phước, Diệp Thị Quế Ngân, 2011) thì cá chép Nhật chỉ có thể chịu được
độ mặn 2 – 6 o/oo với độ pH từ 6 – 7,5 và ngưỡng oxy là 0,245 mg/L
Môi trường nước thích hợp nhất cho cá là pH = 7,6 và có độ cứng là 12 (theo thang độ cứng của Đức), nhiệt độ 19oC, và cá có thể sống được ở mọi tầng nước (Phan Tấn Phước, Diệp Thị Quế Ngân, 2011) Cá thích nước trong sạch và ngưỡng oxy cao
c) Hình thái
Cá chép Nhật có thân dẹp bên, đầu thuôn, có hai đôi râu Miệng hướng về phía trước khá rộng, khởi điểm của vây lưng nằm sau khởi điểm của vây bụng, vây hậu môn cao gần bằng vây lưng Vây đuôi có hai thùy bằng nhau, tia cứng cuối cùng của vây lưng và vây hậu môn đều có răng cưa ở cạnh trong Cá trong tự nhiên thường có
Trang 26màu trắng xám, lưng màu tối, bụng màu sáng, cạnh các vây màu đỏ Tuy nhiên do điều kiện sống khác nhau nên loài cá chép ở các vùng khác nhau thể hiện biến dị rất rõ, nhất là về hình dạng và số lượng vây, màu sắc, kích thước và hình dạng toàn thân (Phan Tấn Phước, Diệp Thị Quế Ngân, 2011)
d) Màu sắc
Theo Mills (1993; Dương Hồng Nga, 2003; trích bởi Phan Tấn Phước, Diệp Thị Quế Ngân, 2011) cho rằng có thể phân biệt cá chép Nhật theo màu sắc và vẩy Cá chép Nhật có màu sắc rất đa dạng với sự phối hợp của bốn màu đỏ, vàng, đen, trắng đã gây được sự chú ý đến người nuôi cá cảnh Cá chép Nhật hai màu Koi bicolore, có màu trắng với các mảng đỏ gọi là Kohaku Cá có màu vàng kim hay bạc gọi là Hariwaki
Cá chép Nhật ba màu Koi tricolore, trên thân có màu vàng cam, đen đốm vẩy lớn Doitsu gọi là loài cá chép Agasi, ba màu truyền thống, nhiều đốm đỏ và đen trên thân màu trắng gọi là Taisho sanke Cá có màu vàng là Mongrel koi Có nhiều kiểu màu sắc
ở cá chép Việt Nam và nhất là ở cá chép Nhật như màu đỏ, vàng gần như trắng, tím, nâu, đen và cả đốm nhiều màu Và ở Việt Nam người ta hoàn toàn chưa nghiên cứu gì các kiểu màu cá chép (Kirpitsnikov, 1977; trích bởi Phan Tấn Phước, Diệp Thị Quế Ngân, 2011)
Hình 2.2 Một Số Màu Sắc Cá Chép Nhật
Nguồn: Fishviet, 2010
Trang 27e) Dinh dưỡng
Cá chép Nhật là loài cá ăn tạp Từ thức ăn xanh, giáp xác, nhuyễn thể đến mùn
bã hữu cơ, chất đáy Thị trường cũng có thức ăn viên dành riêng cho cá koi ở hai dạng nổi và chìm tùy theo đặc điểm ao hồ hay bể kính Thỉnh thoảng bổ sung thức ăn lên màu cho cá Một số loại thức ăn tự nhiên ảnh hưởng đến sự lên màu của cá như tép bò, thịt bò, trùn chỉ, moina (bo bo),… và một số loại thức ăn chế biến dùng để ương nuôi
cá chép Nhật như cám bắp, bột cá…(Phan Tấn Phước, Diệp Thị Quế Ngân, 2011)
f) Sinh sản
Cá chép 8 – 10 tháng tuổi bắt đầu đẻ được Cá đẻ tự nhiên trong ao nuôi Mùa
vụ sinh sản chính là mùa mưa nhưng hiện nay do cá chép đã được thuần hóa nên có thể sinh sản tốt quanh năm Thời gian tái phát dục nhanh, khoảng 15 ngày đối với cá đực và 20 – 30 ngày đối với cá cái nhưng cũng tùy thuộc thức ăn, chế độ nuôi vỗ, nhiệt
độ nước và các yếu tố môi trường khác như lượng oxygen hòa tan (DO), ánh sáng, độ
pH, Cá đẻ trứng dính vào cây cỏ thủy sinh chìm trong nước và có tập tính ăn trứng sau khi đẻ Sức sinh sản thực tế của cá chép dao động từ 100.000 – 120.000 trứng/kg
Trang 28quả cao Riêng cá koi bướm cũng thích hợp với bể kính do dáng vẻ thướt tha của cá
Bể kính cần đủ rộng để cá có không gian bơi lội, đáy bể trải sỏi với hệ thống lọc nước
và sục khí đi kèm Cá chép ưa thích di chuyển thành đàn, nên nuôi nhóm ít nhất là 5 con Cá thích hợp với không gian rộng, nước chảy nhẹ hoặc yên tĩnh, đáy ao có mùn
bã thực vật (Phan Tấn Phước, Diệp Thị Quế Ngân, 2011)
2.2.3 Thị trường cá kiểng (Sở NN & PTNT TP.HCM, 11/2005)
a) Tình hình sản xuất năm 2011
Sản lượng
Sản lượng đạt 65 triệu con, tăng 8,5% so với 2010 với 283 cơ sở sản xuất cá cảnh các loại Giá trị tính theo giá thực tế năm 2011 là 482,3 tỷ đồng, tăng 80 % so với cùng kỳ
Đối tượng sản xuất
Đối tượng sản xuất kinh doanh với hơn 60 loài, trong đó chủng loại chính gồm
có 36 loài nuôi sinh sản và 14 loài khai thác tự nhiên thuần dưỡng làm cá cảnh, còn lại khoảng 10 loài có số lượng tiêu thụ thấp Các loài chiếm ưu thế như cá Chép Nhật, Bảy Màu, Hòa Lan, Dĩa, Xiêm, Ông Tiên, Tứ Vân, Hồng Kim, Hắc Kim, Bạch Kim, v.v Cơ bản theo 3 nhóm chính: Nhóm cá nuôi, thuần dưỡng trong ao đất ( Neon, Cá Chép Nhật, Vàng, Tứ Vân, Hồng Kim, Hắc Kim, Phượng Hoàng, các loại cá Sặc, ); Nhóm cá nuôi thuần dưỡng trong bể xi-măng hoặc bể kiếng ( cá Dĩa, Ông Tiên, Xiêm, Bảy Màu, Mang Rổ, Nâu, Thủy Tinh,…); Nhóm cá khai thác tự nhiên thuần dưỡng (
cá Mang Rỗ, Nóc, Thủy Tinh, Lìm Kìm, Chạch, cá Nâu, cá Sặc, cá Lòng tong v.v ) Khu vực sản xuất
Do ảnh hưởng mạnh của đô thị hoá và ô nhiễm nguồn nước tự nhiên nên các cơ
sở sản xuất cá cảnh trước đây khu vực quận 8, 12, Gò Vấp, Thủ Đức có xu hướng phát triển mạnh và tập trung ở các khu vực ngoại thành như: Quận 9, 12, Bình Chánh, Củ Chi…
b) Tình hình kinh doanh, xuất - nhập khẩu năm 2011
Sản lượng xuất khẩu cá cảnh hàng năm khoảng 10 - 15% sản lượng sản xuất Năm 2011 xuất khẩu 8.861.400 con tăng 17% so với cùng kỳ
Đối tượng xuất khẩu chính bao gồm các loài: Cá Neon các loại (30,84%) , Cá Moly, Bình Tích, Trân Châu (17,12%), cá Hòa Lan, Hồng Kim, Hạt Lựu (12,78%), Cá Bảy Màu các loại (10,04%), cá Tỳ Bà các loại (5,33%), cá Nóc các loại (3,33%) còn lại là hơn 70 loài cá cảnh và sinh vật khác
Trang 29Thị trường xuất khẩu chính bao gồm: thị trường Châu Âu: 72,9% (trong đó: các nước chiếm tỷ lệ cao là Đức: 23,2%, Cộng Hòa Séc: 11,8%, Nga: 10,4%, Anh: 6%); thị trường Mỹ: 14,7%, thị trường châu Á: 12,4% (trong đó: các nước chiếm tỷ lệ cao gồm Singapore: 7%, Nhật 2,7%)
c) Dịch vụ cho nuôi cá cảnh
Dịch vụ cho nuôi, sản xuất và cả người chơi cá cảnh khá phong phú như bể kiếng, máy thổi khí, đá bọt khí, máy lọc nước tuần hoàn, đèn trang trí, cây cảnh giả, hòn non bộ cho đến thuốc thuỷ sản, thức ăn tổng hợp dạng viên, dạng bột…chủ yếu
là nhập từ Trung Quốc có giá khá rẻ phục vụ cho nghề nuôi cá cảnh Thiết kế, trang trí
hồ cá cảnh, thủy sinh Đây là lĩnh vực mang lại doanh thu và lợi nhuận cao nhưng sản xuất và cung cấp các loại dịch vụ của thành phố còn rất hạn chế
d) Kế hoạch phát triển cá cảnh năm 2012
Định hướng và mục tiêu phát triển cá cảnh giai đoạn 2011 - 2015
Định hướng
Duy trì khu vực sản xuất cá cảnh ở các quận nội thành và quận ven quận 8, quận 12, quận 9 và Gò vấp đồng thời phát triển mạnh nuôi cá cảnh ở các khu vực có khả năng tập trung cao huyện Củ Chi, Bình Chánh
Hình thành khu vực chuyên sâu về nghiên cứu lai tạo cá cảnh trong Khu Nông nghiệp Công nghệ cao tại huyện Củ Chi
Nghiên cứu phát triển cá tự nhiên dùng làm cá cảnh (chọn lọc, thuần dưỡng, sinh sản nhân tạo) và lai tạo giống loài mới có giá trị kinh tế cao
Xây dựng hệ thống sản xuất cá cảnh thân thiện với môi trường, an toàn dịch bệnh, phục vụ xuất khẩu
Mục tiêu cụ thể
Đến năm 2015: sản lượng cá cảnh đạt 100 triệu con, xuất khẩu 20 - 30 triệu con; kim ngạch ước 30 - 40 triệu USD Tất cả các cơ sở sản xuất cá cảnh xuất khẩu đều được giám sát dịch bệnh đảm bảo đủ điều kiện xuất khẩu sang thị trường Mỹ và
EU đối với những đối tượng bắt buộc phải giám sát
Hình thành trung tâm giao dịch hoặc siêu thị cá cảnh từ 2 chợ cá cảnh hiện nay
là khu vực đường Nguyễn Thông – Lý Chính Thắng, quận 3 và đường Lưu Xuân Tín, quận 5
e) Kế hoạch phát triển cá cảnh 2012
Sản lượng ước đạt 70 triệu con, xuất khẩu 15 triệu con
Trang 30Giải pháp
Giải pháp về quy hoạch
Phối hợp huyện Củ Chi: Điều chỉnh qui hoạch các khu vực ven các hệ thống kênh Đông như xã Phước Hiệp, Trung An phát triển cá cảnh vì rất thuận lợi cho việc cấp nước sạch ương, nuôi cá cảnh
Phối hợp huyện Bình Chánh: Điều chỉnh qui hoạch sản xuất tập trung ở một số
xã Bình Lợi, Hưng Long, Phong Phú, Tân Nhựt
Giải pháp về giống và khoa học kỹ thuật
Tiếp tục nghiên cứu khai thác, thuần dưỡng và sinh sản nhân tạo một số loài cá
Giải pháp thị trường tiêu thụ, xúc tiến thương mại
Trung tâm Tư vấn và Hỗ trợ Nông nghiệp triển khai thực hiện: Nghiên cứu, tổ chức đoàn tham gia hội chợ cá cảnh quốc tế ở Singapore, Cộng hoà Liên bang Đức để học tập rút kinh nghiệm tiến tới tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời xây dựng các chương trình xúc tiến thương mại mở rộng thị trường tiêu thụ cá cảnh và Xây dựng Đề án Siêu thị Nông nghiệp kết hợp với Trung Tâm giới thiệu, giao dịch, tư vấn về hoa, cây kiểng, cá cảnh; các khu phố chuyên kinh doanh cá cảnh ở các quận nội thành như quận 1, 3 và 5
Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp Sở Ngành liên quan củng cố tăng cường họat động của Hội cá cảnh Thành phố
Trang 31Tổ chức sản xuất
Tập hợp các cơ sở sản xuất, kinh doanh và nghệ nhân thành các tổ hợp tác, làng nghề, hợp tác xã cá cảnh trên các địa bàn trọng điểm để tổ chức sản xuất và tiêu thụ cá cảnh theo mô hình liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ thông qua các tổ hợp tác, hợp tác
xã, làng nghề, đầu mối xuất khẩu thông qua Hội, Hiệp hội
Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện liên kết với các tỉnh có lợi thế về nghề nuôi và giàu tiềm năng về đất, nước…như Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Long
An, Tiền Giang, Đồng Tháp để sản xuất một số đối tượng nuôi trong ao đất như cá Vàng, Chép Nhật, Hồng Kim, Hắc Kim, Bạch Kim, Bảy Màu,
2.3 Tổng quan tài liệu có liên quan
Để thực hiện đề tài thì việc tham khảo các tài liệu có liên quan là điều cần thiết Kết quả của báo cáo nghiệm thu “Nghiên cứu xây dựng mô hình nông nghiệp bền vững trên vùng đất phèn, phèn nhiễm mặn ở hai xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh và Nhơn Đức, huyện Nhà Bè” do cơ quan quản lý đề tài: Sở khoa học và Công nghệ TP
Hồ Chí Minh, cơ quan thực hiện đề tài: Trung tâm Khuyến nông TP Hồ Chí Minh, chủ nhiệm đề tài: TS Trần Viết Mỹ vào tháng 06/2011 đã được sử dụng Mục tiêu của
Ở mục 3.1.2 Mô hình nuôi cá kiểng chủ yếu là cá chép Nhật, báo cáo nghiệm thu đã xây dựng mô hình mẫu và so sánh với mô hình nuôi cá ghép Dựa vào kết quả
mà báo cáo nghiệm thu đưa ra, qua những tính toán tổng hợp có những so sánh giữa báo cáo và kết quả khảo sát thực tế ở mục 4.3 phân tích so sánh
Trang 32CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lí luận
3.1.1 Giá trị cá cảnh
a) Giá trị thẩm mỹ, văn hóa
Với những người say mê cá cảnh, vẻ đẹp và sức cuốn hút kỳ lạ của các loài cá này thật sự xứng đáng với niềm đam mê, công sức, tiền của mà họ bỏ ra Cá chép do người Nhật lai tạo đẹp về màu sắc và đắt giá Do vậy, mỗi khi nhắc đến loài cá chép được lai tạo có nhiều màu sắc đẹp, người ta liên tưởng ngay đến người Nhật và thường được dùng chung một tên gọi là "cá chép Nhật" Thực ra, cá chép do Nhật Bản lai tạo
có tên gọi là Nishikigoi, dịch ra tiếng Việt là cá chép nhiều màu sắc, đến thế kỷ 19 thì
có thêm tên gọi KOI Từ Koi theo tiếng Nhật là cá chép, từ đồng âm khác nghĩa là tình
yêu, yêu mến Vẻ đẹp của chúng luôn khiến chúng ta dừng bước ngắm nhìn
b) Giá trị kinh tế
Người ta nuôi cá cảnh không chỉ để thưởng thức một thứ tiêu khiển mà còn là
do giá trị kinh tế của nó mang lại Chúng được nuôi để làm nguồn cá bột, cá trưng trong bể, cá xuất khẩu nhưng chủ yếu là đem lại lợi nhuận cao cho người nuôi Đây là một nguồn thu nhập lớn cho người dân
3.2 Các chỉ tiêu kinh tế
3.2.1 Doanh thu
Sản lượng: là lượng thu hoạch hay sản xuất được trong quá trình sản xuất Giá bán: là giá đầu ra khi bán sản phẩm trên thị trường
Doanh thu là tổng số tiền thu được khi bán sản phẩm ra thị trường
Doanh Thu = P*Q (P: giá bán, Q: sản lượng)
Trang 333.2.2 Thu nhập
Thu nhập là phần thu được từ tất cả các sản phẩm bán ra trừ đi chi phí vật chất
và chi phí lao động thuê Do đặc thù của sản xuất nông nghiệp nên nó còn được tính là khoản lợi nhuận cộng với công nhà
Thu nhập = Doanh thu – chi phí vật chất – chi phí lao động thuê
3.2.3 Lợi nhuận
Lợi nhuận = tổng doanh thu – tổng chi phí
Tổng chi phí = chi phí biến đổi ( VC ) + chi phí cố định ( FC )
3.3 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
3.3.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một đại lượng kinh tế so sánh kết quả sản xuất với chi phí
bỏ ra Hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp là tổng hợp các chi phí: chi phí lao động và chi phí vật chất để sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp
Khi xác định hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp phải tính đến việc sử dụng đất đai, các nguồn dự trữ vật chất lao động tức là phải sử dụng đến nguồn tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp Các nguồn tiềm năng này bao gồm: vốn sản xuất, lao động, đất đai,… trong đó yếu tố đầu tiên phải kể đến là lao động
3.3.2 Tỉ suất lợi nhuận trên chi phí
Tỉ suất này nói lên rằng cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Tỉ suất lợi nhuận trên chi phí = lợi nhuận / chi phí
3.3.3 Tỉ suất thu nhập trên chi phí
Tỉ suất này nói lên rằng cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng thu nhập
Tỉ suất thu nhập trên chi phí = thu nhập / chi phí
Cả hai tỉ suất đều ảnh hưởng lớn đến việc quyết định sản xuất của nông hộ Tỉ suất càng lớn thì càng mang lại hiệu quả kinh tế cho nông hộ
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Hiện nay trên địa bàn xã Tân Nhựt đang xây dựng mô hình nuôi cá kiểng Trong toàn xã hiện có 16 hộ đang nuôi cá kiểng, chủ yếu là loại cá chép Nhật Đề tài
Trang 34thu thập những thông tin sơ cấp bằng cách phỏng vấn 16 nông hộ nuôi cá chép Nhật, theo bảng câu hỏi có sẵn Bảng câu hỏi thu thập các thông tin về chi phí sản xuất, năng suất, thu nhập…của các nông hộ nuôi cá kiểng
Thu thập các nguồn tin thứ cấp chủ yếu từ tài liệu báo cáo của Ủy ban, các tài liệu tham khảo, niên giám thống kê, sách báo, tạp chí, internet,…
Tổng hợp và đánh giá, phân tích các thông tin thu thập được
Phương trình hồi quy được sử dụng ở dạng hàm tuyến tính:
Y = β1+ β2X2 + β3X3 + β4X4 + β5X5 + β6X6 + β7X7 + β8X8 + Ui
Trong đó các biến đều tính trong 1 năm trên 1000m2:
Y: năng suất (con)
X2: thức ăn (kg)
X3: con giống (con)
X4: chi phí sục khí, nhiên liệu (triệu đồng)
X5: công chăm sóc (công)
X6: chi phí chữa bệnh (triệu đồng)
X7: Học vấn (số năm đi học)
X8: Kinh nghiệm (số năm sản xuất)
Ui: Sai số ngẫu nhiên
Xác định và kì vọng về mối quan hệ giữa các nhân tố đầu vào
Các yếu tố đầu vào là các yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh tế và năng suất của cá cảnh Dựa trên những kết quả thu thập được, đề tài đưa ra một số yếu tố đầu vào tính trên 1000m2:
Trang 35Thức ăn (kg): Thức ăn đóng vai trò quan trọng đến việc lên màu của cá Nếu được chăm sóc dinh dưỡng tốt thì cá sẽ có màu đẹp góp phần nâng cao giá trị kinh tế Tuy nhiên không phải cho cá ăn nhiều là tăng năng suất, khi cho cá ăn quá no sẽ dẫn đến cá chết, nếu ao có thức ăn thừa dễ gây bệnh cho cá (dấu kì vọng -)
Giống (con): con giống cũng là một yếu tố quan trọng, mật độ con giống được thả sẽ ảnh hưởng đến năng suất Nếu con giống khỏe mạnh, được thả theo mật độ phù hợp, cá phát triển tốt góp phần nâng cao năng suất cá (dấu kì vọng +)
Chi phí sục khí, nhiên liệu (triệu đồng): máy sục khí là nguồn cung cấp thêm oxy cho cá, ảnh hưởng đến năng suất cá Chi phí đầu tư để mua máy và chi phí nhiên liệu để vận hành các máy được tính bằng triệu đồng trên diện tích 1000m2 (dấu kì vọng +)
Công chăm sóc cá (công): chăm sóc cá phải thực hiện đúng và đầy đủ, người chăm sóc phải thường xuyên kiểm tra chất lượng nước, nhiệt độ, cho cá ăn,…vì thế kì vọng rằng công chăm sóc có ảnh hưởng lớn đến năng suất cá (dấu kì vọng +)
Chi phí chữa bệnh (triệu đồng): cá kiểng là loại chịu ảnh hưởng từ môi trường rất nhiều nên công tác kiểm tra phòng và chữa bệnh rất cần được chú ý để giảm thiểu chi phí Cá càng ít bệnh thì năng suất sẽ cao hơn (dấu kì vọng –)
Học vấn (số năm đi học): học vấn của người nuôi cá cảnh ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu khoa học kĩ thuật Học vấn càng cao thì khả năng tiếp thu khoa học kĩ thuật càng cao Điều này cũng cảnh hưởng đến năng suất cá (dấu kì vọng +)
Kinh nghiệm (số năm sản xuất): kinh nghiệm cũng là một phần quan trọng trong nuôi cá, những người có kinh nghiệm nuôi cá cảnh càng nhiều thì khả năng nuôi
cá đạt hiệu quả cao hơn (dấu kì vọng +)
Ngoài ra còn có các yếu tố khác như chất lượng nước, khuyến nông,…
Trang 36CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình nuôi cá cảnh của xã Tân Nhựt
4.1.1 Hiện trạng nuôi cá cảnh tại huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 4.1 Diện Tích Nuôi Trồng Thủy Sản Huyện Bình Chánh
thủy sản được nuôi chủ yếu tại các xã Phong Phú (chiếm 49,33%), Tân Nhựt (chiếm
21,45%), Bình Lợi (chiếm 13,78%) Những địa phương này phát triển về thủy sản vì
Trang 37có lợi thế về điều kiện tự nhiên có nhiều sông hồ rộng, nguồn nước phù hợp với nuôi
cá
Về diện tích nuôi cá kiểng tại xã Tân Nhựt năm 2011 theo dự kiến là 10,5 ha
nhưng trên thực tế diện tích nuôi là 15,39 ha, vượt mức kế hoạch đề ra là 46,57%
(UBND xã Tân Nhựt, 2011) Điều này cho thấy nông dân có khuynh hướng nuôi cá
5.000m2 đến 10.000m2 chiếm tỉ lệ 37,50% trong tổng thể Tuy nhiên không phải các
hộ đều sử dụng tất cả ao để nuôi cá chép nhật, họ chỉ sử dụng một phần, phần còn lại
để nuôi các loại cá khác có giá trị như trân châu, ba đuôi, cá xiêm, tứ vân,…để giảm
thiểu rủi ro trong nuôi cá Chiếm tỉ lệ 31,25% là những hộ dân nuôi dưới 5.000m2 và
trên 10.000m2 Những hộ có diện tích dưới 5.000m2 là những người mới nuôi nên diện
tích còn ít Nếu cá kiểng đem lại lợi nhuận cao, họ sẵn sàng đầu tư để mở rộng diện
tích
Tổng hợp ý kiến về chất lượng nước nuôi cá tại địa bàn xã Tân Nhựt như sau