PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính , nguồn lực vật chất , nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng , sữa chữa nhà cửa và cấu trức hạ tầng , mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ , bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực , thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội , tạo việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội . Thực hiện đầu tư là một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội . Quá trình này đòi hỏi phải tiêu hao những nguồn lực của xã hội mà trong đó vốn là một trong những nguồn lực quan trọng . Trên giác độ vĩ mô , vốn được chia làm 2 loại : Vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài . Hai nguồn vốn này có quan hệ mật thiết với nhau cũng như tác động trực tiếp đến nền kinh tế của mỗi quốc gia , vùng lãnh thổ . Tại Việt Nam , chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội . Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá , hiện đại hoá , tăng trưởng kinh tế phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản nước ta trở thành một nước công nghiệp thì việc sử dụng vốn đầu tư để đạt được mục đích này là rất quan trọng . Chính vì thế , chúng ta cần phải nghiên cứu trên cơ sở lý luận về vai trò và mối quan hệ giữa 2 nguồn vốn trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trương kinh tế, để từ đó ứng dụng vào thực tiễn Việt Nam . Với những lý do nêu trên , nhóm 5 chúng em đã thực hiện nghiên cứu để tài này . Trong quá trình thực hiện đề tài còn nhiều thiếu sót , nhưng với tinh thần cầu thị và học hỏi , chúng em mong thầy giáo và các bạn chân thành đóng góp ý kiến để chúng em có thể thực hiện tốt hơn những đề tài sau . Chúng em xin chân thành cảm ơn TS.Từ Quang Phương đã hướng dẫn chúng em làm đề tài này
Trang 1PHẦN A ĐẶT VẤN ĐỀ
Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính , nguồn lựcvật chất , nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng , sữa chữa nhà cửa và cấutrức hạ tầng , mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ , bồi dưỡngđào tạo nguồn nhân lực , thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạtđộng của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đangtồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội , tạo việc làm và nâng cao đờisống của mọi thành viên trong xã hội
Thực hiện đầu tư là một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh
tế xã hội Quá trình này đòi hỏi phải tiêu hao những nguồn lực của xã hội màtrong đó vốn là một trong những nguồn lực quan trọng Trên giác độ vĩ mô ,vốn được chia làm 2 loại : Vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài Hai nguồn vốn này có quan hệ mật thiết với nhau cũng như tác động trực tiếpđến nền kinh tế của mỗi quốc gia , vùng lãnh thổ
Tại Việt Nam , chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá , hiện đại hoá , tăng trưởng kinh tếphấn đấu đến năm 2020 về cơ bản nước ta trở thành một nước công nghiệp thìviệc sử dụng vốn đầu tư để đạt được mục đích này là rất quan trọng Chính vì
thế , chúng ta cần phải nghiên cứu trên cơ sở lý luận về vai trò và mối quan hệ giữa 2 nguồn vốn trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trương kinh tế, để từ đó ứng dụng vào thực tiễn Việt Nam
Với những lý do nêu trên , nhóm 5 chúng em đã thực hiện nghiên cứu để tàinày Trong quá trình thực hiện đề tài còn nhiều thiếu sót , nhưng với tinh thầncầu thị và học hỏi , chúng em mong thầy giáo và các bạn chân thành đóng góp
ý kiến để chúng em có thể thực hiện tốt hơn những đề tài sau Chúng em xin
Trang 2chân thành cảm ơn TS.Từ Quang Phương đã hướng dẫn chúng em làm đề tàinày !
Trang 3đó
Vốn đầu tư là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốncho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của xãhội
2 Phân loại nguồn vốn đầu tư :
Nguồn vốn đầu tư đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau được chiathành nhiều loại khác nhau Trong đề tài này sẽ nghiên cứu nguồn vốn đầu tưdưới góc độ vĩ mô - nguồn vốn đầu tư được chia thành nguồn vốn trong nước
và nguồn vốn nước ngoài
2.1 Nguồn vốn trong nước :
a Khái niệm
Nguồn vốn trong nước là nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và nguồn huyđộng từ tiết kiệm của doanh nghiệp và dân cư Xét một cách tổng quát ,nguồn vốn trong nước là phần tiết kiệm hay tích luỹ của nền kinh tế
b Nguồn hình thành :
Nguồn vốn trong nước bao gồm nguồn vốn nhà nước và nguồn vốn từ khuvực dân cư
b.1 Nguồn vốn nhà nước :
Trang 4Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn từ ngân sách nhà nước,
nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư pháttriển của doanh nghiệp nhà nước
Đối với nguồn ngân sách nhà nước : Đây chính là nguồn chi của ngân sáchnhà nước cho đầu tư Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiếnlược phát triển kinh tế – xã hội mỗi quôc gia Nguồn vốn này được sử dụngcho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội , quốc phòng , an ninh , thực hiệncác dự án nhằm quy hoạch tổng thể phát trỉên kinh tế –xã hội vùng , ngành ,địa phương
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước : vốn tín dụng đầu tư phát triển
của nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh
tế – xã hội khi mà nước ta đang trong quá trình đổi mới và mở cửa Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước : Được xác định là thànhphần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế , các doanh nghiệp nhà nước vẫnnắm giữ một khối lượng vốn nhà nước khá lớn Mặc dù vẫn cón một số hạnchế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực kinh tế nhà nước với sựtham gia của các doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nềnkinh tế nhiều thành phần
b.2 Nguồn vốn từ khu vực tư nhân
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư , phầntích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Theo đánh giá sơ
bộ , khu vực kinh tế ngoài nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rấtlớn mà chưa huy động triệt để
c Nguồn vốn trong nước và vai trò quyết định của nó
Theo văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX vừa qua , Đảng ta đã xác định mụctiêu , chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ nay đến năm 2020 , qua đó đến
Trang 5năm 2020 nhằm biến nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp với cơ
sở vật chất kỹ thuật hiện đại
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay , để tránh bị tụt hậu so với thế giới ,nước ta cần nhanh chóng đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoáđất nước Quá trình này đòi hỏi một lượng vốn khổng lồ ; nguồn vốn này đểxây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế ; cải thiện môi trường đầu tư, xoá đói giảm nghèo, tiến hành phổ cập giáo dục … Thông qua đầu tư nướcngoài ( FDI và ODA ) chúng ta đã thu hút được một lượng vốn đáng kể , tuynhiên nếu chỉ dựa vào bên ngoài mà không huy động trong nội bộ thì các mụctiêu kinh tế xã hội khó lòng thực hiện được Chính vì thế , nguồn vốn nướcngoài tuy quan trọng nhưng nó sẽ không thể quyết định thay cho nguồn vốntrong nước Nguồn vốn trong nước tạo tiền đề để thu hút đầu tư nước ngoài
Lý giải cho lập luận trên , chúng em xin trình bày những vai trò quyết địnhcủa nguồn vốn trong nước
Thứ nhất : Tính chủ động khi sử dụng nguồn vốn trong nước
Chủ động trong quá trình đầu tư , tái đầu tư mở rộng góp phần làm tăngtrưởng kinh tế vì nó là sự tích luỹ của chính phủ và của dân cư Khi chủ thểnắm trong tay vốn của mình thì có thể hoàn toàn quyết định mục đích sửdụng Quyền chiếm hữu ở đây gắn liền với quyền sử dụng và quyết địnhquyền sử dụng
Nguồn vốn trong nước phục vụ chủ yếu cho việc xây dựng các công trìnhcông cộng , tập trung phát triển cơ sở hạ tâng trong quy hoạch tổng thể pháttriển nền kinh tế xã hội của đất nước Như vậy việc sử dụng nó mang tínhchủ động rất cao và không bị phụ thuộc vào các thế lực bên ngoài
Nguồn vốn trong nước giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triểnkinh tế mỗi quốc gia Nguồn vốn trong nước bao gồm nguồn vốn nhà nước
và nguồn vốn từ khu vực tư nhân Các quốc gia đang phát triển như Việt
Trang 6Nam , khi mà kinh tế tư nhân chưa trở thành một thành phần kinh tế chủ chốtcủa nền kinh tế , thì nguồn vốn nhà nước sẽ là nguồn quan trọng khi tiến hành
sự nghiệp công nghiệp hoá Nguồn vốn nhà nước bao gồm nguồn vốn từNgân sách nhà nước , nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước vànguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước Nguồn vốn nhànước thường được sử dụng trong các dự án kết cấu hạ tâng kinh tế xã hội ,quốc phòng an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnhvực cần tham gia của Nhà nước , chi cho công tác lập và thực hiện các dự ánqui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng , lãnh thổ , quy hoạch pháttriển xây dựng đô thị và nông thôn
Đi đôi với quá trình đổi mới và mở cửa , tín dụng đầu tư phát triển củaNhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội Nếu như trước đây , vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước chưađược sử dụng như một công cụ quản lý và điều tiết nền kinh tế thì những nămgần đây , nguồn vốn này đã có mức tăng trưởng đáng kể và bắt đầu có vị tríquan trọng trong chính sách đầu tư của chính phủ Nguồn vốn tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước có tác động tích cực trong việc giảm đáng kể sựbao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước Với cơ chế tín dụng , các đơn vị sử dụngnguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay ; vì thế chủ đầu tư
là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư , sử dụng vốn tiết kiệm và hiệuquả Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độchuyển từ phương thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối vớicác dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
Trên góc độ vĩ mô , nguồn vốn của một quốc gia được chia là hai loại :Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Phân chia hai nguồn vốnmột cách khái quát như vậy chúng ta sẽ phân tích đước mối quan hệ giữachúng đối với quá trình phát triển kinh tế- xã hội Có thể thấy rằng , nguồn
Trang 7vốn trong nước thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn đầu tư củamột quốc gia Nếu nguồn vốn nước ngoài chủ yếu tập trung đầu tư vàonhững ngành công nghiệp mũi nhọn : điện tử , chế biến … thì nguồn vốntrong nước nhằm phục vụ cho việc xây dựng các công trình công cộng , tậptrung phát triển cơ sở hạ tầng Ngoài ra nguồn vốn trong nước còn được sửdụng chủ yếu vào các dự án góp phần xoá đói giảm nghèo ; phát triển kinh tế
xã hội , từ đó nhằm xoá hoặc giảm bớt sự phân cấp giàu nghèo giữa cácngành , các địa phương
Chủ động trong việc sử dụng để đầu tư vào các ngành , vùng kinh tế
khác nhau là chuyển dịch cơ cấu theo hướng ngày càng phù hợp hơn Cácnhà đầu tư nước ngoài không quan tâm đến vấn đề này mà chỉ quan tâm đếnnhững lĩnh vực , ngành mà họ có lợi nhuận cao nhất dẫn đến việc phát triểnmất cân đối
Nguồn vốn trong nước là nhân tố quan trọng góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hoá , hiện đại hoá Vai trò này được hiểu làquá trình tập trung nguồn vốn trong nước vào những ngành công nghiệp mũinhọn để đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế cũng như mục tiêu của nhà nước đặt
ra trong mỗi giai đoạn thông qua việc phân bổ nguồn vốn cho các khu vực ,các địa phương
Thứ hai : Vốn trong nước được đầu tư vào quốc phòng an ninh góp phần đảm bảo anh ninh quốc gia
Vốn trong nước thường được sử dụng vào các dự án lớn như: mạng lướithông tin quốc gia ,sân bay, các cơ sở sản xuất vũ khí, chi cho quốc phòng anninh, xây dựng hệ thống đưòng biên giới vói các quốc gia láng giềng, giảiquyết tranh chấp…
Về mặt lý thuyết đầu tư nước ngoài có đe doạ đến an ninh kinh tế của nướcchủ nhà thông qua thao túng một số ngành sản xuất quan trọng , những hàng
Trang 8hoá thiết yếu hoặc đẩy mạnh đầu cơ , buôn lậu , rút chuyển đi nơi khác … Vìmục tiêu theo đuổi lợi nhuận cao nên không loại trừ các chủ thể này sẽ tácđộng , can thiệp một cách gián tiếp vào các vấn đề chính trị của nước chủ nhà Do vậy việc viện trợ hay đầu tư nguồn vốn nước ngoài cho nền kinh tế đôilúc không chỉ vì mục đích kinh tế mà bao gồm cả mục đích phi kinh tế Nguồn vốn trong nước cho phép chính phủ hoàn toàn chủ động trong việcđàm phán tiếp nhận vốn nước ngoài Khẳng định chủ quyền kinh tế chính trịdựa trên tiềm lực nội tại vốn có của mình
Thứ ba : Nguồn vốn trong nước tạo tiền đề cũng như là cơ sở để thu hút vốn nước ngoài.
Các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào nước sở tại đòi hỏinước sở tại phải có một số điều kiện cơ sở vật chất nhất định , điều đó sẽkhuyến khích họ đầu tư , mặt khác sẽ “tạo niềm tin” cho họ trong việc thu hồivốn và làm ăn lâu dài Việc sử dụng có mục đích và hiệu quả nguồn vốn trongnước để xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật sẽ làm thay đổi bộ mặt nềnkinh tế xẫ hộ của đất nước , cải thiện môi trường đầu tư , tạo dựng môi trườngđầu tư hấp dẫn Đó là cơ sở để các nhà đầu tư nước ngoài mang vốn vào đầu
tư trong nước Đồng thời sử dụng có mục đích và hiệu quả nguồn vốntrong nước đã nâng cao trình độ phát triển của nền kinh tế thể hiện ở các mức
độ phát triển về quản lý kinh tế vĩ mô , cơ sở hạ tầng , chất lượng cung cấpdịch vụ của các nhà đầu tư nước ngoài và mức độ cạnh tranh của thị trườngnước chủ nhà Vốn đầu tư trong nước là nhân tố quyết định trong quá trìnhxây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội mỗi quốcgia , từ đó môi trường đầu tư được cải thiện và trở nên hấp dẫn hơn với cácnhà đầu tư , thu hút họ bỏ vốn đầu tư
Chính vì thế, việc sử dụng nguồn vốn trong nước sao cho hợp lý , phân bổ
đúng nơi đúng chỗ sẽ đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư Điều này hết
Trang 9sức quan trọng khi nước ta đang trong quá trình đàm phán gia nhập WTO ,từng bước mở cửa nền kinh tế và hội nhập với nền kinh tế thế giới
Thứ tư : do chiếm tỷ trọng lớn và ổn định qua các năm, các thời kỳ vốn trong nước đảm bảo tính an toàn,tính ổn định khi sử dụng
Trong những năm gần đây , qui mô tổng thu của ngân sách nhà nước khôngngừng gia tăng nhờ mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau ( thuế , phí , bán tàinguyên , cho thuê các tài sản thuộc sở hữu nhà nước … ) Đi cùng với sự mởrộng quy mô của Ngân sách , mức chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách nhànước cũng tăng đáng kể ; góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xãhội : xóa đói giảm nghèo , phổ cập giáo dục … Nguồn vốn từ ngân sách nhànước đảm bảo những cân đối chính yếu trong nền kinh tế , là 1 trong nhữngcông cụ đầu tư trực tiếp của Nhà nước
sẽ đảm bảo an toàn hơn cho nền kinh tế trước những tác động của nền kinh
tế khác , cũng như tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới
Đảm bảo tính ổn định
Trong thực tế hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có tỷ trọng vốn trongnước luôn lớn và ổn định qua các thời kỳ Việc sử dụng vốn trong nước mộtcách ổn định như vậy sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách dễ dàng hơntrong việc lập quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, và dự đoán được tốc độphát triển của nền kinh tế
Trang 10Mặt khác , nguồn vốn nhà nước còn phục vụ công tác quản lý và điều tiết vĩ
mô Thông qua nguồn tín dụng đầu tư , Nhà nước thực hiện việc khuyếnkhích phát triển kinh tế xã hội của ngành , vùng , lĩnh vực theo định hướngchiến lược của mình Nguồn vốn này không chỉ thực hiện mục tiêu tăngtrưởng kinh tế mà còn thực hiện cả mục tiêu phát triển xã hội Việc phân bổ
và sử dụng vốn tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển những vùng kinh
tế khó khăn , giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói giảm nghèo , phổ cậpgiáo dục … Và cuối cùng , nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
có tác dụng tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hoá - hiện đại hoá
2.2 Nguồn vốn nước ngoài :
a Khái niệm
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài có thể hiểu là dòng lưu chuyển vốn quốc tế
Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyểngiao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới
b Nguồn hình thành
Dòng vốn nước ngoài diễn ra dưới nhiều hình thức Mỗi hình thức có đặcđiểm , mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng , không hoàn toàn giống nhau Theo tính chất lưu chuyển vốn , có thể phân loại các nguồn vốn nước ngoàinhư sau :
-Tài trợ phát triển chính thức ( ODF – official development finance ) Nguồn này bao gồm : Viện trợ phát triển chính thức ( ODA – officialdevelopment assistance ) và các hình thức tài trợ phát triển khác Trong
đó ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF
-Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại
-Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
-Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế
Trang 11c.Nguồn vốn nước ngoài và vai trò quan trọng
Theo lý thuyết tăng trưởng của Samuelson , vốn đầu tư cùng với tài nguyênthiên nhiên, lao động và kỹ thuật tạo thành 4 yếu tố vật chất xã hội Tất cảcác quốc gia trên thế giới khi tiến hành công nghiệp hoá đều cần một khốilượng vốn đầu tư lớn Đó chính là trở ngại lớn nhất để thực hiện sự nghiệpcông nghiệp hoá đối với các nước nghèo Trong đIều kiện hiện nay , khi màvới những thành tựu của khoa học kỹ thuật , các nước có thể tiến hành nhanhchóng không chỉ bằng khả năng tích luỹ trong nước mà còn kết hợp tận dụngkhả năng của thời đại Nguồn vốn đầu tư xét trên góc độ vĩ mô bao gồmnguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Bên cạnh nguồn vốn trongnước còn có thể huy động nguồn vốn nước ngoài , nhiều khi với khối lượnglớn Tuy nhiên , vốn trong nước có vai trò quan trọng , vốn nước ngoài cókhả năng thúc đẩy sự phát triển song không phải là yếu tố thúc đẩy sự pháttriển Tuy vậy những luận điểm sau sẽ chứng minh vai trò và tính quan trọngcủa vốn nước ngoài
Vốn đầu tư nước ngoài góp phần giải quyết những khó khăn do thiếu vốn
Các nước đang phát triển hầu hết đều rơi vào cái “ vòng luẩn quẩn “ là :Thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp , vì vậy đầu tư thấp dẫn đến thu nhậpthấp Nhiều quốc gia lâm vào tình trạng trì trệ của sự nghèo đói bởi họkhông lựa chọn được “ cú huých” nhằm phá vỡ một mắt xích của cái “vòng luẩn quẩn” này Khó khăn lớn nhất của các nước đang phát triển đó làvốn đầu tư và kỹ thuật , vốn đầu tư dùng để đổi mới công nghệ , năng caonăng suất lao động … từ đó tạo tiền đề để tăng thu nhập và tích luỹ Tuynhiên , nếu chỉ trong chờ vào nội bộ nguồn vốn trong nước sẽ không tránhkhỏi sự tụt hậu đối với thế giới Vẫn biệt nguồn vốn trong nước là quyết
Trang 12định , nguồn vốn nước ngoàI chỉ nhằm bổ sung , nhưng nguồn vốn nướcngoài sẽ là “cú huých” quan trọng góp phần phá vỡ cái vòng luẩn quẩn đó.
Hiệu ứng bổ sung và thay thế của vốn nước ngoài :
Nguồn vốn trong nước và vốn nước ngoà đều đóng vai trò quan trọng đềuquan hệ mật thiết với nhau Tuy nhiên trong mối quan hệ này vừa có tínhchất bổ sung , thay thế cho nhau trong một số trường hợp , một số khía cạnh
Có nhiều cách nhìn chưa hợp lý khi chỉ khẳng định vốn nước ngoài chỉ là
“bổ sung” cho vốn trong nước Tức là việc tăng 1 đơn vị vốn đầu tư nướcngoài sẽ là tăng đúng 1 đơn vị trong tổng vốn đầu tư xã hội Nhưng trongthực tế nó xảy ra 3 trường hợp :
Thứ nhất , tăng 1 đơn vị vốn đầu tư nước ngoài làm cho tổng vốn đầu tư
tăng đúng 1 đơn vị
Thứ hai , tăng 1 đơn vị vốn đầu tư nước ngoài làm cho tổng vốn đầu tư
tăng ít hơn 1 đơn vị
Thứ ba , tăng 1 đơn vị vốn đầu tư nước ngoài làm cho tổng vốn đầu tư
tăng nhiều hơn 1 đơn vị
Sở dĩ có điều này là ngoài hiệu ứng bổ sung vốn nước ngoài còn có hiệu ứng
thay thế Trong một số trường hợp khi vốn nước ngoài được đưa vào sử dụng
để đầu tư phát triển thì một số lượng vốn trong nước cho đầu tư phát triển sẽchuyển sang sử dụng cho những mục đích khác
Tính cơ động khi sử dụng vốn nước ngoài
Với các dự án sử dụng vốn đầu tư nước ngoài thì tính chuyên môn hoá caohơn , bổ sung các hàng hoá dịch vụ khan hiếm cho sản xuất và tiêu dùng Thúc đẩy trao đổi thông tin , hàng hoá dịch vụ trên thị trường thế giới từ đótạo dựng một nền kinh tế mang tính năng động cao
Vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu thực hiện các dự án vừa và nhỏ từ đó có thểthích nghi với sự thay đổi và đòi hỏi của thị trường
Trang 13Độ nhạy cảm cao
Các nhà đầu tư nước ngoài là những người rất giỏi trong việc đánh giánhững thay đổi của thị trường Vì vậy nguồn vốn nước ngoài được đem vàođầu tư sử dụng thường được đầu tư sử dụng và những ngành , lĩnh vực đemlại hiệu quả kinh tế cao như công nghiệp chế tạo máy , công nghiệp đIện tử
… Nguồn vốn nước ngoài đã góp phần tạo dựng mô hình kinh tế của nước tavừa mang tính thị trường vừa có sự định hướng của nhà nước
Tính minh bạch công khai
Việc sử dụng nguồn vốn nước ngoài đặc biệt là nguồn FDI đòi hỏi tínhminh bạch công khai rất cao Việc tạo dựng một cơ chế công khai minh bạchnhư vậy nó sẽ kích thích các nguồn khác hoạt động có hiệu quả , tăng cường
cơ chế tự giám sát tự điều chỉnh Góp phần nâng cao tính cạnh tranh cácnguồn lực cũng như tính cạnh tranh của nền kinh tế
Nguồn vốn nước ngoài sẽ tạo điều kiện để phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm đồng thời khai thác một cách có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Đầu tư nước ngoài giúp cho các nước sở tại khai thác 1 cách có hiệu quảnguồn lao động và tài nguyên thiên nhiên ; từ đó góp phần mở rộng tích luỹ
và nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế Các nước đang phát triển nói chung
và nước ta nói riêng thường có thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên ; nhiềuloại khoáng sản với trữ lượng lớn Tuy nhiên , điều kiện cơ sở vật chất kỹthuật ở các nước đang phát triển còn lạc hậu , cho nên các nước này không
có điều kiện để khai thác tận dụng triệt để nguồn này Thường các nướcđang phát triển khai thác dưới dạng thô để xuất khẩu rồi lại nhập khẩu sảnphẩm đã tinh chế Điều này gây ra sự lãng phí , kém hiệu quả rất lớn Chính
vì thế , đầu tư nước ngoài sẽ mang công nghệ tiên tiến trên thế giới vàonước sở tại , góp phần chuyển giao công nghệ để họ có thể tiếp thu , học tập
Trang 14nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách có hiệu quả hơn đểphục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước
Khi môi trường đầu tư được cải thiện , các nhà đầu tư trên thế giới sẽ tiếnhành đầu tư , kinh doanh vào nước ta ( nước sở tại ) Điều này ảnh hưởngtrực tiếp đến cơ hội tạo ra công ăn việc làm thông qua việc cung cấp laođộng trong các hãng có vốn đầu tư nước ngoài Thực tiễn ở một số nướccho thấy , đầu tư nước ngoài (FDI) đã đóng góp tích cực vào việc tạo việclàm cho các ngành sử dụng nhiều lao động như ngành may mặc , điện tử ,chế biến …
Thông qua khoản trợ giúp tài chính hoặc mở các lớp dạy nghề , đầu tưnước ngoài còn góp phần quan trọng đối với phát triển giáo dục nước chủnhà Đầu tư nước ngoài nâng cao năng lực quản lý của nước tiếp nhận theonhiều hình thức như các khoá học chính qui , không chính qui …
Tóm lại , nguồn vốn nước ngoài đem lại lợi ích về tạo công ăn việc làm Tạo thêm việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho người laođộng , từ đó tạo điều kiện để tăng tích luỹ trong nước
Đầu tư nước ngoài tạo điều kiện cho nước ta có thể tiếp thu được kỹ thuật và công nghệ hiện đại , kinh nghiệm quản lý và tác phong làm việc tiên tiến của nước ngoài
Có thể thấy rằng kinh nghiệm quản lý cũng như tác phong nghề nghiệpcủa người Việt Nam còn rất hạn chế Điều này gây ra một ảnh hưởngkhông tốt về phía các nhà đầu tư nước ngoài Chính vì thế những người làmviệc ở các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam sẽ tiếp thu được tác phongcũng như cách thức làm việc của người nước ngoài Điều này là rất cầnthiết khi mà thời gian từ nay đến khi nước ta gia nhập WTO không cònnhiều
Trang 15Vốn đầu tư nước ngoài sẽ góp phần thúc đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới
Xuất nhập khẩu có quan hệ nhân quả với tăng trưởng kinh tế Mối quan
hệ này được thể hiện : Xuất nhập khẩu cho phép khai thác lợi thế so sánh ,hiệu quả kinh tế theo qui mô , thực hiện chuyên môn hoá sản xuất , nhậpkhẩu bổ sung các hàng hoá , dịch vụ khan hiếm cho sản xuất và tiêu dùng ;xuất nhập khẩu còn thúc đẩy trao đổi thông tin , dịch vụ , tăng cường kiếnthức Marketing cho các doanh nghiệp nội địa Tất cả các yếu tố này sẽ đẩynhanh tốc độ tăng trưởng
Thông qua FDI , các nước đang phát triển có thể tiếp cận được với thịtrưòng thế giới bởi vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty xuyênquốc gia thực hiện ( TNCs ) ; mà các công ty này có lợi thế trong việc tiếpcận với khách hàng bằng những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở uy tín vàthanh thế của họ về chất lượng , kiểu dáng sản phẩm …
Đầu tư nước ngoài giúp cho các nước sở tại khai thác 1 cách có hiệu quảnguồn lao động và tài nguyên thiên nhiên ; từ đó góp phần mở rộng tích luỹ
và nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế
Như vậy Có thể nới rằng vốn là 1 trong những nguồn lực quan trọngtrong quá trình đầu tư thực hiện các dự án , nhằm mục đích phát triển kinh tế
xã hội của một đất nước , vùng , lãnh thổ Trên góc độ vĩ mô , vốn được chialàm 2 loại : Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Phân chia 2nguồn vốn một cách khái quát như vậy ta sẽ phân tích được mối quan hệ củachúng đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội Dựa trên phương pháp duyvật biện chứng , nguyên lý về mối quan hệ phổ biến cũng như những lý
thuyết cơ bản về đầu tư ta có thể khẳng định : cả 2 nguồn vốn này đều đóng một vai trò quan trọng Tuy nhiên mức độ quan trọng và ảnh hưởng của
Trang 16chúng đến nền kinh tế là không giống nhau Và trong mối quan hệ này vốn trong nước là quyết định , vốn nước ngoài là quan trọng
CHƯƠNG II
NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CHO TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN Ở VIỆT
NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
I Nguồn vốn trong nước
A_Về tình hình sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước ở nước ta hiện nay:
Theo Báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội thì,vốn đầu tư trong nước hiện đang chiếm 72% tổng vốn đầu tư xã hội, đâyđược đánh giá là con số khá lớn mà Đồng chí Nguyễn Đức Kiên ,Chủ nhiệm
Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách đã đưa ra trong Báo cáo thẩm tra tình hình thựchiện Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ kinh tế xã hội năm 2004, phươnghướng năm 2005
Nguồn vốn đầu tư nhà nước trong nhiều năm nay chiếm tỷ trọng hơn 56%tổng vốn đầu tư Nguồn vốn nhà nước bao gồm nguồn vốn ngân sách Nhànước, nguồn vốn tín dụng đầu tư Nhà nước và vốn đầu tư từ nguồn vốn tự cócủa doanh nghiệp Nhà nước Trong nguồn vốn ngân sách nhà nước có 2nguồn vốn rất lớn, có khả năng huy động cao, đó là thu từ đất đai và cổ phầnhoá
Vốn đầu tư cho phát triển toàn xã hội trong 5 năm (2001-2005) là rất lớn,con số dự kiến khoảng 900.000 tỷ đồng Trong đó vốn từ ngân sách nhà nướcchiếm khoảng 20%, khoảng 180.000 tỷ đồng , đó là một con số không nhỏ Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước phụ thuộc vào lợi nhuậndoanh nghiệp Tỷ suât lợi nhuận của doanh nghiệp Nhà nước còn thấp (năm
Trang 172004 là 7.6%, thấp hơn cả lãi suất tiền vay ngân hàng),đó là chưa tính hết giátrị đất đai và nhiều ưu đãi khác Nhà nước đã chú trọng hỗ trợ tăng thêm tiềmlực về vốn cho các công ty Nhà nước , ngoài số vốn Nhà nước được bổ sunghàng năm khoảng 400 tỷ đồng, các công ty Nhà nước còn được Nhà nước đầu
tư bổ sung vốn kinh doanh từ các khoản phải nộp ngân sách , khoản tiền thu
sử dụng vốn nhà nước mỗi năm khoảng 1500 tỷ đồng ; các doanh nghiệpthuộc một số ngành trọng điểm như dầu khí , cơ khí đóng tầu , đIện tử đượcđầu tư lại hàng chục tỷ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp để bổ sung vốn Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốnNhà nước của các công ty Nhà nứơc chưa cao, chưa tương xứng với cácnguồn lực đầu tư của Nhà nước.Cụ thể tính đến 31/12/04,trong số gần 4000công ty nhà nước thì số lượng thua lỗ , hoà vốn khoảng 800 đơn vị , chiếm20% Đồng thời qua giám sát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh củamột số tổng công ty lớn cho thấy hiệu quả hoạt động còn thấp chưa tươngxứng với tiềm năng nhà nước đầu tư , trong đó nhiều tổng công ty có số lỗ luỹ
kế lớn như : Tổng công ty cà fê 610 tỷ đồng , Tổng công ty giấy 200 tỷ đồng ,các tổng công ty xây dựng giao thông 810 tỷ đồng
Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của đất nước rất lớn , nhưng khả năng đápứng lại có hạn , không đủ để tạo ra sự chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế tăngthêm sức mạnh cạnh tranh , hạn chế khả năng phát triển của đất nước Nguồnvốn ngân sách Nhà nước có tác dụng định hướng nhằm tạo ra cơ cấu đầu tưngày càng hợp lý ; nhưng hàng năm vẫn phải chi 15% -17% cho trả nợ trongnước và một phần nợ nước ngoài , đảm bảo những khoản chi thường xuyên
Vì vậy nguồn vốn đầu tư từ ngân sách còn rất eo hẹp chỉ bằng 15% -20%tổng nguồn vốn
Một vấn đề lớn đang đặt ra là việc sử dụng vốn Nhà nước vẫn thiếu tậptrung, bị co kéo quá nhiều mục tiêu, bố trí dàn trải cho nhiều dự án, công
Trang 18trình , dự án triển khai chậm, khối lượng đầu tư dở dang lớn (trên 65%) Thực
tế cho thấy, có công trình đầu tư không đúng ngay từ qui hoạch và chủ trươngđầu tư Tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng cơ bản diễn ra ởnhiều dự án và trong giai đoạn của quá trình đầu tư
Bên cạnh đố việc thực hiện đầu tư và giải ngân các nguồn vốn tín dụngđàu tư Nhà nước, nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, công trái giáo dục đềuchậm, không đảm bảo tiến độ như đã phê duyệt và cam kết, tồn đọng vốn,làm giảm hiệu quả đầu tư
Vốn tín dụng đầu tư 10 tháng ước đạt 25 nghìn tỷ đồng, bằng 83% kếhoạch năm, trong đó nguồn vốn trong nước cho vay theo kế hoạch thực hiệnthấp, chỉ đạt 7.7 nghìn tỷ đồng , bằng 55.7% kế hoạch năm Nguồn vốn tíndụng Nhà nước sẽ tập trung chủ yếu cho các dự án quan trọng như : thuỷ điệnTuyên Quang , thuỷ điện A Vương , nhà máy xi măng Hạ long…và các dự ánchuyển tiếp Khả nang sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của doanhnghiệp nhà nước được Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá là kém hiệu quả Theo quỹ hỗ trợ phát triển, hiện có khoảng 1500 dự án có nợ quá hạn vớitổng số gàn 1.200 tỷ đồng, số lãi treo lên tới 950ntỷ đồng Riêng chương trìnhđánh bắt cá xa bờ đến nay mới thu hồi đựơc 15% vốn vay đến hạn phải trả Hơn nữa, nguồn vốn tín dụng của Nhà nước cũng rất hạn hẹp, hàng nămchỉ đáp ứng được 50%-60% nhu cầu Trong đó cơ chế tín dụng của Nhà nước
đã bộc lộ những mặt tồn tại:
Thứ nhất : Đối tượng đựơc hưởng ưu đãi rộng, không ổn định
Những năm trước đây, đối tượng được vay tín dụng đầu tư đựơcquy định cụ thể trong từng năm, nhưng mỗi năm một khác, gây lúngtong bị động trong việc chuẩn bị các dự án đầu tư và xử lý vốn khikhông được bố trí kế hoạch
Trang 19Nghị định 43/CP, qui định đối tượng vay vốn bao gồm một số dự
án đẩu tư tại các vùng khó khăn của một số ngành, nghề ưu đãi theoqui định hiện hành của Luật khuyến khích đầu tư trong nứơc (sửa đổi)như: sản xuất điện, khoáng sản, ché tạo máy công cụ, xây dựng cơ sởchế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản, sản xuất hàng xuất khẩu, cơ sở hạtầng…Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện cho phép mởrộng nhiều đối tượng được vay vốn tín dụng ưu đẫi của Nhà nước Ví
Và một số dự án khác Cho tới nay, về cơ bản đối tượng qui địnhtrong Nghị định 43/CP đã thay đổi theo hướng mở rộng một cách quátràn lan
Thứ hai : Có quá nhiều đầu mối thực hiện cho vay
Hiện có nhiều loại hình tín dụng ưu đãi khác nhau với nhiều lĩnhvực, đối tượng khác nhau và thông qua nhiều tổ chức cho vay thựchiện, cụ thể:
+Tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước do 4 ngân hàng thươngmại quốc doanh, Tổng cục đầu tư phát triển (trước đây), Quỹ hỗ trợđầu tư quốc gia (trứơc đây) và Quỹ Hỗ trợ phát triển (hiện nay)
Trang 20+Chương trình cho vay giải quyết việc làm, phủ xanh đất trống đốinúi trọc,hỗ trợ vùng sâu, vùng xa do Bộ Lao động, Thương binh và Xãhội quản lý.
+Chương trình cho vay để tôn nền và làm sàn nhà trên cọc, khắcphục hậu quả thiên tai, cho vay sinh viên …
+Chương trình cho vay xoá đói giảm nghèo : thực hiện qua Ngânhàng phục vụ người nghèo…
Thứ ba : Chất lượng tín dụng còn hạn chế
Nợ quá hạn cao và sẽ gia tăng phát sinh trong những năm tới: Sốliệu nợ quá hạn tại thời đIểm 31/12/2000 là gần 1.600 tỷ đồng chiếm2,75% tổng dư nợ, nhưng nếu tính cả số nợ Chính phủ đã khoanh, giãncho các đối tượng hộ nghèo vay Ngân hàng phục vụ người nghèo vàcác số nợ Ngân hàng nông nghiệp chưa chuyển sang nợ quá hạn chocác đối tượng vay vốn để tôn nền hoặc làm sàn nhà trên cọc thì số liệu
nợ quá hạn tại thời điểm hết năm 2001 sẽ là trên 2.450 tỷ đồng chiếm4,2% tổng dư nợ
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do:
+Số lượng chương trình của Chính phủ được đầu tư ồ ạt trong khichưa làm tốt công tác quy hoạch, công tác nghiên cứu thị trường dẫnđến nhà máy xây dựng xong không có nguyên liệu phải di dời địađiểm, nhiều dự án phải thay đổi chủ trương đầu tư nhiều lần, thay đổicông nghệ, máy móc, thiết bị
+Thời gian cho vay đối với các dự án chưa phù hợp với thời giankhấu hao của dự án Bên cạnh đó, một số dự án vay vốn ngoại tệ cóthời gian thực hiện dự án dài nhưng do tỷ giá thay đổi nên tính hiệu quả
và thời gian vay vốn của một số dự án cũng phải điều chỉnh theo
Thứ tư : Cơ chế, chính sách không ổn định và đôi khi chưa hợp lý
Trang 21+Thủ tục hành chính cho vay vốn nhiều phiền hà và khác nhau ởcác Tổ chức cho vay, các thời điểm cho vay Chưa phân định đượcchức năng cụ thể của từng cấp quản lý nên nhiều khâu quản lý còn lỏnglẻo, nhiều khâu lại chồng chéo nhất là khâu thẩm định dự án.
+Cơ chế bảo đảm tiền vay còn chưa thông nhất, các doanh nghiệpNhà nước được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để thế chấp, nhưngcác thành phần kinh tế khác thì phải có ít nhất 50% tài sản để đảm bảotiền vay
+Điều kiện vay vốn quy định trong Nghị định 43/CP chưa phù hợp,các dự án muốn vay vốn tín dụng phải hoàn thành thủ tục đẩu tư, nênphần lớn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều gặp vướng mắc vềthẩm quyền quyết định đầu tư, cấp đất đầu tư
Thứ năm : Hiện còn quá nhiều mức lãi suất
Về mức lãi suất, theo qui định tại Nghị định 43/CP, lãi suất tín dụng
sẽ được điều chỉnh khi lãi suất cơ bản tăng, giảm 10% Thực tế việcđiều chỉnh lãi suất tín dụng ưu đãi còn rất chậm so với biến động lãisuất cơ bản, làm ảnh hưởng đến việc giải ngân Hiện tồn tại nhiều loạilãi suất như:
- 0% cho chương trình kiên cố hoá kênh mương
- 0,2-0,3%/tháng cho các chương trình trồng rừng
-3,5%/năm cho các chương trình cơ khí trọng đIểm
-5%/năm cho chương trình đóng tàu biển và cơ khí Hà Nội
-7%/năm cho các dự án giảI ngân từ 1/1/2000
-9,72%/năm cho các dự án giảI ngân trước 1/1/2000
-0,45%/tháng đối với cho vay hộ nghèo, cho vay học sinh, sinh viên
có hoàn cảnh khó khăn…
Trang 22Việc thiết kế lãi suất tín dụng ưu đãi của Nhà nước chưa dựa trênnhững tính toán khoa học cũng như căn cứ của kinh tế vĩ mô nên gâykhó khăn cho công tác phân tích, đánh giá hiệu quả của các dự án Lãi suất vay vốn được xác định tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng
và được giữ nguyên trong suốt thời hạn vay vốn đã nảy sinh một số bấtcập:
-Chủ dự án đã ký hợp đồng tín dụng nhưng chưa kịp giải ngân hoặc
giải ngân một phần sẽ bị ảnh hưởng khi Chính phủ quyết định thay đổilãi suất
-Lãi suất tín dụng tại thời đIểm ký hợp đồng tín dụng sẽ không theo
kịp được diễn biến lãi suất tín dụng thương mại trên thị trường
Trong khi đó vốn đầu tư của khu vực dân cư tiếp tục tăng Trong 10tháng đầu năm 2004 cả nứơc có thêm khoảng 26.772 doanh nghiệp mớiđăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký đạt trên 53,16 nghìn tỷđồng, tăng 23,7% về số doanh nghiệp đăng ký mới và 20% về số vốnđăng ký so với cùng kỳ năm 2003 Hàng trăm ngàn tỷ đồng đã đượcngười đân dùng vào việc mở nhà xưởng, kinh doanh xuất nhập khẩu,xây dựng khách sạn, khu du lịch, nhà nghỉ, mở cửa hàng, lập trangtrại…Nguồn vốn ngoài quốc doanh hiện chiếm tỷ trọng khoảng 27%trong tổng vốn đầu tư Cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp dân doanhphát triển hơn nữa và đựơc kinh doanh trong môi trường lành mạnh
Có vốn là rất quan trọng nhưng nếu không được đầu tư vào nhữngngành, những sản phẩm có hiệu quả và có sức cạnh tranh thì sẽ làmtăng gánh nặng nợ nần và sẽ kìm hãm tốc độ tăng trưởng, phát triển củanền kinh tế
B_ Về tình hình thu hút vốn trong nứơc cho đầu tư phát triển
Trang 23Năm 2004, nền kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng khá ; nhiều chỉ tiêu đề
ra chỉ đạt và vượt kế hoạch Bức tranh kinh tế – xã hội đã sáng dần lên Năm
2005, nhìn lại những gì đạt được và hướng tới tương lai thì thực sự có cả cơhội và thách thức , cần phải có bước đột phá cả về tốc độ và chất lượng tăngtrưởng
Nguồn lực huy động cho đầu tư phát triển đa dạng Nguồn vốn trong nước– nhất là vốn đầu tư của dân tăng khá - nhiều năm liền chiếm tỷ trọngcao(hơn 70%) Người dân ngày càng có nhiều cơ hội chủ động và linh hoạtlựa chọn các kênh khác nhau đầu tư vốn hay tiền nhàn rỗi của mình Cácnguồn lực trong dân đang được giải phóng và phát huy mạnh mẽ Tính đếnhết năm 2004, cả nước có khoảng 160.000 doanh nghiệp tư nhân và trên 2triệu hộ kinh doanh , nghĩa là sau 5 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp , cóhơn 110.000 doanh nghiệp mới ra đời với tổng vốn đầu tư trị giá ước trên 10
tỷ USD Đây là mức kỷ lục trong những năm gần đây Nguyên nhân đạt đượcmức huy động cao như vậy là do có chính sách huy động huy động tối đanguồn nội lực và cải thiện môi trường kinh doanh trong nước, nhất là việcthực hiện Luật Doanh nghiệp , nhờ đó đã khuyến khích được khu vực tư nhân
bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh
Tổng thu ngân sách Nhà nước đạt gần 167.000 tỷ đồng , vượt 11.8% dựtoán , tăng 17.4% so với năm 2003 Cơ cấu thu ngân sách có nhiều tiến bộ ;
tỷ trọng thu nội địa tăng 23.8% trong đó : thu từ dầu thô vượt 44.8% dự toánnhờ sản lượng đạt cao và giá bình quân tăng so với đầu năm Trong số vượtthu từ dầu thô, ngân sách Nhà nước dành cho một phần bù lỗ xăng dầu xuất,nhập khẩu năm 2004 giảm 7.8% so với dự toán Nguyên nhân chính là dochúng ta thực hiện điều chỉnh thuế nhập khẩu xăng dầu , thép , phôi thép đểgóp phần bình ổn giá trong nước trước biến động tăng giá những mặt hàngnày trên thị trường thế giới Nhìn chung, năm 2004 cơ cấu thu có bước tiến
Trang 24bộ, thu nội địa (không kể dầu thô) đã tăng từ 52,3% năm 2003 lên 55,1% tổngthu ngân sách Nhà nước năm 2004.
Tuy thu ngân sách Nhà nước tăng khá nhưng chưa thực sự vững chắc, tăngthu từ dầu thô và thu từ nhà, đất chiếm 29,8% vẫn khá cao trong tổng số tăngthu ngân sách Nhà nước, trong khi đó tăng thu từ sản xuất kinh doanh mới chỉchiếm 17,8% … hiện còn thất thu ở nhiều khâu, nhiều lĩnh vực do tình trạngbuôn lậu, gian lận thương mại, hạch toán không đúng thu nhập…Thu từdoanh nghiệp Nhà nước đạt thấp do nhiều nguyên nhân : do việc xây dựng dựtoán của khu vực này khá cao; do chính sách thuế đối với các doanh nghiệpNhà nước có thay đổi so với khi lập dự toán, thuế suất thuế thu nhập doanhnghiệp giảm từ 32% xuống còn 28%; các doanh nghiệp cổ phần hoá đượchưởng chính sách ưu đãi về thuế ( hai năm đầu không phải nộp thuế thu nhậpdoanh nghiệp và giảm 50% số thuế phải nộp trong 2 năm tiếp theo; bỏ thuếthu nhập bổ sung ); do những yếu kém vốn có của chủ doanh nghiệp nay lạithêm chi phí đầu vào gia tăng
Bên cạnh đó, với sự phát triển nhanh chóng, khu vực doanh nghiệp ngoàiquốc doanh hiện chiếm tỷ trọng hơn 28,8% tổng giá trị sản xuất công nghiệp( xấp xỉ bằng tỷ trọng của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,khô ng kể dầu khí ) , tăng 4,4% so với năm 2000.Trong tháng 1 năm 2005,giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh đãtăng 44,8% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng chung của toànngành là 32,4%
Trong lĩnh vực thương nghiệp, vị thế của kinh tế dân doanh còn lớn hơnnhiều vì chiếm đến 84% tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội Hiệnnay, nguồn vốn của dân còn toả đi nhiều hướng khác và xu thế này ngày càngtăng, chẳng hạn như đầu tư vào thị trường bảo hiểm.Theo thống kê, hết năm
2004, cả nước đã có đến 7,4 triệu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ còn hiệu lực,
Trang 25với tổng vốn đầu tư trên 8500 tỷ đồng, lớn hơn 6.5 lần so với năm 2000và có
dự báô răng năm 2005 có thể tăng lên đến 9 triệu hợp đồng
Cổ phần ,cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần cũng đang trở thành mộtkênh thu hút hàng nghìn tỷ đồng vốn của người dân Cả nước hiện có gần
2000 doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá và 26 công ty niêm yếtchứng khoán Công trái quốc gia (trái phiếu chính phủ , trái phiếu côngtrình , tráI phiếu địa phương do một số tỉnh , thành phố phát hành ) cũng đãthu hút gần 9000 tỷ đồng vốn của dân trong năm 2004
Các kênh đầu tư khác như gửi tiết kiệm băng ngoại tệ , nội tệ hay bằngvàng hoặc đầu tư vào bất động sản (như mua căn hộ cao cấp , mua đất làmnhà, làm trang trại …), xổ số … cũng thu hút nguồn vốn rất lớn trong dân.Ngoài ra, còn phải kể đến một kênh đầu tư đặc biệt mà người dân đang hếtsức
quan tâm là đầu tư vốn cho ngưới thân đi xuất khẩu lao động Hoặc đầu tưcho con em đi du học nước ngoài cũng là một hướng đầu tư mới nổi
Trang 26Điểm qua tình hình thu hút vốn đầu tư trong nước ở Việt Nam , chúng tanhận thấy , huy động vốn trong nước sẽ quyết định việc phát triển kinh tế củanước ta và đây được coi là nguồn đặc biệt quan trọng
Tuy nhiên , việc huy động các nguồn vốn trong thời gian qua bị hạn chế ,chủ yếu là do:
Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư so với GDP thấp, bình quân 5 năm qua tiết kiệmnội địa mới chỉ đạt 21,5%, thấp xa so với nhiều nước ở thời kỳ phát triểntương tự như nước ta, tiềm lực trong dân còn rất lớn nhưng huy động cho đầu
tư thấp, làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng
Thị trường nội địa chưa hoàn chỉnh và kém phát triển , thu nhập của dâncòn thấp , sức mau ít nên các doanh nghiệp ít có cơ hội đầu tư phát triển
Cổ phần hoá các doanh nghiệp tiến hành quá chậm, làm cho việc huy độngthêm vốn vào đầu tư phát triển không được nhiều
Các chính sách về huy động các nguồn lực các thành phần kinh tế cho đầu
tư chưa đủ sức hấp dẫn và việc thực hiện chưa nhất quán , tình trạng đối xửbất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế còn quá nặng nề
Môi trường đầu tư còn nhiều rủi ro , chi phí còn quá cao , làm giảm sứchấp dẫn đầu tư và kinh doanh
Bởi vậy, chúng ta cần có nhuững giải pháp cụ thể để tạo môi trường thôngthoáng để phát triển mạnh hơn nữa
C_Vai trò và tính quyết định của vốn đầu tư trong nứơc đối với nền kinh tế
Việt Nam hiện nay:
Những năm qua, trong đó có năm 2004 vốn đầu tư toàn xã hội tăng nhanh,
là nhân tố
quyết định nhịp độ tăng trưởng kinh tế Nhờ phát huy nội lực, vốn đầu tưtrong nước tăng cả về số tuyệt đối và tỉ trọng Chính phủ đã phát hành tráI