1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)

157 346 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

DƯƠNG THỊ HOÀI

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN MINH HÓA,

TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

DƯƠNG THỊ HOÀI

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN MINH HÓA,

T.S NGUYỄN HOÀNG HIỂN

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017

Trang 3

LỜ I CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn không trùng lắp với các công trình có liên quan đã công bố Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện Hành chính Quốc gia

Vậy, tôi viết bản cam đoan này đề nghị Học viện Hành chính Quốc gia xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Dương Thị Hoài

Trang 4

Lời Cảm Ơn

Với lòng kính trọng và sự tri ân sâu sắc, trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, Cô Học viện Hành chính Quốc gia đã trang bị cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Giảng viên T.S Nguyễn Hoàng Hiển đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm giúp đỡ, chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tế để giúp tôi có thể hoàn thành nghiên cứu này

Trân trọng!

Thừa Thiên Huế, tháng năm 2017

Học viên

Dương Thị Hoài

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 8

1.1.Tổng quan về xây dựng nông thôn mới 8

1.1.1 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới 9

1.1.2 Mục đích của xây dựng nông thôn mới: 11

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới xây dựng nông thôn mới 12

1.1.4 Tiêu chí xác định chuẩn về nông thôn mới .18

1.1.5 Vai trò của chương trình xây dựng nông thôn mới đối với sự phát triển kinh tế xã hội .25

1.2 Quản lý nhà nước về chương trình xây dựng nông thôn mới .26

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về chương trình xây dựng nông thôn mới .26

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về chương trình xây dựng nông thôn mới 28

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương .42

1.3.1 Kinh nghiệm về quản lý nhà nước về chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Bố trạch .42

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Quảng Ninh .45

Trang 6

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Minh Hóa: 49

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH 52

2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tác động xây dựng nông thôn mới ở Huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình .52

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên .52

2.1.2 Đặc điểm xã hội .54

2.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở các xã trên địa bàn huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình .57

2.2.1 Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2016 57

2.2.2 Những thành tựu đạt được .64

2.2.3 Những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới .66

2.3 Thực trạng quản lý nhà nước về chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình .71

2.3.1 Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về chương trình xây dựng nông thôn mới .71

2.3.2 Điểm mạnh cần phát huy .81

2.3.3 Hạn chế cần khắc phục .82

2.3.4 Nguyên nhân của những hạn chế: 84

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH 87

3.1 Định hướng chung 87

3.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước: 87

Trang 7

3.1.2 Phương hướng hoàn thiện năng lực quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình 89

3.2 Các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về chương trình xây dựng nông thôn mới cho các xã ở địa bàn huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình .93

3.2.1 Nhóm giải pháp về hoàn thiện cơ chế chính sách về chương trình xây dựng nông thôn mới .93 3.2.2 Nhóm giải pháp đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng cán bộ phụ trách xây dựng nông thôn mới 97 3.2.3 Nhóm giải pháp tuyên truyền và phối hợp tuyên truyền trong thực hiện xây dựng nông thôn mới .100 3.2.4 Nhóm giải pháp phân bổ và huy động nguồn lực, thu hút đầu tư đầu tư cho xây dựng nông thôn mới ở các xã trên địa bàn huyện .102 3.2.5 Nhóm giải pháp thúc đẩy dân chủ ở cơ sở trong thực hiện xây dựng nông thôn mới .104 3.2.6 Nhóm giải pháp hoàn thiện quy hoạch và quản lý theo quy hoạch trong thực hiện nông thôn mới .105 3.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát công tác thực hiện các đề

án, dự án thực hiện xây dựng nông thôn mới .107

3.3 Kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới .109

KẾT LUẬN 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1.Kết quả xây dựng nông thôn mới theo 19 tiêu chí 63

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành trung ương khóa X, Đảng ta đã khẳng định: “Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm

vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội” Quyết tâm của toàn Đảng và toàn dân về sự nghiệp phát triển nông thôn lại được khẳng định tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng năm 2011, đó là: “Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân” Nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới trở thành vấn đề cấp thiết với tất cả các địa phương kể từ khi Nghị quyết số 26-NQ/TW Ngày 5 tháng 8 năm

2008 ra đời, nghị quyết đã nêu một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong thời đại mới là phải xây dựng nông thôn mới Chủ trương xây dựng nông thôn mới được triển khai trên diện rộng ở tất cả các tỉnh thành cả nước, Hướng đến mục tiêu là hiện đại hóa ngành nông nghiệp, thay đổi cuộc sống của người nông dân và diện mạo của các vùng nông thôn Bởi vậy xây dựng nông thôn mới là một chủ trương hết sức có ý nghĩa và có tầm quan trọng đối với Việt Nam để có thể thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn phát triển mới Đối với huyện miền núi Minh Hóa của tỉnh Quảng Bình, là một trong 62 huyện nghèo của cả nước đang thụ hưởng chương trình 30a của chính phủ, chủ trương xây dựng nông thôn mới đem lại nhiều sự kỳ vọng để phát triển, hiện đại hóa nền nông nghiệp, nông thôn và thay đổi cuộc sống của người nông dân trên địa bàn huyện Vì thế chất lượng, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới hết sức quan trọng tác động đến sự thành bại của chương trình xây dựng nông thôn mới của huyện nhà

Trang 11

Minh Hóa là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Bình, là một trong 62 huyện nghèo nhất của cả nước (Theo Nghị quyết 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của chính phủ) Toàn huyện có 15 xã và 1 thị trấn với diện tích tự nhiên là 1.410 km2 Dân số trên 49.000 người, trong đó, dân số ở độ tuổi lao động trên 27.000 người Minh Hoá có dân tộc Kinh chiếm đa số và các dân tộc ít người Bru - Vân Kiều, Chứt với 6.500 người, tập trung ở các xã biên giới (Dân Hoá, Trọng Hoá, Thượng Hoá và Hoá Sơn)

Do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nên cơ sở vật chất hạ tầng kinh tế - xã hội cũng như đời sống của nhân dân còn rất nhiều thiếu thốn khó khăn Các xã trên địa bàn huyện đều là xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, có điều kiện kinh

tế nghèo nàn, kỷ thuật sản xuất còn thấp và lạc hậu, chưa được quy hoạch tổng thể, hệ thống cơ sở hạ tầng chưa được hoàn thiện, mặt bằng kinh tế xã hội còn hết sức khó khăn Cũng bởi những đặc trưng đó, mà xây dựng nông thôn mới được triển khai đem lại niềm hi vọng về diện mạo mới cho bộ mặt nông thôn nơi đây Chương trình nông thôn mới được triển khai rộng rãi trên địa bàn 15 xã của huyện Minh Hóa từ năm 2011 Tuy nhiên cho đến nay, những kết quả đạt được từ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của huyện, cả huyện đến cuối năm 2016 thì chỉ có 01 xã đạt chuẩn nông thôn mới đó là xã Quy Hóa Quá trình triển khai thực hiện còn gặp nhiều khó khăn , chậm trể, một số xã chưa thực sự tập trung thực hiện chương trình, công tác chỉ đạo thực hiện chương trình còn chưa quyết liệt, phần đa các xã số tiêu chí đạt được còn thấp, đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện còn yếu về năng lực chuyên môn, chưa phát huy hết vai trò trách nhiệm của mình Hiệu lực hiệu quả công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới vì thế còn chưa cao, còn nhiều tồn tại hạn chế

Trang 12

Với những lý do trên tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về xây dựng

nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình” để làm đề tài luận văn

nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Chủ đề xây dựng nông thôn mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một chủ đề không còn mới đối với các nước trên thế giới Ở nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về lĩnh vực này Trong đó có một số công trình nghiên cứu được biết đến như:

“Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển” của tác giả Frans

Ellits do nhà xuất bản nông nghiệp ấn hành năm 1994

Tác giả Benedict J.tria Kerrkvliet, Jamesscott có công trình “ Một số vấn

đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước và Việt Nam” Do tác giả

Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu, nhà xuất bản Hà Nội ấn hành năm 2000

Ở Việt Nam chủ đề nghiên cứu về phát triển nông nghiệp, nông thôn không còn mới mẻ Tuy nhiên cụm từ “xây dựng nông thôn mới” chỉ được quan tâm và nhắc đến nhiều trên các phương tiện truyền thôn kể từ khi Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã nêu một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới ra đời

Có thể kể đến chuyên đề “ Quản lý nhà nước về nông thôn” của PGS TS Phạm Kim Giao

GS TS Hoàng Ngọc Hòa có tác phẩm“ nông nghiệp, nông dân và nông

thôn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta” của,

nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nôi, 2008

Chủ đề xây dựng nông thôn mới cũng được rất nhiều học viên, sinh viên chọn làm chủ đề nghiên cứu khóa luận, luận văn thạc sỹ Điển hình như công trình nghiên cứu của: Huỳnh Trần Huy (2010), Quản lý nhà nước về xây dựng

Trang 13

nông thôn mới – Từ thực tiễn huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh, luận văn thạc sỹ học viện hành chính; Luận văn của Ngô Thị Vân Anh cao học quản lý công khóa 17 làm về chủ đề “ Vai trò của Chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới”; Đinh Viêt Dũng có luận văn “ Quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình; hay luận văn của tác giả Lê Thị Bích Thuận làm về chủ đề “ Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng;

Qua hơn nữa chặng đường triển khai chương trình nông thôn mới trên địa bàn cả nước, chủ đề liên quan đến quản lý nhà nước về chương trình nông thôn mới đến nay không còn mới mẻ, đã có nhiều tác giả đi trước khai sáng chọn chủ đề này để làm đề tài nghiên cứu làm luận văn của Mình Tuy nhiên

để có một công trình nghiên cứu cụ thể, toàn diện và sâu sắc, phản ánh được thực trạng của công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở địa bàn huyện Minh Hóa - tỉnh Quảng Bình thì chưa có công trình nghiên cứu nào, qua luận văn lần này tác giả muốn có một công trình nghiên cứu tổng quan về thực trạng công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở địa bàn huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình và qua đó đưa ra được những giải pháp để hoàn thiện năng lực quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới cho hệ thống chính quyền cơ sở trên địa bàn huyện

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích:

Luận văn này được viết nhằm các mục đích sau:

- Đánh giá thực trạng năng lực quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới của các xã trên địa bàn huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình Từ đó, phân tích những mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý nhà nước về chương trình xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn 5 năm (2011 -2016)

Trang 14

- Đề xuất các giải pháp khả thi phù hợp với yêu cầu thực tiễn địa phương nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước và trách nhiệm của chính quyền ở huyện Minh Hóa trong công tác quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020

- Đề xuất các giải pháp khả thi phù hợp với khả năng và điều kiện, đặc thù của huyện Minh Hóa, nhằm hoàn thiện năng lực quản lý nhà nước về chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu:

Là các hoạt động quản lý nhà nước về chương trình xây dựng nông thôn mới ở địa bàn huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

- Phạm vi nghiên cứu:

- Giới hạn về thời gian:

Đề tài nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011 – 2016

- Giới hạn về không gian:

Tác giả chỉ nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới của 15 xã trên địa bàn huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

- Giới hạn về khách thể nghiên cứu:

Trang 15

Luận văn chỉ nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2016 ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận:

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nông thôn mới, vận dụng lý thuyết khoa học quản lý nhà nước về các chương trình mục tiêu quốc gia để nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh…) để làm rõ vấn đề

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về lý luận

Luận văn khái quát một cách có hệ thống cơ sở lý luận quản lý nhà nước

về xây dựng nông thôn mới, đưa ra một số đánh giá về năng lực quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới của chính quyền huyện Minh Hóa

- Về thực tiễn

Dựa trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng kết quả về xây dựng nông thôn mới trong những năm vừa qua của các xã ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình Qua đó chỉ rõ những mặt tồn tại hạn chế và mặt ưu điểm trong quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới Hướng tới đề xuất những giải pháp có tính khả thi, phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới cho hệ thống chính quyền ở huyện Minh Hóa trong những năm tiếp theo

Các giải pháp của luận văn sẽ góp phần giúp chính quyền các xã ở huyện Minh Hóa hoàn thiện năng lực quản lý nhà nước của mình về xây

Trang 16

dựng nông thôn mới Hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới Góp phần đẩy nhanh tốc độ hoàn thành các mục tiêu xây dựng nông thôn mới đúng hạn

Làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên Học viện Hành chính những khóa sau và những ai quan tâm đến đề tài này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn

mới

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông

thôn mới ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện chất

lượng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

Trang 17

Chương 1:

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1.Tổng quan về xây dựng nông thôn mới

Khái niệm về nông thôn mới được các nhà nghiên cứu ở nước ta tiếp cận

từ nhiều gốc độ: Tác giả Vũ Trọng Khải trong cuốn sách phát triển nông thôn Việt Nam: “Từ làng xã truyền thống đến văn minh thời đại”: cho rằng, “Nông thôn mới là nông thôn văn minh thời đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của Việt Nam”

Tác giả Tô Văn Trường định nghĩa: “ Nông thôn mới là nông thôn phải giữ được tính truyền thống, những nét đặc trưng nhất, bản sắc từng vùng, từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng, mức sống của người dân

Mô hình nông thôn tiên tiến phải được dựa trên nền tảng cơ bản là nông dân

có tri thức Họ phải có trình độ khoa học về thổ nhưỡng, giống cây trồng, hóa học phân bón và thuốc trừ sâu, quản lý dịch bệnh, bảo quản thu hoạch, kinh tế nông nghiệp …”

Theo quan niệm của Đảng và nhà nước ta trong chủ trương, chính sách

về xây dựng nông thôn mới thì khái niệm “nông thôn mới” được hiểu là: Nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Nông thôn mới là nông thôn có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ

sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị

và trật tự xã hội

Trang 18

Như vậy, ở Việt Nam nhìn chung đều thống nhất, đồng tình với khái niệm nông thôn mới là nông thôn được xây dựng và phát triển ở một mức độ cao hơn nông thôn truyền thống về cả mặt đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân Cơ sở hạ tầng, kiến thức thượng tầng của nông thôn được quy hoạch, cải thiện, phát triển văn minh Có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, sức mạnh của hệ thống chính trị cơ sở được phát huy Đáp ứng được yêu cầu phát triển chung của thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, thời kỳ đổi mới đất nước

1.1.1 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được một số thành tựu khá toàn diện và to lớn Như nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp dịch vụ ngành nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội được tăng cường; bộ mặt nhiều vùng nông thôn thay đổi Đời sống vật chất và tinh thần của nông dân ngày càng được cải thiện Công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt kết quả to lớn

Hệ thống chính trị ở nông thôn được cũng cố và tăng cường Dân chủ cơ sở được phát huy An ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được giữ vững Vị thế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao

Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu chuyển giao khoa học công nghệ và đào tạo nguồn lực còn hạn chế

Trang 19

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hóa

Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu kinh tế hạ tầng còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng và đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc

Những hạn chế yếu kém trên là do nhận thức về vị trí nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập so với thực tiễn chưa hình thành một cách có hệ thống lý luận về phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn; cơ chế, chính sách phát triển lĩnh vực này còn thiếu đồng bộ, thiếu tính đột phá; Một số chủ trương chính sách không hợp lý, thiếu tính khả thi nhưng chậm được điều chỉnh, bổ sung kịp thời, đầu tư ngân sách nhà nước và các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông dân và nông thôn còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; tổ chức chỉ đạo thực hiện và công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, yếu kém; vai trò của cấp ủy, chính quyền, mặt trận, đoàn thể quần chúng nhân dân trong việc triển khai các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về nông nghiệp, nông dân và nông thôn còn nhiều nơi hạn chế Vì những lý do trên Đảng ta việc đề ra chủ trương, chính sách xây dựng nông thôn mới là hết sức cần thiết để kéo gần khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn; khắc phục những yếu kém tồn tại đang diễn ra trong quá trình phát triển nông nghiệp nông dân và nông thôn ở nước

ta hiện nay Phát huy tiềm năng, lợi thế và có sự đầu tư tương xứng đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn ở nước ta hiện nay

Trang 20

1.1.2 Mục đích của xây dựng nông thôn mới:

Xây dựng nông thôn mới nhằm mục đích hiện đại hóa nông nghiệp, xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại hóa, cơ giới hóa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường sản xuất hàng hóa trong thời đại mới

Thúc đẩy công nghiệp hóa khu vực nông thôn để kéo gần khoảng cách phát triển về kinh tế - văn hóa – xã hội giữa khu vực thành thị và nông thôn ở nước ta hiện nay và phục vụ nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Mục đích quan trọng nhất của xây dựng nông thôn mới là phục vụ nhân dân, nâng cao chất lượng đời sống của đại bộ phận tầng lớp nông dân sống ở nông thôn chiếm 70% dân số cả nước Trong thời kỳ đổi mới, yêu cầu về chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng cao, không chỉ là vật chất, tinh thần, mà quan trọng hơn hết là người dân còn cần được tôn trọng trong các mối quan hệ hàng ngày Xây dựng nông thôn mới không chỉ là con đường mới, cây cầu mới, mà là sự thông thương hàng hóa, nông sản; không chỉ là trường học mới, mà là chất lượng dạy và học, là không để học sinh không được đến trường vì hoàn cảnh gia đình khó khăn; không chỉ là trạm y tế mới

mà là thái độ phục vụ của người thầy thuốc, là môi trường an toàn dịch bệnh; không chỉ là nhà văn hóa mới mà là hoạt động văn hóa, học tập, sinh hoạt của cộng đồng dân cư; không chỉ là ngôi nhà kiên cố mới mà là gia đình thuận hòa, ấm no, hạnh phúc Và nhất là không phải là trụ sở làm việc mới với các phương tiện hiện đại, mà chính là thái độ phục vụ mới, lề lối làm việc mới của

cả hệ thống chính trị cấp xã, cấp gần dân nhất

Như vậy mục đích của xây dựng nông thôn mới là phát triển nông thôn, hiện đại hóa nền nông nghiệp, phục vụ đời sống của nông dân về mọi mặt

Trang 21

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới xây dựng nông thôn mới

1.1.3.1 Yếu tố khách quan

+ Điều kiện tự nhiên: là một trong những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới Xét về mặt cơ cấu, hoạt động nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn Bên cạnh đó hoạt động sản xuất nông nghiệp ở nước ta luôn luôn phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nước, không khí do đó những biến đổi trong điều kiện tự nhiên luôn gây

ra những ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của

cư dân nông thôn

Yếu tố biến đổi khí hậu tác động không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp

ở nông thôn, hạn hán, bão lũ, triều cường, gây mất mùa, hư hỏng các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn Tác động không nhỏ đến đời sống của cư dân nông thôn, phá hoại và làm ngưng trệ mùa màng Chi phí phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và chi phí sản xuất tăng cao, lợi nhuận đầu tư giảm

Gây ảnh hưởng đến việc sử dụng đất nông nghiệp bỏ mất diện tích đất nông nghiệp do nước biển dâng ở hạ nguồn, sạt lỡ đất ở thượng nguồn Khí hậu ngày càng nóng lên, thay đổi thời tiết, thay đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng Một số loại cây nông nghiệp thế mạnh bị tác động bởi thời tiết có thể bị triệt tiêu vì hệ sinh thái thay đổi Đất đai sản xuất phân tán, bạc màu làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình cơ giới hóa nền sản xuất nông nghiệp ở nước

ta, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất hàng hóa với quy mô lớn

Nguồn nước bị cạn kiệt và giảm chất lượng gây ra nhiều vấn nạn cho các vùng nông thôn đặc biệt là trong những mùa hạn hán, tình trạng thiếu nước sản xuất, thiếu nước sinh hoạt Biến đổi khí hậu gây nhiều khó khăn cho công tác thủy lợi, nguồn nước ngọt bị giảm sút, khả năng tiêu thoát nước ra

Trang 22

biển khó khăn Các cơn lũ ngày càng lớn, kéo dài ảnh hưởng đến nền sản xuất nông nghiệp Muốn xây dựng nông thôn mới theo 19 tiêu chí thì vấn đề biến đổi khí hậu là yếu tố khách quan cần phải được quan tâm, có phương hướng

dự đoán trước những diễn biến tiêu cực của tự nhiên để có phương án thích hợp trong quá trình triển khai chương trình có hiệu quả

1.1.3.2 Yếu tố chủ quan .

+ Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là một quá trình tất yếu trong quá trình phát triển chung của đất nước Việt Nam là một nước nông nghiệp, phần đông dân số sinh sống ở nông thôn Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là một mũi nhọn đột phá quan trọng nhằm giải phóng sức lao động cho nông dân, nâng cao năng suất lao động, khai thác và phát huy hết tiềm năng dồi dào về nguồn lao động, tiềm năng đất đai ở nông thôn

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn có tầm quan trọng đặc biệt đối với phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống của nông dân Đó là con đường tất yếu phải tiến hành đối với bất

cứ nước nào, nhất là nước ta có điểm xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, muốn xây dựng nền kinh tế phát triển hiện đại

Nước ta là nước đông dân cư sống ở nông thôn, với gần 70% dân số sống

ở nông thôn, hơn 47% lao động làm nông nghiệp; tốc độ tăng dân số ở nông thôn hiện vẫn cao; ruộng đất bình quân đầu người thấp và có xu hướng giảm

do quá trình đô thị hóa, mở rộng xây dựng kết cấu hạ tầng; trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, kỹ thuật thủ công là chủ yếu

Nông nghiệp, nông thôn góp một phần quan trọng trong quá trình tích lũy vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là khu vực kinh tế - xã hội có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng, liên quan đến việc giải quyết những vấn đề đời

Trang 23

sống cơ bản của đại đa số dân cư, như tạo việc làm cho lao động dư thừa ở nông thôn, tăng thu nhập cho nông dân, tăng sức mua của thị trường nông thôn, tăng tỷ trọng trong GDP và tăng đóng góp vào ngân sách nhà nước Nông thôn là nguồn cung cấp nhân lực chủ yếu để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển công nghiệp, dịch vụ đồng thời cũng là quá trình chuyển lao động

từ ngành nông nghiệp sang ngành công nghiệp và dịch vụ theo hướng lao động công nghiệp, dịch vụ tăng tuyệt đối và tương đối, còn lao động nông nghiệp giảm tuyệt đối và tương đối

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng khoa học, công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, việc nâng cao chất lượng sản phẩm đủ sức cạnh tranh hàng hóa với các nước là rất cần thiết Nhà nước có chính sách hỗ trợ nông dân bằng hình thức phù hợp với quy định của tổ chức thương mại thế giới WTO như xây dựng kết cấu hạ tầng và đề án phát triển đa dạng ngành nghề cho lao động nông thôn tạo việc làm phi nông nghiệp, tăng thời gian lao động

và cơ cấu lại nguồn lao động ở nông thôn, phát huy vai trò của các tổ chức nghề nghiệp trong bảo vệ quyền lợi của nhân dân

Nhìn chung quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ảnh hưởng thể hiện rõ nét trên nhiều khía cạnh Một là làm thay đổi, biến dạng và chia nhỏ các đơn vị sản xuất nông nghiệp, các ngành công nghiệp khởi động và nhanh chóng chiếm chỗ các dư địa của sản xuất nông nghiệp, tỷ trọng của ngành nông nghiệp sẽ giảm sút, ngày càng nhỏ

đi một cách tương đối

Sự phi nông nghiệp ngày càng tăng lên Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sự phát triển của ngành nông nghiệp và dịch vụ đã thu hút một lượng lớn lao động nông thôn

Trang 24

Ba là quá trình đô thị hóa với tốc độ nhanh chóng đã làm thay đổi diện mạo nông thôn Đời sống người dân ở các vùng nông thôn như vùng sâu vùng

xa, biên giới hải đảo đã có nhiều thay đổi Cơ sở hạ tầng nông thôn được đầu

tư phát triển, các hạng mục điện, đường, trường trạm, chợ, thủy lợi, giao thông nông thôn được cũng cố và tăng cường Bên cạnh đó nhiều vấn đề kinh tế xã hội, văn hóa nảy sinh nhiều vấn đề để phù hợp với thời kỳ phát triển Đòi hỏi Đảng và nhà nước phải có những chính sách và cơ chế tác động phù hợp để bảo vệ, phát huy những yếu tố tốt đẹp và điều chỉnh cho nền kinh

tế, văn hóa và xã hội đi đúng hướng

+ Chính sách của Đảng, nhà nước đối với vấn đề nông nghiệp nông thôn

Tổng kết kinh nghiệm phát triển của nhiều nước và thực tiễn phát triển của Việt Nam cho thấy để có thể thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn cần phải có những chính sách đúng đắn về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Chính sách là nhân tố chủ đạo bảo đảm sự thắng lợi trong quá trình phát triển Nó gắn với tư duy lãnh đạo và

sự nhạy bén trong nắm bắt những thay đổi về xu hướng phát triển nền kinh tế trong nước và toàn cầu Thực tiễn cho thấy, nhiều chính sách đúng đắn, chủ trương đúng đắn sẽ đem lại những thành tựu to lớn cho quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn Những chính sách sai lầm, chưa theo kịp thực tiễn và

sự phát triển của xã hội đem lại những hậu quả nghiêm trọng như chính sách bao cấp kinh tế kéo dài đó là những bài học lịch sử trong ban hành và triển khai thực hiện các chính sách của nhà nước đối với nền kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng Tác động của chính sách với nhiều yếu tố khác nhau đã đưa nông nghiệp nông thôn Việt Nam trải qua nhiều bước phát triển khác nhau Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thiếu lương thực trở thành một nước có nhiều sản phẩm nông sản xuất khẩu đứng tốp đầu của thế giới, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc

Trang 25

Trong 30 năm đổi mới, Đảng ta luôn coi “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã khẳng định

Những năm qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

đã có những bước tiến quan trọng Bộ mặt nông thôn thay đổi, nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững, hệ thống chính trị cơ sở khu vực nông thôn từng bước được củng cố

Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ 3%/năm, theo hướng sản xuất hàng hóa; năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp không ngừng nâng cao; bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia; một số mặt hàng nông sản xuất khẩu, như gạo, cà-phê, cao-su chiếm vị trí cao trên thị trường thế giới Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành, nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục được đổi mới Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được củng cố; diện mạo nhiều vùng nông thôn có thay đổi quan trọng Đời sống vật chất và tinh thần của dân

cư ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả to lớn, được cộng đồng thế giới đánh giá cao Dân chủ

ở cơ sở được phát huy An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững Đây là tiền đề quan trọng để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia

về xây dựng nông thôn mới

Như vậy, chính sách phát triển nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng , bởi mỗi thành tựu đạt được trong nông nghiệp đều tác động đến sản xuất, đời sống của cư dân nông thôn và tác động sâu sắc đến xây dựng nông thôn mới

+ Đặc điểm tâm lý văn hóa:

Trong quá trình vận động và phát triển của mỗi dân tộc trên thế giới, các dân tộc đều có truyền thống văn hoá đặc trưng của mình được hình thành qua

Trang 26

lịch sử hàng nghìn năm sinh sống lao động và sản xuất Văn hoá là sản phẩm của con người và tự nhiên, nên mọi sự khác biệt trong truyền thống văn hoá không chỉ tồn tại giữa dân tộc với dân tộc mà còn ở ngay trong chính nội tại các quốc gia, giữa các vùng miền, do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và xã hội quy định Trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế giữa các vùng miền là một tất yếu và như vậy sẽ dẫn đến sự "va chạm" giữa các yếu tố tâm lý văn hoá khác nhau Trong đó, những đặc điểm tâm lý

"cốt lõi" tạo nên sự thuận lợi hoặc cản trở trong quá trình phát triển các mặt kinh tế - văn hóa- xã hội nông thôn Trong xây dựng nông thôn mới muốn thực hiện thành công, hiệu quả và phù hợp thì yếu tố tâm lý văn hóa dân tộc hết sức quan trọng Đặc biệt, đối với các vùng nông thôn Việt Nam thì yếu tố tâm lý văn hóa làng xã đã ăn sâu vào trong tiềm thức người nông dân Họ sống phụ thuộc vào thiên nhiên, sống quanh luỹ tre làng Xây dựng nông thôn mới nếu như không quan tâm đến yếu tố tâm lý văn hóa sẽ làm mất đi bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp, gây xáo trộn và xung đột các giá trị văn hóa Tạo ra những rào cản cho quá trình triển khai xây dựng nông thôn mới

Như vậy, để thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quá trình xây dựng nông thôn mới cùng với những nhiệm

vụ chính trị khác, chúng ta cần quan tâm tới sự tác động của yếu tố tâm lý văn hóa truyền thống, văn hóa vùng miền Lấy yếu tố tâm lý văn hóa truyền thống để làm lực đẩy trong quá trình xây dựng nông thôn mới một cách bền vững

+ Chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở

Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “ Cán bộ là cái gốc của mọi công

việc” mọi chủ trương, chính sách nói chung và chính sách về nông nghiệp,

nông dân và nông thôn nói riêng dù có đúng đắn đến đâu thì khả năng hiện thực hóa của chúng suy cho cùng phụ thuộc vào yếu tố con người thực thi

Trang 27

Trong đó đội ngũ cán bộ ở cơ sở đóng vai trò quyết định yếu tố thành bại của quá trình thể chế hóa chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước đến nhân dân Đội ngũ cán bộ ở cơ sở vừa là người xây dựng, triển khai thực hiện, là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân Đối với các địa phương có đội ngũ cán bộ cơ sở là người có trình độ, năng lực, có kinh nghiệm thực tiễn, có tâm thì khả năng triển khai chương trình thành công sẽ cao hơn và ngược lại

Vì thế, triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới ở các địa phương nhanh hay chậm, thành công hay thất bại phụ thuộc rất nhiều vào sự linh hoạt, nhạy bén và năng lực của đội ngũ cán bộ trong việc triển khai, tuyên truyền, vận động nhân dân, huy động các nguồn lực thực hiện và quản lý quy hoạch nông thôn mới

1.1.4 Tiêu chí xác định chuẩn về nông thôn mới

Theo quyết định số: 491/QĐ – TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng chính phủ ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015 thì tiêu chí xác định chuẩn về nông thôn mới cần đạt được 19 tiêu chí sau:

Tiêu chí 1: là tiêu chí quy hoạch và thực hiện quy hoạch: Tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội và môi trường theo chuẩn mới Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn các bản sắc văn hóa tốt đẹp Tiêu chí 2: Tiêu chí giao thông: tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm tỷ lệ đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp

kỷ thuật của bộ giao thông vận tải 100% Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỷ thuật của bộ giao thông vận tải 70%; Tỷ lệ km đường ngõ xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa 100%

Trang 28

Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện đạt 65%

Tiêu chí 3: thủy lợi: tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm: Hệ thống thủy lợi

cơ bản đáp ứng được yêu cầu cơ bản của sản xuất và dân sinh Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa đạt 65%

Tiêu chí 4: Điện: tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm: Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỷ thuật của ngành điện; Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn từ các nguồn đạt 98%

Tiêu chí 5: trường học: tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm: tỷ lệ trường học các cấp mầm non, tiểu học, trung học cơ sở có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia 80%

Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hóa: tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm: Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của bộ văn hóa, thể thao và du lịch Tỷ

lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt chuẩn của bộ văn hóa, thể thao và du lịch đạt 100%

Tiêu chí 7: Chợ nông thôn: tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm: Chợ đạt chuẩn của bộ xây dựng

Tiêu chí 8: Bưu điện: tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm: có điểm phục vụ bưu chính viễn thông Có internet đến thôn

Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư: tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm: Không có nhà tạm, dột nát Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn của bộ xây dựng 80% Tiêu chí 10: Thu nhập tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm: Thu nhập bình quân đầu người trên năm so với mức bình quân chung của tỉnh 1,4 lần

Tiêu chí 11: Hộ nghèo: tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm: tỷ lệ hộ nghèo <6% Tiêu chí 12: Cơ cấu lao động: tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm: Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp <30%

Trang 29

Tiêu chí 13: Hình thức tổ chức sản xuất: tiêu chuẩn cần phải đạt: có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả

Tiêu chí 14: Giáo dục: tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm: đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (trung học phổ thông, Bổ túc, học nghề) 85%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo > 35%

Tiêu chí 15: Y tế: Tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm: Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế 30% Y tế xã đạt chuẩn quốc gia

Tiêu chí 16: Văn hóa tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm: xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy định của bộ văn hóa, thể thao và du lịch

Tiêu chí 17: Môi trường: tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm: Tỷ lệ hộ được

sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn quốc gia 85% Các cơ sở sản xuất kinh doanh dạt tiêu chuẩn về môi trường Không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh sạch đẹp Chất thải nước thải được thu gom và xử lý theo quy định

Tiêu chí 18: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh: tiêu chuẩn cần đạt bao gồm: Cán bộ xã đạt chuẩn Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị

cơ sở theo quy định Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đạt danh hiệu tiên tiến trở lên Tiêu chí 19: An ninh trật tự xã hội: tiêu chuẩn cần phải đạt bao gồm: An ninh trật tự xã hội được giữ vững

Trong bối cảnh hiện nay, đất nước ta vừa kết thúc giai đoạn 5 năm đầu triển khai xây dựng nông thôn mới Tiếp tục chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 -2020, Các tiêu chí xác định chuẩn về xã đạt nông thôn mới được sửa đổi cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội mới của đất nước, sự phát triển của nông nghiệp, nông dân, nông thôn Giai

Trang 30

đoạn 2016 – 2020 tiêu chí xác định tiêu chuẩn nông thôn mới này được thay thế theo Quyết định số: 1980/QĐ – TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 để phù hợp với điều kiện hoàn cảnh phát triển trong tình hình mới của đất nước

Nhìn chung 19 tiêu chí theo quyết định 1980/QĐ – TTg ngày 17/10/2016

có nhiều thay đổi để phù hợp với tình hình mới, đặc điểm, hoàn cảnh của từng địa phương Một số tiêu chí thay đổi tên gọi, một số tiêu chí bổ sung các chỉ tiêu đầy đủ và bám sát yêu cầu thực tiễn trong tình hình phát triển mới hơn, theo bộ tiêu chí này thì:

1 Tiêu chí Quy hoạch thay đổi các chỉ tiêu thành: Có quy hoạch chung xây dựng xã được phê duyệt và được công bố công khai đúng thời hạn, Ban hành quy định quản lý quy hoạch chung xây dựng xã và tổ chức thực hiện theo quy hoạch;

2 Tiêu chí Giao thông: thay đổi các chỉ tiêu thành: Đường xã và đường

từ trung tâm xã đến đường huyện được nhựa hóa hoặc bê tông hóa, đảm bảo ô

tô đi lại thuận tiện quanh năm; Đường trục thôn, bản, ấp và đường liên thôn, bản, ấp ít nhất được cứng hóa, đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm; Đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa; Đường trục chính nội đồng đảm bảo vận chuyển hàng hóa thuận tiện quanh năm Tiêu chí giao thông được giao cho UBND cấp tỉnh quy định cụ thể để phù hợp với quy hoạch, điều kiện thực tế, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo tính kết nối của hệ thống giao thông trên địa bàn;

3 Tiêu chí Thủy Lợi thay đổi các chỉ tiêu thành: Tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới và tiêu nước chủ động đạt từ 80%; Đảm bảo đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu dân sinh và theo quy định về phòng chống thiên tai tại chỗ; Tiêu chí thủy lợi được giao cho UBND cấp tỉnh quy

Trang 31

định cụ thể theo hướng đảm bảo mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp, thích ứng với biến đổi khí hậu và hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hóa phát triển bền vững

4 Tiêu chí Điện:Hệ thống điện đạt chuẩn, Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn >= 98%;

5 Tiêu chí Trường học: Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở có cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đạt chuẩn quốc gia >= 80%;

6 Tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa: Xã có nhà văn hóa hoặc hội trường

đa năng và sân thể thao phục vụ sinh hoạt văn hóa, thể thao của toàn xã; Xã

có điểm vui chơi, giải trí và thể thao cho trẻ em và người cao tuổi theo quy định; Hai chỉ tiêu này được giao cho UBND cấp tỉnh quy định cụ thể để phù hợp với điều kiện thực tế, nhu cầu của cộng đồng và đặc điểm văn hóa từng dân tộc; Tỷ lệ thôn, bản, ấp có nhà văn hóa hoặc nơi sinh hoạt văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng đạt 100%;

7 Tiêu chí Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn thay cho tên gọi tiêu chí chợ: các chỉ tiêu cũng được bổ sung thành xã có chợ nông thôn hoặc nơi mua bán, trao đổi hàng hóa; chỉ tiêu này được giao cho UBND cấp tỉnh quy định

cụ thể để phù hợp với quy hoạch, điều kiện thực tế, nhu cầu phát triển kinh tế

- xã hội và đặc điểm văn hóa từng dân tộc;

8 Tiêu chí thông tin và truyền thông thay cho tiêu chí Bưu điện: Xã có điểm phục vụ bưu chính; Xã có dịch vụ viễn thông, internet; Xã có đài truyền thanh và hệ thống loa đến các thôn; Xã có ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành; các chỉ tiêu này được giao cho UBND cấp tỉnh quy định cụ thể để phù hợp với điều kiện thực tế, nhu cầu của các tổ chức

và cộng đồng từng xã;

Trang 32

9 Tiêu chí nhà ở dân cư: Không có nhà tạm, dột nát; Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn theo quy định >= 80%;

10 Tiêu chí thu nhập: thay đổi chỉ tiêu thành thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến năm 2020 (triệu đồng/người) >= 45 triệu đồng;

11 Tiêu chí Hộ nghèo: thay đổi chỉ tiêu thành Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 <=6%;

12 Tiêu chí lao động có việc làm thay cho tiêu chí cơ cấu lao động: thay đổi chỉ tiêu thành tỷ lệ người có việc làm trên dân số trong độ tuổi lao động

có khả năng tham gia lao động >= 90%;

13 Tiêu chí tổ chức sản xuất: thay đổi các chỉ tiêu thành Xã có hợp tác

xã hoạt động theo đúng quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012; Xã có mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản chủ lực đảm bảo bền vững;

14 Tiêu chí giáo dục thay cho tiêu chí giáo dục và đào tạo: thay đổi chỉ tiêu thành Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; phổ cập giáo dục trung học cơ sở; Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, trung cấp) >= 85%; Tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo >= 40%;

15 Tiêu chí y tế: chỉ tiêu thay đổi thành Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế >= 85%; Xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi <=21,8%;

16 Tiêu chí văn hóa: chỉ tiêu thay đổi thành: Tỷ lệ thôn, bản, ấp đạt tiêu chuẩn văn hóa theo quy định >= 70%;

17 Tiêu chí môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm thay thế cho tiêu chí môi trường: thay đổi chỉ tiêu thành Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định ≥95% (≥60% nước sạch); Tỷ lệ cơ sở sản xuất - kinh doanh, nuôi trồng thủy sản, làng nghề đảm bảo quy định về bảo vệ môi trường 100%; Xây dựng cảnh quan, môi trường xanh - sạch - đẹp, an

Trang 33

toàn; Mai táng phù hợp với quy định và theo quy hoạch chỉ tiêu này giao cho UBND cấp tỉnh quy định cụ thể để phù hợp với điều kiện thực tế và đặc điểm văn hóa từng dân tộc; Chất thải rắn trên địa bàn và nước thải khu dân cư tập trung, cơ sở sản xuất - kinh doanh được thu gom, xử lý theo quy định; Tỷ lệ

hộ có nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo 3 sạch[3] >= 85%; Tỷ lệ hộ chăn nuôi có chuồng trại chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trường >= 70%; Tỷ lệ hộ gia đình và cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm 100%;

18 Tiêu chí hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật thay đổi các chỉ tiêu thành: Cán bộ, công chức xã đạt chuẩn; Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định; Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn "trong sạch, vững mạnh"; Tổ chức chính trị - xã hội của xã đạt loại khá trở lên 100%; Xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định; Đảm bảo bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình; bảo vệ và hỗ trợ những người dễ bị tổn thương trong các lĩnh vực của gia đình và đời sống xã hội;

19 Tiêu chí Quốc phòng và an ninh thay cho tiêu chí An ninh trật tự xã hội: thay đổi các chỉ tiêu thành xây dựng lực lượng dân quân “vững mạnh, rộng khắp” và hoàn thành các chỉ tiêu quốc phòng; Xã đạt chuẩn an toàn về

an ninh, trật tự xã hội và đảm bảo bình yên: không có khiếu kiện đông người kéo dài; không để xảy ra trọng án; tội phạm và tệ nạn xã hội (ma túy, trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút) được kiềm chế, giảm liên tục so với các năm trước Như vậy theo từng giai đoạn cụ thể, thời kỳ cụ thể thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới mà các tiêu chí được thay đổi cho phù hợp với từng thời kỳ và chuẩn về nông thôn mới cũng thay đổi theo thời gian Tiêu chí xác định về chuẩn nông thôn mới không giữ nguyên, bất biến mà luôn thay đổi để phù hợp với tình hình kinh tế xã hội mới của đất nước và trình độ phát triển của nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Trang 34

1.1.5 Vai trò của chương trình xây dựng nông thôn mới đối với sự phát triển kinh tế xã hội

Việt Nam là một đất nước có hơn 90% người dân sinh sống và làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và sinh sống ở các vùng nông thôn Chương trình xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa hết sức quan trọng và vai trò cực kỳ to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung, đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn nói riêng

Đối với kinh tế xã hội, chương trình xây dựng nông thôn mới đóng vai trò trong thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống của nhân dân trên cơ sở phát triển nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, nhất là những vùng còn khó khăn Thúc đẩy sự chuyển giao khoa học công nghệ tạo bước đột phá trong đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực nông thôn để thực hiện tốt hơn vai trò phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo cho các vùng nông thôn đặc biệt khó khăn Chương trình xây dựng nông thôn mới còn đóng vai trò quan trọng trong kéo gần khoảng cách trình độ phát triển của nền kinh

tế giữa các khu vực thành thị và nông thôn nói chung Đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có hiệu quả ở khu vực nông thôn, đa dạng hóa các hình thức phát triển kinh tế ở nông thôn

Bên cạnh đó chương trình xây dựng nông thôn mới còn đóng vai trò thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế của các ngành nông lâm thủy sản, sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm, hiệu quả Duy trì và đảm bảo an ninh lương thực lợi ích quốc gia trước mắt và lâu dài Phát triển nông nghiệp kết hợp với phát triển công nghiệp xây dựng, dịch vụ - thương mại và tiểu thủ công nghiệp Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng hướng và nâng cao giá trị của ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế nói chung Nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn, thực hiện có hiệu quả và bền vững công cuộc xóa đói giảm nghèo; nâng cao trình độ giác ngộ và khẳng định vị thế của giai cấp nông dân, tạo cơ hội, điều kiện để nông dân tham gia

Trang 35

đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tạo cơ chế, chính sách để huy động các nguồn lực phát triển kinh tế nông thôn, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân và nông thôn ở nước ta hiện nay Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Như vậy chương trình xây dựng nông thôn mới đóng vai trò là động lực thúc đẩy cho sự phát triển toàn diện các mặt của nền kinh tế - xã hội nông nghiệp, nông dân và nông thôn ở nước ta Hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và nhà nước về kinh tế nông nghiệp, nông dân và nông thôn hiện tại và tương lai

1.2 Quản lý nhà nước về chương trình xây dựng nông thôn mới

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về chương trình xây dựng nông thôn mới

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là một bộ phận của quản

lý nhà nước nói chung Do vậy để hiểu rõ về khái niệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới cần tìm hiểu rõ khái niệm quản lý nhà nước là gì? Bởi quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới chỉ là một khía cạnh của hoạt động quản lý nhà nước và khái niệm quản lý nhà nước nói chung bao hàm cả khái niệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật Sự quản lý bằng pháp luật của nhà nước

để thực hiện quyền lực nhà nước, là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội, hành vi, hoạt động

Trang 36

của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Xã hội chủ nghĩa

Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan nhà nước (cán bộ, công chức có thẩm quyền) Đối tượng của quản lý nhà nước bao gồm tất cả các

cá nhân, tổ chức sinh sống, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia

Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng thì : Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật

Theo nghĩa hẹp thì: Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, duy trì ổn định,

an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng thống nhất của nhà nước

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là một trong những bộ phận của hoạt động quản lý nhà nước, là tổng hợp các hoạt động quản lý và điều hành của cơ quan nhà nước, bằng công cụ chính sách, pháp luật, thông qua bộ máy nhà nước tác động vào nông nghiệp, nông dân và nông thôn nhằm mục đích hướng đến phát triển nông thôn theo hướng hiện đại hóa, kinh tế nông nghiệp phát triển bền vững và đảm bảo cho cuộc sống vật chất và tinh thần của người nông dân ngày càng được nâng cao, ấm no, hạnh phúc Từ đó tạo ra sự phát triển ổn định, giàu mạnh của đất nước

Trang 37

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về chương trình xây dựng nông thôn mới

1.2.2.1 Xây dựng chính sách, đề án, đồ án quy hoạch, kế hoạch xây dựng

nông thôn mới

Việc xây dựng chính sách, đề án, đồ án, kế hoạch xây dựng nông thôn mới là hoạt động nhằm mục đích điều hành và quản lý chương trình xây dựng nông thôn mới một cách thống nhất Trên cơ sở chủ trương của Đảng qua Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành TW Đảng khóa IX về đẩy nhanh CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010; nghị quyết

số 26- NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban chấp hành TW Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn;

Quyết định số 491/QĐ- TTg ngày 16/9/2009 của thủ tướng chính phủ về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Các nghị quyết, nghị định chính phủ; Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ ; Thông tư, Quyết định của bộ trưởng bộ nông nghiệp phát triển nông thôn, bộ tài chính,

bộ kế hoạch đầu tư, Quyết định của UBND các cấp nhằm điều chỉnh các hoạt động xây dựng nông thôn mới trên địa bàn, xác định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức cá nhân xây dựng nông thôn mới

Việc xây dựng đồng bộ và ban hành hệ thống chính sách, đề án, đồ án quy hoạch và kế hoạch xây dựng nông thôn mới tạo môi trường pháp lý cho quá trình xây dựng nông thôn mới Tổ chức, quản lý các hoạt động phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn; thực hiện các hoạt động nhằm hỗ trợ

và thức đẩy quá trình phát triển nông thôn Huy động và quản lý tốt hơn các nguồn vốn xây dựng nông thôn mới Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức trong quá trình xây dựng nông thôn mới

Xây dựng đề án, đồ án quy hoạch, kế hoạch và thực hiện các chương trình kinh tế trong phát triển kinh tế nông thôn, nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới đóng vai trò là cơ sở cho

Trang 38

quá trình quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở hệ thống các xã phường thực hiện xây dựng nông thôn mới

Nhà nước ban hành và thực hiện các chính sách khoa học, công nghệ

và tổ chức chuyển giao kỷ thuật cho nông dân, chỉ đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân và phát triển nông thôn Nhà nước đầu tư áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo cơ cấu thích hợp với điều kiện và trình độ phát triển kinh tế xã hội

Nhà nước quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để thực hiện xây dựng nông thôn mới như quản lý vốn nhà nước, vốn đóng góp của nhân dân

Như vậy, việc ban hành các chính sách, xây dựng các đề án, đồ án quy hoạch và kế hoạch xây dựng nông thôn mới và triển khai thực hiện các chính sách về xây dựng nông thôn mới tác động một cách trực tiếp lên quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, đây là cơ sở cho quá trình triển khai thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới Xây dựng chính sách đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn sẽ phát huy được tối đa những hiệu quả của chương trình đem lại, nâng cao hiệu lực hiệu quả của công tác quản lý nhà nước của cấp ủy, chính quyền ở địa phương

1.2.2.2 Tổ chức bộ máy phụ trách công tác xây dựng nông thôn mới

+ Tổ chức bộ máy quản lý

Tổ chức bộ máy quản lý về xây dựng nông thôn mới là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của việc tổ chức thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới Tổ chức bộ máy nhà nước quản lý chương trình nông thôn mới càng chặt chẽ, hợp lý, hoạt động nhịp nhàng,

Trang 39

hiệu quả thì quá trình triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới sẽ đồng bộ từ cấp trung ương cho đến địa phương, đem lại hiệu quả cao trong công tác quản lý nhà nước về chương trình Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới gồm:

Cấp trung ương: Thành lập ban chỉ đạo chương trình MTQG xây dựng

nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 của trung ương ban hành kèm theo quyết định số 1030/QĐ – TTg ngày 01 tháng 7 năm 2010 của thủ tướng chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 Trong đó, trưởng ban chỉ đạo là đồng chí phó thủ tướng chính phủ, các phó Trưởng ban chỉ đạo là đồng chí bộ trưởng bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, phó trưởng ban chuyên trách

là đồng chí thứ trưởng bộ nông nghiệp phát triển nông thôn và đồng chí phó chủ nhiệm văn phòng chính phủ Thành viên ban chỉ đạo là các bộ ngành, các

cơ quan trung ương đoàn thể có liên quan; quyết định 33/QĐ-BCHTW ngày 9 tháng 5 năm 2012 của thường trực ban chỉ đạo về nhân sự cố vấn cho ban chỉ

đạo trung ương chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Cấp tỉnh, cấp thành phố: Thành lập ban chỉ đạo Nông thôn mới tỉnh, thành phố Trong đó trưởng ban chỉ đạo là đồng chí phó bí thư thường trực tỉnh, thành phố, phó trưởng ban là đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh

và giám đốc sở nông nghiệp phát triển nông thôn các thành viên thuộc các

Sở, ngành, đoàn thể có liên quan Ủy ban nhân dân tỉnh thành phố thành lập các tổ công tác giúp việc Ban chỉ đạo chương trình xây dựng nông thôn mới gồm các thành viên thuộc các bộ phận nghiệp vụ chuyên môn của các sở, ngành, đoàn thể liên quan Tổ trưởng là phó giám đốc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Giao cho Chi cụ phát triển nông thôn là

cơ quan thường trực của tổ công tác giúp việc; thực hiện chức năng –

Trang 40

nhiệm vụ là văn phòng điều phối chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của Tỉnh, thành phố

Cấp huyện: Thành lập ban chỉ đạo nông thôn mới huyện gồm trưởng ban

chỉ đạo là bí thư huyện ủy; Phó ban chỉ đạo là phó chủ tịch UBND huyện, các thành viên là trưởng các phòng, ban và trưởng ban quản lý các xã xây dựng nông thôn mới Các thành viên ban chỉ đạo hoạt động kiêm nghiệm, nhiệm vụ của các thành viên ban chỉ đạo do trưởng ban chỉ đạo phân công phụ trách Ban chỉ đạo thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy định, quy chế hoạt động

của ban

Các văn bản chỉ đao do đồng chí trưởng ban chỉ đạo là bí thư Huyện ủy

ký sử dụng con dấu của huyện ủy; các đồng chí Phó ban chỉ đạo chỉ sử dụng con dấu của cơ quan mình trong quá trình công tác chỉ đạo, phối hợp, hướng dẫn chuyên môn đối với các phòng ban chức năng huyện và các xã – thị trấn thuộc phạm vi trách nhiệm được giao

Cấp xã: Thành lập ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp xã do đồng

chí Bí thư Đảng ủy làm trưởng ban chỉ đạo, đồng chí phó bí thư Đảng ủy là phó ban chỉ đạo, các thành viên là các ban ngành, đoàn thể cấp xã, bí thư chi

bộ cấp thôn

Thành lập ban quản lý cấp xã Trưởng ban quản lý là chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phó ban quản lý là đồng chí phó chủ tịch UBND xã, các thành viên là các công chức chuyên môn của xã Ban quản lý xây dựng nông thôn mới hoạt động theo chế độ kiêm nghiệm, có tư cách pháp nhân sử dụng con dấu và tài khoản ngân sách UBND xã trong hoạt động giao dịch với các tổ chức cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật, hoạt động theo quy chế hoạt động của ban quản lý nông thôn mới

Ngày đăng: 06/03/2018, 18:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm