1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (Luận văn thạc sĩ)

129 326 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… .…/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

VÕ DUY NHẤT

KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ – NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… .…/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

VÕ DUY NHẤT

KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung của luận văn này hoàn toàn được hình thành và phát triển từ những quan điểm của chính cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Chu Xuân Khánh Các số liệu và kết quả có được trong luận văn tốt nghiệp là hoàn toàn trung thực

Thừa Thiên Huế, ngày 27 tháng 12 năm 2017 Học viên

Võ Duy Nhất

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đề hoàn thành luận văn tốt nghiệp, trong thời gian qua tôi đã nhận được

sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, các đồng nghiệp và gia đình Tôi xin được

chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Tiến sĩ Chu Xuân Khánh - người đã hướng

dẫn, định hướng cách thức nghiên cứu và giải quyết những vấn đề cơ bản của

luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Cán bộ, chuyên viên Sở LĐ-TBXH tỉnh

Quảng Ngãi, đặc biệt là Phòng Dạy nghề đã giành thời gian góp ý về hoạt động

quản lý nhà nước trong lĩnh vực KĐCLGDNN; cũng như đã tạo điều kiện đồng

thời cung cấp những tài liệu nghiên cứu, dữ liệu rong lĩnh vực KĐCL để tôi

hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ Mặc dù

đã rất cố gắng nhưng do thời gian có hạn, cũng như kinh nghiệm của bản thân về

vấn đề nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những

sai sót nhất định Rất mong quý thầy, cô và đồng nghiệp đóng góp ý kiến để

luận văn được hoàn thiện hơn

Học viên

Võ Duy Nhất

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ 8

1.1 Những khái niệm cơ bản ………8

1.1.1 Dạy nghề và đặc điểm của hoạt động dạy nghề 8

1.1.2 Chất lượng và Kiểm định chất lượng 10

1.1.3 Kiểm định chất lượng trong đào tạo 16

1.1.4 Kiểm định chất lượng dạy nghề và vai trò của Kiểm định chất lượng dạy nghề 19

1.1.5 Quản lý nhà nước đối với hoạt động Kiểm định chất lượng dạy nghề 24

1.2 Các nội dung Quản lý nhà nước đối với hoạt động Kiểm định chất lượng dạy nghề tại các trường cao đẳng nghề ……… 29

1.2.1 Quản lý bộ máy tổ chức về hoạt động Kiểm định chất lượng dạy nghề 29

1.2.2 Quản lý về ban hành cơ chế, chính sách quản lý 29

1.2.3 Quản lý về quy hoạch, kế hoạch phát triển hoạt động 29

1.2.4 Quản lý về nguồn nhân lực (đội ngũ quản lý, chuyên gia), tài chính 29

1.2.5 Quản lý về tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động Kiểm định chất lượng 29 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác Quản lý nhà nước đối với hoạt động Kiểm định chất lượng dạy nghề tại các trường dạy nghề ………30

1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng từ bên ngoài 30

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng từ bên trong 31

CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG DẠYNGHỀ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NÀY TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 33

2.1 Các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi……… 33

2.1.1 Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ Dung Quất 33

2.1.2 Trường cao đẳng nghề Cơ giới 35

2.1.3 Trường cao đẳng nghề Việt Nam – Hàn Quốc 37

2.2 Hoạt động KĐCL ở các trường cao đẳng nghề ……….37

2.2.1 Tự Kiểm định chất lượng dạy nghề của Cơ sở dạy nghề 38

2.2.2 Kiểm định chất lượng dạy nghề của cơ quan Quản lý nhà nước về dạy nghề 38

2.2.3 Công nhận kết quả Kiểm định chất lượng dạy nghề, cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn Kiểm định chất lượng dạy nghề 38

Trang 6

2.3 Công tác Kiểm định chất lượng dạy nghề theo Luật Giáo dục nghề

nghiệp ……….39

2.4 Quản lý nhà nước đối với hoạt động Kiểm định chất lượng dạy nghề tại các trường nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ……… ……44

2.4.1 Về xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách 46

2.4.2 Bộ máy tổ chức, quản lý hoạt động Kiểm định chất lượng dạy nghề 50

2.4.3 Tổ chức quản lý hoạt động tự Kiểm định chất lượng dạy nghề ở các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 52

2.4.4 Nguồn nhân lực – đội ngũ KĐVchất lượng dạy nghề và tự kiểm định chất lượng dạy nghề và nguồn tài chính cho hoạt động Kiểm định chất lượng dạy nghề55 2.4.5 Tổ chức Kiểm định chất lượng dạy nghề (đánh giá ngoài) tại các trường nghề 57

2.4.6 Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động Kiểm định chất lượng dạy nghề 62

2.4.7 Những điểm mạnh, điểm yếu trong Quản lý nhà nước đối với hoạt động Kiểm định chất lượng dạy nghề tại các trường nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi63 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ TẠI CÁC TRƯỜNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 67

3.1 Định hướng phát triển hệ thống Kiểm định chất lượng dạy nghề đến năm 2020 .67

3.1.1 Định hướng Quản lý nhà nước về đổi mới và phát triển dạy nghề……… 67

3.1.2 Định hướng phát triển hệ thống Kiểm định chất lượng dạy nghề đến năm 2020 72

3.2 Một số giải pháp Quản lý nhà nước đối với hoạt động Kiểm định chất lượng dạy nghề tại các trường nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi:…… 73

3.2.1 Giải pháp về lập quy hoạch, kế hoạch, hoàn thiện bộ máy quản lý hoạt động Kiểm định chất lượng dạy nghề 74

3.2.2 Giải pháp về tổ chức đào tạo và phát triển đội ngũ KĐVchất lượng dạy nghề và cán bộ tự Kiểm định chất lượng dạy nghề 77

3.2.2.1 Mục tiêu 78

3.2.4 Giải pháp trong tổ chức hoạt động Kiểm định chất lượng dạy nghềN - đánh giá ngoài tại các trường nghề 79

3.2.5 Giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật trong quản lý hoạt động Kiểm định chất lượng dạy nghề tại các trường nghề 81

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 93

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ LĐ-TBXH Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội

Bộ GD & ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

CTĐT Chương trình đào tạo

KĐCLDN Kiểm định chất lượng dạy nghề

KĐCLGDNN Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp

Sở LĐ-TBXH Sở Lao động -Thương binh và Xã hội

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ chất lượng đáp ứng mục tiêu 16

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức trường Cao đẳng nghề KTCN Dung Quất 34

Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức trường Cao đẳng nghề cơ giới 36

Hình 2.3 Sơ đồ tổ chức trường Cao đẳng nghề Việt Hàn 37

Hình 2.4 Hệ thống giáo dục quốc dân theo Luật Giáo dục nghề nghiệp 40

Hình 2.5 Sơ đồ cơ cấu tổ chức hiện tại của Cục KĐCLGDNN 50

Hình 2.6: Sơ đồ cơ cấu tổ chức hiện tại của Phòng Dạy nghề – Sở LĐ-TBXH tỉnh Quảng Ngãi 51

Hình 3.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa các nhóm giải pháp 87

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Phát triển giáo dục, dạy nghề là sự nghiệp và trách nhiệm của toàn xã hội, là một nội dung quan trọng của chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020 (ban hành kèm theo QĐ số 630/QĐ-TTg ngày 29/05/2012 của Thủ tướng Chính phủ) chỉ rõ:

“đến năm 2020, dạy nghề đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về

số lượng, chất lượng, cơ cấu nghề và trình độ đào tạo; chất lượng đào tạo của một số nghề đạt trình độ các nước phát triển trong khu vực ASEAN và trên thế giới; hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; phổ cập nghề cho người lao động, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, giảm nghèo vững chắc, đảm bảo an sinh xã hội.“

Trong những năm qua, mạng lưới CSDN tăng nhanh và phát triển rộng khắp trên cả nước, lực lượng giáo viên và cán bộ quản lý cũng như số lượng học viên tham gia đào tạo nghề có sự phát triển vượt bậc Tuy nhiên, quy mô đào tạo nghề tăng nhanh nhưng không cân đối với các điều kiện để bảo đảm chất lượng dẫn đến việc còn khoảng cách khá rộng giữa đào tạo và thực tế sử dụng lao động

đã qua đào tạo Việc mở cửa thị trường lao động trong tiến trình hội nhập quốc

tế, tạo sự cạnh tranh gay gắt giữa lao động kỹ thuật trực tiếp của Việt Nam với lao động kỹ thuật của các nước không chỉ ở thị trường lao động quốc tế mà ở cả thị trường lao động trong nước Đã xuất hiện tình trạng một số doanh nghiệp phải nhập khẩu lao động kỹ thuật trực tiếp trình độ cao từ các nước khác Như vậy, nguy cơ lao động kỹ thuật trực tiếp của Việt Nam không cạnh tranh được với lao động nước ngoài tại Việt Nam đang hiện hữu Nguyên nhân chủ yếu là

do các điều kiện để bảo đảm chất lượng bao gồm đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, cơ sở vật chất và thiết bị, chương trình giáo trình, dịch vụ cho người học còn nhiều bất cập Chính vì vậy, Bộ LĐ-TBXH lấy việc nâng cao chất

Trang 10

Từ năm 2012, hoạt động KĐCLGDNN đã đạt được những hiệu quả nhất định, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Mặc dù bộ công cụ KĐCLGDNN đã được hiệu chỉnh hàng năm để phù hợp hơn với điều kiện thực

tế, tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, đôi lúc vẫn mang tính hình thức Bên cạnh đó, những tiêu chí, tiêu chuẩn, chỉ số đánh giá thường mang tính định lượng, được quy định bởi các con số cứng nhắc, không những gây khó khăn cho các CSDN mà còn đối với các đoàn đánh giá ngoài

Quảng Ngãi là một tỉnh thuộc khu vực duyên hải miền Trung, có diện tích

5153 km2, có dân số 1,3 triệu người (số liệu thống kê năm 2015 ), số người ở độ tuổi lao động là 760.917 người chiếm khoảng 60 % dân số Quảng Ngãi là một mắt xích quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Hiện nay, trên địa bản tỉnh Quảng Ngãi có 19 khu công nghiệp, khu kinh tế, trong đó lớn nhất, và đóng vai trò quan trọng nhất là các khu Kinh tế Dung Quất - nơi có Nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam - và khu Công nghiệp VSIP Quảng Ngãi Các doanh nghiệp FDI chủ yếu nằm trên hai khu công nghiệp và kinh tế này Để đảm bảo đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, đồng thời định hướng cho hoạt động đào tạo nguồn nhân lực, ngày 20/12/2011 Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành QĐ số 2037/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2020, nêu rõ: “ nâng lao động có trình độ

Trang 11

và Xã hội Đây là ba CSDN cung cấp phần lớn lao động kỹ thuật cho thị trường lao động của tỉnh và khu vực lân cận Cùng với các trường trong hệ thống dạy nghề, ba trường trên cũng đã triển khai công tác KĐCLGDNN hàng năm và đạt được những hiệu quả nhất định, góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tỉnh nhà Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động KĐCLGDNN chưa thực sự được chú trọng và còn bộc lộ nhiều hạn chế Một trong những nguyên nhân chính là do công tác QLNN về hoạt động này chưa hiệu quả Do vậy, cần phân tích những nguyên nhân, những hạn chế và đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN trên lĩnh vực KĐCLGDNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và tại các trường cao đẳng nghề ở tỉnh này nói chung Cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về về lĩnh vực này trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Là một chuyên viên đang công tác tại Trường Cao đẳng Nghề Kỹ thuật Công nghệ Dung Quất, trực tiếp thực hiện công tác KĐCLGDNN, với kiến thức

đã được trang bị trong khoá đào tạo cao học Quản lý công do Học viện Hành Chính Quốc gia tổ chức, với kinh nghiệm công tác và mong muốn góp phần nhỏ vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Ngãi, tôi chọn đề tài:

Trang 12

4

“KĐCL giáo dục nghề nghiệp tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi“ để nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt nghiệp khoá học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

KĐCL trong đào tạo tại Việt Nam là một vấn đề mới và vẫn đang hoàn thiện đối với hệ thống giáo dục nói chung cũng như dạy nghề nói riêng (KĐCLGDNN - thách thức, hội nhập và phát triển – TS Đàm Hữu Đắc - Thứ trưởng Bộ LĐ-TBXH) Đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực KĐCL, tiêu biểu như GS.TS Nguyễn Đức Chính (KĐCL trong giáo dục đại học - 2002), Ngô Doãn Đãi, Phạm Xuân Thanh, Lê Vinh Danh, Nguyễn Hữu Châu… nhưng chủ yếu là nghiên cứu tổng quan về lĩnh vực KĐCL trong giáo dục đại học, hoặc những nghiên cứu chỉ mới đi vào phân tích các tiêu chí, tiêu chuẩn KĐCL Năm 2013, có nghiên cứu: “QLNN đối với hoạt động KĐCLGDNN tại các trường nghề” của Phùng Thị Kim Thoa Đây là một nghiên cứu tập trung vào việc phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp để tăng cường công tác QLNN trong hoạt động KĐCLGDNN ở cơ quan QLNN về dạy nghề ở Trung ương – Tổng Cục Dạy nghề, Bộ lao động – Thương binh và Xã hội

KĐCL trong đào tạo tại Việt Nam là một vấn đề vẫn còn ở giai đoạn đầu phát triển và đang hoàn thiện đối với hệ thống giáo dục nói chung cũng như dạy nghề nói riêng (KĐCLGDNN - thách thức, hội nhập và phát triển – TS Đàm Hữu Đắc - Thứ trưởng Bộ LĐ-TBXH) Đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực KĐCL, tiêu biểu như GS.TS Nguyễn Đức Chính (KĐCL trong giáo dục đại học

- 2002), Ngô Doãn Đãi, Phạm Xuân Thanh, Lê Vinh Danh, Nguyễn Hữu Châu… nhưng chủ yếu là nghiên cứu tổng quan về lĩnh vực KĐCL trong giáo dục đại học, hoặc những nghiên cứu chỉ mới đi vào phân tích các tiêu chí, tiêu chuẩn KĐCL; đánh giá công tác tự KĐ của một cơ sở đào tạo cụ thể

Xét dưới góc độ dạy nghề, dưới góc độ QLNN, cũng đã có một số công trình nghiên cứu được công bố, như:

- Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực, tác giả Trần Khánh Đức, NXB Giáo dục, Hà Nội – 2002, tập hợp các bài báo khoa học của

Trang 13

- Giáo dục nghề nghiệp – Những vấn đề và giải pháp, tác giả Nguyễn Viết

Sự, NXB Giáo dục, Hà Nội -2005 Nội dung tập hợp các bài viết đã đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo, đề tài nhiên cứu khoa học về cơ sở lý luận và thực tiễn, kinh nghiệm trong và ngoài nước về phát triển giáo dục nghề nghiệp

- QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề ở nước ta – thực trạng và giải pháp, Luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Đức Tĩnh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh – 2007

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với hoạt động KĐCLGDNN tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan tới vấn đề QLNN về hoạt động

- Mô tả thực trạng, phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề QLNN về hoạt động

- Đề xuất các biện pháp, giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về KĐCLGDNN ở các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Trang 14

6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: QLNN về hoạt động KĐCLGDNN tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi;

- Phạm vi, nội dung và không gian nghiên cứu: Nghiên cứu công tác QLNN đối với hoạt động KĐCLGDNN tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn Tỉnh;

- Về thời gian: Từ năm 2012, hoạt động KĐCLGDNN được triển khai trên toàn quốc nói chung và ở Quảng Ngãi nói riêng, do vậy, tác giả sử dụng các số liệu từ năm 2012 – 2015 trong luận văn này;

5 Phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu như sau:

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận qua tài liệu

- Phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết

- Phương pháp hệ thống hoá lý thuyết

Các nguồn tài liệu sử dụng: tài liệu về hoạt động KĐCL nói chung và hoạt động KĐCLGDNN nói riêng của Việt Nam cũng như trên thế giới;

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi và phỏng vấn: Dự kiến chuẩn bị phiếu hỏi, điều tra với các cá nhân, đơn vị có liên quan: (1) Các kiểm định viên

đã tham gia Đoàn kiểm định; (2) Cán bộ quản lý nhà nước, chuyên gia trong lĩnh vực kiểm định chất lượng dạy nghề; (3) Các trường đã tham gia kiểm định;

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý: từ những kinh nghiệm, kiến thức về hoạt động quản lý để đưa ra tổng kết kinh nghiệm

6 Những đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn

Các biện pháp QLNN đối với hoạt động KĐCLGDNN tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi như thế nào?

Hoạt động KĐCLGDNN tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi hiện nay chưa đạt hiệu quả cao và vẫn còn nhiều hạn chế bất cập

Trang 15

7

Nếu áp dụng đồng bộ các nhóm giải pháp QLNN đối với hoạt động KĐCLGDNN về cơ chế, chính sách, phát triển đội ngũ KĐ viên, cán bộ tự KĐCLGDNN (cả về số lượng và chất lượng) thì hoạt động KĐCL của các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh sẽ từng bước được cải thiện

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng, tài liệu tham khảo; luận văn được chia thành 03 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp

Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp và quản lý nhà nước đối với hoạt động này tại các trường Cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3: Một số giải pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại các trường cao đẳng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Trang 16

8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

1.1 Những khái niệm cơ bản

1.1.1 Giáo dục nghề nghiệp và đặc điểm của hoạt động giáo dục nghề nghiệp

Từ ngày 01/7/2015, Luật Giáo dục nghề nghiệp bắt đầu có hiệu lực Luật Giáo dục nghề nghiệp cấu trúc lại hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam, làm thay đổi toàn diện cấu trúc hệ thống giáo dục nghề nghiệp Hệ thống giáo dục nghề nghiệp mới bao gồm: Trình độ sơ cấp; trình độ trung cấp và trình độ cao đẳng Do đó không còn sự phân biệt giữa giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề Tuy nhiên, đến tháng 9/2016, Chính phủ mới ban hành Nghị quyết phân công Bộ Lao Động – Thương binh và Xã hội là Cơ quan QLNN ở Trung ương

về lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp Hiện nay công tác chuyển giao các trường chuyên nghiệp từ Bộ Giáo dục và Đào tạo sang Bộ Lao Động – Thương binh và

Xã hội vẫn đang tiếp tục thực hiện Vì vậy hai hệ thống giáo dục chuyên nghiệp

và dạy nghề trên thực tế vẫn đang tồn tại và do hai Bộ Giáo dục & Đào tạo cũng như Bộ Lao Động – Thương binh và Xã hội quản lý

Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11, xem dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học

Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 định nghĩa: “Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các CTĐT nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh

và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên” Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được

Trang 17

Giáo dục nghề nghiệp là một hệ thống bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân Khi xét đến hệ thống này người ta thường đề cập đến mối quan hệ của chúng theo lĩnh vực ngành nghề Giáo dục nghề nghiệp bên cạnh những đặc điểm của giáo dục và đào tạo còn có những đặc điểm riêng, đó là:

- Giáo dục nghề nghiệp gắn liền chặt chẽ và đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và việc làm Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Do vậy, để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường lao động, hoạt động giáo dục nghề nghiệp luôn bám sát nhu cầu của thị trường lao động

- Giáo dục nghề nghiệp gắn chặt chẽ với quá trình lao động nghề nghiệp thực tế và công việc hàng ngày của người lao động Sản phẩm của giáo dục nghề nghiệp là người lao động đã được đào tạo và trang bị những kiến thức, kỹ năng, thái độ tương ứng với vị trí việc làm cụ thể Chương trình đào tạo của giáo dục nghề nghiệp được xây dựng trên cơ sở phân tích các nghề cụ thể Quá trình đào tạo phảỉ luôn tạo cho người học có cảm giác như đang trực tiếp tham gia sản xuất thực tế

Trang 18

10

- Giáo dục nghề nghiệp tập trung đào tạo năng lực thực hành nghề nghiệp

và giáo dục ý thức, tác phong công nghiệp cho người học Chính vì thế giáo dục nghề nghiệp không tham vọng trang bị cho người học những kiến thức mang tính hàng lâm mà chỉ trang bị cho học những kiến thức, bồi dưỡng những kỹ năng, thái độ cần thiết để áp dụng thực tế vào hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày

- Giáo dục nghề nghiệp là sự đáp ứng hợp lý về thời gian đào tạo ở các cấp trình độ khác nhau theo yêu cầu của thị trường lao động Giáo dục nghề nghiệp thực tế là một quá trình, đồng thời cũng có nhiều hình thức cũng như trình độ đào tạo khác nhau, như ngắn hạn (sơ cấp), dài hạn (trung cấp, cao đẳng), đào tạo bồi dưỡng, đào tạo lại, đào tạo theo nhu cầu Tương ứng với những nhu cầu khác nhau của thị trường lao động, của người học, của người sử dụng lao động mà

cơ sở giáo dục nghề nghiệp xây dựng những chương trình đào tạo khác nhau

- Tính liên thông trong giáo dục nghề nghiệp vừa kế thừa tiếp thu được kết quả của hệ thống giáo dục phổ thông vừa đảm bảo yêu cầu của hệ thống giáo dục nghề nghiệp Chương trình đào tạo của giáo dục nghề nghiệp phải được xây dựng trên cơ sở kế thừa những khối kiến thức mà người học đã học ở bậc phổ thông tương ứng, đồng thời cũng phải trang bị cho người học những kiến thức

kỹ năng cần thiết không những để có thể làm việc được mà còn có thể tiếp tục tham gia các bậc học cao hơn

1.1.2 Chất lượng và Kiểm định chất lượng

Chất lượng giáo dục luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của xã hội Bên cạnh áp lực số lượng người học ngày càng tăng dẫn đến sụt giảm về chất lượng,

áp lực của thị trường lao động cạnh tranh khiến cho những nhà tuyển dụng luôn đòi hỏi chất lượng đầu ra của giáo dục ngày càng cao để tăng năng suất và giảm thiểu kinh phí bồi dưỡng, đào tạo lại Chất lượng đào tạo cũng luôn là một vấn

đề đối với chính phủ và các cơ quan, nơi hoạch định các chính sách giáo dục, nghiên cứu giáo dục và thực hiện nhiệm vụ QLNN về giáo dục – đào tạo

Trang 19

cơ quan KĐ, các nhà nghiên cứu đều có định nghĩa riêng của họ cho khái niệm chất lượng

Có một số định nghĩa “chất lượng” được sử dụng rộng rãi trong quản lý chất lượng như: “chất lượng là mức độ phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng'' (Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu – EOQC); “Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có, trong

đó yêu cầu được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc” (ISO 9000- 2000); “Chất lượng là sự đáp ứng với mục tiêu đề ra” (Tiêu chuẩn quản lý chất lượng Anh) Theo cách định nghĩa này, các cơ sở đào tạo được phép hoạt động để đạt được những mục tiêu đề ra trong mục tiêu nhiệm

vụ của mình Điều đáng lưu ý ở đây là chính khái niệm này đã làm đa dạng hoá các loại hình các tổ chức giáo dục đào tạo và dạy nghề nhằm thoả mãn nhiều hơn nữa nhu cầu học tập suốt đời của mọi đối tượng, mọi thành viên trong xã hội

Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các cơ sở đào tạo nói chung và dạy nghề nói riêng, việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của bất kỳ cơ sở đào tạo nào Mặc dù có tầm quan trọng như vậy nhưng chất lượng đào tạo vẫn là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường, và cách hiểu của người này cũng khác với cách hiểu của người kia Chất lượng đào tạo có một loạt định nghĩa trái ngược nhau và rất nhiều cuộc tranh luận xung quanh vấn đề này đã diễn ra tại các diễn đàn khác nhau mà nguyên nhân của nó là thiếu một cách hiểu thống nhất về bản chất của vấn đề Sau đây là 7 quan điểm cơ bản về chất lượng đào tạo

Trang 20

12

1.1.2.1 Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu vào”

Một số nước phương Tây có quan điểm cho rằng “Chất lượng một cơ sở đào tạo phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của cơ sở đó” Quan điểm này được gọi là “quan điểm nguồn lực” có nghĩa là: Nguồn lực = chất lượng Theo quan điểm này, một cơ sở đào tạo tuyển được học viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là cơ sở đào tạo chất lượng cao Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất đa dạng và liên tục trong một thời gian dài (1 đến 6 năm tuỳ thuộc vào bậc học) Thực tế, theo cách đánh giá này, quá trình đào tạo được xem là một “hộp đen”, chỉ dựa vào sự đánh giá “đầu vào” và phỏng đoán chất lượng “đầu ra” Sẽ khó giải thích trường hợp một cơ sở đào tạo có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng chỉ có những hoạt động đào tạo hạn chế ; hoặc ngược lại, một cơ sở đào tạo có những nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho học viên một CTĐT hiệu quả

1.1.2.2 Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu ra”

Một quan điểm khác về chất lượng đào tạo cho rằng “đầu ra” của giáo dục – đào tạo có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của quá trình đào tạo

“Đầu ra” chính là sản phẩm của quá trình giáo dục – đào tạo, được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của học viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của cơ sở đào tạo đó

Có hai vấn đề cơ bản liên quan đến cách tiếp cận chất lượng đào tạo này Một là, mối liên hệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” không được xem xét đúng mức Trong thực tế mối liên hệ này là có thực, cho dù đó không phải là quan hệ nhân quả Một cơ sở đào tạo có khả năng tiếp nhận những học viên xuất sắc, không có nghĩa là học viên của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc Hai là, cách đánh giá “đầu ra” của các cơ sở đào tạo rất khác nhau

Trang 21

13

1.1.2.3 Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”

Quan điểm thứ 3 về chất lượng đào tạo cho rằng một cơ sở đào tạo có tác động tích cực tới học viên khi nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và cá nhân của học viên “ Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của

“đầu ra” trừ đi giá trị của “đầu vào”, kết quả thu được là “giá trị gia tăng” mà cơ

sở đào tạo đã đem lại cho người học và được xem là “chất lượng“ Khi “giá trị gia tăng” được xem là thước đo của chất lượng đào tạo, một loạt vấn đề phương pháp luận sẽ nảy sinh: khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” để tìm ra được hiệu số của chúng và đánh giá chất lượng của cơ sở đào tạo đó Hơn nữa các cơ sở đào tạo trong hệ thống giáo dục lại rất đa dạng, không thể dùng một bộ công cụ đo duy nhất cho tất cả các

cơ sở đào tạo Hơn nữa, cho dù có thể thiết kế được bộ công cụ như vậy, giá trị gia tăng được xác định sẽ không cung cấp thông tin gì cho chúng ta về sự cải tiến quá trình đào tạo trong từng cơ sở đào tạo

1.1.2.4 Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”

Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường đại học phương Tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong từng trường trong quá trình thẩm định công nhận chất lượng đào tạo đại học Điều này có nghĩa là trường nào có đội ngũ giáo sư, tiến

sĩ đông, có uy tín khoa học cao thì được xem là trường có chất lượng cao Điểm yếu của cách tiếp cận này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các trường để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu trong môi trường bị chính trị hoá Ngoài ra, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khi xu hướng chuyên ngành hoá ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng

1.1.2.5 Chất lượng được đánh giá bằng “Văn hoá tổ chức riêng”

Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các cơ sở đào tạo phải tạo ra được “văn hoá tổ chức riêng” hỗ trợ cho quá trình cải tiến chất lượng liên tục Vì vậy một

Trang 22

14

cơ sở đào tạo được đánh giá là có chất lượng khi nó có được “văn hoá tổ chức riêng” với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này bao hàm cả các giả thiết về bản chất của chất lượng và bản chất của tổ chức Quan điểm này được vay mượn từ lĩnh vực công nghiệp và thương mại nên khó có thể áp dụng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

1.1.2.6 Chất lượng được đánh giá bằng “Kiểm toán”

Quan điểm này xem trọng quá trình bên trong các cơ sở đào tạo và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra QĐ Nếu kiểm toán tài chính xem xét các tổ chức

có duy trì chế độ sổ sách tài chính hợp lý không, thì kiểm toán chất lượng quan tâm xem các cơ sở đào tạo có thu thập đủ thông tin phù hợp và những người ra

QĐ có đủ thông tin cần thiết hay không, quá trình thực hiện các QĐ về chất lượng có hợp lý và hiệu quả không Quan điểm này cho rằng nếu một cá nhân có

đủ thông tin cần thiết thì có thể có được các QĐ chính xác, và chất lượng đào tạo được đánh giá qua quá trình thực hiện, còn “Đầu vào” và “Đầu ra” chỉ là các yếu tố phụ Điểm hạn chế của cách tiếp cận này là sẽ khó lý giải những trường hợp khi một cơ sở đào tạo có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin, song vẫn có thể có những QĐ chưa phải là tối ưu

1.1.2.7 Định nghĩa của Tổ chức Đảm bảo Chất lượng Giáo dục đại học Quốc tế

Ngoài 6 định nghĩa trên, Tổ chức Đảm bảo Chất lượng Giáo dục đại học Quốc tế (INQAHE - International Network of Quality Assurance in Higher Education) đã đưa ra 2 định nghĩa về chất lượng giáo dục đại học mà chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng cho lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, đó là: (i) Tuân theo các chuẩn quy định; (ii) Đạt được các mục tiêu đề ra Theo định nghĩa thứ nhất, cần có Bộ tiêu chí chuẩn cho giáo dục nghề nghiệp về tất cả các lĩnh vực và việc KĐCL một cơ sở đào tạo sẽ dựa vào Bộ tiêu chí chuẩn đó Khi không có Bộ tiêu chí chuẩn việc thẩm định chất lượng đào tạo sẽ dựa trên mục tiêu của từng lĩnh vực để đánh giá Những mục tiêu này sẽ được xác lập trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, và những điều kiện đặc thù của cơ sở đào tạo

Trang 23

15

đó Như vậy để đánh giá chất lượng đào tạo của một cơ sở đào tạo cần dùng bộ tiêu chí có sẵn; hoặc dùng các chuẩn đã quy định; hoặc đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu đã định sẵn từ đầu của cơ sở đào tạo Trên cơ sở kết quả đánh giá, các cơ sở đào tạo sẽ được xếp loại theo 3 cấp độ (1) Chất lượng tốt; (2) Chất lượng đạt yêu cầu; (3) Chất lượng không đạt yêu cầu Định nghĩa này cũng là nền tảng cho hoạt động KĐCL giáo dục hiện nay

Như vậy, “Chất lượng“ là một khái niệm động, nhiều chiều và nhiều học giả cho rằng không cần thiết phải tìm cho nó một định nghĩa chính xác Tuy vậy, việc xác định một số cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề này là điều nên làm

và có thể làm được

1.1.2.8 Chất lượng dạy nghề

Trong hệ thống đào tạo cũng như hệ thống dạy nghề, chất lượng là vấn đề trừu tượng, phức tạp, đa chiều Đối với các CSDN thì chất lượng chính là thương hiệu, là lý do để tồn tại, để cạnh tranh và để phát triển trong môi trường đào tạo đầy biến động hiện nay Trong quản lý dạy nghề thì chất lượng đào tạo phải được đánh giá và KĐ; không phải ngẫu nhiên mà người ta khẳng định rằng:

“Quản lý chất lượng dạy nghề sẽ là cách quản lý mới trong tương lai - trong đó KĐCLGDNN giữ vai trò cực kỳ quan trọng”

Chất lượng dạy nghề không thể xác định và cũng không thể đánh giá được ngay; chất lượng của CSDN chỉ có thể được xác định qua nhiều năm Chất lượng chỉ có thể biết được khi những học tốt nghiệp ra trường có việc làm và làm được việc Hay nói cách khác, Chất lượng đào tạo của cơ sở sở dạy nghề hay sản phẩn đào tạo của họ sẽ được thị trường lao động đánh giá toàn diện dự trên năng lực đáp ứng được các mục tiêu đã đặt ra

Trang 24

16

Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ chất lượng đáp ứng mục tiêu

1.1.3 Kiểm định chất lượng trong đào tạo

Để đảm bảo chất lượng của hệ thống giáo dục đào tạo và dạy nghề cần phải xây dựng một hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách, mục tiêu hành động, công cụ, quy trình và thủ tục, Điều quan trọng là thông qua việc vận hành hệ thống đó trong hoạt động thực tiễn có thể đảm bảo rằng mục tiêu và nhiệm vụ đang được thực hiện, các chuẩn mực đang được duy trì và từng bước nâng cao Như vậy đảm bảo chất lượng đề cập đến cách tiếp cận và các biện pháp được sử dụng để nâng cao chất lượng đào tạo Với vai trò của mình, đảm bảo chất lượng đem lại lợi ích cho cả quốc gia cũng như cộng đồng tham gia vào hoạt động giáo dục đào tạo và dạy nghề

Hoạt động đảm bảo chất lượng trở thành công cụ được sử dụng hết sức rộng rãi để đánh giá và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo cũng như cung cấp cho chính phủ, những nhà đầu tư trong ngành giáo dục đào tạo và dạy nghề, người học và các nhà tuyển dụng những thông tin quan trọng về chất lượng đào

Yêu cầu của các

bên liên quan:

Nghiên cứu

Dịch vụ Cộng đồng

Đạt được mục

Chất lượng

Yêu cầu được chuyển thành mục tiêu

Trang 25

17

tạo của từng cơ sở đào tạo cụ thể nói riêng và thông tin tương đối toàn diện về chất lượng của cả hệ thống giáo dục đào tạo và dạy nghề nói chung

Hoạt động đảm bảo chất lượng bao gồm những hình thức chủ yếu sau:

- Đánh giá chất lượng (Quality Assessment);

- Kiểm toán chất lượng (Quality Audit);

- KĐCL (Accreditation)

Trong 03 hình thức trên, KĐCL được sử dụng rộng rãi và hữu hiệu nhất ở các nước trong khu vực và trên thế giới khi phục vụ mục đích phát triển và xây dựng năng lực cho một cơ sở đào tạo và cho cả hệ thống KĐCL là quy trình được sử dụng ở hệ thống giáo dục, đào tạo và dạy nghề đã và đang phát triển Trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, hoạt động KĐCL đã được thực hiện tại các quốc gia, vùng lãnh thổ như: Campuchia, Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn

Độ, Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaixia, Mông Cổ, Philippin, Việt Nam,

và Thái Lan

Theo Terry (2005), KĐCL là:

+ Một hình thức để đảm bảo chất lượng mang tính hệ thống;

+ Tập trung vào vấn đề chất lượng và trách nhiệm đối với xã hội;

+ Dựa trên các tiêu chuẩn KĐCL;

+ Tự đánh giá;

+ Đánh giá ngoài;

+ Báo cáo của đoàn đánh giá ngoài;

+ Công nhận đạt chất lượng;

+ Từng bước tạo nên thay đổi tích cực;

+ Trợ giúp xây dựng “Nền văn hoá chất lượng”,

Mặc dù một số quốc gia tuyên bố rằng họ có thể xếp hạng công khai các CSĐT (theo số hoặc theo hạng) mà không cần quan tâm đến hậu quả của việc xếp hạng đó, nhưng nhìn chung có xu hướng nên tránh việc xếp hạng bởi nó gây tác hại tới sự phát triển lâu dài của một hệ thống và một CSĐT Ngoài ra có tình trạng tại một số quốc gia, các CSĐT được xếp ở thứ hạng cao dựa trên lịch sử

Trang 26

18

hình thành và vẫn tiếp tục duy trì ở vị trí đó mà không cần xem xét đến những đánh giá chất lượng khách quan hiện tại của nó Tránh việc xếp hạng CSĐT không có nghĩa là không xếp cấp độ hay mức độ KĐ Một số hệ thống dạy nghề

đã áp dụng ít nhất 3 mức độ KĐ:

- Đạt tiêu chuẩn KĐCL: Thời gian quy định thường có giá trị ít nhất 3 năm

và không quá 7 đến 10 năm; thông thường thời gian có giá trị trong 5 năm là hợp lý đối với hầu hết các hệ thống giáo dục đào tạo và dạy nghề;

- Có khả năng được công nhận đạt tiêu chuẩn KĐ: Thời gian được công nhận đạt tiêu chuẩn ngắn hơn so với mức trên và trong thời gian thử thách, những điểm yếu còn tồn tại của CSĐT/CTĐT cần phải được tập trung giải quyết;

- Không đạt tiêu chuẩn KĐ: Thường có nghĩa là CSĐT/CTĐT cần đăng kí

KĐ lại sau một thời gian nhất định; nếu tiếp tục không đạt phải chấm dứt hoạt động của CSĐT/CTĐT đó (hiện tại, ở Việt Nam chưa áp dụng chế tài này)

Có nhiều quan điểm khác nhau về KĐ và KĐCL đào tạo Nói chung, KĐ

và KĐCL đào tạo thường được xem xét dưới dạng một quá trình Sau đây là một

số định nghĩa về KĐCL đào tạo:

- KĐ được xác định là “một quá trình xem xét chất lượng từ bên ngoài, được giáo dục đại học sử dụng để khảo sát đánh giá các cơ sở giáo dục đại học

và cao đẳng và các ngành đào tạo đại học nhằm đảm bảo và cải tiến chất lượng” (CHEA, 2003)

- KĐCL là “một quá trình đánh giá ngoài nhằm đưa ra một QĐ công nhận một cơ sở giáo dục đại học hay một ngành đào tạo của cơ sở giáo dục đại học đáp ứng các chuẩn mực qui định” (SEAMEO, 2003)

KĐCL mang lại cho cộng đồng, đặc biệt là người học sự đảm bảo chắc chắn rằng một trường đã được chứng minh thoả mãn các yêu cầu và tiêu chí đáng tin cậy và có đủ cơ sở để tin rằng trường này sẽ tiếp tục đạt các yêu cầu và tiêu chí đã đề ra

Trang 27

19

1.1.4 Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp và vai trò của Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp

1.1.4.1 Khái niệm về Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp

Theo Từ điển Tiếng Việt, KĐ là kiểm tra để xác định giá trị và đánh giá chất lượng Còn thuật ngữ KĐCL bắt đầu được dùng ở Việt Nam từ năm 1997 trong Chương trình Hỗ trợ kỹ thuật Dự án Giáo dục kỹ thuật của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ngân hàng phát triển Châu Á Thuật ngữ này ở bản tiếng Anh của

Dự án được viết là accreditation, trong một số tài liệu khác viết là quality accreditation Trong bản tiếng Việt của Dự án thuật ngữ accreditation được dịch

Như vậy, KĐCL các CSDN/giáo dục nghề nghiệp là hoạt động đánh giá, công nhận các CSDN và các chương trình dạy nghề đáp ứng các tiêu chí tiêu chuẩn về chất lượng, tạo cho công chúng sự tin cậy KĐCL có một số chức năng quan trọng, trong đó có sự khuyến khích mọi cố gắng của cả Nhà nước, các thành phần kinh tế có quan tâm đến dạy nghề và các CSDN để hướng tới hiệu quả đào tạo nghề có chất lượng và hiệu quả nhất

Trang 28

20

Quá trình KĐCL, trước hết, đòi hỏi các CSDN phải tự đánh giá về mục tiêu, về hoạt động điều hành và kết quả đạt được của bản thân từng CSDN, từng chương trình dạy nghề Tiếp đến là việc đánh giá của cơ quan QLNN về dạy nghề do các KĐV và chuyên gia đánh giá Cuối cùng sẽ là những khuyến nghị của cơ quan KĐCL nhằm từng bước khắc phục tồn tại và cải thiện chất lượng dạy nghề Vì KĐCL được tiến hành thường xuyên nên thông qua KĐCL, các CSDN có động cơ phấn đấu hướng tới việc tự hoàn thiện để nâng cao chất lượng dạy nghề

KĐCLGDNN chỉ đề cập đến các điều kiện của CSDN hoặc chương trình dạy nghề mà không đi sâu vào chi tiết của những sản phẩm mà CSDN đào tạo, nên KĐCL không thể đảm bảo chất lượng cho từng cá nhân tốt nghiệp hoặc từng khoá đào tạo riêng rẽ, nhưng nó có thể góp phần củng cố đáng kể về nội dung và chất lượng đào tạo nghề của các khoá đào tạo nghề Quá trình KĐCLGDNN bao hàm các hoạt động sau:

- Tự KĐCLGDNN: Tự KĐCLGDNN là hoạt động tự đánh giá của chính CSDN căn cứ vào hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn KĐCLGDNN do Bộ trưởng Bộ LĐ-TBXH ban hành để chỉ ra các mặt mạnh, mặt yếu, từ đó xây dựng kế hoạch

và các biện pháp thực hiện nhằm đáp ứng mục tiêu dạy nghề đã đề ra

- KĐCLGDNN: KĐCLGDNN là hoạt động đánh giá (ngoài) của đoàn KĐCLGDNN do Tổng cục Dạy nghề thành lập nhằm xác định điều kiện đảm bảo mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung dạy nghề của CSDN hoặc chương trình dạy nghề, căn cứ vào hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn KĐCLGDNN do Bộ trưởng Bộ LĐ-TBXH ban hành

- Kiểm định chất lượng CSGDNN: là hoạt động KĐCLGDNN đối với trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề và các cơ sở GDNN khác do Bộ LĐTBXH quản lý

- KĐCL chương trình dạy nghề: KĐCL chương trình dạy nghề là hoạt động đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu, nội dung dạy nghề của CTĐT một nghề cụ thể

Trang 29

21

1.1.4.2 Sự cần thiết của Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp

Các CSDN có chất lượng đào tạo như thế nào là vấn đề được toàn xã hội rất quan tâm Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế đang tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống nhân loại, mang lại cả cơ hội và thách thức đối với mỗi quốc gia Trong đó, sự cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng trở nên quyết liệt, gay gắt Lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về quốc gia nào có nhiều nhất nguồn nhân lực được đào tạo từ các cơ sở đào tạo có chất lượng cao

Các CSDN hàng năm cung cấp một tỷ lệ đáng kể cho nguồn nhân lực được đào tạo của quốc gia Do vậy, chất lượng dạy nghề thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý, các doanh nghiệp, của phụ huynh, cũng như người học và toàn xã hội Hiện ở Việt Nam đang có tình trạng học sinh tốt nghiệp các trường trung học phổ thông và trung học cơ sở không muốn vào học tại các trường dạy nghề Tình trạng học sinh đổ xô vào các trường đại học có thể có nguyên do tâm lý, nhưng cũng có nguyên nhân về chất lượng và uy tín của các CSDN còn hạn chế trong sự đánh giá của xã hội Trong khi đó, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế lại gặp nhiều khó khăn trong tìm nguồn nhân lực cho đơn vị mình Việc phàn nàn của các doanh nghiệp, của những người sử dụng lao động về sự yếu kém về kỹ năng nghề của học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trường dạy nghề có nguyên nhân do chất lượng dạy nghề chưa đáp ứng được các yêu cầu của sản xuất

Trong thời gian vừa qua, các CSDN, các cơ quan QLNN về dạy nghề đã quan tâm đến chất lượng dạy nghề Không ít các CSDN đã tổ chức xây dựng lại chương trình dạy nghề gắn liền với các yêu cầu của doanh nghiệp, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Cơ sở vật chất - kỹ thuật của các CSDN cũng đã được tăng cường, đổi mới một phần Đội ngũ cán bộ giảng viên, giáo viên được đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ…

Tuy nhiên, muốn chất lượng dạy nghề ngày càng được bảo đảm và nâng cao cần phải hoàn thiện và phát triển hệ thống KĐCLGDNN hơn nữa Vì vậy, KĐCLGDNN là một hoạt động không thể thiếu được trong hoạt động QLNN về

Trang 30

22

giáo dục nghề nghiệp, điều này càng trở nên quan trọng khi Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Trong khi chất lượng nguồn nhân lực là vũ khí cạnh tranh quan trọng nhất thì một trong những khâu yếu nhất của giáo dục nói chung

và của giáo dục nghề nghiệp nói riêng ở nước ta là chất lượng đào tạo chưa cao Nguyên nhân chủ yếu là do các yếu tố đầu vào và các điều kiện đảm bảo trong quá trình đào tạo như: cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị thực hành, thực tập thiếu, không đáp ứng được nhu cầu dạy và học; một số nội dung chương trình, tài liệu giảng dạy cho một số nghề đang sử dụng trong các CSDN đã lạc hậu chưa kịp thời đổi mới; đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng, yếu về trình độ tay nghề, một số giáo viên chưa đạt chuẩn

Đồng thời, một nguyên nhân quan trọng khác là việc quản lý chất lượng giáo dục nghề nghiệp của các CSDN chưa có chuẩn mực để vừa ràng buộc, vừa thúc đẩy các CSDN từng bước nâng cao chất lượng đào tạo trong những điều kiện hiện có, bằng những thước đo cụ thể, khách quan

1.1.4.3 Mục tiêu và vai trò của Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp

+ Mục tiêu của KĐCLGDNN

KĐCLGDNN hướng tới hai mục tiêu cơ bản là:

- Xác nhận các CSDN có đủ các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo nhằm khẳng định với cộng đồng giáo dục và công chúng rằng CSDN đó đào tạo nghề có chất lượng và đạt hiệu quả cao

- Khuyến khích việc nâng cao chất lượng của từng CSDN, từng CTĐT thông qua việc tự xem xét và tự đánh giá thường xuyên

+ Vai trò của KĐCLGDNN

Hoạt động KĐCLGDNN là một hoạt động có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với xã hội, người có nhu cầu học nghề, CSDN, cơ sở sử dụng lao động và cơ quan QLNN về dạy nghề Nói cụ thể hơn, KĐCLGDNN có vai trò quan trọng trên các phương diện sau:

Trang 31

- Xác nhận chất lượng và hiệu quả đào tạo của CSDN

- Là cơ sở cho việc tuyển dụng, xem xét tư cách hành nghề của những người học nghề

- Là cơ sở cho việc trao đổi và di chuyển lao động giữa các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sử dụng lao động trong và ngoài nước

- Thông qua quá trình KĐ, các CSDN luôn chủ động và có ý thức trong việc không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo nghề của mình, nâng cao hiệu quả của đầu tư cho đào tạo nghề

+ Đối với người học: mục đích của các dịch vụ cho người học là nhằm đáp ứng những đòi hỏi, sự ham muốn và phát huy các khả năng tiềm tàng của người học đối với các chương trình dạy nghề Dịch vụ nhân sự cho người học phải xây dựng các chương trình định hướng và lập hệ thống hồ sơ nhân sự phù hợp gồm: dịch vụ tư vấn cá nhân; chương trình định hướng cho học sinh- sinh viên; dịch

vụ lưu giữ các hồ sơ của người học; dịch vụ tài chính cho người học; dịch vụ ăn

và ở; dịch vụ giới thiệu việc làm

Vì thế, KĐCL sẽ đảm bảo độ tin cậy đối với cơ sở dạy nghề hay một chương trình dạy nghề mà người học đó đang theo học, họ có thể yên tâm vì nhu cầu học tập của họ được đáp ứng một cách tốt nhất Giúp cho người học chuyển đổi việc học tập giữa các trường hoặc được công nhận khi họ có nhu cầu bồi dưỡng, nâng cao trình độ Điều quan trọng hơn là nếu được học ở những CSDN

có uy tín và những chương trình dạy nghề phù hợp đã được khẳng định qua KĐCL thì người học sẽ dễ tìm được việc hoặc tự tạo làm khi ra trường, là tiền

đề giúp cho người học được công nhận trong việc hành nghề

+ Đối với bản thân các CSDN: KĐCL có vai trò như là một động lực bên trong với sự hỗ trợ, khuyến khích từ bên ngoài giúp CSDN có điều kiện đánh giá

Trang 32

24

lại mình một cách toàn diện, đầy đủ thông qua việc xem xét và xây dựng báo cáo tự đánh giá, nâng cao năng lực hoạt động của mình để tiến tới xây dựng một CSDN có chất lượng cao Hay nói cách khác thông qua KĐCL, thương hiệu, uy tín của một CSDN sẽ được xã hội biết đến và thừa nhận

+ Đối với cơ quan quản lý các cấp: KĐCL được coi là một công cụ đảm bảo đánh giá một cách khách quan về CSDN hoặc một chương trình dạy nghề, phát hiện những nhân tố mới trong số các CSDN đã thực hiện tốt các giải pháp cải tiến, tự hoàn thiện mình để nâng cao chất lượng đào tạo Việc các cơ quan

KĐ áp dụng các "tiêu chuẩn KĐCL" sẽ tránh được những tác động bên ngoài có hại tới uy tín của CSDN

Hơn nữa, nếu KĐCL nói chung và tự kiểm tra, tự đánh giá nói riêng được tiến hành tốt sẽ thúc đẩy các CSDN cải tiến nâng cao chất lượng

+ Đối với người sử dụng lao động: học sinh tốt nghiệp từ các chương trình dạy nghề đã được KĐCL, từ các CSDN đã được cấp giấy chứng nhận "chất lượng" giúp họ yên tâm hơn

Dạy nghề là một hoạt động dịch vụ Chất lượng hoạt động dịch vụ này không nằm ngoài những vấn đề chung về chất lượng và quản lý chất lượng Bởi vậy, KĐCLGDNN thông qua việc đánh giá và chứng nhận các CSDN đạt “chất lượng” là một việc làm cần thiết để hoạt động dạy nghề đi vào nề nếp, nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề thông qua đó đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động

1.1.5 Quản lý nhà nước đối với hoạt động KĐCLGDNN

1.1.5.1 Quản lý nhà nước, Quản lý nhà nước trong lĩnh vực GDNN:

- Quản lý nhà nước:

QLNN (QLNN) thường được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp

- Quản lý nhà nước trong lĩnh vực GDNN:

Trang 33

1.1.5.2 QLNN đối với hoạt động KĐCLGDNN

QLNN đối với hoạt động GDNN nói chung và đối với lĩnh vực KĐCLGDNN nói tiêng là một dạng quản lý do các cơ quan trong bộ máy nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối mọi hoạt động liên quan như: chiến lược, quy hoạch, chính sách, tổ chức hoạt động của các cơ sở GDNN, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương trong hoạt động KĐCLGDNN, thực hiện được mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và tiến trình hội nhập của khu vực và quốc tế; đảm bảo tính kinh

tế, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động GDNN

Bộ LĐ-TBXH được Chính phủ phân công QLNN về dạy nghề Ngày 03/7/2008 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành QĐ số 86/2008/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dạy nghề, trong đó quy định rõ Tổng cục Dạy nghề là tổ chức thuộc Bộ LĐ-TBXH, thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ LĐ-TBXH QLNN về dạy nghề; trong cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dạy nghề có Vụ KĐCLGDNN

Ngày 16/7/2013 Thủ tướng chính phủ đã ban hành QĐ số 43/2013/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dạy

Trang 34

26

nghề thuộc Bộ LĐ-TBXH thay thế QĐ số 86/2008/QĐ-TTg ngày 3/7/2008, theo

đó cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dạy nghề có Cục KĐCLGDNN

Đến ngày 17/02/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 14/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ LĐ-TBXH thay thế Nghị định số 106/2012/NĐ-CP ngày 20/12/2012, giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực GDNN (trong đó có chức năng “Quản lý và tổ chức thực hiện việc KĐCL giáo dục nghề nghiệp”, và quy định cơ cấu của Bộ bao gồm Tổng Cục GDNN Tuy nhiên đến nay (tháng 3/2017) vẫn chưa có văn bản quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng Cục GDNN

Do vậy, trong nội dung luận văn này, tôi xin phép được sử dụng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật Dạy nghề để trình bày và phân tích hoạt động quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng dạy nghề Đồng thời, tôi cũng xin phép được sử dụng song song hai thuật ngữ “dạy nghề“ và “giáo dục nghề nghiệp“ như hai thuật ngữ đồng nghĩa trong phạm vi luận văn này để đảm tính chính xác khi trích dẫn các văn bản quy phạm pháp luật cũng như những công trình nghiên cứu đã được công bố

Như vậy, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quản lý nhà nước ở trung ương về lĩnh vực dạy nghề (bao hàm cả công tác kiểm định chất lượng dạy nghề) Tổng Cục Dạy nghề (nay là Tổng Cục GDNN) là tổ chức thuộc Bộ LĐ-TBXH, thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ LĐ-TBXH QLNN về dạy nghề, tổ chức thực hiện nhiệm vụ QLNN về lĩnh vực dạy nghề trên phạm vi quốc gia Cục KĐCLGDNN là đơn vị thuộc Tổng cục Dạy nghề, giúp Tổng Cục trưởng thực hiện chức năng QLNN trong lĩnh vực KĐCLGDNN và quản lý chất lượng dạy nghề trên phạm vi cả nước

Tại các địa phương, UBND các cấp là cơ quan QLNN về dạy nghề (trong

đó có kiểm định chất lượng dạy nghề) theo phân cấp của Chính phủ và có trách nhiệm đầu tư phát triển dạy nghề đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực của địa phương (Luật Dạy nghề 2006) Luật GDNN 2014 bổ sung thêm: “Ủy ban nhân

Trang 35

27

dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện QLNN về giáo dục nghề nghiệp theo phân cấp của Chính phủ; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu nhân lực của địa phương; kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục nghề nghiệp của các cơ

sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, các tổ chức, cá nhân có tham gia giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn theo thẩm quyền; thực hiện xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp; nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục nghề nghiệp tại địa phương Tại Quảng Ngãi, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân Tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân Tỉnh QLNN về: Lao động; việc làm; dạy nghề; … (Quyết định số 65/2016/QĐ-UBND, ngày 23/12/2016 của UBND tỉnh Quảng Ngãi) UBND tỉnh Quảng Ngãi cũng quy định cơ cấu của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội bao gồm 10 phòng, trong đó có phòng Dạy nghề Phòng Dạy nghề là đơn vị thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xó hội có trách nhiệm giúp Giám đốc Sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước về dạy nghề trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật

Như vậy, có thể hiểu QLNN đối với hoạt động KĐCLGDNN là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý là Nhà nước (cơ quan quản lý lĩnh vực dạy nghề - Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động – Thương binh và

Xã hội) lên đối tượng quản lý (công tác KĐCLGDNN tại các trường nghề trên phạm vi cả nước, cán bộ tự KĐ, các KĐ viên) và các khách thể quản lý (các Sở LĐ-TBXH, UBND các tỉnh) nhằm đạt các mục tiêu chất lượng trong các CSDN nói chung và hệ thống trường cao đẳng nghề nói riêng

- Những đặc trưng và nội dung cơ bản của KĐCLGDNN:

Ở Việt Nam, KĐCL tại các trường dạy nghề gồm hai thủ tục đánh giá và công nhận Ngoài ra, còn có một số đặc trưng cơ bản như sau:

(1) Mang tính tự nguyện và nhằm mục đích cải thiện, nâng cao chất lượng: Các trường có nguyện vọng được KĐCL sẽ tự nguyện đăng ký với Tổng cục Dạy nghề - cơ quan quản lý trong lĩnh vực dạy nghề Căn cứ vào các trường

Trang 36

28

dạy nghề đăng ký, Tổng cục Dạy nghề lựa các trường tham gia KĐCL hàng năm Các trường dạy nghề không có nguyện vọng đăng ký được KĐCLGDNN cũng không bắt buộc Tuy nhiên bắt đầu từ khi Thông tư số 42/2011/TT-LĐTBH có hiệu lực thì hàng năm tất cả các trường dạy nghề trong hệ thống dạy nghề phải thực hiện tự KĐCLGDNN, đánh giá chất lượng của trường

(2) Phương pháp tiếp cận đánh giá dựa trên hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn chứ không dựa trên các mục tiêu nhiệm vụ để đánh giá mức độ hoàn thành như một số nước

(3) Hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn KĐ chỉ sử dụng duy nhất một hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn cho từng trình độ đào tạo và hướng tới mức chất lượng cao

Hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn không phải ở mức chất lượng tối thiểu để cấp giấy phép hoạt động như một số nước KĐCLGDNN là đánh giá đồng cấp (trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề), có hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn riêng đối với từng trình độ;

(4) Hoạt động KĐCLGDNN hiện nay mới đang thực hiện đối với CSDN và đang nghiên cứu thí điểm KĐCL CTĐT KĐCLGDNN đối với CSDN áp dụng

hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn bao gồm 09 tiêu chí sau đây: Mục tiêu và nhiệm vụ;

Tổ chức và quản lý; Hoạt động dạy và học; Giáo viên và cán bộ quản lý; Chương trình, giáo trình; Thư viện; Cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học; Quản lý tài chính; Các dịch vụ cho người học nghề

(5) Hoạt động KĐCLGDNN bao gồm các nội dung chủ yếu như sau:

- Đào tạo, bồi dưỡng KĐVchất lượng dạy nghề; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Trang 37

1.2.1 Quản lý bộ máy tổ chức về hoạt động KĐCLGDNN

Tiêu chí đánh giá về bộ máy tổ chức cần trả lời được các câu hỏi: bộ máy tổ chức đã có phù hợp với nhiệm vụ của hoạt động không? Có đủ con người, bộ phận

để thực hiện tất cả các chức năng, nhiệm vụ, công việc? Có quá nhiều cấp và phức tạp không? Có các kênh thông tin theo chiều ngang? Có thông suốt từ cấp Trung ương đến địa phương? Khả năng phối hợp và mô hình tổ chức đang sử dụng có chặt chẽ không?

1.2.2 Quản lý về ban hành cơ chế, chính sách quản lý

Trong tổ chức thực hiện cơ chế chính sách đó thể hiện như thế nào? (tính kịp thời về thời gian, sự chi tiết trong hướng dẫn thực hiện); có thích hợp với tình hình của tổ chức không (tính tương thích)? Có giúp tổ chức thực hiện được mục tiêu (tính hiệu lực)? Có tạo nên sự nhất quán nội tại (tính thống nhất)? Có linh hoạt và thích ứng với hoàn cảnh thay đổi (tính linh hoạt)? Có quy định và thực hiện theo dõi quản lý nhân lực như thế nào?

1.2.3 Quản lý về quy hoạch, kế hoạch phát triển hoạt động

Có quy hoạch, kế hoạch phát triển hoạt động trung hạn, dài hạn không? Quy hoạch, kế hoạch có phù hợp với thực tiễn không?

1.2.4 Quản lý về nguồn nhân lực (đội ngũ quản lý, chuyên gia), tài chính

Tiêu chí đánh giá về nguồn nhân lực, tài chính cần trả lời được các câu hỏi sau: Nhân lực có đủ về số lượng và đáp ứng về chất lượng không? Có các kỹ năng cần thiết không? Sự chọn lựa và bố trí công việc có thích hợp không? Các công tác phát triển nguồn nhân lực như: Hiệu lực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; Hiệu quả đào tạo và phát triển nguồn nhân lực như thế nào? Tài chính có đủ để thực hiện tất cả công việc cần thiết không?

1.2.5 Quản lý về tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động Kiểm định chất lượng

Trang 38

30

Tiêu chí đánh giá công tác này cần trả lời được các câu hỏi sau: có lập kế hoạch tổ chức kiểm tra không? Có tiến hành kiểm tra, giám sát thường xuyên không? Có tổ chức họp định kỳ đánh giá rút kinh nghiệm? Việc xây dựng và ban hành hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá như thế nào? Việc phổ biến hệ thống theo dõi, giám sát kết quả thực hiện các hoạt động và hướng dẫn cách đánh giá kết quả, tác động cho các cơ quan liên quan như thế nào?

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác Quản lý nhà nước đối với hoạt động Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại các trường dạy nghề

QLNN đối với hoạt động KĐCLGDNN tại các trường dạy nghề là nhân tố quan trọng, có ảnh hưởng QĐ tới hoạt động KĐ nhằm nâng cao chất lượng tại các trường dạy nghề Sở dĩ như vậy là vì nó QĐ tổ chức bộ máy quản lý hoạt động KĐCL như thế nào? Nội dung các văn bản pháp luật phục vụ cho hoạt động này phải như thế nào? Trình độ của cán bộ quản lý? Để quản lý một hệ thống xã hội, các nhà quản lý phải quan tâm đến cả các nhân tố ảnh hưởng thuộc

cả bên ngoài và bên trong của hệ thống đó

1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng từ bên ngoài

Đó là tất cả các yếu tố không thuộc hệ thống nhưng tác động lên hoặc chịu sự tác động của hệ thống đó Các yếu tố này có thể đem lại cơ hội cũng như

đe dọa đối với quá trình của hệ thống Nó bao gồm: Môi trường kinh tế, môi trường chính trị- pháp luật; môi trường xã hội; môi trường công nghệ; môi trường quốc tế; QLNN đối với hoạt động KĐCLGDNN tại các trường dạy nghề cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố bên ngoài như vậy

Trong bối cảnh của toàn cầu hóa, việc hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra phải nâng cao, đánh giá và kiểm soát chất lượng nói chung và chất lượng giáo dục dạy nghề nói riêng KĐCLGDNN mở ra cơ hội để thúc đẩy hợp tác, thông qua

đó các quốc gia đang phát triển, trong QLNN đối với hoạt động KĐCLGDNNcó thể tiếp cận các kỹ năng, phương pháp đánh giá mới, nâng cao chất lượng tương xứng với giáo dục dạy nghề trong khu vực và trên thế giới

Trang 39

31

Những yếu tố khách quan trên đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những nỗ lực trong QLNN về tạo lập chính sách, biện pháp có hiệu quả đối với hoạt động KĐCLGDNN nhằm tăng cường nhận thức, năng lực, chất lượng đào tạo song song với phát triển kinh tế nhằm tăng cường nguồn nhân lực, lao động có chất lượng trong nền kinh tế và vị thế quốc gia trên thị trường quốc tế

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng từ bên trong

Môi trường bên trong hệ thống là tất cả các yếu tố thuộc về hệ thống, có ảnh hưởng tới sự vận hành của hệ thống đó Phân tích môi trường bên trong giúp nhà quản lý nhận biết được các điểm mạnh, yếu của hệ thống để có thể trả lời các cơ hội

và đe dọa từ môi trường bên ngoài Môi trường bên trong gồm các yếu tố cơ bản như: nguồn nhân lực, tài chính, cơ cấu tổ chức, tính khả thi của cơ chế, chính sách liên quan,

QLNN đối với hoạt động KĐCLGDNN đạt được hiệu lực, hiệu quả cao hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố bên trong, cụ thể:

- Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động KĐCLGDNN và sự phối hợp giữa các

cơ quan liên quan có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả QLNN Chức năng, nhiệm vụ của các Bộ ngành liên quan tới hoạt động KĐCLGDNN được phân định rõ và có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan quản lý và các đơn vị, cơ quan thực hiện thì việc quản

lý, vận hành hoạt động KĐCL sẽ đạt được hiệu quả cao Ngoài ra, sự lãnh đạo của các nhà quản lý đặc biệt đội ngũ cán bộ làm việc có chất lượng, hiểu biết chuyên sâu về hoạt động KĐCLGDNN, trình độ chuyên môn đảm bảo điều kiện có thể tiếp thu kiến thức QLNN để áp dụng vào thực tế Năng lực và trình độ hiểu biết

về KĐCLGDNN của cán bộ tham gia quản lý và thực hiện hoạt động nhất là đối với những người liên quan đến xây dựng cơ chế, chính sách quản lý điều hành, hướng dẫn thực hiện có ảnh hưởng rất lớn đối với nhiệm vụ QLNN đối với hoạt động KĐCLGDNN

- Cơ cấu tổ chức: cơ cấu tổ chức phải hỗ trợ và tạo điều kiện dễ dàng cho việc thực hiện các chiến lược Cơ cấu của một tổ chức cần được thiết kế để thích nghi tốt với sự thay đổi Cơ cấu linh hoạt, không cứng nhắc là tốt nhất khi tổ chức

Trang 40

- Yếu tố tài chính: là yếu tố QĐ đảm bảo yêu cầu hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của tổ chức Nguồn tài chính cho hoạt động có thể huy động từ ngân sách trung ương, địa phương, các thành phần kinh tế khác và từ vận động tài trợ qua các dự án quốc tế

- Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực của một tổ chức liên quan đến số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ làm việc, phối hợp trong tổ chức đó Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào việc đào tạo, duy trì, sử dụng, tạo động lực làm việc cho nhân viên trong suốt quá trình hoạt động của tổ chức

Ngày đăng: 06/03/2018, 18:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w