1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG NGÀNH THỰC PHẨM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

100 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH  PHẠM TUYẾT MAI NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG NGÀNH THỰC PHẨM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Ngành: Quản Trị Kinh Do

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH



PHẠM TUYẾT MAI

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG NGÀNH THỰC PHẨM TẠI THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH



PHẠM TUYẾT MAI

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG NGÀNH THỰC PHẨM TẠI THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

Ngành: Quản Trị Kinh Doanh

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: NGUYỄN THỊ BÌNH MINH

Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 06/2012

Trang 3

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế , trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “ NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG NGÀNH THỰC PHẨM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” do Phạm Tuyết Mai, sinh viên khóa 2008 – 2012, ngành QUẢN TRỊ KINH DOANH THƯƠNG MẠI,

đã bảo vệ thành công trước hội đồng ngày

NGUYỄN THỊ BÌNH MINH Người hướng dẫn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em vô cùng biết ơn thầy cô, Ban Giám Hiệu, các thầy cô khoa Kinh Tế và tất cả thầy cô khác ở trường Đại Học Nông Lâm đã truyền đạt kiến thức cho em trong suốt những năm học qua Em xin cảm ơn THS Nguyễn Thị Bình Minh đã tận tình hướng dẫn em vận dụng kiến thức đã học vào trong thực tiễn và hoàn thành khóa luận này

Với kiến thức có hạn nên trong khóa luận này của em không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong sự góp ý của quý thầy cô để hoàn thiện hơn và có thể cho em một số kiến thức làm nền tảng trước khi ra trường , bước vào công tác thực tế

Lời cuối cùng em xin kính chúc quý thầy cô , Ban giám hiệu nhà trường dồi dào sức khỏe và thành công trong công việc

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

NỘI DUNG TÓM TẮT

PHẠM TUYẾT MAI Tháng 6 năm 2012 “ Nghiên cứu khả năng ứng dụng của hoạt động nhượng quyền thương mại trong ngành thực phẩm tại thành phố Hồ Chí Minh”

PHAM TUYET MAI Jun, 2012 “Researching the applicability of Franchising in food industry in Ho Chi Minh city”

Khóa luận tìm hiểu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới mô hình kinh doanh nhượng quyền thương mại trong ngành thực phẩm Phân tích khả năng ứng dụng, nhu cầu nhận nhượng quyền thương mại trong ngành thực phẩm Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp để hoàn thiện mô hình kinh doanh nhượng quyền thương mại ứng dụng trong ngành thực phẩm tại TP.HCM

Trang 6

2.1.4 Giao thông vận tải 8 

2.2 Tổng quan hoạt động nhượng quyền thương mại tại TP.HCM trong thời gian

qua 9 

2.3 Các đặc trưng riêng của hoạt động nhượng quyền trong ngành thực phẩm: 12 

3.1 Nội dung nghiên cứu 14 

3.1.1.Khái niệm về nhượng quyền thương mại 14 

3.1.2 So sánh hoạt động nhượng quyền thương mại với hoạt đông li-xăng 16 

3.1.3 Quá trình phát triển của nhượng quyền thương mại trên thế giới và tại Việt

Nam 18 

Trang 7

3.1.4.Mục đích của hoạt đông nhượng quyền thương mại 20 3.1.5 Các hình thức nhượng quyền thương mại 21 3.1.6.Những nội dung quan trọng của nhượng quyền thương mại 25 3.1.7.Ưu nhược diểm của mô hình kinh doanh nhượng quyền 29 3.1.8 Vai trò của hoạt động nhượng quyền thương mại trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới: 33 3.2 Phương pháp nghiên cứu 35 3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 35 3.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: 35 

4.1 Phân tích cơ sở pháp lý về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam 36 4.1.1.Hệ thống văn bản pháp luật có liên quan 36 4.1.2.Đánh giá hệ thống pháp luật về nhượng quyền thương mại 38 4.2.Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhượng quyền thương mại ứng dụng trong

4.3 Thực trạng hoạt động kinh doanh nhượng quyền thương mại ứng dụng trong ngành thực phẩm 45 4.3.1.Các hệ thống nhượng quyền thương mại trong ngành thực phẩm tại TP.HCM 45 4.3.2 Tiêu chuẩn tuyển chọn đối tác nhận nhượng quyền: nghiên cứu điển hình

4.3.3 Chi phí nhận nhượng quyền thương mại trong ngành thực phẩm tại Tp.HCM 56 4.3.4 Những thành tựu trong hoạt động nhượng quyền thương mại ứng dụng

4.3.5.Những hạn chế đối với việc phát triển theo hình thức nhượng quyền thương mại 58 4.4 Đánh giá khả năng ứng dụng của hoạt động nhượng quyền kinh doanh thương

Trang 8

4.4.1 Khả năng nhận biết về nhượng quyền thương mại 60 4.4.2 Tỉ lệ muốn nhận nhượng quyền thương mại 61 4.4.3 Lý do khiến doanh nghiệp không muốn nhận nhượng quyền 61 4.4.4 Những yếu tố có thể làm thay đổi người không muốn nhận nhượng quyền:

62 4.4.5 Lý do muốn nhận nhượng quyền thương mại: 63 4.4.6 Những yếu tố nhà nhận quyền lo ngại khi nhận nhượng quyền thương mại

64 4.4.7 Những lĩnh vực mong muốn nhận nhượng quyền thương mại: 65 4.4.8 Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn thương hiệu 66 

4.5.1 Ưu điểm 67 4.5.2 Nhược điểm 67 4.5.3 Đề xuất giả pháp nhằm thúc đẩy việc phát triển kinh doanh hệ thống

5.1 Kết luận 73 5.2 Kiến nghị đối với Nhà Nước để phát triển hình thức kinh doanh nhượng quyền

PHỤ LỤC  

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

FDI : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 So Sánh Giữa Nhượng Quyền Thương Mại Và Li-Xăng 17 Bảng 3.1.Sơ Đồ Các Hình Thức Kinh Doanh Nhượng Quyền 25 Bảng 4.1.Thống Kê Phí Nhượng Quyền Một Số Thương Hiệu Nhượng Quyền Tại TP.HCM 56 

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1 Biểu Đồ Mật Độ Phân Bố Dân Cư Tại Tp.HCM 40 Hình 4.2 Biểu Đồ Tỷ Lệ Người Trong Độ Tuổi Lao Động Phân Theo Nhóm 41 Hình 4.3 Biểu Đồ Số Sinh Viên Tốt Nghiệp Tại Tp.HCM 41 Hình 4.4 Biểu Đồ Thu Nhập Bình Quân 1 Người/1 Tháng 42 Hình 4.5 Biểu Đồ Mức Chi Tiêu Đời Sống Bình Quân 1 Người/ 1tháng 43 Hình 4.6 Biểu Đồ Tốc Độ Phát Triển GDP tại Tp.HCM 44 Hình 4.7: Biểu Đồ Nhận Xét Độ Rủi Ro Của Hình Thức Nhượng Quyền 59 Hình 4.8 Biểu Đồ Nhận Xét Các Yếu Tố Rủi Ro 60 Hình 4.9 Biểu Đồ Thể Hiện Sự Nhận Biết Về Hoạt Động Kinh Doanh Nhượng Quyền Thương Mại 61 Hình 4.10 Biểu Đồ Thể Hiện Mong Muốn Nhận Nhượng Quyền Thuơng Mại 61 Hình 4.11 Biểu Đồ Yếu Tố Khiến Doanh Nghiệp Không Muốn Nhận Nhượng Quyền

62 Hình 4.12 Biểu Đồ Những Nhân Tố Có Thể Làm Thay Đổi Người Không Muốn Nhận Nhượng Quyền 63 Hình 4.13 Biểu Đồ Lý Do Mong Muốn Nhận Nhượng Quyền 64 Hình 4.14 Biểu Đồ Thể Hiện Yếu Tố Khó Đáp ứng Yêu Cầu Của Nhà Nhượng Quyền

64 Hình 4.15 Biểu Đồ Những Ngành Mong Muốn Được Nhận Nhượng Quyền 65 Hình 4.16 Biểu Đồ Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Chọn Thương Hiệu Nhận Nhượng Quyền 66 

Trang 12

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: Ngành thực phẩm là một trong những ngành có ứng dụng nhiều nhất trong hoạt động kinh doanh nhượng quyền

PHỤ LỤC 2: BẢNG ĐĂNG KÝ THAM GIA HỆ THỐNG NHƯỢNG QUYỀN TRUNG NGUYÊN

PHỤ LỤC 3: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG NGÀNH THỰC PHẨM TẠI TP.HCM

Trang 13

Sở hữu một doanh nghiệp riêng của mình đóng góp vào sự phồn vinh của đất nước Tuy nhiên, với sự xuất hiện của nhượng quyền thương mại, giờ đây bạn đang có

cơ hội lựa chọn giữa việc khởi nghiệp kinh doanh độc lập của mình hay là điều hành doanh nghiệp của mình với tư cách là một bộ phận của hệ thống nhượng quyền Sự lựa chọn này sẽ xoay quanh các loại hình kinh doanh mà bạn quan tâm, liên quan tới tính cách của bạn, tình hình tài chính và tỉ lệ rủi ro của bạn

Trang 14

Trước tình hình kinh tế đầy thách thức, luôn chứa đựng nhiều rủi ro và biến động, thì bên cạnh các hình thức kinh doanh truyền thống chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự phát triển nhanh chóng của các cửa hàng kinh doanh nhượng quyền thương mại Là một hình thức kinh doanh khá phổ biến ở các nước phát triển, tuy nhiên chỉ mới xuất hiện ở nước ta trong những năm gần đây với các thương hiệu nổi tiếng quốc tế đã tạo nên một làn sóng về cách thức kinh doanh mới này Nhượng quyền thương mại có thể áp dụng ở rất nhiều ngành nghề, đặc biệt là ngành thực phẩm- một ngành mà ở thị trường TP.HCM chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp rất nhiều cửa hàng nhượng quyền thương mại

Vì thế, qua đề tài “Nghiên cứu khả năng ứng dụng hoạt động kinh doanh nhượng quyền thương mại trong ngành thực phẩm tại TP.HCM ”của mình em mong sẽ góp phần tìm hiểu và đưa ra giải pháp cho hoạt động kinh doanh nhượng quyền tại TP.HCM và đặc biệt là ngành thực phẩm

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Khóa luận tập trung nghiên cứu khả năng ứng dụng của mô hình kinh doanh nhượng quyền thương mại đặc biệt là ngành thực phẩm tại Tp.HCM Từ đó đưa ra giải pháp nhằm phát triển mô hình kinh doanh nhượng quyền trong ngành thực phẩm

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Phân tích cơ sở pháp lý về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhượng quyền thương mại ứng dụng trong ngành thực phẩm tại TP.HCM

Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh nhượng quyền thương mại ứng dụng trong ngành thực phẩm

Đánh giá khả năng ứng dụng của hoạt động nhượng quyền thương mại trong ngành thực phẩm tại Tp.HCM

Đánh giá chung về hệ thống nhượng quyền thương mại trong ngành thực phẩm tại TP.HCM

 

Trang 15

Khóa luận sử dụng số liệu năm 2009, 2010, 2011

Thời gian thực hiện khóa luận từ 02-2012 đến 05-2012

1.4 Cấu trúc khóa luận

Chương 1: Mở đầu Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu cũng như giới thiệu chung về phạm vi không gian, thời gian, kết cấu khóa luận

Chương 2: Tổng Quan Giới thiệu về đặc điểm kinh tế TP.HCM Quá trình hình thành và phát triển của nhượng quyền thương mại ở thị trường TP.HCM

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trình bày một số khái niệm

về nhượng quyền thương mại Các nội dung có liên quan đến hoạt động kinh doanh nhượng quyền ứng dụng trong ngành thực phẩm Phương pháp tiến hành nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phân tích kết quả phiếu điều tra, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nhượng quyền trong ngành thực phẩm tại TP.HCM

Chương 5: Kết quả thảo luận- đề xuất giải pháp Thông qua quá trình tìm hiểu, phân tích nghiên cứu và thảo luận để rút ra kết luận và đưa ra giải pháp nhằm giải quyết vấn đề

Trang 16

CHƯƠNG 2 TỒNG QUAN

Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50km đường chim bay Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc

tế Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động 10 triệu tấn/năm Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km

b Địa hình:

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ

và đồng bằng sông Cửu Long Địa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam

và từ Đông sang Tây Nó có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình

Vùng cao nằm ở phía Bắc- Đông Bắc và một phần Tây Bắc ( thuộc Bắc huyện

Củ Chi, Đông Bắc quận Thủ Đức và quận 9), với dạng địa hình lượn sóng, độ cao trung bình 10- 25m và xen kẽ những đồi gò có độ cao, cao nhất tới 32m, như đồi Long Bình ( quận 9)

Trang 17

Vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Đông Nam thành phố (thuộc các quận 9, 8, 7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ) Vùng này có độ cao trung bình trên dưới 1m và cao nhất 2m, thấp nhất 0.5m

Vùng trung bình phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố gồm phần lớn nội thành cũ , một phần các quận 2, Thủ Đức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn Vùng này có độ cao trunh bình 5-10m

Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá

đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt

c Khí hậu, thời tiết:

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Cũng như các tỉnh ở Nam Bộ, đặc điểm chung của khí hậu- thời tiết Thành phố

Hồ Chí Minh là nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa mưa khô rõ ràng làm tác động chi phối môi trường cảnh quan sâu sắc Mùa mưa từ tháng 5 tới tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau Theo tài liệu quan trắc nhiều năm của trạm Tân Sơn Nhất, qua các yếu tố khí tượng chủ yếu, cho thấy những đặc trưng khí hậu của thành phố Hồ Chí Minh như sau:

Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140Kcal/cm2/năm Số giờ nắng trung bình/tháng 160-270 giờ Nhiệt độ không khí trung bình 27 00C Nhiệt độ cao tuyệt đối

40 00C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 13.8 00C Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (28.8 00C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và tháng 1 (25.7 00C) Điều kiện nhiệt độ và ánh sáng thích hợp cho nhiều chủng loại cây trồng và vật nuôi đạt năng suất sinh học cao, đồng thời đẩy mạnh quá trình phân hủy chất hữu cơ chứa trong các chất thải, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường đô thị

Lượng mưa cao, bình quân/năm 1.949mm Năm cao nhất 2.718mm (1908) và năm nhỏ nhất 1.392mm (1958) Số ngày mưa trung bình/năm là 159 ngày Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa từ tháng 5 tới tháng 11, trong đó hai tháng 6 và 9 thường có lượng mưa cao nhất Các tháng 1, 2, 3 mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, có khuynh hướng tăng dần theo trục Tây Nam- Đông Bắc Đại bộ phận các quận nội thành có lượng mưa cao hơn các quận huyện phía Nam và Tây Nam

Trang 18

Độ ẩm tương đối của không khí bình quân /năm 79.5%, bình quân mùa mưa là 80% và trị số cao tuyết đối 100%, bình quân mùa khô 74.5% và mức thấp tuyệt đối xuống tới 20%

Điểm chung của trầm tích này, thường là địa hình đồi gò hoặc lượn sóng, cao từ 20-25m và xuống tới 3-4m, mặt nghiêng về hướng Đông Nam Dưới tác động tổng hợp của nhiều yếu tố tự nhiên như sinh vật, khí hậu, thời gian và hoạt động của con người, qua quá trình sói mòn và rửa trôi…trầm tích phù sa cổ đã phát triển thành nhóm đất mang những đặc trưng riêng Nhóm đất xám, với quy mô hơn 45.000 ha, tức chiếm

tỷ lệ 23.4% diện tích đất thành phố

Ở thành phố Hồ Chí Minh, đất xám có ba loại: đất xám cao, có nơi bị bạc màu; đất xám có tầng loang lỗ đỏ vàng và đất xám gley Trong đó, hai loại đầu chiếm phần lớn diện tích Đất xám nói chung có hai thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha đến thịt nhẹ, khả năng giữ nước kém, mực nước ngầm tùy nơi và tùy mùa biến động sâu từ 1-2m đến 15m Đất chua, độ pH khoảng 4.0-5.0 Đất xám tuy có nghèo dinh dưỡng nhưng đất có tầng dày,nên thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng nông lâm nghiệp, có khả năng cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao, nếu áp dụng biện pháp luân canh, thâm canh tốt Nền đất xám phù hợp đối với bố trí các công trình xây dựng

cơ bản

Trầm tích Holoxen (trầm tích phù sa trẻ): tại thành phố Hồ Chí Minh, trầm tích này có nhiều nguồn gốc: ven biển, vũng vịnh, sông biển, aluvi lòng sông và bãi bồi…nên đã hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa có diện tích 15.100ha (7.8%), nhóm đất phèn 40.800ha ( 21.2%), và đất phèn mặn 45.500ha (23.6%) Ngoài ra có một diện tích nhỏ khoảng 400ha (0.2%) là giồng cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị sói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò

 

Trang 19

2.1.2 Kinh tế:

Nền kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng, du lịch, tài chính…Cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất 61,1%, phần còn lại công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%

Tính đến giữa năm 2006, 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó có 452 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ USD và 19,5 nghìn tỉ VND Thành phố cũng đứng đầu Việt Nam tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với hơn 2.530 dự án FDI, tổng vốn 16,6 tỉ USD vào cuối năm 2007, thành phố thu hút hơn 400 dự án với gần 3 tỉ Trong bảng xếp hạng về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm

2011, thành phố Hồ Chí Minh xếp ở vị trí thứ 20/63 tỉnh thành

Về thương mại, thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống trung tâm mua sắm, siêu thị, chợ đa dạng Chợ Bến Thành là biểu tượng giao lưu thương mại từ xa xưa của thành phố, hiện nay vẩn giữ một vai trò quan trọng Những thập niên gần đây, nhiều trung tâm thương mại đã xuất hiện như Saigon Trade Center, Diamond Plaza….Mức tiêu thụ của thành phố Hồ Chí Minh cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh thành khác của Việt Nam và gấp 1.5 lần thủ đô Hà Nội

Tuy vậy, nền kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp đạt trình độ hiện đại

cơ sở hạ tầng thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp…cũng gây khó khăn cho nền kinh tế Ngành công nghiệp thành phố định hướng tới các lĩnh vực cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn

2.1.3 Giáo dục

Về mặt hành chính, Sở giáo dục thành phố Hồ Chí Minh chỉ quản lý các cơ sở giáo dục từ bậc mầm non tới phổ thông Các trường đại học, cao đẳng phần lớn thuộc

Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam

Hệ thống các trường từ bậc mầm non tới trung học trải đều khắp thành phố Các

Trang 20

biến mà còn một trường dạy quốc tế ngữ, một trường dạy Hán Nôm, bốn trường dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng có 40 trường quốc tế do các lãnh sự quán , công ty giáo dục đầu tư

Mặc dù đạt được những bước tiến quan trọng trong thời gian gần đây nhưng giáo dục thành phố Hồ Chí Minh còn nhiều khiếm khuyết Trình độ dân trí chưa cao

và chênh lệch giữa các thành phần dân cư, đặc biệt là ngoại ô so với nội ô Tỷ lệ trẻ em người Hoa không biết chữ vẫn còn nhiều, gấp 13 lần trẻ em người Kinh Giáo dục đào tạo vẫn chưa tương ứng với nhu cầu của xã hội Hệ thống cơ sở vật chất ngành giáo dục thành phố còn kém Nhiều trường học sinh phải học ba ca Thu nhập của giáo viên chưa cao, đặc biệt ở các huyện ngoại thành

2.1.4 Giao thông vận tải

Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á Khác với Hà Nội, vận tải thủy ở thành phố Hồ Chí Minh chiếm một tỉ lệ quan trọng Tính riêng vận tải hàng hóa, đường biển chiếm khoảng 29% và đường sông khoảng 20% tổng khối lượng thông qua đầu mối thành phố Đường bộ chỉ chiếm 44% vận tải hàng hóa nhưng chiếm tới 85,6% vận tải hành khách Về giao thông đường không, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là phi trường lớn nhất Việt Nam cả về diện tích và công suất nhà ga

Giao thông trong nội ô, do tốc độ tăng dân số nhanh, quy hoạch yếu, hệ thống đường xá nhỏ…khiến thành phố luốn phải đối mặt với vấn đề ùn tắc Thành phố có

239 cây cầu nhưng phần lớn chiều rộng nhỏ hơn chiều rộng của đường nên gây khó khăn cho các phương tiện giao thông Không những thế, một phần các cây cầu có trọng tải thấp hay trong tình trạng xuống cấp Tại các huyện ngoại thành, hệ thống đường vẫn phần nhiều là đường đất đá Trong khi đó, hệ thống đường trải nhựa còn lại cũng trở nên quá tải, cần sửa chữa Để giải quyết vấn đề giao thông đô thị, thành phố

Hồ Chí Minh đang đầu tư cho hệ thống giao thông công cộng Hiện nay thành phố có 3.250 xe buýt và 8.000 xe taxi Dự án tàu điện ngầm thành phố Hồ Chí Minh cũng đang được tiến hành Theo dự kiến, thành phố sẽ có 4 tuyến đường, tổng chiều dài 54km, 6 đường rày và 22 nhà ga

 

Trang 21

2.2 Tổng quan hoạt động nhượng quyền thương mại tại TP.HCM trong thời gian qua

Lịch sử của hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam bắt nguồn từ trước năm 1975 thông qua một số hệ thống nhượng quyền các trạm xăng dầu của Mỹ như Mobil, Esso, Shell Cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 khi các công ty nước ngoài đã cho phép công ty trong nước tiêu thụ các sản phẩm của họ kèm với sự

hỗ trợ về kỹ thuật, kinh nghiệm, vốn và thương hiệu…Có thể kể đến như các thương hiệu: rượu bordeaux của Pháp, điện thoại di động Sony Erriction của Nhật Bản, các hãng mỹ phẩm như: Essance, Chanel… Các hãng ô tô như Toyota, Carvel…Sau đó, vào những năm 1996, bắt đầu với sự tham gia của các tên tuổi quốc tế, trong ngành chế biến thức ăn nhanh và giải khát như Five Star Chicken, Texas Chicken, Carvel, Baskin Robbins, Jollibee Như vậy, có thể thấy hoạt động nhượng quyền thương mại

đã xuất hiện ở Việt Nam từ sớm chứ không phải là quá mới mẻ như chúng ta vẫn nghĩ Tuy nhiên, hình thức nhượng quyền lúc này chưa tạo được sự chú ý, đều là nhượng quyền phân phối sản phẩm và chỉ bó hẹp trong một số lĩnh vực như thực phẩm, ô tô,

mỹ phẩm…Ngoài ra, hình thức nhượng quyền lúc này còn được điều chỉnh như một hoạt động đầu tư vốn nước ngoài vì Việt Nam vẫn chưa có luật để điều chỉnh hoạt động này cho đến những năm đầu năm 2000 Những năm sau đó, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đã làm cho hoạt động này hạn chế rõ rệt Doanh thu từ hoạt động nhượng quyền tại Việt Nam thời điểm này rất nhỏ Năm 1996, tổng doanh thu khoảng 1.5 triệu USD, doanh số năm 1997 tăng 3 lần, khoảng 4 triệu USD Doanh số bán hàng hằng năm của các cửa hàng trung bình đạt 300.000USD trong đó lượng hàng hóa, dịch

vụ cho người Việt chiếm 70% và cho người nước ngoài chiếm 30%

Lúc này vẫn chưa có công ty Việt Nam nào kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại sản phẩm hay dịch vụ của mình Tuy nhiên, khi đại lý bán

lẻ bán thức ăn nhanh ra đời, các công ty Việt Nam xuất hiện như một mắc xích trong

hệ thống này Nhà hàng bán thức ăn nhanh Mahattan là một ví dụ điển hình Hầu hết các hệ thống bán thức ăn nhanh trước khi vào Việt Nam đều là những nhà kinh doanh

đã thành công ở một số nước Châu Á như: Indonesia, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Philipines, Thái Lan

Trang 22

Trong những năm gần đây, hoạt động nhượng quyền ngày càng phát triển mạnh

và nhanh hơn với tốc độ khoảng 15% -20%/ năm, mở rộng ra nhiều ngành nghề tạo nên sự đa dạng về sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, điều quan trọng là không chỉ có các tập đoàn nước ngoài đầu tư vào mà các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu thực hiện

mô hình kinh doanh này, và đạt hiệu quả theo một mức độ nào đó dù không phải doanh nghiệp nào cũng thành công rực rỡ nhưng chưa thấy doanh nghiệp nào thất bại Hiện nay,Việt Nam đã được thống kê là có hơn 70 hệ thống kinh doanh nhượng quyền bao gồm cả các thương hiệu của các doanh nghiệp trong nước như : Phở 24, Kinh Đô, Trung Nguyên, Wrapp&Roll… và nước ngoài như: Jollibee, KFC, Lotteria…Theo số liệu của Bộ Công Thương, hiện đã có 70 thương hiệu nước ngoài đăng ký hoạt động nhượng quyền tại Việt Nam Trong đó, các doanh nghiệp Mỹ đang dẫn đầu thị trường nhượng quyền thương hiệu tại Việt Nam

Ở TP.HCM hiện nay có rất nhiều cửa hàng nhượng quyền trong hơn 70 hệ thống nhượng quyền đề cập trên, vì TP.HCM là một thành phố lý tưởng cho hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt đông kinh doanh nhượng quyền nói riêng Hầu hết các

hệ thống kinh doanh nhượng quyền đều tập trung ở đây rồi thâm nhập ra các tỉnh thành

Nếu theo thống kê ngành nghề, TP.HCM có các hệ thống nhượng quyền hoạt động theo ngành nghề như :

 Ngành thực phẩm, đồ uống và nhà hàng:

Các tập đoàn thức ăn nhanh nổi tiếng nước ngoài đã có mặt tại TP.HCM có thể điểm qua một số thương hiệu như: Lotteria thuộc tập đoàn Lotteria của Hàn Quốc, KFC, Pizza Hut thuộc tập đoàn Yum! Của Mỹ, Bread Talk của Singapore, Gloria Jean’s va Hard Rock Café cũng đã có nhiều cửa hàng tại TP.HCM

Riêng ngành thực phẩm, các công ty Việt Nam đã có những hoạt động nhượng quyền khá thành công, mặc dù mới hoạt động trong 5 năm trở lại đây Có thể kể đến các hệ thống nhượng quyền của Việt Nam như Phở 24, thuộc tập đoàn Nam An của

TS Lý Quý Trung, tác giả hai cuốn sách về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam Ngoài ra thương hiệu bánh kẹo Kinh Đô cũng đã thực hiện hoạt động nhượng qyền từ năm 2006, cửa hàng chuyên về các món cuốn Việt Nam Wrap&Roll Về thức uống thì không thể không nhắc đến người tiên phong Café Trung Nguyên, một thương hiệu

Trang 23

rất mạnh và là thương hiệu nhượng quyền sớm nhất và có nhiệu cửa hàng nhượng quyền nhất tại Việt Nam Trà sữa trân châu Hoa Hướng Dương cũng là một thương hiệu khá quen thuộc của giới trẻ…

 Ngành bán lẻ:

Với việc bắt đầu thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực phân phối dịch vụ theo các hiệp định đã ký kết với một số đối tác trong quá trình hội nhập, việc phát triển dịch vụ phân phối tại Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010,đã tác động tới tổ chức phân phối lưu thông nội địa, hoạt động phân phối hàng hóa Thị trường dịch vụ phân phối trong nước rất sội động vì các rào cản về gia nhập và rút khỏi hệ thống phân phối

sẽ dần được loại bỏ theo lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế, đi kèm đó là các cải cách của Chính Phủ nhằm tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thông thoáng, cởi mở hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài Điển hình là trong 5 năm trở lại đây các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia đã nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường Việt Nam

Chỉ trong vòng 5 năm, hàng loạt các đại siêu thị đã được các nhà phân phối nước ngoài xây dựng ở Việt Nam Đều tiên là Metro Cash & Carry, tập đoàn của Đức, nhà phân phối lớn thức 5 trên thế giới đã nhanh chóng xây dựng siêu thị tại các trung tâm lớn của Việt Nam là: Tp.HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hà Nội, Bình Dương, Biên Hòa, Hải Phòng Tập đoàn Parkson của Malaysia đã chính thức tham gia vào thị trường TP.HCM với hai trung tâm mua sắm rất lớn ở quận 1 và quận 5

Tháng 6.2006, chuỗi cửa hàng tiện lợi nổi tiếng của Mỹ Circle K đã chình thức đến Việt Nam, đánh dấu bằng 5 cửa hàng tiện lợi đều tiên tại Q1, Tp.HCM Trong năm

2009, sau khi phát triển lên 10 cửa hàng tập trung theo từng khu vực Sau khi phát triển lên 100 cửa hàng vào năm 2011, Circle K tiến hành nhượng quyền thương mại cho các doanh nghiệp trong nước Hiện Circle K có hơn 7.000 cửa hàng tiện lợi trên toàn thế giới, trong đó khoảng 3.800 cửa hàng tại Châu Á ở Nhật Bản, Trung Quốc, Hong Kong…

Trong tháng 5/2011 vừa qua, Shop& Go với hình thức nhượng quyền BBC Shop

& Go hỗ trợ hoàn toàn miễn phí máy lạnh, tủ mát, tủ đông, máy tính tiền, máy vi tính, trang trí, gắn băng hiệu, cửa kiếng…Ngoài ra, Shop& Go còn cho nhân viên xuống hỗ trợ kinh doanh trong hai tuần

Trang 24

 Ngành tiêu dùng:

Các mô hình nhượng quyền thương mại của đồng hồ Swatch ( Thụy Sĩ), thời trang Pierre Cardin (Pháp), chuỗi cửa hàng ảnh Mini Lab của Fuji (Nhật), hệ thống cửa hàng mực in Cartridge (Úc)…đã xuất hiện tại Việt Nam

 Ngành dệt may và thời trang:

Louis Vuitton, Gucci, hai thương hiệu thời trang lừng danh thế giới cùng lúc xuất hiện ở những vị trí đẹp nhất nhì Tp.HCM

Nhãn hiệu dệt may Foci của công ty dệt may Nguyên Tâm cũng đã thực hiện nhượng quyền thương mại từ năm 1998, tính đến cuối năm 2007 với 35 đối tác đã nhận nhượng quyền và 48 cửa hàng trên cả nước

Kể từ tháng 04/2006 công ty Anh Khoa, doanh nghiệp chuyên sản xuất mặt hàng trang phục lót nam, nữ nhãn hiệu Rock, Annies và ATW đã nhanh chóng giành lại thị trường hàng trang phục lót bằng cách mở một loạt 3 cửa hàng Rock, đồng thời kêu gọi nhà đầu tư mua franchise vì cho rằng đã đến lúc doanh nghiệp cần khẳng định lại tên tuổi, vị thế của mình nếu không muốn mất thị trường Việt Nam, nhất là sau khi gia nhập WTO

 Các ngành khác:

Ngoài các ngành và các tập đoàn nói trên, thì hoạt động nhượng quyền không chỉ dừng lại ở ngành thực phẩm, bán lẻ, thời trang …mà đã mở rộng ra cho nhiều ngành khác như xây dựng và trang trí nội thất hay ngành giáo dục Ngoài ra lĩnh vực spa, gia vị, bất động sản và hệ thống kế toán…cũng sẽ phát triển bằng hình thức nhượng quyền thương mại trong thời gian tới

2.3 Các đặc trưng riêng của hoạt động nhượng quyền trong ngành thực phẩm:

Lý do ngành thực phẩm được ứng dụng nhiều trong kinh doanh nhượng quyền thương mại vì tính chất của ngành này có nhiều điểm thích hợp như:

Vốn đầu tư cho cửa hàng kinh doanh thực phẩm không nhiều nên dễ dàng thu hút người nhận quyền Việc đầu tư vào một cửa hàng kinh doanh thực phẩm so với ngành khách sạn, bất động sản hay siêu thị thì rẻ hơn rất nhiều

Sản phẩm đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người nên dễ dàng được chấp nhận

ở hầu hết các quốc gia Bên cạnh đó, vì đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người nên các cửa hiệu kinh doanh nhượng quyền trong ngàn thực phẩm có thể được mở gần nhau

Trang 25

(trong một phạm vi nhất định), vì thế một hệ thống kinh doanh nhượng quyền có thể

mở rất nhiều cửa hàng

Khi cuộc sống ngày càng phát triển, người ta ngày càng có nhiều nhu cầu ăn ngon hơn, tiên lợi hơn nên các thương hiệu như Jollibee, KFC, Lotteria….phát triển nhanh chóng và vươn ra toàn cầu

Thực phẩm là một ngành mang đậm yếu tố văn hóa của vùng, miền, quốc gia vì thế bên cạnh đáp ứng nhu cầu ăn uống của con người nó còn đáp ứng nhu cầu hiểu biết, thưởng thức văn hóa ẩm thực vùng, miền khác nhau của con người, do đó ngành thực phẩm có nhiều cơ hội phát triển hơn các ngành khác

Công thức và cách thức của các thương hiệu ngành thực phẩm dễ nhượng quyền hơn những ngành khác

Trang 26

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu

3.1.1.Khái niệm về nhượng quyền thương mại

Nhượng quyền thương mại là một hình thức kinh doanh đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng Đã có nhiều khái niệm được nêu ra của nhiều trường phái khác nhau nhằm giải thích, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh nhượng quyền đạt hiệu quả Tuy nhiên do sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh tế, chính trị, xã hội giữa các quốc gia nên các khái niệm này thường khác nhau

a Khái niệm nhượng quyền của Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế ( The International Franchise Association) :

Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa bên giao và bên nhận quyền, theo đó bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của bên nhận trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên, bên nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa , phương thức , phương pháp kinh doanh

do bên giao sở hữu hoặc kiểm soát, và bên nhận đang hoặc sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình

b Khái niệm của Hội Đồng Thương Mại Liên Bang Hoa Kỳ:

“Franchise là một hợp đồng hay thỏa thuận giữa ít nhất hai người, trong đó : người mua franchise được cấp quyền bán hay phân phối sản phẩm, dịch vụ theo cùng một kế hoạch hay hệ thống tiếp thị của người chủ thương hiệu Hoạt đông kinh doanh của người mua franchise phải triệt để tuân theo kế hoạch hay hệ thống tiếp thị này, gắn liền với nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu, tiêu chí, quảng cáo và những biểu tượng thương mại khác của chủ thương hiệu Người mua franchise phải trả một khoản phí trực tiếp hay gián tiếp, gọi là phí franchise”

Trang 27

c Khái niệm nhượng quyền thương mại của Cộng đồng chung Châu Âu

EC ( nay là liên minh Châu Âu EU ):

Khái niệm quyền thương mại là một “tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp

và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, biểu hiện cửa hàng,giải pháp hữu ích,kiểu dáng,bản quyền tác giả,bí quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng cuối cùng” Nhượng quyền thương mại có ý nghĩa là việc chuyển nhượng quyền kinh doanh được khái niệm ở trên

d Khái niệm nhượng quyền thương mại của Mehico:

Luật sở hữu công nghiệp của Mehico có hiệu lực từ 6/1991 quy định: “ Nhượng quyền thương mại tồn tại khi với một li-xăng cấp quyền sử dụng một thương hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ, hoặc hỗ trợ kỹ thuật để một người sản xuất, chế tạo, hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phương pháp vận hành, các hoạt động thương mại, hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu thiết lập, với chất lượng,danh tiếng, hình ảnh của sản phẩm, hoặc dịch vụ đã tạo dựng được dưới thương hiệu đó”

e Khái niệm nhượng quyền thương mại của Nga:

Chương 54,Bộ luật dân sự Nga, khái niệm bản chất pháp lý của “sự nhượng quyền thương mại” như sau :

Theo hợp đồng nhượng quyền thương mại, một bên (bên có quyền) phải cấp cho bên kia (bên sử dụng) với một khoản thù lao, theo một thời hạn, hay không thời hạn, quyền được sử dụng trong các hoạt động kinh doanh của bên sử dụng một tập hợp các quyền độc quyền của bên có quyền bao gồm: quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại,quyền đối với bí mật kinh doanh, và các quyền độc quyền theo hợp đồng đối với các đối tượng khác như nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ…

f Khái niệm nhượng quyền thương mại theo Quốc Hội Việt Nam

Còn theo định nghĩa trong Luật thương mại của Quốc Hội nước Việt Nam số 36/2005/QH11 ngày 14/06/2005 thì “Nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại , theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau:

Trang 28

(1) Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa , tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền

(2) Bên nhượng quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận nhượng quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.”

Dù có nhiều định nghĩa như vậy nhưng tóm lại, nhượng quyền thương mại là một phương thức kinh doanh trong đó, phải đảm bảo các yếu tố sau:

Trước hết là có sự tham gia của hai chủ thể: (1) là bên nhượng quyền và là người chủ của thương hiệu (franchisor); (2) là bên nhận quyền và là người thuê thương hiệu (franchisee)

Trong định nghĩa của nhượng quyền thương mại, thương hiệu là yếu tố quan trọng và cốt lõi nhất Sự hiện hữu của nhượng quyền thương mại phụ thuộc chủ yếu vào thương hiệu vì thương hiệu uy tín sẽ mang lại sự nhận biết, sự tiêu dùng của khách hàng

Ngoài ra, định nghĩa cũng nêu rõ rằng bên nhận nhượng quyền có quyền được phân phối hay bán các hàng hóa và dịch vụ của bên nhượng quyền ở một khu vực nhất định, trong thời gian nhất định, nhưng phải tuân theo các kế hoạch hay hệ thống marketing của bên nhượng quyền để đảm bảo thương hiệu được đề cập ở trên luôn là một thể thống nhất và đảm bảo thương hiệu của bên bán không bị ảnh hưởng

Đồng thời bên nhận quyền cũng phải trả cho bên nhượng quyền một khoản phí nhất định gọi là phí nhượng quyền

3.1.2 So sánh hoạt động nhượng quyền thương mại với hoạt động li-xăng

Có rất nhiều sự lẫn lộn giữa li-xăng và hoạt động nhượng quyền thương mại Trong đó “li-xăng là thỏa thuận theo đó bên cấp phép đồng ý cho bên nhận quyền sử dụng tài sản vô hình trong suốt một thời gian xác định và bên chuyển giao nhận phí bản quyền từ bên nhận chuyển giao”

Trang 29

Bảng 3.1 So Sánh Giữa Nhượng Quyền Thương Mại Và Li-Xăng

Tiêu chí Li -xăng Nhượng quyền thương mại

Đối tượng

chuyển giao

Quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiếu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa đang trong thời gian bảo hộ,

có hoặc không có kèm theo bí quyết kỹ thuật

Cách thức tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ gắn với nhãn hiệu, tên thương mại, bí quyết kinh doanh…của bên nhượng quyền

Hình thức

chuyển giao

Mua bán, chuyển nhượng, trao đổi quyền sử dụng đối tượng chuyển giao

Chuyển nhượng quyền sử dụng

Hoạt động kinh

doanh

Độc lập không theo cách thức của bên chuyển giao

Độc lập nhưng tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh

do bên chuyển nhượng quy định

Kiểm soát Không chịu sự kiểm soát chặt

chẽ về hoạt động kinh doanh

Chịu sự kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo hoạt động kinh doanh không ảnh hưởng đến bên nhượng quyền và hệ thống

Hỗ trợ Không được sự hỗ trợ từ

người chuyển giao về marketing, đào tạo…

Được hỗ trợ hoạt động marketing, đào tạo, huấn luyện nhân viên và nhiều hoạt động khác…

Phí chuyển

nhượng

Phí li-xăng thường chỉ trả lúc làm hợp đồng chuyển nhượng

Bao gồm cà phí chuyển nhượng

và phí hằng tháng phụ thuộc vào doanh thu

Quyền sở hữu

công nghệ

Phải đăng ký bảo hộ quyền sở hữu cộng nghệ trước khi chuyển nhượng

Không bắt buộc phải đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghệ trước khi nhượng quyền

Nguồn: Tổng hợp

Trang 30

3.1.3 Quá trình phát triển của nhượng quyền thương mại trên thế giới và tại Việt Nam

Lịch sử phát triển của franchise có từ rất lâu nhưng chỉ thực sự phát triển mạnh

từ sau thế chiến thứ hai Những cột mốc của hoạt động kinh doanh nhượng quyền: Những nền tảng cơ bản của franchise khởi nguồn từ thời Trung Cổ ở các nhà thờ Thiên Chúa Giáo ở Châu Âu vào những năm 1562

Năm 1850, Issas Merritt Singer, một nhà phát minh máy may người Mỹ đã tìm cách phân phối rộng rãi hơn những chiếc máy may do ông phát minh thông qua công

ty Singer đánh dấu cho hoạt động nhượng quyền lần đầu xuất hiện tại Mỹ

Năm 1886, nhà bào chế Jonh S Pemberton đã pha chế thành công Coca Cola, sau đó ông chiết vào chai để bán và trở thành người đầu tiên thành công với hoạt động franchise

Sau đó là Western Union về dịch vụ về tài chính và truyền thông với hoạt động franchise cho hệ thống điện báo

Riêng hoạt động franchise trong ngành ăn uống, thực phẩm bắt đầu phát triển từ năm 1919 với A&W Root Beer, nhà hàng phục vụ nhanh tại Mỹ Năm 1953, Howard Deering Johnson, nhà tư bản công nghiệp ngành nhà hàng và khách sạn ở Mỹ được xem là người đầu tiên ở Mỹ thành lập nhà hàng nhượng quyền đầu tiên với ý tưởng cho phép người nhận quyền sử dụng tên nhãn hiệu, logo, thức ăn, thậm chí thực hiện thiết kế…để đổi lại một khoản phí Những năm 1950 chứng kiến sự bùng nổ về hoạt động franchising ở Mỹ, nhất là ngành thực phẩm, nhà hàng, khách sạn

Cho đến những thập niên 1960 -1970, người ta bắt đầu có cái nhìn dè dặt hơn với hoạt động này vì có rất nhiều cạm bẫy cho nhà đầu tư ở lĩnh vực này có thể dẫn đến sự chấm dứt hoạt động này trước khi nó được phổ biến rộng rãi

Năm 1970, một số nhà nhượng quyền đã liên kết lại và thành lập nên Hiệp Hội Franchise Quốc Tế (IFA) để bảo vệ hoạt động franchise và nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực này Các bang của Mỹ đã lần lượt đưa ra luật để bảo vệ hoạt động này

Năm 1979, Ủy Ban Thương Mại Liên Bang ( The Federal Trade Commission) viết tắt là FTC đã đưa ra các quy định về hoạt động franchise, từ đó hoạt động franchise trở thành một hoạt động mạnh mẽ và phát triển nhanh ở Mỹ Ngày nay, mô hình kinh doanh franchise không chỉ lớn mạnh lên ở Mỹ mà ở khắp thế giới và tập

Trang 31

trung chủ yếu ở các ngành dịch vụ, bán lẻ, chuỗi khách sạn, nhà hàng thức ăn nhanh…

có thể kể đến các thương hiệu nổi tiếng như: McDonald’s, 7- Eleven, Dairy Queen, Subway, Burger King…

Cho đến hiện nay trên thế giới có khoảng 16.000 hệ thống franchise hoạt động trong hơn 100 khu vực kinh doanh khác nhau, đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh nhà hàng, khách sạn, phân phối và dịch vụ Doanh thu của thế giới từ hoạt động này khoảng 1.000 tỷ USD năm 2000 với khoảng 320.000 doanh nghiệp hoạt động

Theo điều tra của công ty PricewaterhouseCooper năm 2004 do Ủy Ban Franchise Thế Giới công bố, Mỹ đang là nước dẫn đầu với hơn 3.000 hệ thống franchise Hoạt động này đóng một vai trò rất quan trọng đối với hoạt động bán lẻ của

Mỹ, với khoảng 1.53 nghìn tỷ doanh thu, theo IFA có khoảng 760.000 cửa hàng nhượng quyền mang lại cho khoảng 18 triệu người, tạo ra 3.000 nghìn việc làm mới hàng năm Ở Mỹ cứ 8 phút lại có một cửa hàng nhượng quyền mới xuất hiện

Đứng thứ hai trong hoạt động nhượng quyền là Trung Quốc, tiếp đó là Nhật Bản có khoảng 4.000 hệ thống ở Châu Âu, trong đó Đức, Anh, Ý, và Tây Ban Nha chiếm hơn một nửa Còn Úc thì chiếm vị trí thứ 9 với 720 franchisor và đến nay vẫn là nước có tỷ lệ chuyển nhượng thương hiệu cao nhất thế giới tính theo đầu người

Franchise là một loại hình kinh doanh theo hệ thống và chuỗi, thường có mặt ở các quốc gia có thị trường tiêu dùng lớn mạnh Vì vậy, các hệ thống franchise thường rất phát triển ở các quốc gia có nền kinh tế tương đối phát triển Ở khu vực Châu Á, các quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia cũng có rất nhiều hệ thống franchise đang kinh doanh với doanh thu khoảng 50 tỷ USD mỗi năm

và đã xuất hiện trong rất nhiều lĩnh vực đời sống xã hội như kinh doanh khách sạn, đại

lý thức ăn nhanh, tiệm mua bán lẻ, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, xây dựng…

Ở Việt Nam, phương thức kinh doanh mới mẻ này du nhập từ đầu những năm

1990, và hiện đang phát triển với một tốc độ khá vũ bão, một số chuyên gia ước tính tới 15% - 20%/ năm Sự phát triển nhanh chóng các số lượng cửa hàng của các hệ thống nhượng quyền thương hiệu nổi tiếng nước ngoài như KFC, Jollibee, Lotteria…và sự cạnh tranh quyết liệt của các thương hiệu trong nước như Trung Nguyên, Phở 24, Kinh Đô, Foci…cũng đã chứng minh được khả năng phát triển của

Trang 32

Việt Nam gia nhập WTO càng tạo điều kiện nhiều cho hoạt động franchise phát triển, theo như ông Miguel Pardo de Zela, tham tán thương mại Đại Sứ Quán Mỹ tại Việt Nam dự báo thì tốc độ tăng trưởng của hoạt động kinh doanh này là 20% mỗi năm

3.1.4.Mục đích của hoạt đông nhượng quyền thương mại

Tại sao lại có hoạt động này, tại sao lại có người nhượng quyền kinh doanh của mình mà không tự làm, hay tại sao lại có người đi mua thương hiệu của người khác

Có thể nói, mục đích của franchise là đem lại lợi nhuận cho cả người mua lẫn người bán Cụ thể hơn:

a Từ phía bên nhượng quyền

Nhượng quyền là cách nhanh nhất để một thương hiệu xâm nhập vào một quốc gia, lãnh thổ hay khu vực mà người chủ thương hiệu chưa nắm nhiều về thói quen tiêu dùng, văn hóa, cách thức xâm nhập hay kênh phân phối của quốc gia, khu vực mà họ muốn xâm nhập

Bên cạnh đó, chủ thương hiệu sẽ tiết kiệm được một chi phí đáng kể thông qua việc nhượng quyền này Khoản chi phí này nằm ở việc chi phí đầu tư nhân lực, vật lực cho các cửa hiệu ở các vùng mà chủ thương hiệu muốn xâm nhập, chi phí mua hàng giá rẻ hơn do tận dụng ưu thế mua hàng nhiều Ngoài ra,là các chi phí về tiếp thị, quảng cáo cũng được tiết giảm hơn do chia sẻ với các cửa hiệu

Gia tăng sự thành công và nổi tiếng của thương hiệu Biến thương hiệu thành một thương hiệu toàn cầu và khi thị trường càng mở rộng thì thương hiệu lại càng có giá trị Thương hiệu càng có giá trị thì phí franchise thu được càng cao Sự tác động qua lại đó làm cho sự thành công của hoạt động franchise càng có giá trị hơn

Và hai mục đích trên cũng không ngoài mục đích lớn hơn là tăng doanh thu, lợi nhuận cho chủ thương hiệu Lợi nhuận họ có được không chỉ từ phí franchise ban đầu,

từ các hợp đồng chuyển nhượng mà còn là phí hàng tháng do các cửa hiệu nhượng quyền phải trả cho chủ thương hiệu, cho những hoạt động mang tính chất liên tục như : đào tạo, huấn luyện, tiếp thị, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, ngoài ra còn có thể

có thêm phí bán các nguyên liệu đặc thù…

Trang 33

b Từ phía bên nhận quyền

Mục đích của người nhận nhượng quyền là giảm tính rủi ro và dễ thành công hơn trong hoạt động kinh doanh, nhất là đối với các cá nhân còn mới mẻ trong hoạt động vốn không dễ dàng này

Các doanh nghiệp kinh doanh bằng hoạt động nhượng quyền cũng dễ dàng được ngân hàng cho vay vốn để làm ăn, mở rộng sản xuất do xác suất thành công của

họ cao hơn và các ngân hàng cũng tin tưởng họ hơn Chủ thương hiệu với uy tín của mình cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc thuyết phục hay đảm bảo các ngân hàng cho người nhận quyền vay tiền

Và một mục đích nữa của người mua franchise là họ sẽ nhận được sự hỗ trợ từ phía chủ thương hiệu và bên nhượng quyền thứ cấp rất nhiều Không chỉ là sự hỗ trợ

từ những bước đầu tiên trong việc thành lập một của hiệu, trang trí, thiết kế…mà còn sau đó và liên tục trong việc hỗ trợ về huấn luyện nhân viên, hỗ trợ phát triển sản phẩm mới

Cuối cùng, chắc chắn một mục đích không thể thiếu của người nhận quyền là tạo tính chuyên nghiệp cho chính mình bằng cách mua những mô hình kinh doanh, những sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng, những cách thức kinh doanh …rất chuyên nghiệp của những công ty lớn với các thương hiệu nổi tiếng

3.1.5 Các hình thức nhượng quyền thương mại

Tùy theo tiêu chí phân loại mà chúng ta có thể phân chia hoạt đông franchise theo nhiều hình thức khác nhau

a) Theo tiêu chí lãnh thổ, ta có thể chia hoạt động franchise thành 3 loại:

Nhượng quyền từ nước ngoài vào Việt Nam: là hình thức mà chủ thương hiệu

là các thương hiệu nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo hình thức franchise Có thể

kể đến các thương hiệu nước ngoài nhượng quyền ở Việt Nam như: KFC, Msdonald’s, Jollibee…

Nhượng quyền từ Việt Nam ra nước ngoài: là hình thức mà các thương hiệu

Việt Nam đầu tư ra nước ngoài bằng cách nhượng quyền Trung Nguyên, Phở 24 là hai trong các thuong hiệu nổi tiếng ở Việt Nam đã nhượng quyền một cách thành công ra nước nhoài Phở 24 đã nhượng quyền thành công ra Jakarta (Indonesia), Manila

Trang 34

Trung Nguyên- thương hiệu cà phê hàng đầu ở Việt Nam cũng đã nhượng quyền ở rất nhiều nước như :Singapore, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Mỹ, Đức, Australia

Nhượng quyền trong nước: hiện nay các thương hiệu Việt Nam nhượng quyền

trong nước đã bắt đầu phát triển Chúng ta có thể thấy Kinh Đô, một thương hiệu bánh kẹo nổi tiếng với chuỗi các cửa hàng bánh kẹo nhượng quyền Ngoài ra còn có Phở 24,

cà phê Trung Nguyên, Foci… Theo hình thức hoạt động của lĩnh vực này

b) Theo hình thức hoạt động:

Nhượng quyền phân phối sản phẩm (Product distribution franchise): nước

uống Coca Cola, lốp xe Goodyear, xe hơi Ford… là những ví dụ cho hình thức kinh doanh nhượng quyền phân phối sản phẩm Đây là hình thức mà người nhượng quyền cho phép người nhận quyền phân phối sản phẩm do mình sản xuất, dịch vụ của mình trong phạm vi khu vực và thời gian nhất định, sử dụng thương hiệu, biểu tượng, tên nhãn hiệu, logo, slogan… Điểm khác biệt của hình thức này là bên nhượng quyền sẽ không nhượng lại cách thức kinh doanh Những ngành công nghiệp sử dụng hình thức nhượng quyền này có thể thấy là ngành sản xuất thức uống nhẹ, ngành công nghiệp ô

tô và xe tải, phụ tùng ô tô, xăng dầu… Hình thức nhượng quyền này trên thực tế không phổ biến như hình thức nhượng quyền sử dụng công thức kinh doanh

Quyền sử dụng công thức kinh doanh ( Business format franchise) : là hình

thức chuyển nhượng phổ biến nhất, còn gọi là nhượng quyền kinh doanh hay nhượng quyền thương mại được đề cập trong Luật Việt Nam Đây là hình thức nhượng quyền chặt chẽ hơn hình thức nhượng quyền phân phối sản phẩm, trong đó bên nhượng quyền không chỉ cho phép bên nhận nhượng quyền được phân phối sản phẩm dưới thương hiệu của người nhượng quyền mà còn chuyển giao kỹ thuật kinh doanh, công thức điều hành quản lý và huấn luyện nhân viên cho bên nhận nhượng quyền Đây là một sự khác biệt quan trọng so với hình thức nhượng quyền phân phối sản phẩm, vì bên nhượng quyền sẽ chuyển nhượng cho bên nhận quyền tất cả các yếu tố để tạo nên một hệ thống đồng bộ chẳng hạn như :phải chọn địa điểm kinh doanh ở đâu, chuẩn bị sản phẩm như thế nào, mua nguyên vật liệu ở đâu… Bên nhượng quyền cũng thường giúp bên nhận nhượng quyền trong việc điều hành, quản lý cơ sở nhượng quyền Ngược lại, bên nhận nhượng quyền sẽ trả cho bên nhượng quyền khoản phí bao gồm phí trọn gói một lần và phí hàng tháng dựa trên doanh số

Trang 35

c) Phân chia theo hình thức phát triển hoạt đông franchise:

Franchise độc quyền (Master franchise): Đây là hình thức nhượng quyền mà

chủ thương hiệu cấp phép cho người mua độc quyền kinh doanh thương hiệu của mình trong một khu vực nhất định (thành phố, lãnh thổ, quốc gia…) trong một thời gian nhất định Trong trường hợp này,người mua có thể nhượng quyền lại cho bên thứ ba dưới hình thức franchise phát triển khu vực (Area development franchise) hay franchise riêng lẻ ( Single unit franchise) Lúc này, người mua master franchise sẽ thay mặt cho chủ thương hiệu ký kết hợp đồng nhượng quyền với bên thứ ba và cung cấp các dịch

vụ hỗ trợ thương hiệu trong khu vực mà họ đã được nhượng quyền độc quyền Chính

vì thế, họ phải chịu phí franchise ban đầu khá lớn Ngoài ra, phần phí franchise hàng tháng thu được từ bên thứ ba sẽ được chia cho chủ thương hiệu và bên mua master franchise với tỉ lệ thỏa thuận, nhưng thường bên mua master franchise sẽ được chi nhiều hơn vì họ tự làm tất cả các hoạt động nhằm tìm kiếm và phát triển người mua franchise tại khu vực của họ

Đối với chủ thương hiệu, đây là hình thức nhanh nhất và phổ biến nhất đẻ đưa thương hiệu xâm nhập ra thị trường nước ngoài Với hình thức này, chủ thương hiệu

đã chuyển hầu như toàn bộ gánh nặng về phát triển thương hiệu ở khu vực đó cho bên mua master frachise

Franchise vùng (Regional franchise) :đây là hình thức franchise mà người

mua franchise vùng sẽ nhận nhượng quyền từ người chủ thương hiệu hoặc người mua franchise độc quyền để bán lại cho các người mua franchise nhỏ lẻ trong vùng mà mình mua Hình thức này giống như trung gian của master franchise và single unit franchise Điểm khác biệt của hình thức này là chỉ có thể nhượng quyền lại cho các single franchise chứ không được mở các cửa hiệu kinh doanh thuong hiệu của mình

Franchise phát triển khu vực (Area development franchise): đây cũng là

một hình thức trung gian của master franchise và single unit franchise như hình thức franchise vùng Tuy nhiên điểm khác biệt của hình thức này là người mua franchise khu vực sẽ mua franchise từ chủ thương hiệu trong một khu vực nhất định, trong một khoản thời gian nhất định nhưng không được bán franchise cho cac cửa hàng lẻ (single unit franchise) Người mua loại hình franchise này sẽ phải cam kết mở bao nhiêu cửa

Trang 36

hàng franchise trong thời gian nhất định Nếu họ muốn bán franchise lại cho bên thứ

ba thì họ phải mua master franchise

Đối với hình thức này, người mua franchise phải trà một khoản phí lớn để có thể độc quyền mở các cửa hiệu nhượng quyền trong một khu vực và thời gian nhất định

Franchise riêng lẻ ( single unit franchise) : đây là hình thức franchise phổ

biến nhất khi người mua franchise ký kết một hợp đồng mua franchise trực tiếp với người bán franchise Người bán này có thể là chủ thương hiệu hay đại lý độc quyền ( master franchise), hoặc là đại lý franchise vùng ( regional franchise) Người mua franchise lẻ được cấp quyền kinh doanh tại một địa điểm và thời gian nhất định bởi một hợp đồng nhượng quyền đổi lại họ sẽ phải trả một khoản phí cho bên bán franchise Sau thời gian này, hợp đồng có thể được gia hạn và người mua franchise phải trả thêm một khoản phí

Người mua franchise theo hình thức này không thể nhượng lại cho bên thứ ba hay tự ý mở thêm cửa hiệu kinh doanh cùng thương hiệu Vì thế, người mua nhượng quyền lẻ thường chỉ có thể mua được qua các master franchise hay các chủ thương hiệu nhỏ

Hiện nay hầu hết các thương hiệu nổi tiếng vào Việt Nam như : KFC, Jolibee, Loterria…đều thông qua con đường master franchise hay area development franchise Người mua franchise của các thương hiệu này thường có tiềm lực tài chính rất mạnh

để có thể chịu lỗ ít nhất vài năm trong thời gian tạo dựng và tìm kiếm khách hàng của mình

Trang 37

Bảng 3.1.Sơ Đồ Các Hình Thức Kinh Doanh Nhượng Quyền

Nguồn: Hiệp Hội Nhượng Quyền Kinh Doanh Quốc Tế - IFA

3.1.6.Những nội dung quan trọng của nhượng quyền thương mại

a Tính đồng bộ và hệ thống, tính điạ phương trong hệ thống nhượng quyền thương mại

Tính đồng bộ và tình hệ thống là điểm mạnh và là điểm bắt buộc của các doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền và được chuyên nghiệp đến mức cao nhất để đảm bảo hiệu quả kinh doanh tối đa Tính đồng bộ của hệ thống kinh doanh nhượng quyền được thể hiện không chỉ ở logo, nhãn hiệu, khẩu hiệu mà còn ở cách bài trí cửa hiệu, màu sắc trang trí, phương thức hoạt động…Vì tất cả các cửa hàng thuộc hệ thống của chủ thương hiệu đều phải đảm bảo không chỉ bán cùng sản phẩm với cùng chất lượng

mà còn phải mang đến cùng thông điệp cho khách hàng nên hệ thống franchise phải đảm bảo tính hệ thống cao Chỉ có một hệ thống vận hành tốt, đồng bộ mới đảm bảo các sản phẩm đầu ra chất lượng hoàn hảo và đồng đều Và tính đồng bộ trong từng chi tiết cũng giúp chủ thương hiệu dễ dàng hơn trong việc quản lý, huấn luyện, kiểm soát tất cả các cửa hàng trong chuỗi của mình

Có thể nói tính hệ thống trong hoạt động nhượng quyền là yếu tố rất quan trọng

và không thể thiếu nếu chủ thương hiệu muốn tạo dựng một hình ảnh đồng nhất, duy nhất đến cho khách hàng của mình Đừng để cho việc mở càng nhiều cửa hiệu nhượng

chủ thương hiệu (franchisor)

master franchise ( franchise độc quyền)

single unit franchise (franchise lẻ )

regional franchise ( franchise vùng)

single unit franchise (franchise lẻ)

erea development franchise (franchise phát triển khu vực)

single unit franchise (franchise lẻ)

Trang 38

thương hiệu chất lượng và uy tín làm cho hệ thống franchise càng mở nhiều ở khắp nơi

Tuy vậy, tính địa phương cũng cần được lưu ý ở đây vì nó thể hiện thói quen hay phong tục của người địa phương hay đôi khi ảnh hưởng đến việc kinh doanh ở một

số khía cạnh khác nhau Thói quen của khách hàng có thể thay đổi tùy theo mỗi vùng, thói quen này ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động của cửa hàng nhượng quyền, chẳng hạn : người TP.HCM có thói quen đi ăn khuya khá nhiều, nhưng ở Đà Nẵng thì người dân thường ít khi đi ra ngoài ăn khuya, hay ở nước có Đạo Hồi, McDonald’s đã phải thay đổi một chút về thực đơn của mình để vẫn đảm bảo vẫn đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, Phở 24 ở Hà Nội cũng có một số điểm khác so với Phở 24 ở TP.HCM như

Tóm lại, việc đảm bảo tính đồng bộ và hệ thống là một điều hết sức quan trọng đối với hoạt động nhượng quyền nhưng chủ thương hiệu vẫn có thể linh hoạt trong việc này nhưng phải đảm bảo việc truyền tải một ý tưởng về thương hiệu và nhượng quyền đến khách hàng

b Thương hiệu – tài sản vô hình trong các hệ thống nhượng quyền thương mại

Thương hiệu không phải là một nhãn hàng hóa vô giá trị gắn trên một sản phẩm Thương hiệu là một khái niệm trừu tượng, song nó có những đặc điểm riêng và rất giống với con người Thương hiệu có tính cách và định hướng mục tiêu, thương hiệu quan tâm đến dáng vẻ bề ngoài và ấn tượng mà nó tạo ra Nó bao gồm rất nhiều yếu tố, nhưng giá trị của thương hiệu còn cao hơn giá trị của các yếu tố đó gộp lại

Đối với người tiêu dùng, thương hiệu là một cái tên đáp ứng cho một nhu cầu

cụ thể nào đó của người tiêu dùng, cả về lý tính và cảm tính Thương hiệu là một sự đảm bảo về chất lượng tương ứng của một sản phẩm và còn là một công cụ để người tiêu dùng thể hiện bản thân mình trong xã hội

Trang 39

Từ góc độ công ty, thương hiệu là một sản phẩm cụ thể, bởi mỗi công ty có thể

có nhiều loại sản phẩm khác nhau Thương hiệu là một trong nhiều loại giá trị vô hình

Trong hoạt động franchise, như đã nhấn mạnh từ định nghĩa, thương hiệu là yếu

tố cốt lõi để hoạt động này có thể thực hiện được vì thực chất người chủ thương hiệu

đã nhượng lại quyền sử dụng thương hiệu của mình cho bên nhận nhượng quyền tại một khu vực nhất định và trong khoảng thời gian nhất định Do đó, thương hiệu đóng một vai trò rất quan trọng đối với cả người mua và bán franchise

Đối với người bán franchise, thương hiệu đóng vai trò đem lại lợi nhuận cho họ

từ uy tín và sự nổi tiếng của thương hiệu Khi nhượng quyền một thương hiệu càng nổi tiếng và uy tín thì người chủ thương hiệu càng nhận nhiều phí franchise hơn và cũng

dễ dàng bán franchise cho đối tác hơn, vì chắc chắn rằng người mua franchise sẽ sẵn sàng bỏ nhiều tiền hơn để mua một thương hiệu mạnh vì họ sẽ dẽ dàng bán sản phẩm

và dịch vụ hơn

Đối với người mua franchise thì thương hiệu đóng vai trò quan trọng hơn rất nhiều Trước hết, thương hiệu thành công như đã nói ở trên, sẽ mang khách hàng lại cho cửa hiệu vì theo định luật bầy đàn thì mọi người sẽ tin tưởng sử dụng loại sản phẩm của thương hiệu đã được nhiều người sử dụng Thương hiệu mạnh là dấu chứng nhận đảm bảo chất lượng của sản phẩm, dịch vụ cung cấp Bên cạnh đó, thương hiệu thể hiện cá tính, địa vị, phong cách sống của người sử dụng, giúp thỏa mãn các nhu cầu về tinh thần của họ, là thứ mà người tiêu dùng sẵn sàng trả thêm một khoản tiền xứng đáng để có được thương hiệu mong muốn

Bên cạnh đó, thương hiệu mạnh cũng giúp cho người được nhượng quyền có thế mạnh khi thương lượng với nhà cung ứng nguyên vật liệu, nhà phân phối về giá cả, phương thức thanh toán, vận tải…

Mặt khác, khi được nhượng quyền với một thương hiệu mạnh với thị phần lớn, mức độ hiện diện lớn sẽ nâng cao hiệu quả của các hoạt động tiếp thị, giúp giảm chi phí của các hoạt động tiếp thị trên mỗi sản phẩm Dĩ nhiên, thương hiệu mạnh dễ dàng được hưởng các ưu đãi từ các kênh truyền thông đại chúng

c Phí nhượng quyền:

Quyền kinh doanh được bên bán ( franchisor) bán cho bên mua ( franchisee) để

Trang 40

này phải giao ngay khi hợp đồng được ký kết Hợp đồng nhượng quyền này sẽ chi tiết hóa tất cả những điều khoản ràng buộc và nghĩa vụ của cả bên mua và bên bán, cũng như thời gian hợp đồng có hiệu lực

Phí franchise thực chất là giá mà người nhượng quyền bán cho người nhận quyền và sản phẩm đây là mô hình kinh doanh nhượng quyền tùy theo hình thức Với mỗi thương hiệu khác nhau thì chắc chắn mức phí này sẽ có sự khác nhau nhưng khó

mà so sánh được vì trong đó bao gồm cả giá của thương hiệu, một yếu tố rất khó định giá Sự khác nhau này tùy thuộc vào nhiều yếu tố

Yếu tố đầu tiên là mức độ nổi tiếng của thương hiệu Một thương hiệu nổi tiếng

sẽ đem lại nhiều thuận lợi cho người được nhượng quyền hơn, nên phí nhượng quyền

sẽ cao hơn những thương hiệu ít nổi tiếng hơn Những thương hiệu tầm cỡ toàn cầu như McDonald’S ( 500.000USD – 1.5 triệu USD ) hay KFC ( 250.000USD - 300.000USD ) thì phí nhượng quyền chắc chắn sẽ cao hơn những thương hiệu tầm quốc gia như Kinh Đô (30.000USD ),…

Ngoài ra, phí franchise còn phụ thuộc vào địa điểm nhượng quyền Những quốc gia, khu vực có khả năng tiêu thụ tốt sản phẩm các sản phẩm của cửa hàng nhượng quyền sẽ có chi phí nhượng cao hơn, vì sản phẩm ở đó chắc chắn sẽ được tiêu thụ nhiều hơn Ngoài ra, quốc gia nào có mức sống cao hơn thì phí nhượng quyền cũng sẽ cao hơn Điển hình như Phở 24 nhượng quyền ở TP.HCM chỉ khoảng 10.000USD/ một cửa hàng nhưng ở nước ngoài thì phí nhượng quyền khoảng 15.000USD/ một cửa hàng

Phí franchise còn khác nhau tùy vào ngành nghề franchise Không phải ngành nghề nào cũng có cách tính phí nhượng quyền giống nhau vì lợi nhuận, thời gian hoàn vốn khác nhau

Phí nhượng quyềm bao gồm phí nhượng quyền ban đầu, phí duy trì thương hiệu hằng tháng Ngoài ra, các chi phí bất động sản, trang máy móc thiết bị, bàn ghế…không được tính là phí nhượng quyền nhưng vẫn được các chủ thương hiệu yêu cầu đầu tư để đảm bảo tính đồng bộ, khả năng thành công của doanh nghiệp nhận nhượng quyền, những chi phí này gọi là chi phí đầu tư ban đầu Phí nhượng quyền ban đầu chỉ bao gồm tiền sử dụng tên và hệ thống sản xuất, điều hành, phí này còn để trang trải cho việc đào tạo theo chế độ, những thủ tục, tài liệu hướng dẫn và một số chi tiết

Ngày đăng: 07/03/2018, 10:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w