1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

KTCT tìm hiểu về hợp tác kinh tế châu á thái bình dương APEC

16 298 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 122 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I Khái quát chung. 1. Cụm từ viết tắt APEC có nghĩa là gì? APEC là từ viết tắt tiếng Anh của Asia Pacific Economic Cooperation, nghĩa là Hợp tác Kinh tế Châu á Thái Bình Dương. 2. APEC được thành lập năm nào? APEC được thành lập năm 1989 tại Canberra (Australia). 3. APEC ra đời trong bối cảnh nào và mục đích của việc thành lập APEC? Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu á Thái Bình Dương (APEC) ra đời trong bối cảnh nền kinh tế quốc tế đang đương đầu với những thách thức nghiệt ngã: chủ nghĩa toàn cầu vốn phát triển mạnh sau thế chiến thứ hai bắt đầu gặp phải những khó khăn nan giải với nhiều vấn đề bế tắc trong tiến trình đàm phán Hiệp UruguayWTO; chủ nghĩa khu vực hình thành và phát triển mạnh; khủng hoảng kinh tế trong những năm 1980 đặt ra những đòi hỏi có tính khách quan cần tập hợp lực lượng của những nền kinh tế trong khu vực Châu á Thái Bình Dương để đương đầu với cạnh tranh quốc tế gay gắt. APEC ra đời là kết quả hội tụ của các yếu tố trên nhằm khắc phục những khó khăn của chủ nghĩa toàn cầu, đồng thời nhằm liên kết các nền kinh tế phát triển trong khu vực như Mỹ, Canađa, Australia, Nhật Bản, các nền kinh tế công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và các nước đang phát triển như Trung Quốc, ASEAN lại với nhau, đưa khu vực này trở thành động lực cạnh tranh mạnh của nền kinh tế thế giới. 4. APEC bao gồm những thành viên nào và họ gia nhập năm nào? Hiện tại, APEC có 21 nền kinh tế thành viên và APEC đã quyết định ngừng việc kết nạp thành viên mới để chấn chỉnh tổ chức. Khi mới bắt đầu thành lập năm 1989, APEC có 12 sáng lập viên là Australia, Brunei Darussalam, Canada, Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, New Zealand, Nhật Bản, Philippines, Singapore, Thái Lan và Mỹ. Tháng 111991 APEC kết nạp thêm 3 thành viên nữa là Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan. Mexico và Papua New Guinea gia nhập 111993 và Chi Lê thamgia tháng 111994.Tháng 111998, Peru, Nga và Việt Nam trở thành thành viên chính thức của APEC.

Trang 1

I/ Khái quát chung.

1 Cụm từ viết tắt APEC có nghĩa là gì?

APEC là từ viết tắt tiếng Anh của "Asia - Pacific Economic Cooperation", nghĩa là Hợp tác Kinh tế Châu á - Thái Bình Dương

2 APEC được thành lập năm nào?

APEC được thành lập năm 1989 tại Canberra (Australia)

3 APEC ra đời trong bối cảnh nào và mục đích của việc thành lập APEC?

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu á - Thái Bình Dương (APEC) ra đời trong bối cảnh nền kinh tế quốc tế đang đương đầu với những thách thức nghiệt ngã: chủ nghĩa toàn cầu vốn phát triển mạnh sau thế chiến thứ hai bắt đầu gặp phải những khó khăn nan giải với nhiều vấn đề bế tắc trong tiến trình đàm phán Hiệp Uruguay/WTO; chủ nghĩa khu vực hình thành và phát triển mạnh; khủng hoảng kinh tế trong những năm 1980 đặt ra những đòi hỏi có tính khách quan cần tập hợp lực lượng của những nền kinh tế trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương để đương đầu với cạnh tranh quốc tế gay gắt APEC ra đời là kết quả hội tụ của các yếu tố trên nhằm khắc phục những khó khăn của chủ nghĩa toàn cầu, đồng thời nhằm liên kết các nền kinh tế phát triển trong khu vực như Mỹ, Canađa, Australia, Nhật Bản, các nền kinh tế công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore

và các nước đang phát triển như Trung Quốc, ASEAN lại với nhau, đưa khu vực này trở thành động lực cạnh tranh mạnh của nền kinh tế thế giới

4 APEC bao gồm những thành viên nào và họ gia nhập năm nào? Hiện tại, APEC có 21 nền kinh tế thành viên và APEC đã quyết định ngừng việc kết nạp thành viên mới để chấn chỉnh tổ chức

Khi mới bắt đầu thành lập năm 1989, APEC có 12 sáng lập viên là Australia, Brunei Darussalam, Canada, Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, New Zealand, Nhật Bản, Philippines, Singapore, Thái Lan và Mỹ Tháng 11/1991 APEC kết nạp thêm 3 thành viên nữa là Trung Quốc, Hồng Kông

Trang 2

và Đài Loan Mexico và Papua New Guinea gia nhập 11/1993 và Chi Lê thamgia tháng 11/1994.Tháng 11/1998, Peru, Nga và Việt Nam trở thành thành viên chính thức của APEC

5 Mục tiêu hoạt động của APEC là gì?

APEC chủ yếu hoạt động theo hướng tập hợp lực lượng chính trị để tạo thế và lực lượng trong các cuộc đàm phán đa biên và ổn định kinh tế khu vực Hướng hoạt động chính của APEC là các vấn đề kinh tế, tuy nhiên vấn đề chính trị và an ninh đôi khi cũng được bàn thảo APEC được thành lập với tầm nhìn dài hạn là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sự thịnh vượng cho khu vực và thắt chặt quan hệ trong cộng đồng châu á - Thái Bình Dương Các biện pháp được thực hiện là cắt giảm thuế và các rào cản thương mại, đẩy mạnh xuất khẩu và xây dựng các nền kinh tế hiệu quả APEC đang phấn đấu tạo dựng một môi trường để lưu chuyển an toàn và hiệu quả hàng hóa, dịch vụ và con người giữa các biên giới thông qua phối hợp chính sách và hợp tác kinh tế kĩ thuật Để đạt được mục tiêu dài hạn, tuyên bố Bogor 1994 của các Nguyên thủ Quốc gia APEc đã xác định mọi hoạt động của APEC nhằm thực hiện 3 mục tiêu lớn sau đây:

- Củng cố hệ thống thương mại đa phương: APEC sử dụng đầy đủ các nguyên tắc và kết quả của WTO để thực hiện các vòng đàm phán nội bộ khối và phát triển những kết quả vì mục tiêu tự do hóa trong nội bộ khối:

- Tăng cường tự do hóa thương mại và đầu tư: thúc đẩy và phát triển quan hệ thương mại thông qua việc loại bỏ những hạn chế về thương mại

và đầu tư, xúc tiến trao đổi hàng hóa, dịch vụ, tư bản giữa các nền kinh tế Mốc thời hạn tự do hóa thương mại và đầu tư của APEC là năm 2010 đối với các thành viên phát triển và năm 2020 đối với các thành viên đang phát triển;

- Tăng cường hợp tác kinh tế - kỹ thuật giữa các nền kinh tế trong cộng đồng châu á - Thái Bình Dương nhằm bảo đảm cho các nền kinh tế

Trang 3

thành viên thực hiện có hiệu quả những cam kết quốc tế và nâng cao khả năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế

6 Nguyên tắc hoạt động của APEC là gì?

Để thực hiện mục tiêu thương mại - đầu tư tự do và mở, các nhà Lãnh đạo Kinh tế APEC đã thông qua kế hoạch hành động Osaka (OAA) năm

1995, trong qui định tất cả các hoạt động của APEC được điều tiết bởi những nguyên tắc chung sau:

- Bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau;

- Hỗ trợ và cùng có lợi;

- Quan hệ đối tác chân thành và trên tinh thần xây dựng;

- Mọi quyết định được đưa ra trên cơ sở nhất trí chung

Các nguyên tắc chung này đã được cụ thể hóa thành 9 nguyên tắc cơ bản sau:

- Toàn diện;

- Tương thích với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO);

- Đảm bảo mối tương đồng giữa các thành viên;

- Không phân biệt đối xử;

- Đảm bảo công khai, minh bạch;

- Lấy mức bảo hộ hiện tại làm mốc để giảm dần (stand still);

- Đồng loạt triển khai tiến trình tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại và đầu tư;

- Có sự linh hoạt; và

- Hợp tác

7 APEC hoạt động trong những lĩnh vực nào?

Hoạt động hợp tác APEC hết sức đa dạng, từ đối thoại chính sách đến các cam kết đơn phương để mở rộng thị trường, từ trao đổi kinh nghiệm khoa học - kỹ thuật và quản lý đến xây dựng các chương trình hành động nhằm giảm bớt chi phí kinh doanh Các lĩnh vực hợp tác không chỉ chú trọng vào thương mại mà còn cả những vấn đề khác như về bảo tồn tài

Trang 4

nguyên biển, phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ công nghiệp, thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ

8 Cơ cấu tổ chức hoạt động của APEC như thế nào?

APEC hoạt động như một diễn đàn hợp tác kinh tế thương mại đa biên Tuy hình thức là một diễn đàn hợp tác kinh tế khu vực mở, nhưng APEC có một cơ chế tổ chức và hoạt động khá chặt chẽ Điểm đặc biệt của APEC là ở chỗ APEC là một tổ chức liên chính phủ duy nhất cam kết cắt giảm các rào cản thương mại và thúc đẩy đầu tư mà không đòi hỏi tham gia các điều khoản pháp lý bắt buộc nào

Hàng năm một trong 21 thành viên APEC sẽ đăng cai các hội nghị lớn của APEC và làm chủ tịch APEC theo qui tắc 1 thành viên ASEAN rồi đến

2 thành viên ngoài ASEAN Thành viên đăng cai APEC sẽ chịu trách nhiệm làm chủ tịch Hội nghị Cấp cao (Economic Leaders' Meeting - AELM), một

số Hội nghị Bộ trưởng (Ministerial Meetings - AMM), các Hội nghị Quan chức Cấp cao (SOM) Hội nghị của các Uỷ ban và một số nhóm công tác, đồng thời đảm nhận vị trí Giám đốc điều hành Ban Thư ký APEC

Các hoạt động cấp chuyên viên và các dự án của APEC chịu sự hướng dẫn của các Quan chức Cao cấp APEC Các hoạt động và dự án này được thực hiện bởi 4 uỷ ban cấp cao:

* Uỷ ban Quản lý và Ngân sách (BMC);

* Uỷ ban Thương mại và Đầu tư (CTI);

* Uỷ ban Kinh tế (EC);

* Uỷ ban các quan chức cao cấp về hợp tác kinh tế và kỹ thuật (ESC) Dưới các uỷ ban này có các tiểu nhóm, các nhóm chuyên gia, nhóm công tác và nhóm chuyên trách để hỗ trợ cho các hoạt động và dự án của bốn nhóm cấp cao này

9 Nguyên tắc ra quyết định của APEC như thế nào?

Trang 5

APEC hoạt động trên cơ sở đồng thuận Các thành viên triển khai các hoạt động và chương trình công tác của mình trên cơ sở đối thoại mở với nguyên tắc tôn trọng các ý kiến của tất cả các thành viên tham gia

10 Chủ tịch của APEC được lựa chọn như thế nào?

Chủ tịch của APEC do các nền kinh tế thành viên thay phiên nhau đảm nhiệm Chủ tịch APEC là nền kinh tế chủ nhà tổ chức Hội nghị Cấp cao năm đó

11 Ban Thư ký APEC được thành lập năm nào và đặc biệt trụ sở tại đâu?

Năm 1992, Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 4 của APEC đã nhất trí thành lập Ban thư ký APEC với chức năng là một cơ quan giúp việc để hỗ trợ và phối hợp các hoạt động trong APEC Trụ sở của Ban Thư ký được đặt tại Singapore

12 Tổ chức và chức năng hoạt động của Ban Thư ký APEC?

Ban thư ký APEC hoạt động như bộ máy nòng cốt hỗ trợ tiến trình APEC.Ban thư ký thực hiện việc phối hợp, hỗ trợ kỹ thuật và tư vấn cũng như quản lý thông tin và liên lạc

Ban thư ký APEC đóng vai trò trung ương quản lý dự án, giúp các nền kinh tế thành viên và các diễn đàn APEC giám sát các dự án APEC tài trợ

và quản lý ngân sách hàng năm của APEC

Lãnh đạo Ban thư ký APEC có Giám đốc điều hành và Phó giám đốc điệ hành Các vị trí này do các quan chức cấp đại sứ tương ứng của thành viên d đăng cai Hội nghị cấp cao năm hiện tại và năm tiếp theo đảm nhiệm Các vị trí này được quay vòng hàng năm Ban thư ký APEC có một đội ngũ nhân viên gồm khoảng 20 giám đốc chương trình do các thành viên APEC

đề cử, và khoảng 25 nhân viên dài hạn thực hiện các chức năng hỗ trợ cho Ban Thư ký

13 Muốn trở thành thành viên của APEC cần đáp ứng được những điều kiện gì?

Trang 6

Hội nghị Cấp cao APEC tại Vancouver, Canađa tháng 11/1997 đã thông qua qui chế thành viên của APEC, qui định các nước, các vùng lãnh thổ kinh tế muốn trở thành thành viên của APEC cần phải có đủ một số điều kiện sau:

-Vị trí địa lý: nằm ở khu vực châu á - Thái Bình Dương, tiếp giáp với

bờ biển Thái Bình Dương

- Quan hệ kinh tế: có các mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với các nền kinh tế thành viên APEC về thương mại hàng hóa và dịch vụ, đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự tự do đi lại tự do của các quan chức;

- Tương đồng về kinh tế: chấp nhận chính sách kinh tế mở cửa theo hướng thị trường;

- Quan tâm và chấp thuận các mục tiêu của APEC; hoàn toàn chấp thuận những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản được đề ra trong các tuyên bố

và quyết định của APEC, kể cả nguyên tắc đồng thuận và tự nguyện

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, một ý tưởng về liên kết kinh tế khu vực Châu á -Thái Bình Dương đã được các nhà nghiên cứu Nhật Bản đưa ra ý tưởng trên đã được nhiều người ủng hộ Liên kết khu vực Châu á

- Thái Bình Dương cho đến cuối những năm 1980 để trải qua 3 cao trào đáng ghi nhận:

Giai đoạn đầu tiên vào giữa thập kỷ 60 là lúc thị trường chung Châu

Âu đựoc thiết lập rất thành công khi đó ở Châu á - Thái Bình Dương người

ta đã thành lập Uỷ ban kinh tế lòng chảo Thái Bình Dương" (PEC) vào năm

1961 và "diễn đàn phát triển và thương mại Thái Bình Dương" (FTAD) vào năm 1968 Nhưng cả 2 tổ chức này chỉ lôi kéo được 5 nước phát triển ở Châu á Thái Bình Dương tham dự

Giai đoạn thứ hai diễn ra đúng lúc cuộc khủng hoảng dầu lửa thế giới Thủ tướng Nhật Bản đúng lúc bấy giờ là Massayoshi đã đề xuất thành lập

"Cộng đồng Thái Bình Dương" Trên cơ sở đó, năm 1980 "Uỷ ban hợp tác kinh tế Thái Bình Dương" (PECC) đã được chính thức thành lập với 13

Trang 7

thành viên sáng lập Sau này, PECC đã cùng với ASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành chế độ *** rộng rãi giữa các nền kinh tế trong khu vực, cũng như thúc đẩy việc thành lập APEC

Giai đoạn thứ ba bắt đầu từ thập kỷ 80 Những người Nhật Bản đã gợi

ý việc thành lập một diễn đàn hợp tác có tính chất kĩ thuật về các vấn đề kinh tế khu vực Trong lúc này, Mỹ đang tập trung vào việc thúc đẩy tiến trình của vòng đàm phán Urgoay và việc hình thành khu vực mậu dịch tự

do Bắc Mỹ do vậy họ ít quan tâm chú ý đến ý kiến trên Trong bối cảnh đó chính phủ Australia đã nhận thức được tầm quan trọng của những quan hệ kinh tế của Châu á - Thái Bình Dương đối với mình, do vậy, Australia đã kịp thời nắm bắt ý tưởng trên và tích cực thúc đẩy việc hình thành một diễn đàn hợp tác kinh tế ở khu vực Tiếp theo đó vào tháng 1 1989, tại Seoul -Hàn Quốc, Thủ tướng Australia là BobHawk đã đưa ra sáng kiến thành lập một diễn đàn phối hợp hoạt động của các chính phủ nhằm thúc đẩy mạnh

mẽ phát triển kinh tế và thúc đẩy hệ thống thương mại đa phương của khu vực

Đến 11/1989, Bộ trưởng kinh tế và ngoại giao của 12 nước là Australia, Brunei, Cazada, Indonêsia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, New Zealan, Philippin, Singapore, Thái Lan, Mỹ đã họp tại Carbera (Australia)

và quyết định chính thức thành lập diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á, Thái Bình Dương (APEC) Trong quá trình phát triển của mình, APEC đã kết nạp thêm các thành viên mới là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan (1991), Mêxico, Papua(1973), Chilê (1994), Việt Nam, Nga chính thức gia nhập APEC vào ngày 14 tháng 11 năm 1998 tại hội nghị thượng đỉnh APEC KualaLămpơ, Malaysia

Qua 15 năm tồn tại, APEC đã có 21 nền kinh tế với số dân 2.632 triệu người tạo ra 20,96 tỷ USD, GDP đóng góp 4.007 tỷ USD cho xuất khẩu thế giới Đây là một liên kết bao gồm nhiều khu vực và nhiều nền kinh tế mạnh

Trang 8

nhất và năng động nhất thế giới: khu vực Đông á và Nhật Bản, Trung Quốc

và ASEAN Khu vực Bắc Mỹ là Mỹ, Canađa và Mexico

Hơn thế nữa, sự phong phú đa dạng về kinh tế, văn hóa, chính trị của liên kết này cũng tạo điều kiện cho APEC có thể phát triển mạnh hơn

Như vậy, APEC là sự tập trung của những nền kinh tế khác nhau Tuy nhiên, tất cả các thành viên có chung một mục đích Bởi vậy, những mục tiêu cơ bản được thống nhất là: Duy trì sự tăng trưởng và phát triển của khu vực vì lợi ích chung của cả dân tộc trong khu vực và bằng cách đó đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế thế giới phát huy các kết quả tích cực đối với khu vực và nền kinh tế thế giới do sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng về kinh tế tạo ra, khuyến khích sự duy chuyển của các vùng hàng hóa, dịch vụ, vốn và công nghệ, phát triển và tăng cường hệ thống thương mại đa phương, vì lợi ích của các nước Châu á - Thái Bình Dương và nền kinh tế khác, cắt giảm những hàng rào cản trở việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa các ngành phù hợp với các nguyên tắc của Gatt/ WTO ở những lĩnh vực thích hợp và không làm tổn hại tới nền kinh tế khác

Cũng như các tổ chức kinh tế khác, APEC luôn hoạt động theo 4 nguyên tắc: Nguyên tắc cùng có lợi, nguyên tắc đồng thuận, nguyên tắc tự nguyện, APEC là diễn đàn mở, hoạt động phù hợp với các nguyên tắc Gatt/WTO

Nguyên nhân ra đời của APEC:

Thứ nhất: do sự tăng trưởng liên tục, với tốc độ cao của nền kinh tế Châu Á Trong những năm 80 tiếp theo sự thần kỳ của Nhật Bản là các Nics, ASEAN và sự nổi lên của Trung Quốc đã biến khu vực này trở thành nơi phát triển kinh tế năng động nhất thế giới Trong khi đó vào đầu những năm 90, nền kinh tế thế giới lại bị suy thoái, do vậy sự nổi lên của Châu á -Thái Bình Dương lại càng có ý nghĩa hơn.Trong giai đoạn 1990 - 1994, năm 1994 tốc độ GDP của thế giới cao nhất và đạt 2,5% thì của APEC là

Trang 9

3,5%, trong đó APEC Mỹ Latinh đạt 4,1% còn Đông Nam á đạt tới 7,8%.Trong sự tăng trưởng trên đáng chú ý là năng lực xuất khẩu của các nước Châu á Nó thực sự trở thành động lực tăng trưởng của các nước này.Tốc độ tăng bình quân của xuất khẩu là trên 10% trong khi Châu Âu và

Mỹ Latinh chỉ đạt 4% còn các nước công nghiệpphát triển là 6% Đồng thời với quá trình trên, FDI vào các nước Châu ấ cũng tăng lên khá mạnh Như vậy, nhu cầu lớn về xuất khẩu hàng hóa cùng với khả năng thu hút lớn

về FDI đã đặt ra cho các nước trong khu vực một yêu cầu cấp thiết là phải

mở cửa thị trường, giảm thiểu tối đa các rào cản thương mại, đầu tư hội nhập kinh tế lúc này là một ưu tiên cho sự phát triển kinh tế với tốc độ cao

và ổn định

Thứ hai, do xu thế toàn cầu hoá ngày càng phát triển mạnh mẽ Dưới tác động của những thành tựu khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, nền kinh tế thì ngày càng trở nên thống nhất, tất yếu dẫn đến sự phân công lao động quốc tế, ngày càng sâu rộng Các hoạt động từ sản xuất đến dịch vụ ngày càng được quốc tế hóa Đồng thời, xu thế khu vực hoá cũng ngày càng phát triển Đó là các liên kết kinh tế ở Châu á và Bắc Mỹ Trong xu thế đó, Châu á - Thái Bình Dương có nhiều tiềm năng nhờ có sự năng động, có tốc độ tăng trưởng cao có sự ổn định về chính trị, nhưng lại thiếu một hình thức liên kết kinh tế rộng rãi, có hiệu quả cao Thêm vào đó

là chủ nghĩa bảo hộ của Tây Âu và Bắc Mỹ cũng ngày càng gia tăng Tình hình trên đã thúc đẩy Châu á - Thái Bình Dương cần phải có sự liên kết với cấp chính phủ trong toàn khu vực, để đảm bảo phát triển dự định cho các nước, trước nhiều biến động ngày càng nhanh và mạnh của nền kinh tế thế giới

Thứ ba, do xu thế ràng buộc, phụ thuộc giữa các nền kinh tế ngày càng gia tăng về nhiều mặt Xu thế trên được thể hiện khá rõ trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương Có thể thấy rõ điều này qua lĩnh vực thương mại Trong năm 1989, các nước Châu á - Thái Bình Dương, xuất khẩu sang

Trang 10

Châu á - Thái Bình Dương tới 30,5% tổng giá trị xuất khẩu Con số trong vùng của Nhật Bản là 33% Đáng chú ý là quan hệ thương mại Mỹ - Nhật: Nhật bản xuất khẩu tới 34% tổng giá trị sang Mỹ, Mỹ xuất khẩu 12,3% tổng giá trị sang Nhật Bản Cùng lúc này, việc Trung Quốc mở cửa cải cách

đã làm tăng thêm thị trường cho các nước khác, cũng như sự phụ thuộc của Trung Quốc vào thị trường thế giới và khu vực ngày càng tăng Sự phụ thuộc ràng buộc với nhau cũng như trong đầu tư trực tiếp cũng như trong các lĩnh vực nhiên liệu, năng lượng, khoa học công nghệ

Sự phụ thuộc lẫn nhau trên đây tất yếu dẫn đến sự hợp tác, liên kết, sự phù hợp giữa các nước trong khu vực với nhau Những nhân tố trên đã đặt

ra những yêu cầu khách quan, cấp bách về việc hình thành một diễn đàn rộng, nhằm phối hợp các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tự do hoá thương mại, khuyến khích đầu tư, tăng cường hợp tác về khoa học công nghệ giữa các nước trong khu vực với nhau Hội nhập kinh tế như thế này không chỉ giải quyết những vấn đề trước mắt, mà còn hướng tới sự phát triển bền vững của khu vực Châu á - Thái Bình Dương trong thế kỷ XXI

Cho đến nay, APEC đã tồn tại và phát triển được 16 năm Trong qúa trình đó APEC đã có nhiều thay đổi và tiến bộ quan trọng về tính chất, nội dung cũng như cơ chế hoạt động Xem xét những nội dung cơ bản của các hội nghị, có thể đánh giá được quá trình phát triển của APEC

Hội nghị Bộ trưởng lần thứ nhất họp ở Canbera(1989) đưa ra tư tưởng

về "chủ nghĩa khu vực mở", tiến tới xây dựng một khu vực Châu á - Thái Bình Dương tự do thương mại và đầu tư, không phân biệt đối xử trong APEC cũng như các nước ngoài APEC Hội nghị Bộ trưởng lần thứ hai họp

ở Sugapore (7/1990) đưa ra những lĩnh vực hoạt động là (I)Tổng hợp dữ liệu về thương mại và đầu tư (II) Thúc đẩy thương mại, mở rộng đầu tư và chuyển giao kỹ thuật ở Châu á - Thái Bình Dương, phát triển các nguồn nhân lực đa phương (III) hợp tác khu vực trong lĩnh vực năng lượng, bảo tồn tài nguyên biển Hội nghị Bộ trưởng lần thứ ba họp tại Seral (11/91)

Ngày đăng: 07/03/2018, 00:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w