1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (Luận văn thạc sĩ)

109 318 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 825,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nƣớc về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếQuản lý nhà nƣớc về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếQuản lý nhà nƣớc về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếQuản lý nhà nƣớc về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếQuản lý nhà nƣớc về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếQuản lý nhà nƣớc về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếQuản lý nhà nƣớc về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếQuản lý nhà nƣớc về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếQuản lý nhà nƣớc về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếQuản lý nhà nƣớc về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Quản lý nhà nước về phát phiển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi và chưa từng được công bố ở bất kỳ nơi nào Mọi sự giúp đỡ để hoàn thiện đề tài này đã được cảm ơn đầy

đủ, các thông tin trích dẫn trong đề tài nghiên cứu này đều đã được chỉ

rõ nguồn gốc, trung thực

Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2017

Trang 3

Tôi xin trân trọng cảm ơn cơ sở Học viện Hành chính khu vực miền Trung, khoa sau đại học Học viện Hành chính cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn sở Công thương, sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thừa Thiên Huế; các cơ quan ban, ngành thuộc ủy ban nhân dân huyện Quảng Điền; ủy ban nhân dân các xã, ban điều hành các thôn Bao La, Thủy Lập, Ô

Sa và Tân Thành đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể lớp cao học quản lý công HC20.T4(niên khóa 2015-2017) cơ sở Học viện Hành chính khu vực miền Trung, các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, cổ vũ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong luận văn này không tránh khỏi những thiếu xót, hạn chế Tôi kính mong quý thầy, cô giáo, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn./

Học viên

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 10

1.1 Những khái niệm cơ bản 10

1.1.1 Làng nghề, đặc điểm của làng nghề 10

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước về phát triển làng nghề 13

1.2.Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về phát triển làng nghề 16

1.2.1.Nhà nước định hướng cho phát triển làng nghề 16

1.2.2.Hỗ trợ cho phát triển làng nghề 19

1.2.3.Bảo đảm cho phát triển làng nghề tuân thủ các chính sách, pháp luật của Nhà nước 20

1.3 Nội dung quản lý nhà nước về phát triển làng nghề 21

1.3.1.Hoạch định chiến lược, chính sách, quy hoạch phát triển làng nghề 21

1.3.2.Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về làng nghề 23

1.3.3.Tổ chức bộ máy và bố trí nguồn lực quản lý nhà nước về phát triển làng nghề 23

1.3.4.Thu hút và hỗ trợ kinh phí cho phát triển làng nghề 24

1.3.5.Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực phát triển làng nghề 25

1.4.Kinh nghiệm quản lý nhà nước về phát triển làng nghề ở một số địa phương và bài học kinh nghiệm có thể vận dụng cho huyện Quảng Điền 25 1.4.1.Kinh nghiệm của một số địa phương 25

Trang 5

1.4.2.Bài học kinh nghiệm cho huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 31

Tiểu kết chương 1 33

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 34

2.1 Khái quát chung 34

2.1.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 34

2.1.2.Thực trạng làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền 45

2.2.Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền 59

2.2.1.Quy hoạch, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện 59

2.2.2.Bố trí bộ máy và nguồn nhân lực quản lý nhà nước về phát triển làng nghề 62

2.2.3.Thu hút và hỗ trợ nguồn kinh phí cho phát triển làng nghề 63

2.2.4.Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong lĩnh vực làng nghề 69

2.3.Đánh giá chung 70

2.3.1.Kết quả và nguyên nhân 70

2.3.2.Hạn chế và nguyên nhân 74

Tiểu kết chương 2 77

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 78

3.1.Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 78

3.1.1.Gắn phát triển làng nghề với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn 78 3.1.2.Gắn phát triển làng nghề trên địa bàn huyện với phát triển làng nghề

Trang 6

3.1.3.Ưu tiên nguồn lực cho phát triển làng nghề truyền thống 81

3.2.Giải pháp 83

3.2.1.Hoàn thiện pháp luật về phát triển làng nghề 83

3.2.2.Quy hoạch tạo điều kiện để phát triển làng nghề 83

3.2.3.Nâng cao trách nhiệm của ủy ban nhân dân huyện và các cơ quan chức năng trong quản lý nhà nước về phát triển làng nghề 86

3.2.4.Thu hút các nguồn lực trên địa bàn cho phát triển làng nghề 87

3.2.5.Đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển làng nghề truyền thống 92

3.2.6.Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực làng nghề 93

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất qua các năm 38

Bảng 2.2 Quy mô nền kinh tế qua các năm 39

Bảng 2.3 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 40

Bảng 2.4 Một số chỉ tiêu kinh tế, xã hội huyện Quảng Điền so toàn tỉnh Thừa Thiên Huế 43

Bảng 2.5 Số làng nghề, doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện Quảng Điền 49

Bảng 2.6 Số lao động làm trong 4 làng nghề được công nhận 55

Bảng 2.7 Hoạt động khuyến công qua các năm 64

Bảng 3.1 Quy hoạch phát triển làng nghề huyện Quảng Điền đến năm 2020 84

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn (tính cấp thiết của đề tài luận văn)

Lịch sử nông thôn Việt Nam gắn liền với phát triển nông nghiệp và các làng nghề (LN) Đây là một trong những nét đặc trưng về truyền thống kinh tế- văn hoá

xã hội của nông thôn Việt Nam Sự phát triển kinh tế LN gắn liền với ngành nghề truyền thống, với trung tâm cụm xã có hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (TTCN) và dịch vụ phi nông nghiệp Đặc điểm của các cơ sở sản xuất ở làng nghề

là có vốn đầu tư không lớn, nhưng giá trị làm ra không nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh Kết cấu hạ tầng làng nghề không đòi hỏi cao như các ngành công nghiệp hiện đại, các khu công nghiệp tập trung Những nơi không thuận lợi trong việc phát triển công nghiệp quy mô lớn thì có thể phát triển tiểu thủ công nghiệp nông thôn Việc quản lý cơ sở làng nghề không phức tạp, phù hợp trình độ của chủ hộ, chủ doanh nghiệp xuất thân là nông dân Tiềm năng về lao động tuy hạn chế về trình độ chuyên môn, kỹ thuật và kiến thức về thị trường, nhưng lực lượng lao động nông thôn có những mặt mạnh cơ bản Nguồn nguyên liệu sẵn có trong nông thôn trước hết là sản phẩm từ nông lâm ngư nghiệp, các nguyên liệu phi nông nghiệp khác Có nhiều nghề và làng nghề truyền thống bước đầu đã thích ứng nhanh với cơ chế thị trường để phát triển Các LN là một thực thể kinh tế ở nông thôn, là cầu nối giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa nông thôn và thành thị, giữa truyền thống và hiện đại, là một bộ phận quan trọng trong công cuộc CNH, HĐH nông thôn Việc đẩy mạnh sự phát triển của các LN nói riêng và các ngành nghề nông thôn nói chung có

ý nghĩa rất quan trọng đối với việc góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo; góp phần chuyển dịch

cơ cấu kinh tế ở nông thôn, đa dạng hóa kinh tế nông thôn thúc đẩy quá trình đô thị hóa; và góp phần bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc Tuy nhiên sự phát triển của LN,

do những yếu tố khách quan và chủ quan tác động, đã trải qua nhiều bước thăng trầm Có nhiều LN tồn tại và phát triển mạnh, có những ảnh hưởng tích cực đến kinh tế nông thôn trong khu vực và có những ảnh hưởng tốt đến cả những khu vực

Trang 10

những LN gặp nhiều khó khăn thậm chí bị mai một Vì vậy, việc thúc đẩy và khôi phục phát triển LN trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết, là việc làm phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước

Quảng Điền là huyện nằm về phía Bắc của tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế khoảng 10-15km Toàn huyện có 10 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích đất

tự nhiên là 16.304,54 ha, dân số 86.792 người(theo Niên giám thống kê 2015) Vốn

là một huyện từ xưa có nhiều ngành thủ công truyền thống, tuy có một số nghề ngày nay đã mai một (như trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa ) nhưng có một số nghề vẫn tồn tại và phát triển như đan lát ở Bao La, Thủy Lập, bún ở Ô Sa, mộc nề vùng Sịa, Tây

Ba, trồng rau màu ở Thành Trung Các ngành nghề này cùng với một số ngành nghề khác đã có thời gian phát triển khá mạnh vừa góp phần làm phong phú thêm các hoạt động sản xuất ở nông thôn vừa tạo nên sự đa dạng về sản phẩm, hàng hóa phục vụ nhu cầu xã hội Đặc biệt nhiều làng nghề đã trở thành điểm du lịch sinh thái hấp dẫn du khách Với tầm quan trọng đó, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách

về hỗ trợ phát triển ngành nghề TTCN và các làng nghề Trên cơ sở các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo các cấp, ngành xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển tại địa phương về ngành nghề TTCN và các làng nghề Các chính sách nhà nước hỗ trợ khuyến khích phát triển nghề và làng nghề đã có những tác động, mang lại kết quả tích cực cho việc khôi phục, phát triển nghề và làng nghề trên địa bàn huyện nhờ đó, đến nay đã có 04 làng nghề được công nhận; đã hình thành được các hợp tác xã, doanh nghiệp đóng vai trò là điểm khởi đầu để thúc đẩy phát triển các nghề, làng nghề như: HTX mây tre Bao La (xã Quảng Phú), HTX mây tre đan Thuỷ Lập (xã Quảng Lợi), Nhìn chung, chính sách của nhà nước đã có những tác động tích cực, thúc đẩy phát triển sản xuất ở các làng nghề phát triển thuận lợi, nhờ đó ngành nghề và sản phẩm ngày càng phong phú đa dạng hơn, đời sống và việc làm của người lao động trong làng nghề ngày càng được ổn định hơn; bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới góp phần tích cực cải thiện đời sống của cư dân nông thôn cả vật chất và tinh thần

Trang 11

Tuy nhiên trong quá trình phát triển nghề và LN vẫn mang tính tự phát, manh mún, một số cơ sở còn trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước, chưa tìm tòi phát triển sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, giá trị sản xuất còn thấp Nhiều cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra, nhưng chưa được thực hiện đồng bộ và triệt để, chưa thực sự thúc đẩy phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề, nhất là công tác quy hoạch, giao đất, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng làng nghề, vốn tín dụng, đào tạo, Nhận thức về phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề chưa đầy đủ Một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa thật sự quan tâm chỉ đạo, thiếu các biện pháp cụ thể, tạo điều kiện cho tiểu thủ công nghiệp, làng nghề nông thôn phát triển Việc triển khai thuê mặt bằng sản xuất, xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị, mở rộng mặt hàng, thu hút thêm lao động thường thiếu thông tin và sự hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý nhà nước Công tác quản lý nhà nước đối với tiểu thủ công nghiệp và làng nghề còn hạn chế; sự phân công, phân cấp quản lý chưa rõ ràng, còn chồng chéo; sự phối hợp giữa các ngành chức năng với cấp ủy, chính quyền địa phương và các đoàn thể chưa chặt chẽ, chưa thực sự quan tâm giải quyết các khó khăn, tạo thuận lợi cho làng nghề phát triển Công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, cũng như công tác thông tin, tư vấn, thị trường, còn nhiều hạn chế Hầu hết các làng nghề không có vùng nguyên liệu ổn định dẫn đến sản lượng và chất lượng sản phẩm được tạo ra chứa đựng yếu tố không ổn định Nguồn vốn nhà nước hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng các làng nghề còn hạn hẹp Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề vẫn khó tiếp cận các yếu tố đầu vào như: vốn tín dụng, đất đai, khoa học và công nghệ, Hệ thống thông tin, dự báo thị trường chưa đáp ứng được yêu cầu; thiếu kinh phí cho hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, tiếp cận thị trường tiêu thụ hàng hóa Nhiều cơ sở sản xuất ở làng nghề chưa quan tâm đúng mức đến cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm và nhu cầu, thị hiếu của khách hàng nên không tạo ra thị trường tiêu thụ ổn định

Để nghề và LN phát huy thế mạnh, theo hướng vừa mở rộng quy mô vừa nâng

Trang 12

cao năng lực sản xuất của các hộ trong làng nghề theo hướng phát triển nhiều loại hình tổ chức sản xuất, liên doanh liên kết Sản phẩm của các làng nghề ngày càng tinh xảo, độc đáo đáp ứng tốt nhu cầu trong nước và mở rộng được thị trường xuất khẩu Gắn sản xuất của làng nghề với các hoạt động du lịch, văn hóa, lễ hội truyền thống và các loại hình dịch vụ khác để phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội của huyện thì chúng ta cần có những giải pháp phát triển rõ ràng cho các LN

Vì vậy, học viên lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm luận văn thạc

sỹ quản lý công, mã số 60 34 04 03

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan mật thiết đến đề tài luận văn:

- Tác giả Phan Văn Tú (2011) nghiên cứu về: “Các giải pháp để phát triển làng nghề ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam”, luận văn thạc sỹ kinh tế, đại học Đà Nẵng Tác giả tập trung nghiên cứu các lý thuyết về làng nghề, phân loại

và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề cũng như kinh nghiệm phát triển làng nghề ở một số địa phương trên cả nước, từ đó nghiên cứu thực trạng phát triển các làng nghề ở thành phố Hội An và đề xuất các giải pháp để phát triển các làng nghề này Các phương pháp được sử dụng trong luận văn là thu thập thực tế tại làng nghề, thống kê, tổng hợp kết hợp với chi tiết hóa, đối chiếu và so sánh để đưa

ra kết luận Luận văn chỉ ra rằng phát triển làng nghề ở Hội An hiện nay còn thiếu tính bền vững, hiệu quả kinh tế xã hội còn thấp, cần thiết phải có sự quan tâm, đầu

tư của cơ quan nhà nước và các tổ chức doanh nghiệp

- Tác giả Nguyễn Thị Huệ (2012) nghiên cứu về: “Phát triển du lịch làng nghề của tỉnh Hải Dương”, luận văn thạc sỹ, đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia Hà Nội Các lý thuyết được nghiên cứu bao gồm các lý thuyết tổng quan về du lịch, làng nghề và phát triển du lịch làng nghề Thông qua phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp và khảo sát thực tiễn, tác giả đi sâu nghiên cứu thực trạng du lịch làng nghề trên địa bàn tỉnh Hải Dương về số lượng khách du lịch, công tác quản lý, hệ thống sản phẩm làng nghề, khả năng liên kết giữa các làng

Trang 13

nghề với công ty du lịch cũng như những mặt hạn chế tồn tại của các làng nghề Kết luận đưa ra là phát triển du lịch làng nghề ở tỉnh Hải Dương cần có sự liên kết giữa các công ty lữ hành và các làng nghề truyền thống trên địa bàn và sự quan tâm hơn nữa của các cơ quan quản lý đối với công tác quy hoạch làng nghề và đào tạo kỹ năng du lịch cho người dân địa phương

- Tác giả Nguyễn Thanh Huyền (2012) nghiên cứu về “ Xây dựng sản phẩm

du lịch làng nghề phục vụ hoạt động du lịch tỉnh Vĩnh Phúc”, luận văn thạc sỹ, đại học Khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia Hà Nội Luận văn này nghiên cứu các lý thuyết về du lịch làng nghề truyền thống, vai trò, đặc điểm của loại hình du lịch truyền thống và tầm quan trọng của việc khôi phục, giữ gìn, phát triển du lịch làng nghề Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, thu thập và xử lý các dữ liệu thứ cấp và các phiếu điều tra phỏng vấn để rút ra kết luận: “Vĩnh Phúc là một tỉnh có nhiều tiềm năng cho phát triển sản phẩm du lịch làng nghề tuy nhiên việc phát triển loại hình du lịch này còn gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn đầu tư, thiếu trang thiết bị, thiếu diện tích sản xuất Do đó cần có những chính sách và biện pháp đúng đắn để biến tiềm năng thành giá trị kinh tế, đóng góp tích cực vào mục tiêu kinh tế, xã hội của tỉnh”. 9

- Tác giả Vũ Thị Thúy (2010) nghiên cứu về đề tài: “Nghiên cứu phát triển

du lịch làng gốm Phù Lãng ở Bắc Ninh”, luận văn thạc sỹ, đại học Khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia Hà Nội Trong luận văn, tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về làng nghề, du lịch làng nghề và những điều kiện phát triển du lịch làng nghề ở làng gốm Phù Lãng Tác giả cũng đã tiến hành khảo sát thực tế quy trình sản xuất gốm, các tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất phục vụ du lịch đồng thời kết hợp với nghiên cứu tài liệu thứ cấp từ các báo cáo khoa học để chỉ ra rằng làng gốm Phù Lãng là một địa danh có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, trong tương lai không xa cần có những kế hoạch và quy hoạch cụ thể để thu hút du khách đến tham quan

- Tác giả Nguyễn Thị Loan (2012) với đề tài “ Xây dựng mô hình làng nghề, khu du lịch sinh thái gắn với phát triển nông thôn bền vững tại các xã vùng

Trang 14

đệm vườn quốc gia Tam Đảo thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”, luận văn thạc

sỹ, trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên Luận văn trên đi sâu vào nghiên cứu các lý thuyết về du lịch, du lịch sinh thái, du lịch làng nghề, mối quan hệ giữa phát triển làng nghề và phát triển du lịch trong phát triển kinh tế địa phương Các phương pháp chủ yếu được sử dụng là khảo sát thực tế kết hợp với nghiên cứu tài liệu thứ cấp từ đó rút ra kết luận: “Trong những năm gần đây, ở nhiều địa phương của tỉnh đã bước đầu xây dưng các mô hình làng nghề và khu du lịch sinh thái gắn với phát triển nông nghiệp nông thôn Tuy nhiên do những hạn chế về quản lý, vốn, đào tạo mà các mô hình này vẫn chưa thực sự phát huy được hiệu quả kinh tế, xã hội như mong muốn Vì vậy, trong thời gian tới, các cấp, ban ngành trong tỉnh cần có các giải pháp cụ thể mang tính chiến lược để nâng cao hiệu quả của các mô hình này, hướng tới phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững” 15

- Tác giả Trần Thị Minh Nguyệt (2008) nghiên cứu đề tài “ Quản lý nhà nước với phát triển nghề và làng nghề Hà Tây giai đoạn hiện nay”, luận văn thạc sỹ, trường đại học Thương Mại Tác giả đã nghiên cứu các lý thuyết tổng quan về nghề truyền thống, làng nghề, vai trò của làng nghề với kinh tế, văn hoá, xã hội và các nhân tố ảnh hưởng đến nó Thông qua các phương pháp thu thập dữ liệu từ các báo cáo khoa học, tạp chí kết hợp với khảo sát thực tế, luận văn đã chỉ ra được những mặt thành công và hạn chế trong việc phát triển nghề và làng nghề Hà Tây trong giai đoạn hiện nay và những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong thời gian tới

- Đỗ Hoàng Toàn (chủ biên), Giáo trình quản lý nhà nước về kinh tế (tái

bản), trường đại học kinh tế quốc dân Đây là giáo trình nghiên cứu về các vấn đề

QLNN về kinh tế nói chung trong đó có đề cập đến các phương pháp, công cụ của QLNN, bộ máy tổ chức QLNN và cán bộ QLNN

Những công trình nghiên cứu trên đây tập trung về các khía cạnh phát triển làng nghề, nghề truyền thống, phát triển du lịch làng nghề, xây dựng khu du lịch sinh thái gắn với nông nghiệp, nông thôn ở các địa phương khác nhau trên cả nước trong khoảng thời gian 2008 – 2012 Thông qua các phương pháp chính là thu thập

Trang 15

và xử lý dữ liệu, các nghiên cứu trên đã chỉ ra được những mặt thành công và những khó khăn trong công tác phát triển sản phẩm truyền thống, phát triển làng nghề và quy hoạch du lịch làng nghề đồng thời đề xuất các hướng giải pháp trong thời gian tới Kế thừa những lý thuyết tổng quan đã nghiên cứu ở trên, luận văn của tôi

đi sâu phân tích về tình hình thực hiện các chính sách của nhà nước, quản lý nhà nước về phát triển làng nghề, công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm sát đối với phát triển làng nghề…, từ đó, rút ra được những thành công và hạn chế đối với phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế và đề ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích:

Luận văn nghiên cứu lý luận, thực tiễn quản lý nhà nước về phát triển làng nghề để đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Nhiệm vụ:

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về phát triển làng nghề; + Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế;

+ Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về phát triển làng nghề

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Đề tài tập trung đi sâu vào nghiên cứu thực trạng và giải pháp nhằm phát triển các cơ sở sản xuất TTCN, một số làng nghề và làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 16

+ Về không gian: Nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế;

+ Về thời gian: Nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền từ năm 2011 đến 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận:

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế, phát triển làng nghề

- Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trang 17

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm phần mở đầu, nội dung và phần kết thúc Nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về phát triển làng nghề

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 18

Chương 1:

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 1.1 Những khái niệm cơ bản

Trong công trình “Bảo tồn và phát triển LN trong quá trình CNH" tác giả TS.Dương Bá Phượng cho rằng: “LN là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề thủ

công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập” [20, tr13]

Tác giả Mai Thế Hởn quan điểm “LN là làng ở nông thôn, có một hay một số nghề thủ công hầu như được tách hẳn ra khỏi nông nghiệp để sản xuất độc lập Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của làng” [10,

Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 của bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 7 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn thì “LN là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản,

Trang 19

làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn,

có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.” [3-tr1]

Từ quan điểm tiếp cận của các tác giả Dương Bá Phượng, Mai Thế Hởn và Thông tư 116, chúng ta thấy LN bao gồm hai thành tố chính là làng và nghề:

- Làng là một tổ chức nông thôn ở nước ta, là sản phẩm tự nhiên phát sinh từ quá trình định cư và cộng cư của cộng đồng người, ở đó họ sống, làm việc, thể hiện mối ứng xử văn hóa với thiên nhiên, xã hội Làng được tổ chức theo khu dân cư, huyết thống, dòng họ và theo cơ cấu hành chính

- Nghề được phát triển dần theo sự phát triển của đất nước Lúc đầu các nghề thủ công được các gia đình ở nông thôn quan niệm là nghề phụ chỉ làm khi nông nhàn Nhưng sau đó, số người làm nghề thủ công ngày càng nhiều, tách rời khỏi nông nghiệp và họ sinh sống chính bằng thu nhập từ nghề đó ngay tại vùng nông thôn Ngày nay bên cạnh các nghề thủ công còn có các nghề liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ở nông thôn

Tóm lại, khái niệm làng nghề cần được hiểu là một cụm dân cư sinh sống trong một làng (thôn, tương đương thôn) thuộc các xã, phường, thị trấn, có hoạt động sản xuất kinh doanh các ngành nghề ở từng hộ gia đình hoặc các cơ sở trong làng, sử dụng các nguồn lực trong và ngoài địa phương sản xuất và kinh doanh một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau, phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của một bộ phận người dân trong làng (những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông)

1.1.1.2 Đặc điểm của làng nghề

- Thứ nhất, việc sản xuất kinh doanh của các làng nghề gắn liền với hộ gia

đình và nông nghiệp nông thôn Làng nghề nước ta phản ánh cuộc sống của cư dân nông nghiệp gắn liền với cơ chế sản xuất mùa vụ, mang đặc trưng của chế độ làng

xã, trong đó bao gồm cả yếu tố dòng họ Làng nghề ở nước ta gắn liền với các vùng nông nghiệp và người nông dân làm nghề thủ công để giải quyết hợp lý sức lao

Trang 20

động dư thừa được cơ cấu theo đặc trưng nông nghiệp là mùa vụ Mặt khác, từ sản phẩm, chúng ta cũng nhận thấy gốc tích nông nghiệp như nguyên vật liệu, công cụ chế tác, giá trị sử dụng và đặc biệt là nó phản ánh được tính chuyên dụng và sinh hoạt cộng đồng của cư dân nông nghiệp trên các sản phẩm đó Nhìn vào những nghề thủ công nổi tiếng của nước ta như nghề gốm, nghề đan lát, nghề chạm khắc

gỗ, nghề gò đúc đồng, nghề làm giấy, nghề làm tranh, nghề kim hoàn hay làm nón, dệt vải chúng ta thấy mỗi nghề gắn liền với một cộng đồng cư dân được cư trú ổn định trong quy mô làng xã Nét đặc trưng này không chỉ phản ánh sự phong phú đa dạng của làng nghề trong hệ thống cấu trúc làng xã Việt Nam Tóm lại, đặc điểm này cho chúng ta nhận dạng các giá trị văn hoá đặc biệt là văn hoá phi vật thể từ nguồn gốc và đặc trưng xã hội nông nghiệp sản xuất mùa vụ, cơ cấu qui mô thông qua chế độ làng xã Việt Nam

- Thứ hai, sản phẩm của làng nghề mang đậm yếu tố văn hóa truyền thống

của dân tộc Làng nghề Việt Nam không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa "nghề" với

"nghiệp" mà còn chứa đựng những giá trị tinh thần đậm nét, được phản ánh qua các tập tục, tín ngưỡng, lễ hội và nhiều quy định khác Như vậy, ở làng nghề ngoài yếu

tố sản xuất còn mang rất đậm yếu tố văn hoá và phần nào còn có những yếu tố tâm linh phù hợp Bởi làng nghề ngoài phạm vi đơn vị sản xuất và khái niệm đơn vị hành chính còn có đặc trưng riêng biệt là tính cộng đồng cư trú, cộng đồng lợi ích

và cộng cảm rất cao

- Thứ ba, việc tổ chức sản xuất kinh doanh tại các làng nghề nhỏ lẻ, manh

mún Đặc điểm phổ biến của các làng nghề trong nông thôn là mỗi hộ gia đình là một cơ sở sản xuất gắn liền với nhà ở, chủ yếu sử dụng lao động thủ công Trừ một

số ngành nghề như rèn và sản xuất đồ gia dụng, mộc mỹ nghệ các hộ có sử dụng thêm một số máy móc thiết bị và có xây dựng thêm một phần nhà xưởng để phục vụ sản xuất nhưng không lớn mang tính chất nhà tạm Như vậy cơ sở vật chất của các đơn vị sản xuất trong làng nghề quá thô sơ lạc hậu, vẫn là sản xuất nhỏ, chủ yếu là lao động thủ công, năng suất lao động thấp, nặng tính tự sản tự tiêu,…

- Thứ tư, đặc điểm về kỹ thuật sản xuất Có thể nói việc ứng dụng các tiến bộ

Trang 21

kỹ thuật mới trong các làng nghề chênh lệch nhau rất lớn tùy theo đặc điểm nghề nghiệp Có những ngành nghề chủ yếu sử dụng lao động thủ công không có công đoạn nào sử dụng máy móc cả như nghề sản xuất nón lá, thêu sản phẩm truyền thống, chế biến nước mắm, … Một số ngành nghề gần đây nhờ có điện lưới về nông thôn đã áp dụng một số công đoạn cơ giới hóa để vừa giảm bớt sức lao động vừa tăng năng suất như nghề sản xuất bún, mộc mỹ nghệ và cao cấp, sản xuất hàng ngũ kim gia dụng, Đặc biệt đáng quan tâm là hầu hết các cơ sở sản xuất trong các làng nghề đều thiếu các thiết bị, phương tiện và biện pháp kiểm tra chất lượng nguyên liệu và sản phẩm Nhiều công đoạn sản xuất chưa được nghiên cứu áp dụng các kỹ thuật công nghệ mới để nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm mở rộng thị trường như ngâm tẩm, sấy nguyên liệu cho sản phẩm tre nứa, sản phẩm gỗ rừng trồng đảm bảo chất lượng, hoặc nghiên cứu giảm tiêu hao nguyên liệu cho các sản phẩm đúc đồng thủ công mỹ nghệ,…

Trong mỗi làng nghề chủng loại máy móc của từng hộ sản xuất cũng khác nhau rất nhiều về mẫu mã lẫn tính năng Việc áp dụng các kỹ thuật mới vào các công đoạn sản xuất còn tự phát, tùy tiện, chưa đồng bộ nên chưa tạo được sự chuyển biến cơ bản về công nghệ sản xuất trong các làng nghề Do đó việc sản xuất trong một số làng nghề mặc dù đã có sự tham gia của máy móc, kỹ thuật mới nhưng vẫn còn manh múm, nhỏ lẽ, chất lượng không đều, hạn chế hiệu quả đầu tư,…

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước về phát triển làng nghề

1.1.2.1 Khái niệm

- Quản lý nhà nước

Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước, trước hết cần làm rõ khái niệm

“quản lý” Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ

theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình

và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội Theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng

Trang 22

quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau,các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu

Theo giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự tác

động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”

Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và

có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt

- Quản lý nhà nước về phát triển LN

Quản lý nhà nước đối với phát triển làng nghề là việc áp dụng hệ thống các công cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch tác động vào đối tượng quản lý để hướng dẫn các làng nghề địa phương phát triển đúng theo đúng định hướng đã đặt ra trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế

1.1.2.2.Đặc điểm quản lý nhà nước về phát triển làng nghề

- Thứ nhất, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông

thôn theo hướng CNH-HĐH Trong quá trình phát triển, các nghề và làng nghề đã

Trang 23

có vai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp, TTCN và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang các ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Xét trên góc độ phân công lao động xã hội thì các nghề và làng nghề đã có tác động tích cực tới sản xuất nông nghiệp

- Thứ hai, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động

Phát triển toàn diện kinh tế -xã hội nông thôn, tạo việc làm, nâng cao đời sống cho dân cư nông thôn là vấn đề trọng tâm hiện nay Do đó để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều mặt, nhiều vấn đề trong đó việc phát triển nghề và làng nghề giữ một vai trò quan trọng Bởi lẽ phát triển nghề

và làng nghề ở nông thôn sẽ tận dụng tốt thời gian lao động, khắc phục được tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, giảm được thời gian nông nhàn, góp phần phân

bố hợp lý lực lượng lao động nông thôn Vai trò tạo việc làm của các làng nghề còn thể hiện rất rõ ở sự phát triển lan tỏa sang các làng khác, vùng khác, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội ở vùng đó

- Thứ ba, thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, hạn

chế di dân tự do Khác với sản xuất công nghiệp và một số ngành khác, đa phần các làng nghề truyền thống và làng nghề TTCN không đòi hỏi vốn đầu tư lớn; bởi rất nhiều nghề chỉ cần một số công cụ thủ công, thô sơ do người thợ thủ công tự sản xuất được hoặc đặt mua với số vốn nhỏ Hơn nữa đặc điểm sản xuất trong các làng nghề là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các gia đình Với mức đầu tư không lớn, đây là lợi thế để các làng nghề có thể huy động các loại vốn nhàn rỗi trong dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh

- Thứ tư, đa dạng hóa kinh tế nông thôn và thúc đẩy quá trình đô thị hóa Đa

dạng hóa kinh tế nông thôn là một trong những nội dung chủ yếu của CNH nông thôn Đa dạng hóa kinh tế nông thôn là biện pháp thúc đẩy kinh tế hàng hóa nông thôn phát triển, tạo ra chuyển biến mới về chất, góp phần phát triển kinh tế -xã hội nông thôn Vì vậy phát triển nghề và làng nghề trong nông thôn là một trong những

Trang 24

giải pháp quan trọng để thực hiện quá trình trên và kích thích sự ra đời và phát triển các ngành nghề dịch vụ, thương mại, vận tải, thông tin, liên lạc,…

- Thứ năm, cải thiện đời sống nhân dân và xây dựng nông thôn mới Việc cải

thiện và nâng cao đời sống nhân dân chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở ổn định việc làm và nâng cao thu nhập Ở những vùng nông thôn có nghề và làng nghề phát triển đều thể hiện sự giàu có hơn hẳn vùng thuần nông

- Thứ sáu, bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc Lịch sử làng nghề truyền thống

gắn liền với lịch sử phát triển văn hóa của dân tộc, nó vừa là nhân tố góp phần tạo nên nền văn hóa ấy vừa là sự biểu hiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc

1.2.Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về phát triển làng nghề

1.2.1.Nhà nước định hướng cho phát triển làng nghề

a Trung ương (Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, các bộ)

Theo Nghị định 45/2012/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ

về khuyến công; Nghị đinh 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn quy định: Bộ Công thương là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động khuyến công tại địa phương; bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về quy hoạch tổng thể phát triển ngành nghề nông thôn của cả nước và quy định nội dung và tiêu chuẩn công nhận nghề truyền thống, LN và LNTT Ngoài

ra các bộ như Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Văn hóa-Thông tin, Tài nguyên và Môi trường, Lao động - Thương binh và Xã hội, Khoa học và Công nghệ, Giao thông, Ngân hàng nhà nước Việt Nam… trong phạm vi chức năng nhiệm vụ được giao tham gia phát triển ngành nghề nông thôn, tùy thuộc vào lĩnh vực liên quan như: TTCN, kỹ thuật - công nghệ, tín dụng, bảo vệ môi trường, điện, giao thông, xúc tiến thương mại…có trách nhiệm giúp Chính phủ quản lý nhà nước và hướng dẫn địa phương triển khai thực hiện

b UBND cấp tỉnh

UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về phát triển LN với các nội dung chủ yếu là:

Trang 25

- Bảo tồn và phát triển LN: bảo tồn, phát triển LNTT; phát triển LN gắn với

du lịch và phát triển LNM

- Quyết định công nhận nghề truyền thống, LN, LNTT trên địa bàn

- Tổ chức thực hiện việc đăng ký và giám sát chất lượng sản phẩm ngành nghề nông thôn trên địa bàn theo quy định của pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm

- Căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương, có cơ chế hỗ trợ các dự án bảo tồn, phát triển LN trên địa bàn ngoài kinh phí hỗ trợ của Trung ương; hỗ trợ các cơ sở ngành nghề nông thôn xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý xuất xứ hàng hoá, có chính sách bảo hộ sở hữu thương hiệu

- UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến công trong phạm vi địa phương, có những nhiệm vụ và quyền hạn sau: xây dựng, sửa đổi và ban hành chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về công tác khuyến công phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện địa phương; xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện chương trình khuyến công địa phương từng giai đoạn và kế hoạch, đề án khuyến công hàng năm tại địa phương; quyết định hình thức hỗ trợ từ kinh phí khuyến công địa phương cho các nội dung hoạt động khuyến công theo quy định; bảo đảm nguồn vốn từ ngân sách địa phương để

tổ chức thực hiện hoạt động khuyến công tại địa phương theo các quy định; xây dựng, trình bộ Công thương tổng hợp các chương trình, kế hoạch, đề án khuyến công có sử dụng kinh phí khuyến công quốc gia; tổ chức kiểm tra, thanh tra, giải quyết kiếu nại, tố cáo trong các hoạt động khuyến công trên địa bàn địa phương; quan hệ với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để thu hút các nguồn vốn cho hoạt động khuyến công của địa phương

- Xây dựng kế hoạch đào tạo nghề hàng năm, trong đó xác định cụ thể các nội dung: xây dựng danh mục nghề đào tạo, kế hoạch dạy nghề trên cơ sở nhu cầu học nghề của lao động nông thôn, nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo nghề của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ; quy định cụ thể mức chi phí đào tạo cho từng nghề đào tạo phù hợp với thực tế của địa phương Ngoài mức hỗ

Trang 26

trợ của Trung ương, các địa phương tùy theo khả năng nguồn ngân sách của mình

mà quyết định mức hỗ trợ bổ sung cho người học

Trên cơ sở chực năng nhiệm vụ được giao, các Sở giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực phát triển LN, cụ thể là:

- Sở Công thương là cơ quan giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về hoạt động khuyến công tại địa phương; tổ chức, hướng dẫn đào tạo nghề, truyền nghề, phát triển nghề truyền thống và nghề mới, tổ chức các hoạt động trao đổi kinh nghiệm, tham quan khảo sát liên doanh, liên kết hợp tác kinh tế và tham gia các hội nghề nghiệp; tổ chức thực hiện các kế hoạch, dự án, chương trình, chính sách để phát triển ngành, nghề, LN thuộc lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh; giúp UBND tỉnh chỉ đạo phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp với những ngành, nghề phù hợp với quy hoạch phát triển công nghiệp và quy hoạch KT-XH trên địa bàn;

- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giúp UBND tỉnh về cơ chế, chính sách, biện pháp khuyến khích phát triển nông thôn; phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại nông thôn, kinh tế hợp tác, hợp tác xã nông, lâm, ngư, diêm nghiệp gắn với ngành nghề, LN nông thôn trên địa bàn cấp xã; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chương trình phát triển nông thôn; việc phát triển ngành nghề, LN nông thôn gắn với hộ gia đình và hợp tác xã trên địa bàn tỉnh; bảo tồn và phát triển LN; công nhận LN;

- Các sở: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Văn hóa-Thông tin, Tài nguyên và Môi trường, Lao động-Thương binh và Xã hội, Khoa học và Công nghệ; Ngân hàng nhà nước Việt Nam… trong phạm vi chức năng nhiệm vụ được giao tham gia phát triển ngành nghề nông thôn, tùy thuộc vào lĩnh vực liên quan như: Đào tạo nghề nông thôn, kỹ thuật-công nghệ, tín dụng, bảo vệ môi trường, điện, giao thông, xúc tiến thương mại…có trách nhiệm giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước và hướng dẫn,

tổ chức triển khai thực hiện

c UBND cấp huyện

UBND cấp huyện định hướng, quy hoạch phát triển các ngành nghề, LN phù

Trang 27

hợp với điều kiện, thực tế trên địa bàn huyện, quy hoạch vùng nguyên liệu, quy hoạch các cụm, điểm phát triển TTCN Hàng năm: xây dựng kế hoạch phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn nhằm khai thác, phát huy ngành nghề lợi thế của địa phương gắn với bảo vệ môi trường; phối hợp với các sở, ngành, các tổ chức liên quan thực hiện các chính sách của nhà nước về khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn; chỉ đạo các phòng, ban liên quan phối hợp với UBND cấp xã xem xét các làng đủ tiêu chí, tổng hợp đề nghị cấp thẩm quyền công nhận nghề truyền thống,

LN, LNTT

d UBND cấp xã

Giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước đối với nghề truyền thống, LN, LNTT trên địa bàn: xây dựng kế hoạch phát triển ngành nghề nông thôn phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương; hướng dẫn lập hồ sơ đề nghị công nhận nghề truyền thống, LN, LNTT theo quy định; hướng dẫn các LN, LNTT chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước

UBND các cấp căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch tổng thể, định hướng phát triển ngành nghề nông thôn đã được phê duyệt, lập quy hoạch xây dựng LN, cụm cơ sở ngành nghề phù hợp yêu cầu phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường, gắn sản xuất với tiêu thụ, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt

1.2.2.Hỗ trợ cho phát triển làng nghề

- Thứ nhất, về vốn Đây là nguồn lực quan trọng của quá trình SXKD Các

LN muốn đầu tư phát triển, mở rộng cơ sở sản xuất, đầu tư trang thiết bị mới, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường v.v… đều phải cần đến nhu cầu vốn Vốn nhiều hay ít do nhu cầu quy mô, đặc điểm sản xuất sản phẩm các ngành nghề ở từng LN Ngày nay các LN đang phát triển theo xu thế hiện đại, đa dạng, chuyên môn hoá, sản phẩm hàng loạt… thì nhu cầu về vốn là rất lớn Sự đáp ứng về vốn có một ý nghĩa quyết định cho sự hội nhập, cạnh tranh và phát triển của các LN

- Thứ hai, về chính sách Quá trình hội nhập và phát triển đòi hỏi cùng với

quá trình đổi mới chính sách Hệ thống các chính sách của nhà nước có những tác động to lớn có ý nghĩa quyết định tới sự phát triển KT-XH nói chung và các LN nói

Trang 28

riêng Sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động SXKD trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu, mà các công cụ quan trọng nhất là các chính sách, đặc biệt là các chính sách kinh tế Các chính sách này có vai trò trong việc hoạch định, hỗ trợ LN phát triển, tạo môi trường SXKD cho sự phát triển của LN

- Thứ ba, về điều kiện tự nhiên, yếu tố truyền thống

+ Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, các nguồn tài nguyên

thiên nhiên là những nguồn lực và là cơ sở của lợi thế so sánh của mỗi vùng, miền nói chung và các LN nói riêng Các nhân tố này có thể trở thành điều kiện để hình thành và phát triển LN, cũng có thể là đối tượng lao động để các LN khai thác và chế biến Vị trí địa lý thuận lợi cũng sẽ tạo cho sự giao lưu kinh tế, mở rộng hợp tác, hội nhập kinh tế, phát triển thị trường… tạo điều kiện cho các LN phát triển

+ Yếu tố truyền thống: Yếu tố này cũng có vai trò ảnh hưởng nhất định đến sự

phát triển LN Trong các LNTT các nghệ nhân, thợ cả có tay nghề cao là những hạt nhân để bảo tồn duy trì và phát triển LN Những nét độc đáo của sản phẩm truyền thống gắn với đặc trưng văn hoá của từng LN là những giá trị vô hình tạo nên sự tồn tại phát triển của các LN Những luật lệ, quy ước, phong tục tập quán của các LN cũng tạo ra những phong cách riêng về đạo đức nghề nghiệp và cũng có khi thúc đẩy

LN và cũng có thể kìm hãm sự phát triển các LN Những yếu tố truyền thống phải được kết hợp chặt chẽ với việc tiếp thu những yếu tố mới, đặc biệt là về khoa học công nghệ, thị trường hội nhập và cạnh tranh… để các LN và sản phẩm của nó vừa giữ được bản sắc văn hoá dân tộc vừa được xã hội, thị trường tiếp nhận và thúc đẩy phát triển

1.2.3.Bảo đảm cho phát triển làng nghề tuân thủ các chính sách, pháp luật của Nhà nước

Việc phát triển của các làng nghề phụ thuộc rất lớn vào quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước thông qua ban hành, thực thi các chủ trương, chính sách và pháp luật; phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan về phát triển TTCN

Với các chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn, Nhà nước công nhận về pháp lý sự tồn tại, phát triển, vai trò tác dụng tích cực lâu dài của các thành phần kinh

Trang 29

tế cá thể, kinh tế tư doanh trong nền kinh tế quốc dân sẽ giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác tiềm năng, khôi phục, mở ra nhiều nghề mới, cơ sở sản xuất được cải tạo, được tổ chức sản xuất, quản lý theo hướng hiện đại thúc đẩy sản xuất trong toàn bộ nền kinh tế nói chung, các làng nghề nói riêng phát triển

Thực tế, kinh tế Việt Nam những năm qua, nhất là từ khi đổi mới nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN; chủ trương phát triển nền kinh

tế nhiều thành phần được cụ thể hoá bằng chính sách và pháp luật; nền sản xuất công nghiệp nói chung, làng nghề đã phát triển tích cực; đóng góp phần quan trọng trong CNH, HĐH kinh tế đất nước

1.3 Nội dung quản lý nhà nước về phát triển làng nghề

1.3.1.Hoạch định chiến lược, chính sách, quy hoạch phát triển làng nghề

- Thứ nhất: Quy hoạch

Để tạo điều kiện, khuyến khích, khôi phục và phát triển LN đi đúng hướng, ngày càng đưa lại hiệu quả KT-XH cao hơn Việc Quy hoạch phát triển LN là việc làm cần thiết giúp cho địa phương định hướng rõ hướng phát triển như làng này phát triển nghề gì, xã này có bao nhiêu LN và LN gì, những LNTT nào cần bảo tồn

để phát triển…Đồng thời xác định mục tiêu để phát triển là khôi phục và khuyến khích phát triển LN một cách bền vững, gắn với quá trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp - nông thôn và xây dựng NTM trong thời kỳ đổi mới đất nước

- Thứ hai: Quy hoạch phát triển các nhóm nghề, loại sản phẩm

Trên cơ sở thực tế ở địa phương về những tiềm năng, lợi thế về nguyên liệu, lao động, vị trí địa lý và nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, chúng ta phải định hướng nên phát triển những ngành nghề gì cho phù hợp, ví dụ như: Quy hoạch phát triển ngành nghề chế biến nông, lâm, thủy sản; quy hoạch phát triển ngành nghề khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng; quy hoạch phát triển ngành nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và mây tre đan; quy hoạch phát triển ngành nghề sản xuất kim loại,

cơ khí nhỏ; quy hoạch phát triển ngành nghề gây, trồng, kinh doanh sinh vật cảnh; quy hoạch phát triển ngành dịch vụ nông thôn…

Trang 30

-Thứ ba: Môi trường làng nghề

LN là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam Đa số LN đã trải qua lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển KT-XH của đất nước Tuy nhiên ô nhiễm môi trường LN là nguyên nhân gây ra các dịch bệnh cho người dân đang lao động và sinh sống tại chính LN Tỷ lệ người mắc bệnh tại các LN đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, tập trung vào một số bệnh, như: các bệnh ngoài da, bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, thần kinh, bệnh phụ khoa và các bệnh về mắt… Đặc biệt, tỉ lệ người mắc bệnh ung thư tương đối cao ở một số LN Các kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi thọ trung bình của người dân tại các LN ngày càng giảm đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc và thấp hơn từ 5 đến 10 năm so với làng không làm nghề Ô nhiễm môi trường LN còn gây ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động phát triển KT-XH của chính LN đó, gây ra những tổn thất kinh tế không nhỏ và dẫn đến những xung đột môi trường trong cộng đồng

Trước thực trạng trên, bảo vệ môi trường LN là vấn đề được quan tâm của cả

xã hội Nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước đã ban hành đề cập đến vấn đề này, như: Nghị quyết 41/NQ-TW năm 2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH; chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 định hướng đến năm 2020; Luật bảo vệ môi trường năm 2005 và các văn bản, như: Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Thủ tướng chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn; Thông tư số 113/TT-BTC ngày 28 tháng 12 năm 2006 của bộ Tài chính

về việc hướng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn…

Do vậy việc quản lý nhà nước về môi trường LN là vấn đề cần thiết

-Thứ tư: Mặt bằng sản xuất

Trên cơ sở quy hoạch các LN, quy hoạch các ngành nghề ở nông thôn và căn

cứ thực trạng về ô nhiểm môi trường ở các LN, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp quy hoạch xây dựng LN, cụm cơ sở ngành nghề phù hợp yêu cầu phát triển sản xuất tách rời khu dân cư đúng theo quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH và quy hoạch sử sụng đất của địa phương

Trang 31

Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi về giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất tại các khu công nghiệp, cum công nghiệp, điểm công nghiệp tập trung và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của phát luật về đất đai; các cơ

sở sản xuất khi di dời vào các cụm, điểm công nghiệp tập trung phải chấp hành những quy định của Nhà nước về đất đai

-Thứ năm: Nhãn mác, mẫu mã, an toàn thực phẩm

Đây là những nội dung cần phải có sự quản lý, giám sát của Nhà nước để bảo

vệ cho người tiêu dùng

1.3.2.Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về làng nghề

- Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X (2008), Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 của Hội nghị lần thứ 7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), thông tư 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 66/2006/NĐ-CP;

- Chính phủ (2006), Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 về phát triển và quản lý các dự án ngành nghề nông thôn;

- Chính phủ (2008), Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm

2008 về ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

1.3.3.Tổ chức bộ máy và bố trí nguồn lực quản lý nhà nước về phát triển làng nghề

Trong các quy định của Nhà nước có quy định rất cụ thể về bộ máy tổ chức QLNN tại địa phương về các lĩnh vực khác nhau trong đó có lĩnh vực kinh tế Bộ máy này được quản lý từ cấp Sở trực thuộc tỉnh tới phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện

và chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ UBND huyện

Tại cấp huyện, các cơ quan chuyên môn là: Phòng Kinh tế và Hạ tầng và phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện

Trang 32

chức năng QLNN thuộc lĩnh vực phát triển làng nghề Cơ quan chuyên môn chịu sự chỉ đạo quản lý về tổ chức, biên chế, công tác của UBND huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ của sở chuyên môn Bên cạnh đó còn có một

số cơ quan có liên quan như trung tâm phát triển quỹ đất, trung tâm dạy nghề huyện, môi trường, tài chính, nông nghiệp…UBND huyện ban hành các quy chế phối hợp các cơ quan chức năng trong việc phát triển và QLNN về phát triển làng nghề nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh, đáp ứng nhu cầu thị trường

1.3.4.Thu hút và hỗ trợ kinh phí cho phát triển làng nghề

Đây là nguồn lực vật chất quan trọng đối với bất kỳ hoạt động kinh doanh nào Nhiệm vụ chủ yếu nhất của nguồn vốn là đầu tư phát triển sản xuất, cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, công nghệ…Do vậy sự phát triển thịnh vượng của làng nghề cũng phụ thuộc rất lớn vào các nguồn vốn được hỗ trợ cũng như huy động Trước đây trong nền kinh tế tự cấp tự túc, vốn phục vụ cho sản xuất thường nhỏ bé, vốn chủ yếu

là tự có hoặc huy động từ người thân trong gia đình Ngày nay, để đáp ứng nhu cầu nguồn vốn cho phát triển làng nghề để đầu tư đổi mới công nghệ, đưa thiết bị, máy móc vào sản xuất, góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý để thu hút và hỗ trợ kinh phí cho phát triển làng nghề như: Luật hợp tác xã ngày 20 tháng 11 năm 2012; Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về thi hành một

số điều của Luật hợp tác xã; Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ về khuyến công; Thông tư số 46/2012/TT-BCT ngày 28 tháng 12 năm

2012 của bộ Công thương quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ về khuyến công; Quyết định số 74/2016/QĐ-UBND ngày 18 tháng 10 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành quy chế về quản lý và sử dụng kinh phí kinh tế đối với hoạt động khuyến công ( thay thế Quyết định số 25/2011/QĐ-UBND ngày 08 tháng 7 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành quy định về quản lý

và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động khuyến công)

Trang 33

1.3.5.Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực phát triển làng nghề

Việc thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo các hoạt động của các làng nghề cần được thực hiện liên tục và thường xuyên nhằm phát hiện những sai sót

và kịp thời xử lý những vi phạm tại các cơ sở sản xuất kinh doanh

Hoạt động kiểm tra, giám sát có thể diễn ra định kỳ hoặc đột xuất tùy thuộc vào đối tượng và nội dung kiểm tra

Trong hoạt động kiểm tra, giám sát cần có sự phối hợp của các cơ quan, ban ngành có liên quan cùng phối hợp thực hiện

1.4.Kinh nghiệm quản lý nhà nước về phát triển làng nghề ở một số địa phương và bài học kinh nghiệm có thể vận dụng cho huyện Quảng Điền

Tính đến đến 31/12/2015 ở Việt Nam, số lượng làng nghề đã có trên 5000 làng nghề, trong đó tập trung nhiều ở một số địa phương như: Hà nội 1.350; Thanh Hóa 472; Nghệ An 384; Hải Dương 300; Thái Bình 229 Một số làng nghề đã xuất hiện cách đây đến 300, 400 năm Sau giai đoạn thăng trầm vào thập niên những năm 90 của thế kỷ XX, hiện nay các Làng nghề ở một số địa phương như Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình đã có bước khởi sắc nhất định

1.4.1.Kinh nghiệm của một số địa phương

1.4.1.1 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh

Tỉnh Bắc Ninh được cả nước biết đến không chỉ bởi những làn điệu quan họ mượt mà, đằm thắm mà còn là địa phương có nhiều nghề thủ công cổ truyền như: Làng nghề luyện và cán thép Đa Hội, làng mộc Đồng Kỵ, dệt, nhuộm, in hoa ở các xã Tương Giang (Từ Sơn), Hoài Thượng, Song Hồ (Thuận Thành), Cao Đức (Gia Bình), thêu ren Đại Lai (Gia Bình), Tơ tằm Nội Duệ (Tiên Du), Vọng Nguyệt (Yên Phong), gốm sứ Phù Lãng (Quế Võ) Tuy là một tỉnh mới được tái lập (năm 1997), nhưng GDP của Bắc Ninh luôn có bước tăng trưởng cao, với nhịp độ bình quân hàng năm đạt 12,9% (riêng năm 2005 tăng 14,5%); giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng gấp nhiều lần so với trước khi tái lập tỉnh, trong đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của các làng nghề

Trang 34

Có được kết quả như trên, tỉnh Bắc Ninh đã và đang thực hiện nhiều giải pháp quan trọng như xây dựng và quản lý các cụm công nghiệp làng nghề, đa dạng hoá các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, mở rộng và phát triển đồng bộ thị trường làng nghề, nâng cao chất lượng hàng hoá của làng nghề, đào tạo phát triển nguồn nhân lực…, trong đó nổi bật là chủ trương xây dựng các khu và cụm công nghiệp làng nghề

Sau 10 năm qui hoạch xây dựng, đến nay, tỉnh Bắc Ninh đã phát triển được 25 cụm công nghiệp làng nghề với diện tích mặt bằng 628ha Cụm công nghiệp đã thu hút được 761 cơ sở sản xuất kinh doanh với diện tích đất cho thuê 197,3ha Tổng số vốn đăng ký kinh doanh 2.114 tỷ đồng và hơn 20 triệu USD Năm 2006, giá trị công nghiệp đã đạt 3361,8 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 85,4 tỷ đồng Các khu công nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề đã thu hút, sử dụng gần 15.400 lao động, chủ yếu là lao động địa phương, góp phần giải quyết tình trạng dư thừa lao động trên địa bàn hiện nay

Sự thành công bước đầu của tỉnh Bắc Ninh trong việc phát triển các làng nghề theo hướng xây dựng các khu, cụm công nghiệp đã để lại một số bài học kinh nghiệm sau:

-Một là, có các chính sách ưu đãi để khuyến khích nhiều doanh nghiệp tham

gia vào các cụm công nghiệp làng nghề Mọi doanh nghiệp khi vào cụm công nghiệp

sẽ được hưởng ưu đãi cao nhất như: miễn tiền thuê đất trong 10 năm liên tục và giảm 5% cho những năm tiếp theo hoặc được miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và được xét hỗ trợ thêm từ 10-30% giá trị đền bù thiệt hại về đất nếu có

-Hai là, xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề phù hợp với đặc điểm riêng

của từng làng, từng nghề Vì vậy, tỉnh Bắc Ninh có chủ trương chỉ thực hiện việc di dời đối với những khâu sản xuất đồng bộ, những công đoạn lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm Đối với hoạt động sản xuất những chi tiết nhỏ lẻ, không ảnh hưởng đến môi trường, sức khoẻ của cộng đồng thì vẫn được sản xuất, kinh doanh ở từng hộ gia đình nhằm đảm bảo phù hợp với điều kiện và tập quán lao động của người dân trong làng nghề

Trang 35

-Ba là, lập ra Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề để điều hành các

khu, cụm công nghiệp làng nghề hoạt động có hiệu quả Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề có nhiệm vụ giúp các cấp, các ngành, trước hết là UBND cấp xã, huyện thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp làng nghề Ban quản lý này là một đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu và mở tài khoản theo quy định hiện hành của Nhà nước Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề là cơ quan trực tiếp quản lý các khu công nghiệp làng nghề, đồng thời là đầu mối phối hợp với các cơ quan chuyên môn của UBND huyện, thị xã, các tổ chức kinh tế - xã hội và UBND các xã có khu công nghiệp làng nghề để giải quyết những vấn đề phát sinh trong việc quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp làng nghề

-Bốn là, Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã lãnh đạo trực tiếp Ban quản lý các khu

công nghiệp làng nghề, đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của các ngành chức năng thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Ban quản lý các khu công nghiệp là đầu mối triển khai, thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan, trực tiếp xây dựng điều lệ quản lý các khu công nghiệp làng nghề, trực tiếp triển khai qui hoạch chi tiết, được Uỷ ban nhân dân huyện uỷ quyền quản lý trước, trong và sau khi đầu tư đối với các khu công nghiệp làng nghề

1.4.1.2 Kinh nghiệm của tỉnh Thái Bình

Cũng được mệnh danh là một trong những "đất nghề" của cả nước nhưng sau một thời gian dài rơi vào khủng hoảng, trì trệ vì mất thị trường xuất khẩu truyền thống ở các nước Đông Âu, từ 82 làng nghề, đến năm 2000 cả tỉnh Thái Bình chỉ còn

53 làng nghề hoạt động cầm chừng, chủ yếu dựa vào thị trường trong nước Đến nay,

cả tỉnh có khoảng 290 làng nghề được cấp bằng công nhận, 100% số xã, phường không nơi nào "trắng nghề" Mỗi năm, các làng nghề giải quyết việc làm cho từ 15 nghìn đến 20 nghìn lao động với thu nhập từ 600 nghìn đến hai triệu đồng/người/tháng Sản phẩm của làng nghề chiếm khoảng 30% giá trị sản xuất công nghiệp của toàn tỉnh Các làng nghề phát triển ổn định, trở thành những thương hiệu làng nghề nổi tiếng như thêu Minh Lãng, dệt đũi Nam Cao, dệt chiếu làng Hới, chạm

Trang 36

bạc Ðồng Xâm, đúc đồng An Lộc Nhiều nơi dần trở thành vùng nghề như dệt chiếu Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Ðông Hưng Tại những làng nghề, thu nhập từ sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ đã dần trở thành nguồn sống chính của nhiều hộ dân

Những thành quả nói trên xuất phát từ ý chí, quyết tâm, nỗ lực, cố gắng của toàn thể Đảng bộ, chính quyền địa phương các cấp và nhân dân các làng nghề ở Thái Bình, trong đó đáng lưu ý một số biện pháp sau:

-Một là, chú trọng các hoạt động khuyến công Ngay từ năm 2001, tỉnh đã xây

dựng chính sách khuyến công, lập quỹ khuyến công và xây dựng mạng lưới khuyến công Tại mỗi xã đều có cán bộ khuyến công chuyên trách trực tiếp theo dõi hỗ trợ phát triển nghề Thái Bình trở thành tỉnh đầu tiên trong cả nước có quỹ khuyến công

và mạng lưới khuyến công viên Trong tám năm (từ năm 2001 đến 2008), Thái Bình

đã bố trí ngân sách địa phương cho công tác khuyến công là hơn 23 tỷ đồng Để công tác khuyến công thu được hiệu quả tốt nhất, Trung tâm khuyến công của tỉnh đã tổ chức đa dạng các hoạt động như:

+ Thông qua doanh nghiệp đào tạo tại chỗ và bố trí việc làm cho người lao động tại chính những doanh nghiệp đó Nhờ vậy doanh nghiệp chủ động trong việc dạy nghề và bố trí lao động

+ Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý kinh doanh cho các chủ doanh nghiệp, chủ cơ sở sản xuất Trung tâm Khuyến công Thái Bình đã phối hợp Viện nghiên cứu kinh tế và phát triển của trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội và trường cao đẳng Công nghiệp Nam Định tổ chức hai lớp tập huấn nâng cao năng lực,

kỹ năng quản lý tài chính, nhân sự, marketing, kênh phân phối, nghệ thuật kinh doanh cho hơn 100 lượt cán bộ quản lý, chủ doanh nghiệp, chủ cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn

+ Ngoài ra, Trung tâm còn tổ chức mở lớp dạy nghề cho người lao động Các lớp dạy khuyến công của trung tâm đều phải bố trí thời gian, địa điểm, lựa chọn chương trình, giáo trình phù hợp trình độ, năng lực của học viên và điều kiện, tình hình cụ thể của mỗi địa phương theo những mùa vụ khác nhau Việc dạy cho người lao động một nghề mới phải phù hợp định hướng phát triển các ngành nghề của địa

Trang 37

phương và doanh nghiệp, bảo đảm sau khi học xong người lao động có việc làm ngay Điểm khác biệt trong công tác dạy nghề của Trung tâm khuyến công Thái Bình cho người nông dân trong những năm vừa qua là dạy nghề lưu động, mở lớp ngay tại địa phương có doanh nghiệp hoặc các cụm xã, giúp người đi học giảm được thời gian, chi phí đi lại, ăn nghỉ không tốn kém

-Hai là, xây dựng những doanh nghiệp đứng chân ngay trong những làng xã

có nghề truyền thống Đây là hạt nhân quan trọng cùng với chính sách khuyến công trở thành bà đỡ để phát triển nghề thông qua việc hướng nghiệp cho người lao động Đối với những làng chưa có nghề truyền thống, tỉnh đã xây dựng một số gia đình có khả năng trở thành chủ tổ hợp làm “vệ tinh” cho doanh nghiệp và dần xây dựng phát triển chính những tổ hợp này trở thành doanh nghiệp

1.4.1.3 Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Long

Vĩnh Long là một trong những vùng đất ở phương Nam có nhiều Làng nghề truyền thống nổi tiếng như: gạch ngói, gốm sứ, chằm nón, thêu đan, dệt chiếu… mà sản phẩm đã có mặt ở nhiều nơi trên thế giới Năm 2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã quyết định công nhận thêm 12 Làng nghề, nâng số làng nghề của tỉnh lên 23 làng nghề đạt tiêu chí làng nghề nông thôn Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 là 3.941,3 tỉ đồng tăng 32,78% so với năm 2007, trong đó giá trị ngành nghề nông thôn ước tính thực hiện trên 1.283 tỉ đồng, chiếm 34,58 % giá trị toàn ngành công nghiệp

Từ năm 2009 đến năm 2020, tỉnh Vĩnh Long sẽ đầu tư 13,3 tỷ đồng thực hiện đề án khôi phục và bảo tồn làng nghề, trong đó chú trọng khôi phục, mở rộng quy mô làng nghề truyền thống theo hướng hội nhập, ưu tiên hỗ trợ những ngành nghề, làng nghề

có thị trường, gắn với vùng nguyên liệu và thu hút nhiều lao động nông thôn

Việc phát triển các Làng nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long có bước khởi sắc như vậy là do chính quyền và nhân dân địa phương đã thực hiện các giải pháp sau:

-Thứ nhất, hình thành các làng nghề gắn với vùng nguyên liệu nên đã tận dụng

được các nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương và các làng nghề ven các trục giao thông nhằm thu hút lao động địa phương, giảm chi phí vận chuyển sản xuất, giải quyết việc làm cho trên 20.000 lao động ở nông thôn

Trang 38

-Thứ hai, người dân dựa vào các chính sách hỗ trợ phát triển để thay đổi

phương thức hoạt động, đổi mới cung cách làm ăn, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm Chẳng hạn một số làng nghề mới phát triển như làng nghề đan thảm lục bình xã Ngãi Tứ (huyện Tam Bình), làng nghề se lõi cói, se tơ xơ dừa các xã Thanh Bình, Quới Thiện (huyện Vũng Liêm), từ lao động thủ công, dự án phát triển làng nghề nông thôn đã hỗ trợ cho vay vốn mua máy se lõi, mua dự trữ nguyên liệu, khuyến khích tổ chức lại sản xuất qua việc hình thành các tổ mua nguyên liệu, tổ sơ chế phơi sản phẩm

-Thứ ba, tìm kiếm thị trường, khai thác và tổ chức sản xuất theo hướng công

nghiệp, đa dạng các mặt hàng, nhất là chất lượng và mẫu mã để tạo ra những sản phẩm mang tính đặc thù của địa phương, điển hình là nghề gốm sứ Toàn tỉnh Vĩnh Long hiện có khoảng 2.800 miệng lò của 1.326 cơ sở sản xuất gạch ngói và gốm mỹ nghệ xuất khẩu Sản phẩm của làng nghề đã có mặt tại các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Úc và một số nước châu Á: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản… với sản lượng ngày càng tăng Sự phát triển của nghề một phần quan trọng là do đã tạo ra được những sản phẩm mang đặc tính riêng của làng nghề, nét đặc sắc chính là ở những kiểu dáng và màu sắc - những sản phẩm gốm đất nung không men có màu đỏ hồng, xen lẫn các mảng loang trắng bạc, tạo nên sự hấp dẫn độc đáo đối với khách hàng từ nhiều nước châu Âu, châu Mỹ…

-Thứ tư, cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm phát triển ngành nghề, tạo điều

kiện cho người dân học tập, tham quan mô hình phát triển nghề và làng nghề ở các tỉnh khác Chính quyền địa phương có các chính sách quy định cụ thể để khuyến khích và hỗ trợ phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn như: ưu đãi đầu tư vốn phát triển sản xuất, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, đào tạo cán bộ quản lý, đào tạo nghề cho người lao động, thực hiện các cơ chế trong liên doanh, liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm Bằng nguồn kinh phí của chương trình mục tiêu quốc gia đầu tư cho phát triển, đào tạo nghề nông thôn và nguồn ngân sách địa phương, tỉnh đã đầu tư trên 02 tỷ đồng để phát triển các làng nghề nông thôn

-Thứ năm, quan tâm đầu tư nâng cấp và xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là kết

Trang 39

cấu hạ tầng ở các cụm công nghiệp làng nghề Hàng năm, tỉnh Vĩnh Long đầu tư nguồn vốn ngân sách hỗ trợ 60% kinh phí xây dựng kết cấu hạ tầng và xử lý môi trường đối với các cụm cơ sở ngành nghề, làng nghề thực hiện theo qui hoạch tổng thể và qui hoạch ngành nghề nông thôn

1.4.2.Bài học kinh nghiệm cho huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Từ những kinh nghiệm về phát triển làng nghề ở một số địa phương trong nước nêu trên và của một số nước trên thế giới, có thể rút ra một số bài học để phát triển nghề, làng nghề đối với huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế như sau:

-Một là, quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước đều quan tâm chú trọng

phát triển làng nghề, coi ngành nghề nông thôn và làng nghề là một nội dung phát triển kinh tế quan trọng Ngành nghề thủ công truyền thống cần được đổi mới và phát triển theo hướng hiện đại hóa, tăng khả năng thích nghi trong điều kiện của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu thế hội nhập của đất nước

-Hai là, muốn phát triển nghề, làng nghề có hiệu quả trước hết phải có sự hỗ

trợ tích cực từ phía Nhà nước bằng việc ban hành những cơ chế chính sách, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; hỗ trợ về tài chính và tiếp cận nguồn vốn, trong đó cần có cơ chế, chính sách cho các hộ tại làng nghề vay vốn không cần thế chấp; đồng thời có chính sách đồng bộ về vùng cung cấp nguyên liệu Khuyến khích giúp đỡ, hỗ trợ làng nghề dưới những hình thức, các lĩnh vực khác nhau như bằng cơ chế, chính sách tín dụng, kỹ thuật, marketing… kịp thời cho các ngành nghề, cho các hộ thủ công

Trong đó thiết thực nhất là trợ giúp tài chính Nhà nước thông qua các dự án cấp vốn, lãi suất ngân hàng thấp, thủ tục đơn giản, thời gian cho vay dài hạn tại các làng nghề Đối với những nghề đặc biệt, có độ rủi ro cao hoặc trong thời kỳ đầu của

sự phục hồi Nghề thủ công truyền thống thì nhà nước có sự bảo lãnh vốn, cho vay không cần thế chấp

Vai trò trợ giúp của Nhà nước còn thể hiện đồng bộ ở cả hệ thống chính sách: chính sách thuế phù hợp để kích thích sự phát triển làng nghề: chính sách thị trường mềm dẻo tạo điều kiện hoạt động tốt nhất cho các doanh nghiệp trong làng nghề Sự

Trang 40

đồng bộ của hệ thống chính sách sẽ nâng đỡ kích thích làng nghề phát triển

-Ba là, cần lựa chọn hướng phát triển nghề truyền thống là tập trung vào bảo

tồn, đổi mới và phát triển ngành nghề thủ công truyền thống; hướng mọi nỗ lực vào giúp đỡ người thợ thủ công truyền thống thành người thợ thủ công hiện đại, thích nghi với nền sản xuất công nghiệp hiện đại; khuyến khích phát triển đa dạng các loại hình sản xuất trong các làng nghề truyền thống

-Bốn là, sản xuất làng nghề trước hết phải xuất phát từ nhu cầu thị trường Tập

trung, đột phá khâu thiết kế sản phẩm nhằm xây dựng và phát triển các sản phẩm làng nghề chủ lực, sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tiêu biểu Tổ chức hội chợ, triển lãm, kết hợp làng nghề với các tour du lịch sẽ giúp thúc đẩy phát triển làng nghề

-Năm là, đầu tư hơn nữa cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực,

tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động làng nghề thông qua các trung tâm đào tạo, các viện nghiên cứu Cần xác định

rõ đối tượng, nội dung, hình thức đào tạo cho phù hợp với từng ngành nghề và điều kiện ở điạ phương, gắn giảng dạy lý thuyết với thực hành, tăng cường phổ biến kiến thức, khoa học kỹ thuật Quan tâm đến đội ngũ nghệ nhân, thợ cả, thợ giỏi, chú trọng đào tạo thế hệ lao động trẻ cho làng nghề

-Sáu là, áp dụng công nghệ mới, hiện đại để nâng cao năng suất và chất lượng

sản phẩm, hạn chế ô nhiễm môi trường Gắn các làng nghề truyền thống với các vùng nguyên liệu tiềm năng, trên cơ sở quy hoạch phát triển các khu cụm làng nghề

-Bảy là, tập trung, đột phá khâu thiết kế sản phẩm Coi đó là chiến lược cạnh

tranh bền vững, bởi sự khác biệt với sản phẩm nước ngoài giúp bảo vệ thị trường sản phẩm Làng nghề truyền thống Chú trọng, đào tạo các nhà thiết kế trong hệ thống giáo dục Phối hợp giữa các cơ sở đào tạo ngành mỹ thuật với nghề sản xuất truyền thống Nhận thức thiết kế như một nguồn tài nguyên của công nghiệp nói chung và Làng nghề truyền thống nói riêng

-Tám là, đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, mặt bằng sản

xuất ) tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất phát triển; triển khai các giải pháp PTBV môi trường

Ngày đăng: 06/03/2018, 18:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w