Những vấn đề phát triển ở Việt Nam – thực trạng và Giải pháp Từ thập kỷ 90 đến nay, Việt Nam đã thực sự bước vào thời kỳ phát triển trên nhiều mặt với những thành tựu nổi bật về tăng trưởng cao, về xoá đói giảm nghèo, về phát triển con người, về hội nhập quốc tế… Tuy nhiên Việt Nam cũng đang phải đối diện với không ít vấn đề bức xúc, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu khách quan khoa học, đề có thể có những giải pháp phù hợp. Những vấn đề đó có thể là tăng trưởng và công bằng xã hội, phát triển thị trường, hội nhập quốc tế, hoàn thiện hệ thống thể chế, cải cách chính phủ và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng. Bài này sẽ không đi sâu phân tích cụ thể từng vấn đề trên, mà chỉ đi sâu vào những khía cạnh bức xúc của một số vấn đề, từ đó nêu ra một số giải pháp. I. Về tăng trưởng và công bằng xã hội Từ đầu thập kỷ 90 đến nay, Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng kinh tế khá cao 7 8% một năm, đó là một thực tế. Nhưng vấn đề đặt ra là liệu Việt Nam có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn không, và tăng trưởng cao đó có đi cùng với tiến bộ và công bằng xã hội không? Có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam có nhiều tiềm năng có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn, vì Việt Nam vẫn còn là một nước kém phát triển, những khả năng phát triển theo chiều rộng còn rất lớn, tiềm năng lao động tiền công thấp còn lớn, còn điều kiện sử dụng các nguồn vốn trong và ngoài nước có hiệu quả, khả năng khai mở thị trường trong và ngoài nước còn nhiều, còn nhiều khả năng ứng dụng công nghệ nhập khẩu có hiệu quả, các tài nguyên thiên nhiên chưa khai thác còn lớn v.v.. Về tiềm năng lao động. Năm 2002 Việt Nam có 38,75 triệu lao động chiếm 48,3% dân số, trong đó 66% lao động trong nông lâm nghiệp và thuỷ sản, số người thất nghiệp ở các thành phố khoảng 6%, thời gian nhàn rỗi của lao động nông thôn hiện khoảng 25%. Việt Nam về cơ bản đã xoá nạn mù chữ, đang phấn đấu phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Tiền lương của lao động Việt Nam nói chung còn thấp hơn các quốc gia trong khu vực. Nhược điểm căn bản của lao động Việt Nam là thiếu đào tạo về chuyên môn kỹ thuật, số lao động không có chuyên môn kỹ thuật chiếm tới 84,2% tổng số lao động (2002). Số lượng lao động Việt Nam đông đảo có văn hoá, nếu được đào tạo chuyên môn kỹ thuật tốt, đó sẽ là một nguồn lực phát triển rất cơ bản của Việt Nam. Về nguồn vốn. Nguồn vốn tiền tiết kiệm của dân cư trên GDP của Việt Nam vào loại cao khoảng 30% GDP. Các loại thu nhập ngoại tệ do xuất khẩu lao động, thu từ du lịch, kiều hối… hàng năm ước tính khoảng 67 tỷ USD. Nguồn vốn ODA hàng năm được các nhà tài trợ cam kết khoảng trên 2 tỷ USD. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được cam kết trong những năm 1996, 1997 đã tới 67 tỷ USD, tuy trong những năm gần đây đã giảm mạnh, năm 2004 đã tăng lên hơn 4 tỷ USD. Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài Việt Nam chưa có chủ trương tiếp nhận rõ rệt. Nếu Việt Nam có cơ chế sử dụng vốn có hiệu quả, khả năng gia tăng nguồn vốn cho đầu tư phát triển ở Việt Nam còn lớn.
Trang 1Những vấn đề phát triển ở Việt Nam – thực trạng và Giải pháp
Từ thập kỷ 90 đến nay, Việt Nam đã thực sự bước vào thời kỳ pháttriển trên nhiều mặt với những thành tựu nổi bật về tăng trưởng cao, về xoáđói giảm nghèo, về phát triển con người, về hội nhập quốc tế… Tuy nhiênViệt Nam cũng đang phải đối diện với không ít vấn đề bức xúc, đòi hỏi phải
có sự nghiên cứu khách quan khoa học, đề có thể có những giải pháp phùhợp Những vấn đề đó có thể là tăng trưởng và công bằng xã hội, phát triểnthị trường, hội nhập quốc tế, hoàn thiện hệ thống thể chế, cải cách chính phủ
và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng Bài này sẽ không đi sâu phân tích cụ thể từngvấn đề trên, mà chỉ đi sâu vào những khía cạnh bức xúc của một số vấn đề,
từ đó nêu ra một số giải pháp
I Về tăng trưởng và công bằng xã hội
Từ đầu thập kỷ 90 đến nay, Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng kinh tếkhá cao 7 - 8% một năm, đó là một thực tế Nhưng vấn đề đặt ra là liệu ViệtNam có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn không, và tăng trưởng cao
đó có đi cùng với tiến bộ và công bằng xã hội không?
Có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam có nhiều tiềm năng có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn, vì Việt Nam vẫn còn là một nước kém phát
triển, những khả năng phát triển theo chiều rộng còn rất lớn, tiềm năng laođộng tiền công thấp còn lớn, còn điều kiện sử dụng các nguồn vốn trong vàngoài nước có hiệu quả, khả năng khai mở thị trường trong và ngoài nước
Trang 2còn nhiều, còn nhiều khả năng ứng dụng công nghệ nhập khẩu có hiệu quả,các tài nguyên thiên nhiên chưa khai thác còn lớn v.v
Về tiềm năng lao động Năm 2002 Việt Nam có 38,75 triệu lao động
chiếm 48,3% dân số, trong đó 66% lao động trong nông lâm nghiệp và thuỷsản, số người thất nghiệp ở các thành phố khoảng 6%, thời gian nhàn rỗi củalao động nông thôn hiện khoảng 25% Việt Nam về cơ bản đã xoá nạn mùchữ, đang phấn đấu phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở Tiềnlương của lao động Việt Nam nói chung còn thấp hơn các quốc gia trongkhu vực Nhược điểm căn bản của lao động Việt Nam là thiếu đào tạo vềchuyên môn kỹ thuật, số lao động không có chuyên môn kỹ thuật chiếm tới84,2% tổng số lao động (2002) Số lượng lao động Việt Nam đông đảo cóvăn hoá, nếu được đào tạo chuyên môn kỹ thuật tốt, đó sẽ là một nguồn lựcphát triển rất cơ bản của Việt Nam
Về nguồn vốn Nguồn vốn tiền tiết kiệm của dân cư trên GDP của Việt
Nam vào loại cao khoảng 30% GDP Các loại thu nhập ngoại tệ do xuấtkhẩu lao động, thu từ du lịch, kiều hối… hàng năm ước tính khoảng 6-7 tỷUSD Nguồn vốn ODA hàng năm được các nhà tài trợ cam kết khoảng trên
2 tỷ USD Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được cam kết trong nhữngnăm 1996, 1997 đã tới 6-7 tỷ USD, tuy trong những năm gần đây đã giảmmạnh, năm 2004 đã tăng lên hơn 4 tỷ USD Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoàiViệt Nam chưa có chủ trương tiếp nhận rõ rệt Nếu Việt Nam có cơ chế sửdụng vốn có hiệu quả, khả năng gia tăng nguồn vốn cho đầu tư phát triển ởViệt Nam còn lớn
Trang 3Về thị trường Việt Nam về cơ bản mới có thị trường hàng hoá, còn thị
trường dịch vụ, thị trường tiền tệ, vốn, bất động sản thực sự mới chỉ manhnha Một khi những thị trường này phát triển, thì đó là một nguồn lực hếtsức to lớn cho sự phát triển.Việt Nam chưa là thành viên của WTO, do vậycánh cửa của các thị trường của các quốc gia thành viên WTO chưa thực sựđược mở, Việt Nam cũng chưa ký kết các Hiệp nghị thương mại tự do songphương với những trung tâm kinh tế lớn của thế giới Việt Nam gia nhậpWTO ký kết các Hiệp nghị thương mại tự do song phương với các nền kinh
tế lớn, thì đó sẽ là một cơ hội mở rộng thị trường bên ngoài vô cùng to lớn
Về công nghệ Trình độ công nghệ của Việt Nam hiện là thấp xa so với
những nước tiên tiến Một nước đi sau sẽ có những lợi thế do nhập khẩucông nghệ mang lại Cho đến nay Việt Nam mới chủ yếu nhập khẩu máymóc thiết bị, chưa nhập các bằng sáng chế, phát minh, các ý tưởng côngnghệ… do vậy tiềm năng này còn rất lớn
Về tài nguyên Các nguồn tài nguyên của Việt Nam như dầu khí,
bô-xít, đất hiếm, đặc biệt là vị trí địa lý thuận lợi chưa được thăm dò khai thácbao nhiêu Đó là một nguồn lực quan trọng cho phát triển
Về thể chế Có thể nói nguồn lực về thể chế ở Việt Nam hiện còn rất
lớn, vì các thể chế thị trường và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hoặc còn chưahoàn thiện, hoặc thiếu vắng Chỉ cần Việt Nam xem xét, ban hành các thểchế pháp luật phù hợp với các thông lệ quốc tế hiện nay cũng đã đủ tạo ramột hành lang phát triển thông thoáng cho nền kinh tế Việt Nam
Trang 4Ngoài những nguồn lực trên, còn có thể có những nguồn lực khác nhưtruyền thống dân tộc, văn hoá dân tộc… Nếu biết phát huy sử dụng, cũng sẽ
là một nguồn lực to lớn
Thực tế khu vực cũng cho thấy những quốc gia láng giềng của ViệtNam như Trung Quốc đã có tốc độ tăng trưởng cao 9- 10% năm kéo dàitrong nhiều năm, một số tỉnh ven biển của Trung Quốc như Thượng Hải,Quảng Châu, Phúc Kiến… có quy mô lớn bằng cả Việt Nam cũng đã có tốc
độ tăng trưởng GDP hàng năm trên 10% kéo dài vài chục năm nay NhậtBản, Hàn Quốc cũng đã có tốc độ tăng trưởng "thần kỳ" Việt Nam hoàntoàn có đủ những nguồn lực cho một sự tăng trưởng và phát triển với nhịp
độ cao, vấn đề là cần có những chính sách, thể chế, chiến lược phát triểnthích hợp để tận dụng có hiệu quả các nguồn trên
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là một vấn đề bức xúc đối với mọi quốc gia, cũng như đối với Việt Nam.
Mức tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ thập kỷ 90 đến nay là khá cao chỉsau Trung Quốc Điều này đã là một thực tế, được cộng đồng quốc tế thừanhận Tăng trưởng kinh tế cao đã mang lại nhiều hệ quả tích cực về xã hội:gia tăng các khoản thu của chính phủ đặc biệt là thuế, phí và lệ phí, mứctăng này hàng năm từ 2000 đến 2003 đạt khoảng 17,5% đến 20,7%- đây là
cơ sở quan trọng để chính phủ có thể gia tăng chi cho phát triển giáo dục, y
tế, các chương trình an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo,[1] đảm bảo việc làmcho những người đến tuổi lao động, tỷ lệ nhóm người này ở Việt Nam hàngnăm cao nhất thế giới,[2] theo đánh giá của các nhà tài trợ tại Hội nghị Tư
Trang 5vấn các nhà tài trợ Việt Nam ở Hà Nội, tháng 12/2003 tỷ lệ này là 85% đốivới nam và 83% đối với nữ (2002)
Sự tăng trưởng kinh tế cao ở Việt Nam đã đi liền với sự gia tăng chênh lệch về phát triển và bất bình đẳng
Thứ nhất, việc gia tăng sự chênh lệch về phát triển liệu có là cần thiết?
Đối với Việt Nam, một quốc gia đang chuyển từ kinh tế kế hoạch sang kinh
tế thị trường, thì sự gia tăng chênh lệch phát triển là cần thiết, xét về mặt tạođộng lực phát triển, tạo lập cơ chế cạnh tranh… Không ít người ở Việt Namhiện đang phê phán mạnh mẽ sự gia tăng chênh lệch phát triển, xem đó như
là mặt trái của kinh tế thị trường, và yêu cầu phải hạn chế, phải thu hẹp sựchênh lệch phát triển này Người ta có thể đưa ra câu hỏi Trung Quốc đã có
cả chiến lược phát triển miền Tây để giảm bớt sự chênh lệch này, tại saoViệt Nam chưa có? Nước ta đang chuyển từ cơ chế phân phối bình quân - cảnước nghèo như nhau, sang cơ chế phân phối theo thị trường - tạo ra sựchênh lệch phát triển - đây là một trong những điểm mấu chốt của sự tăngtrưởng và phát triển của nước ta Nếu thu hẹp, hay xoá bỏ sự chênh lệch này,trở về cơ chế phân phối bình quân, thì xem như nước ta sẽ không có đổi mới.Vấn đề chỉ là ở chỗ mức chênh lệch phát triển ở nước ta hiện đã quá caochưa, đã dẫn tới những bất ổn xã hội chưa? So sánh với các quốc gia trongkhu vực và thế giới có cùng trình độ phát triển như nước ta, thì mức độchênh lệch phát triển ở nước ta còn thấp hơn, và điều quan trọng là chưa dẫntới những vấn đề bất ổn xã hội nghiêm trọng Do vậy, chưa nên đặt vấn đềphải hạn chế hay thu hẹp, và phải xem đó là một kết quả của quá trình đổimới, mặt tích cực của kinh tế thị trường
Trang 6Thứ hai, phải có những biện pháp loại bỏ những kẻ làm giàu bất hợp pháp, tham nhũng, buôn lậu… Trong số dân cư giàu có lên nhanh chóng nhờ
quá trình đổi mới, đa số họ đã làm ăn theo pháp luật, có các nguồn thu hợppháp Phải ủng hộ, khuyến khích, động viên tầng lớp giàu có chân chínhnày Sự giàu có của họ sẽ góp phần làm gia tăng sự giàu có của đất nước.Tuy nhiên trong số đó cũng có không ít kẻ đã giàu có lên nhờ tham nhũng,buôn lậu, làm ăn bất hợp pháp, phải có những biện pháp răn đe, ngăn chặn
và trừng trị thích đáng Giải pháp trước hết là phải đổi mới hoàn thiện thểchế và chính sách, giảm bớt và loại bỏ những khe hở cho tham nhũng vàbuôn lậu Sau đó mới đến những công tác giáo dục ý thức tôn trọng luậtpháp, giám sát, phát hiện và trừng trị những kẻ làm trái pháp luật
Thứ ba, thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo Xây dựng một xã
hội có nhiều người giàu, không có người nghèo đói, hoặc có người nghèođói nhưng được xã hội trợ giúp, quan tâm- đó là một định hướng mà ViệtNam lựa chọn Chương trình xoá đói giảm nghèo đã được Chính phủ ViệtNam thực hiện có kết quả trong nhiều năm nay là một thể hiện rõ rệt quyếttâm đó, những kết quả thu được là rõ rệt - đã giảm được một nửa số ngườinghèo trong vòng 10 năm Có thể nói là chương trình xoá đói giảm nghèotheo nghĩa rộng nhất đã bao gồm toàn bộ chương trình phát triển của ViệtNam, nhưng theo nghĩa hẹp nó chỉ tập trung vào những trợ giúp cho cácvùng, các tầng lớp nghèo đói Tuy nhiên có thể còn phải có những cố gắngtiếp tục hoàn thiện chương trình này theo hướng - xây dựng một hệ thống ansinh xã hội hoàn thiện hơn, đảm bảo an toàn hơn cho những người gặp rủi
ro, cơ lỡ, hỗ trợ tốt hơn cho những vùng nghèo
Trang 7II Phát triển thị trường
Phát triển kinh tế thị trường là một trong những động lực quan trọngnhất cho sự tăng trưởng và phát triển của Việt Nam từ thập kỷ 90 đến nay,
và đây cũng là lĩnh vực Việt Nam tiến hành những đổi mới sâu rộng nhất vàđạt nhiều hành tựu to lớn nhất, và đây cũng là lĩnh vực mà lúc nào cũng cónhiều vấn đề phức tạp nhất, gây tranh cãi nhiều nhất, ít sự thống nhất ý kiếnnhất Sự phát triển kinh tế thị trường đã bao gồm hầu như tất cả các vấn đềkinh tế từ giá cả, tỷ giá, lãi suất đến các thành phần kinh tế, đến các doanhnghiệp, đến cả hội nhập quốc tế, ngân hàng tài chính và cả các lĩnh vực dịchvụ… Có những vấn đề như "khoán hộ" trong nông nghiệp người ta đã tưởng
nó không cần đến giải pháp thị trường, đã quy cho nó vai trò như một giảipháp đột phá quan trọng nhất cho sự phát triển của nông nghiệp Việt Nam,nhưng thực ra nếu tách "khoán hộ" khỏi sự phát triển của thị trường, khỏi sự
tự do hoá thu mua, phân phối lương thực, khỏi sự bãi bỏ chế độ độc quyềnkinh doanh lương thực, vật tư nông nhiệp của Nhà nước… thì chế độ "khoánhộ" sẽ không thể có tác dụng gì hoặc chỉ có tác dụng hạn chế Thực tế chothấy, chế độ "khoán hộ" ở Việt Nam dã được cho phép chính thức áp dụng
từ đầu những năm 80, nhưng mãi đến 1988, Việt Nam hàng năm vẫn phảinhập khẩu lương thực hàng trăm ngàn tấn Việt Nam vẫn luôn thiếu nôngphẩm từ hạt muối, mớ rau Chỉ từ năm 1989, cơ chế thị trường bắt đầu được
áp dụng phổ biến ở Việt Nam, thì nền kinh tế thiếu nông phẩm mới bắt đầuchuyển sang nền kinh tế thừa nông phẩm, mới xuất khẩu gạo và các nôngphẩm khác
Những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong việc xây dựng và pháttriển kinh tế thị trường là quá rõ ràng: đã thiết lập được cơ chế thị trường
Trang 8quy định giá cả, tỷ giá, lãi suất; đã hình thành các thị trường cơ bản dù còn
sơ khai; các thành phần kinh tế, các chủ doanh nghiệp, các chủ thể kinhdoanh đã được khuyến khích phát triển và đảm bảo quyền tự chủ kinh doanhrộng rãi; hệ thống các luật kinh tế thị trường đã được ban hành tuy cònkhiếm khuyết; nền kinh tế đã mở cửa và hội nhập quốc tế v.v Việt Nam đãchuyển đổi sang kinh tế thị trường không phải với giá phải trả là suy thoái vàtrì trệ, mà với phần thưởng là liên tục tăng trưởng cao và mức sống của dân
cư được cải thiện
Vấn đề được đặt ra hiện nay là đối với Việt Nam kinh tế thị trường hiện còn có thể mở rộng, phát triển hơn nữa, liệu còn có vai trò là một động lực tăng trưởng và phát triển quan trọng bậc nhất nữa không?
Có thể nói là kinh tế thị trường ở Việt Nam mới hình thành sơ khaiđang còn nhiều lãnh địa để phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu:
Về chiều rộng, còn nhiều thị trường chưa được khai mở ở cả trong nước
và ngoài nước Thị trường vốn và bất động sản mới khởi động, đây là hai thịtrường cơ bản, nếu được phát triển chúng sẽ tạo ra một dung lượng thịtrường lớn hơn thị trường hàng hoá, và tạo ra một động lực phát triển mạnh
mẽ hơn thị trường hàng hoá mà Việt Nam có cho đến nay Thị trường dịch
vụ, thị trường công nghệ, thị trường lao động cũng là những thị trường cực
kỳ quan trọng và thường có một thị phần rất đáng kể trong mọi nền kinh tếthị trường, thì ở nước ta chúng lại chiếm một thị phần còn quá nhỏ bé và rấtkém phát triển, thậm chí còn không ít lĩnh vực dịch vụ còn chưa có thịtrường, do ở đó chỉ có các cơ quan nhà nước làm dịch vụ bao cấp Nếu tất cảnhững thị trường này được khai mở và phát triển, chắc chắn thị trường nội
Trang 9địa của nước ta sẽ được mở rộng lớn hơn hiện nay Thị trường bên ngoài củaViệt Nam tuy đã được mở rộng, nhưng thực tế hàng rào bảo hộ của các thịtrường này đối với hàng hoá Việt Nam hiện còn khá cao, nên hàng hoá ViệtNam rất khó thâm nhập vào thị trường này Một ví dụ có thể thấy rõ ràng đó
là thị trường Mỹ từ khi Hiệp nghị thương mại Việt - Mỹ có hiệu lực, hàngrào bảo hộ của Mỹ giảm xuống, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ
đã tăng vọt lên hơn 4 lần trong vòng 2 năm (2001-2003) Thị trường bênngoài này còn rộng mênh mông hơn thị trường trong nước nhiều lần Cóngười lo ngại là dù hàng rào bảo hộ của các thị trường bên ngoài được giảmthiểu, thì Việt Nam cũng chưa thể sản xuất được hàng hoá gì xuất khẩu vàocác thị trường này Thực tế cho thấy mối lo ngại đó là không đúng Vì khi cóthị trường, các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ tìm mọi cách thiết lập các
cơ sở sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường đó Khi Trung Quốc gianhập WTO, các nhà đầu tư bên ngoài đã lập tức đổ tiền của vào TrungQuốc, thành lập các cơ sở sản xuất xuất khẩu ra các thị trường của các nướcthành viên WTO, do vậy FDI vào Trung Quốc đã đạt mức cao nhất thế giới,kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc cũng tăng cao nhất thế giới
Về chiều sâu, Việt Nam còn phải làm nhiều việc trong lĩnh vực phát
triển kinh tế thị trường Có thể nói là, hiện thị trường Việt Nam còn bị Nhànước can thiệp trực tiếp quá nhiều, thậm chí đã làm thay thị trường trongkhông ít trường hợp, đặc biệt là trong việc phân bổ các nguồn lực
Những hạn chế trên đây là một trong những nguyên nhân làm cho ViệtNam đã bị tụt bậc trong thang bậc xếp hạng các quốc gia về năng lực cạnhtranh do tổ chức Diễn đàn kinh tế thế giới thực hiện Năm 2004 Việt Namđứng thứ 77 trong số 104 nước, tụt 17 bậc so với năm 2003 Nếu so với năm
Trang 101998, mức tụt bậc còn nghiêm trọng hơn, tới 38 bậc, năm 1998 Việt Namxếp thứ 39.
Những hạn chế trên đây có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyênnhân quan trọng có thể kể ra là do những nhận thức về kinh tế thị trường ởViệt Nam còn có những khác biệt xa so với thế giới Nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam được xác định là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa khác với các nền kinh tế thị trường hiện đại ở các nước phương Tâytrên những phương diện sau đây:
Về chế độ sở hữu, tuy Việt Nam đã thừa nhận mọi thành phần kinh tếđều là những bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế quốc dân, tồn tại lâudài và bình đẳng, nhưng vẫn còn tồn tại sự khác biệt giữa các doanh nghiệpnhà nước và các doanh nghiệp khác Sự khác biệt đã thể hiện trong các chínhsách của Nhà nước, và khó tránh khỏi sự phân biệt đối xử Nhà nước phải ưuđãi cho doanh nghiệp Nhà nước đã tạo ra sự khác biệt rõ rệt giữa các doanhnghiệp nhà nước và các doanh nghiệp ngoài nhà nước - một bên có nhiều lợithế, một bên không có những lợi thế đó Điều này đã làm méo mó thị trường,giảm thiểu khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp ngoài nhà nước, ảnhhưởng tiêu cực tới khả năng cạnh tranh chung của nền kinh tế và môi trườngđầu tư
Về sự quản lý của Nhà nước, ở Việt Nam vai trò quản lý của Nhà nước
được xác định cho đến nay là rất rộng và đang lấn át thị trường trên nhiềulĩnh vực Tư duy kinh tế kế hoạch vẫn còn rất nặng trong các giới chức do longại cho sự giảm thiểu quyền lực quản lý nhà nước, giảm thiểu chế độ "xin-cho" hiện có lợi cho họ
Trang 11Với sự quản lý nhà nước quá chặt chẽ và chế độ "xin- cho" khá phổbiến hiện nay thì kinh tế thị trường ở Việt Nam phải phát triển trong mộtkhuôn khổ chật hẹp, méo mó và kém lợi thế là điều khó tránh khỏi.
Về tâm lý xã hội, kinh tế thị trường phát triển ở Việt Nam tất nhiên đã
bộc lộ cả những tác động tích cực, lẫn những mặt trái của nó Nhưng điềuđáng lưu ý là tâm lý lo ngại những mặt trái của thị trường, quy tất cả hiệntượng tiêu cực của xã hội từ tham nhũng đến xì ke ma tuý… đều do thịtrường đẻ ra lại là tâm lý khá phổ biến Sự lo ngại này đã có ảnh hưởng tiêucực đến sự phát triển của kinh tế thị trường ở Việt Nam
III Hội nhập kinh tế quốc tế
Kể từ thập kỷ 90 đến nay, Việt Nam đã có những bước tiến hết sứcquan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế: bình thường hoá quan
hệ kinh tế với tất cả các nước, với IMF, WB, ADB, gia nhập ASEAN,AFTA, APEC, ký Hiệp nghị thương mại với Mỹ, đang đàm phán gia nhậpWTO… những bước tiến này thể hiện thực tế ở chỗ tỷ trọng kim ngạchthương mại so với GDP đã tăng từ dưới 30% thập kỷ 80 lên trên 120% hiệnnay, FDI chiếm khoảng 18 - 28% trong tổng đầu tư xã hội, Việt Nam đã trởthành nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về cà phê, tiêu, gạo, hạt điều… Tuynhiên để tiếp tục hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn, Việt Nam phải đốidiện và giải quyết không ít vấn đề có liên quan đến cả nhận thức và chínhsách
Trang 12Trước hết, đó là vấn đề mở cửa thị trường trong nước để khai mở thị trường quốc tế Hiện Việt Nam đã mở cửa thị trường trong nước, nhưng
mức độ bảo hộ nói chung vẫn còn cao kể cả về danh nghĩa và thực tế, đặcbiệt là so với các quốc gia trong khu vực Năm 2002 mức thuế danh nghĩacủa Việt Nam là 15,9% tính bình quân chung, nhưng mức thuế thực tế lại là54,2%,[3] do có sự chênh lệch về thuế đáng kể trong các ngành công nghiệp,
và nhiều chính sách khuyến khích thay thế nhập khẩu Mức độ mở cửa cácngành kinh tế của Việt Nam nhất là các ngành dịch vụ cho đầu tư nướcngoài nói chung vẫn còn thấp hơn các quốc gia đang phát triển khác trongkhu vực Đây chính là một trở ngại quan trọng khi Việt Nam đàm phán khai
mở thị trường bên ngoài, đàm phán gia nhập WTO, vì các bên đối tác đều cóhàng rào bảo hộ thấp hơn ta và đòi ta phải hạ thấp hơn hàng rào bảo hộ Đâycũng là một lý do quan trọng khiến Việt Nam trong nhiều năm liên tục phảinhập siêu, vì hàng rào bảo hộ cao sẽ làm cho chi phí kinh doanh xuất khẩucao; giảm khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường thế giới.Đây cũng là một lý do làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư ở ViệtNam, vì chính sách khuyến khích thay thế nhập khẩu đã định hướng cácdoanh nghiệp trong và ngoài nước kinh doanh hướng nội với thị trường nộiđịa hạn hẹp, họ khó có khả năng mở rộng thêm đầu tư Hàng rào bảo hộ caocòn có ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng tới khả năng mở rộng thị trườngtrong nước, vì hàng rào bảo hộ cao đã làm tăng giá cả hàng hoá nhập khẩu,hạn chế sức mua của dân chúng trong nước
Tuy nhiên việc hạ thấp hàng rào bảo hộ và việc mở cửa lĩnh vực dịch
vụ lại vấp phải sự phản ứng của các doanh nghiệp kinh doanh hướng nội,đặc biệt là khu vực doanh nghiệp Nhà nước Trên thực tế, sự phản ứng của
Trang 13khu vực doanh nghiệp hướng nội đã làm trì hoãn quá trình hạ thấp hàng ràobảo hộ và hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Có thể có hai sự lựa chọn Thứ nhất, duy trì mức bảo hộ cao với lộ trình kéo dài để chờ các doanh nghiệp nhà nước nâng cao sức cạnh tranh
vươn lên đủ sức đua tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Thực ra ViệtNam đã thực hiện phương án này trong suốt quá trình đổi mới, nhưng trênthực tế những doanh nghiệp được bảo hộ kéo dài đã không nâng cao đượcsức cạnh tranh như mong muốn, mà họ lại luôn luôn đòi hỏi Nhà nước phải
bảo hộ kéo dài nữa Thứ hai, giảm dần mức bảo hộ và rút ngắn lộ trình bảo
hộ Việt Nam cũng đã thực thi phương án này trên một số lĩnh vực như dệt
may, bòng đèn, phích nước, bia, bột giặt, nước giải khát v.v… Thực tế chothấy, chính những ngành không được bảo hộ này đã phải đối mặt với cạnhtranh quốc tế, đã phải tự đổi mới công nghệ, quản lý, tổ chức lao động nângcao chất lượng lao động v.v để vươn lên, và hiện đó là những ngành cókhả năng cạnh tranh quốc tế cao
Trong thời gian tới đây, sức ép của hội nhập và cạnh tranh quốc tế ngàycàng gia tăng, Việt Nam buộc phải giảm mạnh hơn hàng rào bảo hộ và rútngắn hơn lộ trình bảo hộ, và đây chính là con đường chủ động và tích cựccủa Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, là bước đi chủ động và tích
cực để mở cửa thị trường của các quốc gia khác Ta phải sẵn sàng mở cửa thị trường của mình, thì thiên hạ mới mở cửa thị trường của họ, không có
chuyện ta chỉ muốn mở cửa thị trường thiên hạ, còn thị trường của ta lạiđóng lại
Trang 14Thứ hai, đổi mới các chính sách kinh tế theo hướng hội nhập quốc tế sâu rộng hơn Việt Nam đã thực hiện những đổi mới rất quan trọng theo
hướng hội nhập kinh tế quốc tế, tuy nhiên hiện vẫn còn không ít vấn đề cầntiếp tục giải quyết như: VNĐ chưa chuyển đổi tự do, tỷ giá do thị trường xácđịnh nhưng còn rất hạn chế, chưa mở cửa tiếp nhận các dòng vốn gián tiếp,mức độ mở cửa khu vực dịch vụ còn quá hạn chế v.v Những vấn đề này rấtquan trọng đối với việc hoàn thiện kinh tế thị trường ở Việt Nam nói chung
và hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng
Lộ trình chuyển đổi tự do VND hiện chưa được xác định cụ thể Tuy
Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã cho phép chuyển đổi VND trên các tàikhoản vãng lai, nhưng phải có điều kiện, chứ chưa phải là tự do Việt Namcàng hội nhập quốc tế sâu rộng, thì việc chuyển đổi VND tự do là một điềukiện có tính tiên quyết, vì các hoạt động thương mại, đầu tư quốc tế gia tăngđòi hỏi sự trao đổi tiền tệ rộng rãi và tự do Do vậy Việt Nam cần có một lộtrình cụ thể chuyển đổi tự do VND với một thời hạn phù hợp Một số người
lo ngại, nếu sớm chuyển đổi tự do VND, trong khi Việt Nam chưa có dự trữngoại tệ ở mức cần thiết, VN vẫn phải nhập siêu cao, khả năng cạnh tranhyếu kém… thì có thể sẽ có những rủi ro về tiền tệ Thực tế thế giới cho thấy
có không ít quốc gia có dự trữ ngoại tệ không lớn, bị nhập siêu, nhưng họvẫn thực hiện chế độ chuyển đổi tự do đồng tiền của họ Nhưng cũng cónhững nước luôn xuất siêu, có dự trữ ngoại tệ lớn, như Trung Quốc, vẫnthực hiện chế độ chuyển đổi tiền tệ một cách hạn chế (mới hạn chế trên cáctài khoản vãng lai) Vậy điều kiện gì có thể cho phép chuyển đổi tự do VND
Đó chính là sự kiểm soát và điều tiết của Nhà nước phù hợp với các điềukiện cụ thể Chẳng hạn, khi các dòng ngoại tệ đổ vào lớn hơn các dòng ngoại
tệ rút ra, thì chính phủ có thể nới lỏng kiểm soát, cho phép hoàn toàn tự do
Trang 15chuyển đổi Nhưng khi các dòng ngoại tệ rút ra lớn hơn đổ vào, thì Nhànước cần có những biện pháp điều tiết như: đánh thuế việc chuyển đổi nội tệsang ngoại tệ đưa ra khỏi đất nước, quy định một số điều kiện để hạn chế
việc rút chạy dòng ngoại tệ ra khỏi đất nước v.v…Chế độ điều tiết và kiểm soát phù hợp của Nhà nước là điều kiện quan trọng nhất đảm bảo việc chuyển đổi tự do VND không mang lại những rủi ro.
Tự do hoá tỷ giá cũng cần có một lộ trình cụ thể Tỷ giá giữa VND và
các ngoại tệ ở Việt Nam hiện đã có tính thị trường, tuy còn hạn chế: do biên
độ giao động của tỷ giá còn hẹp, các ngân hàng thương mại tham gia thoảthuận mức tỷ giá đến nay phần lớn vẫn là các ngân hàng thương mại quốcdoanh…Từ 1996 đến nay VND đã được điều chỉnh theo hướng hạ giá VNDliên tục, tuy nhiên VND vẫn có những biểu hiện được đánh giá cao hơn thực
tế Những biểu hiện này là: nhập siêu của Việt Nam quá cao, năm 2004 đãđạt tới 5,5 tỷ USD; mức mất giá VND còn quá thấp so với mức lạm phát(mức mất giá VND năm 2004 dưới 1% trong khi lạm phát dưới 9,5%); lãisuất VND cao hơn lãi suất USD… Nếu mở rộng tự do hoá tỷ giá, nghĩa là
mở rộng biên độ giao động và tiến tới bỏ biên độ này, đồng thời mở rộng cácthành phần tham gia vào việc xác định tỷ giá, thì tính thị trường của tỷ giá sẽcao hơn Nhưng sẽ có lo ngại VND sẽ bị hạ giá quá mức, gây ra những rốiloạn về tiền tệ Thực tế đã không phải như vậy, Trung Quốc năm 1994 đã hạgiá đồng nguyên tới 40%, nhưng đã không gây ra rối loạn gì vì Trung Quốc
đã chủ động hạ giá Ở một số nước Châu Á, đồng nội tệ đã bị phá giá vàonăm 1997 là do chính sách tiền tệ, tài chính sai lầm của các quốc gia nàynhư: cố định tỷ giá, đầu tư sai không hiệu quả, chậm tiến hành cải cách cơcấu…, chứ không phải là do tự do hoá tỷ giá Hiện nay tất cả các nước pháttriển đã thực hiện chế độ tỷ giá thả nổi, trên 55% các quốc gia đang phát
Trang 16triển cũng đã đi theo hướng này Đương nhiên ở các quốc gia thực hiện tự dohoá tỷ giá, Nhà nước vẫn giữ vai trò điều tiết Từ năm 2002 đến nay đồngUSD luôn bị hạ giá, nhiều quốc gia châu Á đã hạ giá đồng tiền của mìnhtương ứng để đảm bảo xuất khẩu thuận lợi Đi theo hướng này Nhật đã bỏ rahàng trăm tỷ Yên trong mấy năm gần đây mua USD để duy trì đồng Yênkhông bị lên giá quá mức Chính phủ Mỹ đã thực thi chính sách hạ giá USDliên tục để giảm bớt thâm hụt cán cân thương mại Vậy là chính sách tự dohoá tỷ giá luôn đi theo chính sách điều tiết, quản lý của Nhà nước để đảmbảo duy trì một mức tỷ giá có lợi cho tăng trưởng và phát triển Việt Namcần có lộ trình tự do hoá tỷ giá theo hướng này và lộ trình này không thể kéoquá dài.
Các dòng vốn gián tiếp nước ngoài (FPI) hiện chưa được Việt Nam hoan nghênh và khuyến khích thu hút Cuộc tháo chạy của các dòng vốn gián
tiếp nước ngoài khỏi một số quốc gia Châu Á năm 1997 đã gây ra cuộckhủng hoảng tài chính ở một số nước Châu Á, và đã để lại những ấn tượngrất không tốt Một số quốc gia, trong đó có Việt Nam đã rất cảnh giác vớicác dòng vốn này, tới mức thi hành chính sách hầu như đóng cửa đối với cácdòng vốn này Thực ra sự vận động của các dòng vốn gián tiếp từ quốc gianày sang quốc gia khác là một sự vận động bình thường Ở đâu có mức sinhlợi lớn hơn, thì nguồn vốn này đổ đến và ngược lại Có một đặc điểm rất nổibật của dòng vốn này là chúng đổ vào một quốc gia có thể rất nhanh, và khicần phải rút chạy cũng rất nhanh Do vậy sự vận động của các dòng vốn nàytrở thành một tín hiệu nhanh nhạy cho giới đầu tư và kinh doanh nhận biếtđược đâu là nơi đầu tư có lợi cần đến, đâu là nơi bất lợi phải tránh Nếu mộtquốc gia đóng cửa đối với những dòng vốn này, có nghĩa là cắt bỏ tín hiệuphản ánh tình hình biến động của môi trường đầu tư, làm cho các nhà đầu tư
Trang 17và kinh doanh nước ngoài mất phương hướng Đây là một lý do rất quantrọng làm cho những nước đóng cửa đối với dòng vốn gián tiếp, sẽ kém hấpdẫn đầu tư hơn các quốc gia mở cửa rộng rãi cho các dòng vốn này.
Trước cuộc khủng hoảng tiền tệ, tài chính 1997, nhiều nước Đông Áđều đã mở cửa đón nhận dòng vốn gián tiếp nước ngoài, ở Malaixia vốn giántiếp nước ngoài năm 1993 đã chiếm tới 15,5% GDP, năm 1995 là năm tiếpnhận vốn gián tiếp khá thấp cũng tới 2,4% GDP, ở Trung Quốc vốn đầu tưgián tiếp nước ngoài năm 1997 đã chiếm tới 0,9% GDP, và những năm trước
đó luôn ở mức 0,1-0,6% GDP Ở Thái Lan, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoàinăm 1997 chiếm 3% GDP, những năm trước đó luôn ở mức 2-3% GDP Từsau năm 1997 ở tất cả các quốc gia này FPI đều giảm, tuy nhiên Trung Quốcvẫn luôn duy trì FPI ở mức 0,1% GDP Từ năm 1999 Malaixia đã lại thu hútFPI ở mức 0,4% GDP sau 2 năm giảm Vây là sau cơn choáng váng do cuộckhủng hoảng 1997 gây ra, các nước châu Á lại thấy sự cần thiết của dòngvốn FPI, và trở lại thi hành chính sách thu hút FPI với sự thận trọng và cácbiện pháp điều tiết cần thiết hoặc là trực tiếp, hoặc gián tiếp Những biệnpháp chủ yếu bao gồm : mua bán các tài sản ngoại tệ và nội tệ; điều chỉnh tỷgiá; thắt chặt hoặc nới lỏng chính sách tài chính; kiểm soát vốn bằng cácbiện pháp cấp phép đầu tư gián tiếp, hạn chế ngân hàng vay nợ nước ngoài,hạn chế người nước ngoài rút vốn; điều tiết và giám sát thận trọng đối vớicác thể chế tài chính nội địa; thiết lập các cơ sở hạ tầng cơ bản của thịtrường tài chính
Thực hiện các biện pháp kiểm soát FPI trên đây đã giúp các nước đangphát triển châu Á có thể hạn chế được những tác động tiêu cực của các dòngvốn FPI và họ đã có thể an tâm hơn thu hút các dòng vốn này