1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN TẠI HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

84 254 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẠM MINH LUÂN PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN TẠI HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH Thành phố Hồ Chí

Trang 1

PHẠM MINH LUÂN

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN TẠI HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 6/2012

Trang 2

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

PHẠM MINH LUÂN

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN TẠI HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

Ngành: Quản Trị Kinh Doanh

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

GVHD: ThS Đỗ Minh Hoàng

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 6/2012

Trang 3

Bất Bình Đẳng Trong Thu Nhập Của Người Dân Tại Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc

Trăng” do PHẠM MINH LUÂN, sinh viên khóa K34, ngành Quản trị kinh doanh, đã

bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _

ĐỖ MINH HOÀNG Giáo viên hướng dẫn

Trang 4

Để hoàn thành đề tài này, không những là sự nỗ lực của bản thân tôi mà còn là

sự giúp đỡ của rất nhiều người Qua đây tôi xin nói lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ tôi

Trước hết “Cho con gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Cha – Mẹ, các Chú và gia đình, người đã sinh ra con và nuôi dạy con khôn lớn, là chỗ dựa cả về vật chất lẫn tinh thần cho con, là niềm tự hào của bản thân con” Chúc cho gia đình ta luôn mạnh khỏe, hành phúc…

Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy – Cô Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM nói chung và Khoa Kinh Tế nói riêng, đã truyền đạt kiến thức cũng như kinh nghiệm cho tôi trong suốt những năm tháng ở giảng đường đại học

Đặc biệt, tôi xin trân thành cám ơn Cô Đỗ Minh Hoàng, người đã tận tình giúp

đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm đề tài

Cho tôi gửi lời cám ơn tới quý Cô – Chú, Anh – Chị ở Chi Cục Thống Kê, Phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, Phòng Văn Thư trực thuộc UBND Huyện Kế Sách đã tận tình giúp đỡ, chỉ dẫn cho tôi hoàn thành tốt khóa luận này

Ngoài ra cho tôi gửi lời cảm ơn tới quý anh chị, bạn bè… những người đã luôn quan tâm giúp đỡ tôi trong quá trình làm khóa luận cũng như trong cuộc sống hàng ngày

Cuối cùng cho tôi gửi lời chúc tốt đẹp nhất tới Trường ĐH Nông Lâm, UBND Huyện Kế Sách Chúc quý Thầy, quý Cô, quý Anh Chị và toàn thể bạn bè mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt

Xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên PHẠM MINH LUÂN

Trang 5

PHẠM MINH LUÂN Tháng 6 năm 2012 “Phân Tích Thực Trạng Bất Bình Đẳng Trong Thu Nhập Của Người Dân Tại Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng”

PHAM MINH LUAN June 2012 “Analysing The Inequality Situation of The Citizen’s Income in Ke Sach District, Soc Trang Province”

Đề tài “Phân Tích Thực Trạng Bất Bình Đẳng Trong Thu Nhập Của Người Dân Tại Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng” tập trung nghiên cứu thực trạng tăng trưởng và bất bình đẳng trong thu nhập của người dân Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng Cụ thể

đề tài đi sâu vào nghiên cứu các mặt sau:

- Phân tích tình hình đời sống của người dân tại Huyện Kế Sách

- Phân tích thực trạng bất bình đẳng trong thu nhập của người dân tại Huyện Kế Sách

- Đề xuất một số biện pháp xóa đói giảm nghèo

Qua đó phản ánh một cách chân thực về tình hình đời sống cũng như sự bất bình đẳng trong thu nhập, xác định xem những yếu tố nào tác động mạnh mẽ nhất tới

sự bất bình đẳng… Từ đó đề xuất một số biện pháp xóa đói giảm nghèo ở địa phương nhằm giảm dần khoảng cách giàu nghèo, thúc đẩy kinh tế Huyện Kế Sách tăng trưởng nhanh một cách bền vững

Để thực hiện đề tài này, tác giả đã thu thập số liệu, thông tin từ các phòng ban thuộc UBND Huyện Kế Sách, qua báo chí và internet Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc điều tra phỏng vấn 100 hộ nông dân trên địa bàn Huyện Phân tích số liệu bằng phương pháp so sánh, thống kê mô tả, phân tích tổng hợp cũng như sử dụng các công cụ đo lường mức độ bất bình đẳng như tỉ lệ thu nhập 20% cao so với 20% thấp, đường cong Lorenz, hệ số Gini…

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC HÌNH x

DANH MỤC PHỤ LỤC xi

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Cấu trúc đề tài 3

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 5

2.1 Điều kiện tự nhiên 5

2.1.1 Vị trí địa lý 5

2.1.2 Địa hình và thổ nhưỡng 6

2.1.3 Khí hậu và thời tiết 7

2.1.4 Thủy văn và sông ngòi 8

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 9

2.2.1 Dân số và lao động 9

2.2.2 Giáo dục, y tế 11

2.2.3 Hiện trạng phát triển kinh tế 14

2.2.4 Cơ sở hạ tầng 16

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 Cơ sở lý luận 18

3.1.1 Thực trạng bất bình đẳng trong thu nhập tại Việt Nam 18

Trang 7

vi

3.1.2 Một số khái niệm 26

3.1.3 Chỉ tiêu, chuẩn mực, đặc điểm, nguyên nhân của đói nghèo 28

3.2 Phương pháp nghiên cứu 33

3.2.1 Phương pháp thống kê mô tả 33

3.2.2 Phương pháp so sánh 34

3.2.3 Thước đo xác định bất bình đẳng trong thu nhập 34

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

4.1 Đặc trưng của mẫu điều tra 38

4.1.1 Nhân khẩu và quy mô gia đình 38

4.1.2 Độ tuổi và trình độ chuyên môn của người lao động 39

4.1.3 Vốn đầu tư của hộ gia đình 40

4.1.4 Phương tiện sinh hoạt và tình hình đời sống 41

4.2 Đánh giá sự bất bình đẳng trong thu nhập của người dân tại Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng 42

4.2.1 Đánh giá sự bất bình đẳng tại Huyện Kế Sách 42

4.2.1 So sánh sự bất bình đẳng thu nhập giữa nhóm hộ người Kinh và nhóm hộ Khmer 45

4.3 Phân tích ảnh hưởng của các nguồn thu nhập đến sự bất bình đẳng trong thu nhập của người dân tại Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng 48

4.3.1 Nguồn thu nhập ở Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng 48

4.3.2 Phân chia các nguồn thu nhập ảnh hưởng đến hệ số Gini 50

4.4 Bất bình đẳng trong phân phối đất đai ảnh hưởng đến bất bình đẳng trong thu nhập của người dân tại Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng 54

4.5 Nguyên nhân dẫn đến sự bất bình đẳng trong thu nhập ở Huyện Kế Sách Tỉnh Sóc Trăng 55

4.6 Những giải pháp xóa đói giảm nghèo và từ đó hạn chế sự bất bình đẳng ở địa phương 57

4.6.1 Nâng cao nhận thức và năng lực cho người dân 57

4.6.2 Giải pháp về vốn vay 58

4.6.3 Nâng cao năng suất nông nghiệp 59

4.6.4 Giải quyết việc làm cho người lao động thất nghiệp, thiếu việc làm 59

Trang 8

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

5.1 Kết luận 61

5.2 Kiến nghị 62

5.2.1 Đối với chính quyền địa phương 62

5.2.2 Đối với người dân địa phương 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC

Trang 9

(chỉ số nghèo đói tổng hợp)

NH CSXH : Ngân hàng Chính Sách Xã Hội

NH NN&PTNT : Ngân hàng Nông Ngiệp Và Phát Triển Nông Thôn PCGDTH : Phổ cập giáo dục tiểu học

PCGDTH ĐĐT : Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi

PCGD THCS : Phổ cập giáo dục trung học cơ sở

QHPLDS : Quan hệ pháp luật dân sự

THPT : Trung học phổ thông

UBND : Ủy Ban Nhân Dân

UNDP : United Nations Development Programme

(Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc)

(Ngân hàng Thế Giới)

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG 

TrangBảng 2.1 Diện Tích, Dân Số và Mật Độ Dân Số Năm 2011 10Bảng 2.2 Lao Động Xã Hội trên Địa Bàn Năm 2011 Phân Theo Ngành Kinh Tế 11Bảng 2.3 Thống Kê về Trường, Lớp, Giáo Viên, Học Sinh Huyện Kế Sách Năm Học

2010 – 2011 12Bảng 2.4 Số Cán Bộ Y Tế Huyện Kế Sách Năm 2011 13Bảng 2.5 Diện Tích, Năng Suất và Sản Lượng Lúa Huyện Kế Sách qua Các Năm

2009, 2010, 2011 15Bảng 3.1 Thu Nhập Bình Quân Đầu Người/Tháng của Từng Nhóm Trong 3 Năm

2006, 2008, 2010 22Bảng 3.2 Chuẩn Nghèo Giai Đoạn 1992 – 1995 30Bảng 4.1 Độ Tuổi Trung Bình Của Người Lao Động Trong Mẫu Điều Tra 39Bảng 4.2 Trình Độ Chuyên Môn của Người trong Độ Tuổi Lao Động của mẫu điều tra Năm 2011 40Bảng 4.3 Mục Đích Sử Dụng Vốn Vay của Các Hộ Dân 41Bảng 4.4 Tình Hình Nhà Ở, Điện, Nước của Các Hộ Dân 42Bảng 4.5 Thu Nhập Bình Quân Đầu Người/Năm của Từng Nhóm trong Năm 2011 43Bảng 4.6 Phân Phối Thu Nhập Bằng Đường Cong Lorenz 44Bảng 4.7 Phân Phối Thu Nhập Bằng Đường Cong Lorenz của Nhóm Hộ Người Kinh

và Khmer 46Bảng 4.8 Cơ Cấu Thu Nhập Bình Quân Đầu Người/Năm theo Từng Nhóm 49Bảng 4.9 Phân Tích Các Nguồn Thu Nhập Ảnh Hưởng đến Hệ Số Gini Chung của Huyện Kế Sách 51Bảng 4.10 Ảnh Hưởng Biên của Các Nguồn Thu Nhập đến Hệ Số Gini 52Bảng 4.11 Thu Nhập Bình Quân Đầu Người/Năm và Diện Tích Đất Bình Quân Đầu Người/Năm trong Năm 2011 54

Trang 11

x

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 2.1 Bản Đồ Ranh Giới Huyện Kế Sách 5 Hình 3.1 Mô Hình Đường Cong Lorenz 35 Hình 4.1 Đường Cong Lorenz Thể Hiện Sự Phân Phối Thu Nhập ở Huyện

Kế Sách 44 Hình 4.2 Đường Cong Lorenz Thể Hiện Sự Phân Phối Thu Nhập của 2 Nhóm

Hộ Gia Đình Người Kinh và Khmer 47

Trang 12

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Bảng Câu Hỏi Điều Tra Nông Hộ

Phụ lục 2 Một vài hình ảnh về Huyện Kế Sách

Trang 13

Đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, trình

độ dân trí thuộc loại thấp, tỷ lệ mù chữ chiếm đến trên 90%, nạn đói tràn lan Thế nhưng bằng những chính sách đúng đắn Việt Nam đã khắc phục được những khó khăn

đó và tiến lên Trong những năm qua Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu về tăng trưởng kinh tế Nền kinh tế liên tục tăng trưởng cao, thu nhập người dân được cải thiện Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế với những chuyển biến tích cực từ nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ, xuất nhập khẩu tăng, kim ngạch xuất nhập khẩu dần được cải thiện, mở rộng quan hệ ngoại thương với nước ngoài…

Huyện Kế Sách nằm ở vùng hạ lưu sông Hậu, cách Thành Phố Sóc Trăng 20

km Tuyến đường Nam sông Hậu dài 151 km, đoạn đi qua Huyện Kế Sách dài 23,7

km, là trục giao thông quan trọng, tạo môi trường thuận lợi cho việc khai thác tiềm năng và lợi thế của vùng ven sông Hậu Được sự quan tâm chỉ đạo tích cực của các

Trang 14

cấp, các ngành và sự nỗ lực của toàn dân trong việc huy động và sử dụng các nguồn nội lực, trong những năm qua, kinh tế Huyện Kế Sách tiếp tục phát triển khá toàn diện,

cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng Trong giai đoạn 2006 – 2007, có nhiều thuận lợi nên tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 13,5%; giai đoạn 2008 – 2010 tốc

độ tăng trưởng có chựng lại, ở mức dưới 12% Tính chung cả nhiệm kỳ, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 12% Giá trị gia tăng từ 653 tỷ đồng năm 2005 nâng lên 1.150 tỷ đồng vào năm 2010; trong đó, khu vực nông – lâm –ngư nghiệp (khu vực I) tăng 8,5%; khu vực công nghiệp – xây dựng (khu vực II) tăng 16,7% và khu vực dịch

vụ (khu vực III) tăng 16,6% Tỷ trọng khu vực I có xu hướng giảm từ 59,5% (năm 2005) xuống còn 54,5% (năm 2010); tương ứng, khu vực II tăng từ 11% lên 14%, khu vực III tăng từ 29,5% lên 31,5% Thu nhập bình quân trên đầu người năm 2010 đạt

747 USD

Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế cao cũng đem lại những kết quả xấu cho vấn đề bất bình đẳng thu nhập, phân hoá giàu nghèo tăng lên, khoảng cách thu nhập dãn ra Câu hỏi được đặt ra là tăng trưởng cao thu nhập đầu người tăng thì nếu người dân trở nên giàu có hơn thì tại sao chúng ta lại phải quan ngại về vấn đề bất bình đẳng? Tại sao ở Việt Nam nói chung và cụ thể tại Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng lại xảy ra tình trạng trên? Sự gia tăng bất bình đẳng có thể gây cản trở cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới như thế nào? 

Để trả lời cho những câu hỏi trên đề tài “ Phân Tích Thực Trạng Bất Bình Đẳng Trong Thu Nhập Của Người Dân Tại Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng” sẽ đi nghiên cứu những lý thuyết cơ bản về tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập, thực trạng tăng trưởng và phân phối thu nhập ở Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng Những thành tựu, những mặt hạn chế, yếu kém, đi tìm hiểu nguyên nhân của nó Gắn lý thuyết với những vấn đề thực tiễn ở địa phương, từ đó tìm ra giải pháp đúng đắn nhất cho vấn

đề tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân, giảm chênh lệch giàu nghèo đưa Kế Sách tiến lên, phát triển bền vững

Trang 15

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Để thực hiện mục tiêu tổng quát trên thì tôi tiến hành phân tích các mục tiêu cụ thể sau:

- Phân tích tình hình đời sống của người dân tại Huyện Kế Sách

- Phân tích thực trạng bất bình đẳng trong thu nhập của người dân tại Huyện Kế Sách

- Đề xuất một số biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập tại Huyện Kế Sách

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng tăng trưởng và bất bình đẳng trong thu nhập của người dân Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng

Luận văn gồm 5 chương

- Chương 1 Mở đầu: Đặt vấn đề, mục tiêu nghiên cứu và phạm vi thực hiện của

đề tài

- Chương 2 Tổng quan: Nêu một cách tổng quát về điều kiện tự nhiên và kinh

tế xã hội của Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng

Trang 16

- Chương 3 Nội dung và Phương pháp nghiên cứu: Trình bày cơ sở lý luận về nghèo đói, về bất bình đẳng trong thu nhập Nêu lên các phương pháp nghiên cứu mà tác giả đã sử dụng trong đề tài

- Chương 4 Kết quả và thảo luận: Nêu lên thực trạng về đời sống và bất bình đẳng trong thu nhập của người dân Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập Từ đó đề xuất các giải pháp thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo ở địa phương

- Chương 5 Kết luận và kiến nghị: Nêu tổng quát kết quả nghiên cứu đạt được cũng như những hạn chế của đề tài Ngoài ra còn đề xuất kiến nghị với các cơ quan liên quan để thúc đẩy kinh tế Huyện Kế Sách tăng trưởng nhanh một cách bền vững, đạt được thành công về giảm nghèo

Trang 17

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 

2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Kế Sách là một huyện nằm ở vùng hạ lưu sông Hậu, cách Thành Phố Sóc Trăng

20 km với tổng diện tích đất tự nhiên là 352,9 km2 Ranh giới đất đai của Kế Sách nằm

ở vị trí có tọa độ địa lý từ 9o14’ đến 9o 55’ vĩ độ Bắc và từ 105o30’ đến 106o04’ kinh

độ Đông Ranh giới hành chính:

- Phía Đông và Đông Bắc giáp Tỉnh Trà Vinh (qua sông Hậu)

- Phía Nam giáp Huyện Mỹ Tú và Huyện Long Phú

- Phía Tây và Tây Bắc giáp Tỉnh Hậu Giang

Hình 2.1 Bản Đồ Ranh Giới Huyện Kế Sách

Nguồn tin: Phòng Địa Chính Huyện Kế Sách

Trang 18

- Địa hình các cù lao trên sông Hậu gồm các Xã: Phong Nẫm, Cù Lao An Tấn,

An Công (Xã An Lạc Tây), cù lao Mỹ Phước (Xã Nhơn Mỹ)

sự tác động của chế độ bán nhật triều biển Đông Nhóm đất phù sa là nhóm đất tốt, thích hợp cho phát triển đa dạng hóa các loại cây trồng hàng năm và cây ăn quả lâu năm

- Nhóm đất glây có diện tích là 446,4 ha, chiếm 1,26% diện tích tự nhiên của Huyện, phân bố ở các Xã Xuân Hòa, Trinh Phú Nhóm đất này được hình thành và phát triển ở địa hình thấp trũng, khó thoát nước, chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều Đất glây có thời gian ngập úng trên 6 tháng trong năm, thường chỉ trồng được một vụ lúa, năng suất thấp

- Nhóm đất có nguồn gốc là đất mặn ít, diện tích 6.221,2 ha, chiếm 17,63% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các Xã Kế An, Kế Thành; Thị Trấn Kế Sách; Nhơn

Mỹ Toàn bộ diện tích nhóm đất có nguồn gốc là đất mặn ít thuộc loại đất tốt, độ phì

Trang 19

- Nhóm đất nhân tác có diện tích 11.761,21 ha, chiếm 33,33% diện tích tự nhiên, phân bố rộng khắp các Xã, Thị Trấn trong Huyện Nhóm đất này được hình thành do hoạt động lên líp trồng cây lâu năm, làm vườn Hầu hết nhóm đất nhân tác đã được khai thác sử dụng có hiệu quả và sử dụng vào nhiều mục đích sản xuất như: trồng màu, rau thực phẩm, cây ăn quả lâu năm, nuôi cá ao hồ và nuôi trong mương vườn

Các loại đất khác còn lại có diện tích 7.561,46 ha, bao gồm đất ở, đất sông, kênh, rạch và đất có mặt nước chưa sử dụng

Nhìn chung, tài nguyên đất đai của Kế Sách đã được khai thác sử dụng với điều kiện tự nhiên và phát huy lợi thế của vùng ven sông Hậu Phần lớn diện tích đất nông nghiệp đã được đầu tư thâm canh, nâng cao mức thu nhập trên một đơn vị diện tích sản xuất Đồng thời, đang có xu hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tăng diện tích và sản lượng các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù hợp với nhu cầu thị trường

2.1.3 Khí hậu và thời tiết

Huyện Kế Sách nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu, thời tiết mang nét đặc trưng của Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, có chế độ nhiệt cao

Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 26,8oC Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 37,8oC (vào tháng 4 hàng năm); nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 16,2oC (vào tháng 12 –

1 hàng năm) Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm là 2.342 giờ, bình quân 6,5 giờ/ngày

Trong năm, khí hậu chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình là 1.846 mm; lượng

Trang 20

mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm, trong mùa mưa lượng mưa chiếm trên 90% tổng lượng mưa cả năm, tổng số ngày mưa trung bình là 136 ngày/năm

Trên địa bàn Huyện có 2 hướng gió chính: gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Tốc độ gió trung bình 2m/s Mỗi năm bình quân có trên 30 cơn giông và lốc xoáy, gây thiệt hại đến sản xuất

và đời sống Các yếu tố khí hậu thời tiết bất lợi và thiên tai có chiều hướng gia tăng trong những năm gần đây

Nhìn chung, các yếu tố khí hậu thời tiết cơ bản thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa cây trồng vật nuôi Tuy nhiên, những biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra, nhất là vấn đề nước biển dâng sẽ tác động mạnh đến các vung ven sông Việc kiên cố hóa hệ thống đê sông trên địa bàn Kế Sách cần được coi trọng trong thời kỳ tới

2.1.4 Thủy văn và sông ngòi

Toàn bộ diện tích đất đai của Huyện Kế Sách chịu ảnh hưởng mạnh của chế độ thủy văn sông Hậu, là địa bàn được cung cấp nguồn nước ngọt khá dồi dào, hầu hết diện tích đất trồng cây hàng năm có đủ nước ngọt để sản xuất 2 -3 vụ/năm Đồng thời

có nhiều thuận lợi cho phát triển nuôi cá nước ngọt ven sông Hậu, nuôi cá ở các vùng cồn, bãi, nuôi trong mương vườn và nuôi kết hợp trồng lúa Tuy nhiên, do chế độ thủy văn trên sông Hậu chịu tác động trực tiếp của chế độ bán nhật triều biển Đông có biên

độ lớn (biên độ triều trung bình từ 3 – 3,5 m tại Cái Côn) nên về mùa mưa kiệt, nước mặn có thể xâm nhập sâu đến phà Đại Ngãi (ở mức 1‰) Cần đầu tư kiên cố hóa hệ thống bờ bao để chống xâm nhập mặn và giữ nước ngọt

Trên địa bàn Huyện Kế Sách trữ lượng và chất lượng nước ngầm gần giống với nhiều địa bàn khác thuộc Tỉnh Sóc Trăng Nguồn nước ngầm tầng sâu từ 80 – 180 m là nguồn nước chủ yếu được khai thác phục vụ cho sinh hoạt, trữ lượng nước dồi dào (khoảng 350.000 m3/ngày.đêm), chất lượng tốt Chất lượng nước ngầm ở tầng này có các chỉ tiêu sau: pH = 7-8,5; hàm lượng sắt từ 0,1 – 0,8 mg/lít, độ mặn từ 100 – 200 mg/lít Các tính chất khác như độ trong, hàm lượng ion SO4, NO3 vào loại bình thường, hầu như không có khuẩn Ecoli và Colifrom, cơ bản đảm bảo vệ sinh phục vụ sinh hoạt Tuy nhiên phải đầu tư thiết bị xử lý thì mới đạt tiêu chuẩn nước sạch Ở độ sâu lớn hơn 300: chất lượng nước ở tầng này có độ pH= 7 – 8,3; hàm lượng sắt tổng

Trang 21

9

cộng khoảng 0,1 – 0,36 mg/l (nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép đối với nước uống), độ mặn 210 – 275 mg/l và không có vi khuẩn nên có thể khai thác sử dụng tốt cho sinh hoạt Tuy vậy, đến nay khả năng khai thác tầng nước này còn rất hạn chế do giá thành cao

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.2.1 Dân số và lao động

a) Dân số

Tính đến năm 2011 dân số của Huyện là 159.562 người, chiếm 12,19% dân số toàn Tỉnh Trên địa bàn Huyện có nhiều dân tộc sinh sống, chủ yếu là người Kinh, người Khmer và người Hoa

Nhờ thực hiện tốt công tác DS & KHHGĐ, đồng thời một bộ phận người dân di

cư lên các thành phố lớn làm ăn nên trong những năm gần đây, tốc độ gia tăng dân số tương đối thấp cụ thể năm 2007 (0,84%), năm 2008 (0,69%), năm 2009 (0,87%), năm

2010 (0,59%) và năm 2011 (0,51%)

Mật độ dân số bình quân năm 2011 là 452,15 người/ km2 Thị Trấn Kế Sách có mật độ dân số cao nhất là 940,61 người/km2 Ở các Xã, dân cư phân bố tương đối đồng đều, chỉ có một Xã Phong Nẫm, mật độ dân số thấp nhất là 288,96 người/km2 Chi tiết được thể hiện qua bảng 2.1

Trang 22

Bảng 2.1 Diện Tích, Dân Số và Mật Độ Dân Số Năm 2011

trung bình

Mật độ dân số

(km2) (người) (người/km2) TOÀN HUYỆN

159.562 13.780 11.552 11.416 14.744 8.299 9.607 19.120 4.973 10.400 21.469 8.738 13.726 11.738

452,15 940,61 393,73 396,11 452,13 386,54 377,04 494,44 288,96 562,90 131,19 313.19 430,28 442,11 Nguồn tin: Chi Cục Thống Kê Huyện Kế Sách

b) Lao động

Kế Sách có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng, là nơi cung cấp và hậu thuẫn đắc lực về nguồn nhân lực cho các khu đô thị và khu công nghiệp Theo số liệu của Phòng Lao Động Thương Binh và xã hội trong năm 2011, toàn Huyện có khoảng 102.493 người trong độ tuổi lao động, chiếm 64.2% trên tổng dân số, đây là những lao động chính trong gia đình Ngoài ra, trong sản xuất nông nghiệp còn có một lực lượng lao động phụ quan trọng nằm ở trên và dưới độ tuổi lao động Cơ cấu lao động làm việc trong các ngành kinh tế - xã hội đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng lao động làm việc trong các ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ; đồng thời, giảm tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp và thủy sản

Trang 23

11

Tuy nhiên, kinh tế của Huyện Kế Sách chủ yếu là nông nghiệp nên số lượng lao động trong ngành nông nghiệp và thủy sản chiếm tỷ lệ cao, sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp còn chậm Dự báo trong những năm tới, số người bước vào độ tuổi lao động của Huyện sẽ tiếp tục tăng, nhưng chất lượng nguồn lao động còn thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo trên địa bàn Huyện đến năm

2011 mới đạt 18 – 19% (kể cả đào tạo nghề ngắn hạn) Do đó, cần coi trọng công tác tuyển chọn đưa đi đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Cung cấp nguồn lao động cho các Trung tâm kinh tế trong và ngoài Tỉnh; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật

Thông tin lao động năm 2011 được thể hiện rõ trong bảng 2.2

Bảng 2.2 Lao Động Xã Hội trên Địa Bàn Năm 2011 Phân Theo Ngành Kinh Tế

Số lượng (người)

Tỉ lệ (%) Tổng lao động

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Công nghiệp, xây dựng

Thương mại, dịch vu, KSNH

Giao thông, vận tải

471

886 2.315

Trang 24

giáo dục - đào tạo được Huyện quan tâm đầu tư, xây dựng Nền giáo dục của Huyện

trong những năm qua có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, góp

phần nâng cao dân trí Đảng bộ Huyện đã tập trung chỉ đạo công tác giáo dục từ cấp

mầm non đến Phổ thông trung học Tính đến cuối năm 2010, Huyện đã được công

nhận đạt chuẩn Quốc gia về PCGDTH, PCGDTH ĐĐT, PCGD THCS, và có 18

trường đạt chuẩn Quốc gia ( Mẫu giáo: 02, Tiểu học: 10, THCS: 6)

Năm học 2010 – 2011, Toàn Huyện có 74 trường học, trong đó 68 trường trực

thuộc quản lý của Phòng Giáo dục và Đào tạo ( 17 trường mẫu giáo, 36 trường Tiểu

học, 15 trường THCS); và 4 trường THPT; 01 trường DTNT; 01 trường mẫu giáo dân

lập Tổng số lớp học (từ mẫu giáo đến THPT) là 1.140 lớp, với 31.384 học sinh dưới

sự giảng dạy tận tình của 1.852 giáo viên Chi tiết cụ thể được cho ở bảng 2.3:

Bảng 2.3 Thống Kê về Trường, Lớp, Giáo Viên, Học Sinh Huyện Kế Sách Năm

Nguồn tin: Chi Cục Thống kê Huyện Kế Sách

Trong những năm qua, ngành giáo dục và đào tạo Huyện nhà đã không ngừng

phấn đấu thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu về giáo dục - đào tạo, số

trường, lớp và đội ngũ cán bộ giảng dạy đã tương đối đầy đủ Tuy nhiên vẫn còn một

số mặt hạn chế như cơ sở vật chất còn thiếu và cũ kỹ, lạc hậu Đồ dùng học tập, thiết

bị, dụng cụ phục vụ cho công tác giảng dạy còn ít, học sinh và giáo viên chỉ học chay

Trang 25

13

bằng lý thuyết, số giờ thực hành rất ít và nếu có thì học sinh chỉ biết sơ qua Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì việc đào tạo về ngoại ngữ và tin học là rất cần thiết nhưng đến nay cả Huyện chỉ có một số trường tiến hành giảng dạy, chủ yếu là học sinh THCS và THPT nhưng cơ sở vật chất thiếu đồng bộ, máy vi tính thì cũ, chất lượng kém, giờ thực hành ít, do vậy ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy và học của học sinh, hạn chế sự tiếp xúc, mở rộng hiểu biết của học sinh

b) Y tế

Năm 2011, hoạt động y tế cơ sở trên địa bàn Huyện Kế Sách từng bước được nâng cao chất lượng, duy trì kiểm tra và tổ chức họp giao ban luân phiên hàng tháng tại các trạm y tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các trạm học tập, trao đổi kinh nghiệm, để thực hiện đạt 10 chuẩn y tế cơ sở theo quy định

Bệnh viện Đa khoa Kế Sách là trung tâm y tế lớn nhất của Huyện, với tất cả các khoa, các bộ phận Sau khi tách khỏi Trung tâm Y tế Huyện, Bệnh viện Đa khoa Kế Sách hoạt động theo mô hình mới với tiêu chuẩn của bệnh viện hạng ba ở tuyến Huyện Theo đó, công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe người dân từng bước phát triển, nhất là khi đơn vị được đầu tư cải tạo, nâng cấp và mở rộng xây dựng cơ sở vật chất Ban Giám đốc Bệnh viện luôn chú trọng việc thực hiện tốt các hoạt động về chuyên môn và cung cách phục vụ người bệnh

Hiện nay có 13/13 Xã đạt chuẩn quốc gia về y tế Trong năm 2011, ngành Y tế Huyện Kế Sách đã tổ chức khám bệnh cho 257.324 lượt người - đạt 132,98%; điều trị nội trú 12.000 lượt bệnh nhân - đạt 117,74% Công tác phòng chống dịch bệnh được tích cực triển khai

bộ y tế, trong đó 0,26 bác sĩ Qua số liệu trên cho thấy mức độ người dân được chăm

Trang 26

sóc y tế còn thấp Mặc dù đã được đầu tư trang thiết bị và mở rộng hệ thống y tế tới tất

cả các Xã, Thị Trấn nhưng cơ sở vật chất phục vụ y tế còn thiếu thốn, đặc biệt là ở các Trạm y tế Xã thiếu cả về cán bộ lẫn thiết bị y tế Chủ yếu là các y tá và họ làm những công việc đơn giản như sơ cứu, cấp phát thuốc Trung tâm y tế Huyện còn thiếu máy móc, thiết bị hiện đại để chuẩn đoán, điều trị bệnh Điều nảy ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho người dân, dẫn đến chi phí khám chữa bệnh cao vì nếu mắc bệnh nặng họ phải ra tuyến trên

2.2.3 Hiện trạng phát triển kinh tế

- Cây lúa: đặc diểm canh tác của người dân Kế Sách là sản xuất 3 vụ lúa/ năm; gồm 2 vụ sản xuất chính, 1 vụ lúa thứ ba sử dụng các giống lúa cao sản chất lượng cao, ngắn ngày (từ 90 – 100 ngày) Để thấy được tình hình sản xuất lúa của Huyện chúng ta xem qua bảng sau:

Trang 27

- Rau màu: Đối với sản phẩm màu ở Kế Sách rất đa dạng và có thể phát triển kết hợp với các loại hoa màu khác dưới hình thức luân canh hay xen canh cho giá trị kinh tế cao Các loại hoa màu phổ biến ở đây là: đậu xanh, đậu nành, đậu đũa, hẹ, bắp cải, dưa leo, củ cải trắng, đậu que, bắp ăn, hành lá, khổ qua… Các sản phẩm rau màu truyền thống có lợi thế cạnh tranh cao nhưng sản xuất còn bấp bênh, mang tính tự sản,

tự tiêu ở các chợ địa phương nên hiệu quả kinh tế còn lệ thuộc và điều kiện thị trường

- Cây ăn trái: được trồng rất đa dạng, chủ yếu là 2 nhóm chính: cây có múi (quýt, bưởi, cam, chanh) và nhóm cây khác như (xoài, nhãn, sầu riêng, măng cụt…)

* Chăn nuôi

Tình hình chăn nuôi của Huyện có bước phát triển trong những năm qua; tập trung vào một số vật nuôi như heo, bò, gia cầm (chủ yếu là gà thả vườn, vịt chạy đồng) Năm 2011, toàn Huyện có 35.405 con heo, 978 bò và 679.081 con gia cầm Tuy nhiên, chăn nuôi còn phân tán theo quy mô nhỏ, các mô hình trang trại theo hình thức chăn nuôi công nghiệp, bán công nghiệp còn chưa nhiều, phát triển chậm

Trang 28

* Nuôi trồng thủy sản

Điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế xã hội của Huyện có nhiều thuận lợi để nuôi trồng thủy sản Theo số liệu của chi cục thống kê Huyện năm 2011, diện tích nuôi trồng thủy sản của Huyện là 3.247 ha, chủ yếu là nuôi cá nước ngọt với các mô hình

đa canh, kết hợp giữa trồng lúa – cá, mô hình vườn ao chuồng với tổng sản lượng đạt 22.977 tấn

Trong một vài năm gần đây do nuôi trồng thủy sản đạt hiệu quả kinh tế cao nên phong trào nuôi trồng thủy sản của Huyện phát triển mạnh, nhất là nuôi cá tra cung cấp cho các nhà máy chế biến xuất khẩu trong và ngoài Tỉnh Do đó, nếu được đầu tư tốt, nuôi trồng thủy sản nước ngọt là một thế mạnh của Huyện

b) Công nghiệp và dịch vụ

Công nghiệp và dịch vụ chưa được phát triển, chính sự tăng trưởng của hai khu vực này thấp là nguyên nhân tăng trưởng kinh tế chung thấp, đã làm cho dịch chuyển kinh tế bị chậm, thể hiện nền kinh tế Huyện thuần nông; tiềm năng phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến nông – thủy sản, phát triển dịch vụ, nhất là du lịch sinh thái của Huyện rất lớn

2.2.4 Cơ sở hạ tầng

a) Giao thông

Kế Sách là Huyện có vị trị địa lý khá thuận lợi cho việc giao thương và phát triển kinh tế, xã hội Từ Kế Sách, chúng ta có thể đi lại các Tỉnh khác trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long khá dễ dàng và nhanh chóng với nhiều tuyến quốc lộ được

mở rộng và xây dựng mới như ngày nay

Tuyến đường Nam sông Hậu dài 151 km, đoạn đi qua Huyện Kế Sách dài 23,7

km, là trục giao thông quan trọng nối thành phố Cần Thơ với Huyện Kế Sách, tạo môi trường thuận lợi cho việc khai thác tiềm năng và lợi thế của vùng ven sông Hậu Các tuyến đường Tỉnh (ĐT.01 và ĐT.02) nối đường Nam sông Hậu với Quốc lộ 1A, cùng các tuyến đường Huyện và giao thông nông thôn sẽ được nâng cấp, là điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh phát triển toàn diện các ngành kinh tế - xã hội của Kế Sách

Ngoài giao thông đường bộ, Kế Sách còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt,

là điều kiện thuận lợi cho việc giao thương buôn bán Năm 2010, có tổng cộng 717.000 tấn hàng hóa được vận chuyển bằng đường sông

Trang 29

17

Đảng bộ và chính quyền Huyện Kế Sách trong những năm qua đã không ngừng đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân góp phần xây dựng nông thôn mới, phát triển giao thông nông thôn giai đoạn 2011-2015; hùn tiền bơm cát lộ nông thôn, làm mới lộ đal, nạo vét kênh thủy lợi, tu sửa các tuyến đê cồn xung yếu, bắt mới

11 cầu bê tông… tổng kinh phí gần 2 tỷ đồng

b) Thủy lợi

Được sự giúp đỡ của Trung ương, Kế Sách tập trung đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi; không ngừng tu bổ, nâng cấp các công trình ngăn mặn, trạm bơm đầu mối, nạo vét, tu bổ các tuyến kênh cấp I, kênh trục nội đồng theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng làm để tăng năng lực chủ động tưới, tiêu Xây mới và kiên cố hoá các tuyến đê sông xung yếu, cứng hoá và gia cố mặt đê tăng khả năng an toàn của đê kết hợp phục vụ giao thông nông thôn; tạo nguồn tưới tiêu cho hàng trăm nghìn ha đất nông nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương, nâng cao đời sống nhân dân

c) Hệ thống điện, nước

Hiện nay tất cả 13 Xã, Thị Trấn của Huyện Kế Sách đã có lưới điện đến trung tâm Xã và các cụm dân cư Số hộ sử dụng điện lưới quốc gia trong Huyện ngày càng tăng Đây là điều kiện quan trọng góp phần cải thiện đời sống dân sinh và cung cấp điện cho sản xuất để thực hiện công nghiệp hóa nông thôn Kế Sách

Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là tiêu chí quan trọng trong xây dựng nông thôn mới Bởi lẽ khi người dân nông thôn có nước sạch sử dụng sẽ đảm bảo được sức khỏe, nâng cao đời sống Do vậy, Vấn đề cấp nước sinh hoạt nông thôn ở Kế Sách đã được các ngành các cấp hết sức quan tâm Hiện tại, Huyện đã có một số trạm cấp nước sạch ở các khu vực đông dân cư như Thị Trấn, nhưng đa số hộ dân ở đây vẫn dùng nước giếng khoan là chủ yếu

Trang 30

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

hệ thống sản xuất hữu hiệu Giá đó được hình thành thông qua cơ chế cung cầu của thị trường

Hệ thống giá này có tạo ra những mức chênh lệch thu nhập không thỏa đáng trên bình diện xã hội hay không? Ngay trong một nền kinh tế có cạnh tranh hoàn hảo với mọi hàng hóa và tư liệu sản xuất tự do lưu thông, giá thị trường chỉ phản ánh tính

có hiệu năng Hệ thống giá này không thể hiện và đảm bảo tính xã hội, chẳng hạn như ước lệ về sự công bằng, về sự tương hỗ giữa những thành viên của tập thể, về an ninh quốc gia, vv Chính vì thế mà chúng ta thấy trong mọi nền kinh tế, ở những mức độ khác nhau, có những chính sách Nhà Nước nhằm điều chỉnh sự phân bố thu nhập - lợi tức

Từ điểm chính vừa nêu trên, ta thấy phân bố và sự chênh lệch thu nhập là một vấn đề không thể dùng cơ chế thị trường mà giải quyết được Chúng ta có thể củng cố nhận định cơ bản này bằng hai yếu tố khác Yếu tố thứ nhất là cách xem xét vấn đề của luận chứng Tân Cổ Điển dựa trên giả thiết cơ chế cạnh tranh toàn hảo Theo đó, luận

Trang 31

19

 

chứng này không thể đứng vững khi trên thực tế , cơ chế thị trường thực ra là cạnh tranh không hoàn hảo (imperfect competition), một sự kiện khó chối bỏ được Thứ đến, làm thế nào để bảo đảm tính lưu động nhằm tạo tiền đề thuận lợi cho cơ chế thị trường không phải là "giải quyết" vấn đề Ở đây, xin lưu ý là có những yếu tố sản xuất

cố định và những điều kiện sản xuất bất biến như đất đai, khí hậu Mặt khác, lưu động của tư liệu sản xuất và lao động tạo ra những chi phí giao dịch (transaction cost) Những chi phí này có thể rất đáng kể đối với cá nhân lẫn xã hội Cuối cùng, di chuyển lao động từ vùng này qua vùng kia tùy thuộc vào nhiều yếu tố, không chỉ đơn thuần là

đi tìm công ăn việc làm với mức thu nhập cao Nhà trường, nhà thương là những thành phẩm xã hội công cộng (public good) có tác động lên những quyết định này

Rất khó định nghĩa đầy đủ được một phân bố thu nhập tối ưu Ở đây, tối ưu không còn chỉ là một hệ phân bố phù hợp với, hoặc tạo ra, hay hình thành từ một hệ sản xuất hữu hiệu Khái niệm tối ưu trên bình diện xã hội đòi hỏi một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính hữu hiệu kinh tế với những giá trị xã hội khác như công bằng, bác ái Trên vấn đề này, thuật học Kinh Tế chưa cho phép chúng ta có thể xác quyết gì được Vì lẽ đó, tôi thiển nghĩ, chúng ta nên quay lại với những sự kiện Trên cơ sở những số liệu thu thập được, tôi đặc biệt đặt trọng tâm trên hệ phân bố thu nhập theo vùng và, trong một quốc gia nông nghiệp như nước ta, trên mức chêch lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn Tôi xin nhấn mạnh vấn đề trên bình diện ổn định và an ninh quốc gia Lẽ dĩ nhiên là nếu không có một mức ổn định và an ninh tối thiểu, viễn ảnh một nền kinh tế có phát triển để từng bước hiện đại hóa hay không sẽ lại bị đẩy lùi

Trong mọi tập hợp các quốc gia, mức chêch lệch thu nhập theo vùng thường một mặt phản ánh điều kiện địa dư của phân bố tài nguyên, mặt khác phản ánh mức độ phát triển của từng vùng và sự hòa nhập kinh tế của các vùng với nhau Nếu chêch lệch ở mức không đáng kể, sự ổn định có thể coi như là có Nhưng một khi chêch lệch đạt đến một mức "nào đó", mâu thuẫn quyền lợi kinh tế địa phương là điều không tránh được Những mâu thuẫn này có thể dẫn đến những xung đột mà mức gay gắt nhất là ly khai Lịch sử nhân loại đầy những thí dụ này, và nhất là ở Châu Phi trong hai mươi năm trở lại đây Cách giải thích thường ghép thêm sắc tộc vào những vùng xảy

Trang 32

20

ra ly khai, và đem những lý lẽ như văn hóa, quyền tự trị ra làm nguyên do cho những xung đột không thể hòa giải được này Thực ra, chính mức chêch lệch thu nhập mới là động cơ, và nếu thêm tác động từ bên ngoài, thường là từ một cường quốc có quyền lợi kinh tế trong vùng, thì khả năng đẩy mức độ xung đột đến bạo loạn ly khai mới có thể

có được

Sự chêch lệch thu nhập thành thị và nông thôn cũng là một sự kiện thường thấy

ở những nước nông nghiệp Từ những thập niên vừa qua, giá quốc tế những mặt hàng nhóm một (nông, lâm sản, nguyên liệu thô, sơ chế) giảm đi so với giá những mặt hàng công nghiệp Vì công nghiệp thường có địa bàn hoạt động trong thành thị và vùng lân cận, mức thu nhập của dân thành thị tăng lên so với dân ở nông thôn Ngoài ra, những tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp và công nghiệp chế biến khiến mức cầu lao động nông nghiệp giảm, lượng cung lao động vượt cầu, gây thêm tác động tiêu cực trên mức thu nhập của người dân ở nông thôn Ngày nay, với sự phát triển của khâu dịch vụ cũng chủ yếu là ở thành thịï, sự chêch lệch thu nhập này lại càng tăng thêm

Tóm lại, nói chung là độ ổn định một tập hợp quốc gia chỉ có thể tăng lên một khi mức chêch lệch thu nhập của những thành viên cấu thành nó giảm đi Và ngược lại Vì thế, trên con đường tìm hướng ổn định, ta không thể nào không rà xoát những mức chêch lệch thu nhập và có biện pháp đối phó thích ứng

b) Thu nhập bình quân tăng lên nhưng đời sống người dân không được cải thiện

Tăng trưởng để cải thiện đời sống nhân dân là mục đích mà chính phủ một số nước theo đuổi, song không phải tất cả các nước đều theo đuổi mục tiêu này Những nguyên nhân mục tiêu ưu tiên khác nhau trong phát triển chính là nguyên nhân làm cho phát triển kinh tế, không có nghĩa là nâng cao thu nhập của mọi gia đình, mọi người dân Những nguyên nhân đó là:

- Thứ nhất, trong một số trường hợp chính phủ muốn tăng thêm sức mạnh quân

sự hoặc danh tiếng của đất nước và danh tiếng của các tập đoàn cai trị mà đã đầu tư vào hệ thống quân sự, những dự án trong rừng rậm, trên sa mạc Đây là những dự án đầu tư mang lại ít lợi ích trực tiếp cho người dân

- Thứ hai, do các nguồn lực khan hiếm, để tạo ra sự tăng trưởng tiếp theo, do vậy một số bộ phận lớn thu nhập được dùng để tái đầu tư Nếu quá trình này tiếp tục

Trang 33

sẽ giàu thêm, người nghèo lại nghèo đi

Như vậy, có thể giải thích vì sao trong quá trình công nghiệp hóa đang tiến triển

và tổng thu nhập quốc dân của đất nước liên tục tăng lên thì còn số đông dân chúng ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh còn sống trong cảnh nghèo khổ

c) Đánh giá sự bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam

Ở Việt Nam từ khi có đường lối đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo

cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, tuy nền kinh tế có phát triển mạnh, tốc

độ tăng trưởng hàng năm là khá cao, nhưng đồng thời cũng phải đương đầu với vấn đề phân hóa giàu nghèo, hố ngăn cách giữa bộ phận dân cư giàu và nghèo đang có chiều hướng mở rộng, nhất là giữa thành thị và nông thôn Khi mà nền kinh tế thị trường đặt tất cả các chủ thể phải hoạt động không ngừng và phải biết thích ứng với cơ chế mới Một bộ phận dân cư do nắm được cơ hội làm ăn và trở nên giàu có, trong khi đó một

bộ phận khác vẫn sống trong cảnh nghèo khổ do ảnh hưởng của cơ chế mới này Như vậy, trong quá trình tăng trưởng mức độ chênh lệch này cũng gia tăng, bởi vì thu nhập của người dân tăng theo mức độ khác nhau

Nếu phân chia dân cư theo mức thu nhập thành 5 nhóm, mỗi nhóm chiếm 20% dân số đất nước như thông lệ quốc tế thì thu nhập bình quân đầu người 1 tháng giữa các nhóm trong 3 năm 2006, 2008, 2010 như bảng 3.1

Trang 34

689 1.557,1

275 477,1 699,9 1.067,4 2.458,2

369

3.400

Nguồn tin: Tổng cục Thống kê Việt Nam Qua bảng 3.1 ta thấy năm năm 2006 thu nhập bình quân đầu người/tháng của

nhóm có thu nhập cao nhất gấp 8,49 lần so với nhóm có thu nhập thấp nhất, năm 2008

gấp 8,69 lần và năm 2010 là 9,21 lần Qua đó cho thấy rằng Sự phân hóa giàu nghèo ở

Việt Nam vẫn coi là tương đối bình đẳng song đang có xu hướng tăng

Dựa vào hệ số Gini trong những năm trở lại đây thấy rằng hệ số Gini của Việt

Nam vẫn nằm trong phạm vi an toàn Cụ thể năm 2010 hệ số này hiện ở mức 0,43 và

có xu hướng tăng qua các năm (năm 2002 là 0,418, năm 2004 và 2006 là 0,42 đến năm

2008 là 0,43)

Để đánh giá mức độ bình bình đẳng trong phân phối thu nhập, Ngân Hàng Thế

Giới còn dựa vào tỷ trọng thu nhập của 40% số hộ có thu nhập thấp nhất chiếm bao

nhiêu trong tổng thu nhập của tất cả dân cư và được xác định như sau:

- Nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 12% thì coi như bất bình đẳng cao

- Nếu tỷ lệ này từ 12 – 17% được coi là bất bình đẳng vừa

- Nếu tỷ lệ này lớn hơn 17% được coi là tương đối bình đẳng

Tỷ trọng này ở nước ta tính theo số hộ là 17,98% năm 2002; 17,4% năm 2004

và 2006; năm 2008 là 16,4% đến 2010 tỷ trọng này là 15%

Theo kết quả điều tra các chỉ tiêu dân số và AIDS (VPAIS) được Tổng cục

Thống kê công bố năm 2006, mức sống dân cư những năm gần đây đã được cải thiện

Trang 35

23

 

đáng kể nhưng vẫn có sự chênh lệch khá lớn giữa thành thị và nông thôn Kết luận này được đưa ra từ việc tính toán chỉ số giàu có ngũ phân vị-là mức độ giàu có phù hợp với các số đo về chi tiêu và thu nhập (Rutstein) được nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam sử dụng để đánh giá về tình trạng kinh tế của hộ gia đình và mức sống dân

cư Theo Tổng cục Thống kê, có 85% số dân thành thị thuộc hai nhóm ngũ phân vị cao nhất trong khi có tới gần một nửa số dân nông thôn thuộc hai nhóm ngũ phân vị thấp nhất

Chênh lệch trong mức sống giữa thành thị và nông thôn còn được thể hiện rõ qua các đặc trưng về nhà ở như nguồn nước, phương tiện vệ sinh, vật liệu xây nhà, số phòng ngủ và hàng tiêu dùng lâu bền của hộ Có tới 65% số dân thành thị được sử dụng nước máy trong khi chỉ có 11% số dân nông thôn dùng nước máy; 92% số dân thành thị có nhà xây bằng vật liệu kiên cố thì con số này ở nông thôn là 67%

Như vậy, cùng với kinh tế thị trường và nhiều nguyên nhân khác, tình trạng phân hóa giàu nghèo ở nước ta đang là một trong những vấn đề xã hội bức xúc cần được quan tâm, điều đáng lưu ý là ở nước ta tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực miền núi vẫn

còn cao, gấp 1,7 – 2 lần so với cả nước, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào các dân tộc

thiểu số trong tổng sống nghèo trong cả nước tăng Chênh lệch thu nhập giữa 10% nhóm giàu nhất với 10% nhóm nghèo nhất ở nông thôn là 13,5 lần; thu nhập của 53%

số hộ nông dân bị thu hồi đất giảm so với trước khi chưa thu hồi đất có 34,5% số hộ có điều kiện sống thấp hơn

Cùng với những người nghèo thì với kinh tế thị trường cũng đã có nhiều người giàu lên nhanh chóng Theo các tài liệu công bố chính thức trên sàn chứng khoán Việt Nam, chưa có đại gia nào đạt tầm tỷ phú đô la, song số triệu phú cũng ngót ngét 170 Riêng 100 nhân vật giàu nhất, mỗi người đều có tài sản chứng khoán vượt 2 triệu đô

la, trong đó có 2 người đạt chuẩn hội viên câu lạc bộ 100 triệu đô la Bộ Lao động – Thương binh và xã hội cho biết, khoảng cách giữa mức thu nhập của các nhóm lao động ngày càng có sự chênh lệch rõ nét, đặc biệt là ở các thành phố lớn Tại Hà Nội, chênh lệch giữa người có tiền lương cao nhất so với trung bình là 42 lần (75,2 triệu đồng/tháng với mức bình quân 1,8 triệu đồng/tháng) Tại thành phố Hồ Chí Minh con

số chênh lệch còn lên đến 109 lần (240 triệu đồng/tháng so với 2,2 triệu đồng/tháng)

Trang 36

24

Nhóm có thu nhập cao là các giám đốc điều hành, trưởng đại diện, trưởng phòng, cán

bộ phụ trách kinh doanh… đang làm việc tại các doanh nghiệp có vốn dầu tư nước ngoài, công ty liên doanh, các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bác sĩ tại một số bệnh viện, phòng khám Ngược lại, nhóm có thu nhập thấp là công nhân lao động đang làm việc trong các khu công nghiệp, doanh nghiệp nước ngoài…

Thực tế trên cho thấy, bất bình đẳng trong thu nhập ở nước ta ngày càng rõ nét

và gay gắt hơn, tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn, có nhiều yếu

tố bất lợi như điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng thấp kém, trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất manh mún, sơ khai Ngoài ra, còn xuất hiện một số đối tượng nghèo mới ở những vùng đang trong quá trình đô thị hóa và nhóm lao động nhập cư vào đô thị, họ thường gặp khó khăn nhiều hơn và phải chấp nhận mức thu nhập thấp hơn lao động sở tại Đây là những yếu tố làm gia tăng tình trạng tái nghèo và tạo ra sự không đồng đều trong tốc độ giảm nghèo giữa các vùng trong cả nước

Tóm lại, với những gì đã trình bày ở trên, thì Việt Nam hiện có phân bố thu nhập tương đối bình đẳng, nhưng sự phân hóa giàu nghèo đang có xu hướng tăng lên

rõ rệt, điều này lảm ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế và đời sống người dân Việt Nam Vì vậy, đây là nhiệm vụ cấp bách mà các nhà làm chính sách cần xem xét và có những giải pháp đúng hướng để giảm dần mức chênh lệch này

d) Tăng trưởng phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội

Kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội là xu hướng chung, là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Đặc biệt, Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội (Copenhaghen, Đan Mạch, tháng 3-1995) đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong nhận thức của cộng đồng quốc tế về sự gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội hướng tới phát triển bền vững Tuyên bố Copenhaghen nhấn mạnh: “phát triển xã hội, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường có quan hệ phụ thuộc và thúc đẩy lẫn nhau; là khuôn khổ cho các nỗ lực của chúng ta nhằm đạt được một cuộc sống chất lượng cao hơn cho tất cả mọi người”

Cương lĩnh năm 1991 của Đảng đã xác định phải kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta về kết hợp hài hoà

Trang 37

25

 

giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội được khẳng định trong hầu hết các văn kiện đại hội Đảng, nhất là trong thời kỳ đổi mới Đại hội VIII của Đảng đã xác định: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển” Tiếp đến Đại hội X tái khẳng định quan điểm: “Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển”

Mối quan hệ hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ngày càng được quan tâm, và được coi là một trọng tâm của chính sách phát triển tất

cả các nước Mối quan hệ này thực ra đã nằm trong nội hàm của phát triển bền vững Theo khái niệm mới nhất, phát triển bền vững gồm ba trụ cột có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, đó là phát triển kinh tế bền vững, phát triển xã hội bền vững và bảo vệ môi trường Qua đó để thấy rằng, nếu chỉ tăng trưởng kinh tế sẽ không đủ để bảo đảm một

xã hội bền vững Kết quả của mối quan hệ này thể hiện phần nào ở chỗ thành tựu về tăng trưởng có đi liền với tiến bộ, công bằng xã hội hay không

Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là những phạm trù khác nhau, nhưng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau Về thực chất là giải quyết mối quan

hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng

xã hội Một chính sách kinh tế tốt là một chính sách vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, vừa đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, hướng vào mục tiêu phát triển con người và lành mạnh hoá xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội, không làm gia tăng quá mức chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các nhóm dân cư; tăng trưởng phải gắn với xoá đói giảm nghèo; mọi người, nhất là người nghèo, đều được hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng kinh tế Ngược lại, một chính sách xã hội tích cực là một chính sách phù hợp với khả năng của nền kinh tế, dựa trên cơ sở của tăng trưởng kinh tế, tạo sự ổn định và động lực cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững

Trang 38

26

3.1.2 Một số khái niệm 

a) Khái niệm hộ gia đình

Khái niệm hộ gia đình chưa được một văn bản pháp luật nào định nghĩa một cách trực tiếp, tuy vậy chúng ta có thể hiểu khái niệm này qua Điều 106 của BLDS

“hộ gia đình là các thành viên có tài sản chung, cùng góp công sức để hoạt động kinh

tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia QHPLDS thuộc lĩnh vực này” Pháp luật coi hộ gia đình là một chủ thể của quan hệ dân sự, tuy vậy về mặt lý luận và thực tiễn còn rất nhiều vấn đề đang bỏ ngỏ về chủ thể này

Như vậy, hộ gia đình nhất thiết phải có mối quan hệ về huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ về nuôi dưỡng (quan hệ về cha mẹ nuôi và con nuôi)

b) Khái niệm kinh tế hộ

Phát triển kinh tế hộ nông dân là phát triển kinh tế gia đình nông dân Hầu như tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện thông qua hoạt động của nông hộ

Từ đó ta có thể hiểu kinh tế hộ nông dân (kinh tế nông hộ) là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất Những thành viên trong nông hộ có cùng chung một ngân quỹ, cùng ở, sinh hoạt chung một nhà Mọi quyết định sản xuất kinh doanh và đời sống phụ thuộc vào chủ hộ Được Nhà nước thừa nhận và hỗ trợ tạo điều kiện để phát triển

c) Khái niệm thu nhập

Thu nhập là phần đạt được của hộ hay của cá nhân từ sản xuất hoăc từ các hoạt động dịch vụ Thu nhập có thể bằng tiền hoặc bằng hiện vật, được tính bằng cách lấy tổng thu nhập trừ cho chi phí mua ngoài và các khoản thuê phải nộp (không bao gồm chi phí gia đình) Thu nhập bình quân trên đầu người được tính bằng cách lấy tổng thu nhập chia cho số thành viên trong hộ đó Chỉ số này được xây dựng với giả định là tất

cả các thành viên của hộ có cùng thu nhập bình quân giống nhau ngay cả trẻ em

Trang 39

Các hội nghị bàn về giảm đói nghèo trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương

do ESCAP tổ chức ở Băng Cốc tháng 9- 1993 đã đưa ra định nghĩa đói nghèo như sau:

“Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”

Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á: "Nghèo là tình trạng thiếu tài sản cơ bản và

cơ hội mà mỗi con người có quyền được hưởng, mọi người cần được tiếp cận với giáo dục cơ sở và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản"

Ngoài ra Ngân hàng Phát triển Châu Á còn đưa ra hai khái niệm nghèo cụ thể hơn:

- Nghèo tuyệt đối là việc không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu, chỉ để duy trì khả năng tối thiểu sự sống cơ thể con người

- Nghèo tương đối là tình trạng không có khả năng đạt tới mức độ mức sống tối thiểu tại một thời điểm nào đó

Ngoài khái niệm về hộ nghèo, hộ đói, Việt Nam còn sử dụng khái niệm vùng nghèo, Xã nghèo là nơi tỷ lệ hộ nghèo cao hơn nhiều và mức sống dân cư thấp hơn nhiều so với mức sống chung của cả nước Tình trạng đó phổ biến ở các vùng nghèo

Trang 40

28

có điều kiện tự nhiên không thuận lợi (đất xấu, thiên tai thường xuyên), kết cấu hạ tầng kém phát triển

3.1.3 Chỉ tiêu, chuẩn mực, đặc điểm, nguyên nhân của đói nghèo

a) Chỉ tiêu đánh giá đói nghèo

- Tỷ lệ những người chết dưới 40 tuổi

- Tỷ lệ người không được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản (nước sạch, chăm sóc

y tế, dinh dưỡng)

- GDP bình quân tính theo đầu người (tính theo phương pháp PPP)

- HPI như là một công cụ để tham khảo đánh giá tình trạng nghèo đói của một quốc gia

* Việt Nam

Chỉ tiêu chính là thu nhập bình quân đầu người/ tháng (hoặc năm), được đo bằng chỉ tiêu giá trị hiện vật quy đổi, thường lấy lương hay gạo để đánh giá Ngoài ra còn có các chỉ tiêu phụ: Dinh dưỡng bữa ăn, nhà ở, mặc và các điều kiện học tập, chữa bệnh, đi lại…

Để đánh giá một cách cụ thể về đói nghèo, Việt Nam còn đưa ra những chỉ tiêu sau:

- Chỉ tiêu thu nhập quốc dân đầu người (GDP/người)

- Tuổi thọ

- Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh

- Tỷ lệ xoá mù chữ

- Tỷ lệ thất học

Ngày đăng: 07/03/2018, 10:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w