Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… .…/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐẶNG TẤN PHƯƠNG
THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CHO CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ – NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… .…/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐẶNG TẤN PHƯƠNG
THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CHO CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN HỮU TRI
THỪA THIÊN HUẾ – NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Hữu Tri
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo quy định
Thừa Thiên Huế, ngày 11 tháng 9 năm 2017
Học viên Đặng Tấn Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Khoa sau Đại học, Phân viện miền Trung, quý thầy cô đã truyền đạt kiến thức, tạo điều về mọi mặt để tôi hoàn thành khóa học và công trình nghiên cứu của mình
Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Hữu Tri đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự quan tâm, giúp đỡ, động viên, hướng dẫn tận tình của quý thầy cô, quý cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo, cơ quan, gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên bản thân trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Thừa Thiên Huế, ngày 11 tháng 9 năm 2017
Học viên Đặng Tấn Phương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 7 1.1 Một số khái niệm cơ bản về nguồn nhân lực chất lượng cao ở đơn vị sự nghiệp công lập 7 1.1.1 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập 7 1.1.2 Khái niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao 8 1.2 Vai trò của việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các đơn vị sự nghiệp công lập trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 14 1.2.1 Nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò quan trọng trong chuyển đổi mô hình kinh tế - xã hội của đất nước 14 1.2.2 Nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng của phát triển bền vững
và nâng cao sức cạnh tranh của Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 16
1.3 Nội dung thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các đơn vị sự nghiệp công lập 18 1.3.1 Chính sách xúc tiến thu hút 18 1.3.2 Tạo dựng môi trường, điều kiện làm việc và cơ hội đào tạo, phát triển đối với nguồn nhân lực chất lượng cao
19 19 1.3.3 Công tác tuyển dụng, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao hợp lý
và thiết thực 2121 1.3.4 Chế độ đãi ngộ và tạo động lực lao động 222 1.3.5 Xây dựng mối quan hệ làm việc và một tập thể đoàn kết 244
Trang 61.4 Kinh nghiệm về thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số địa
phương trong nước và một số quốc gia trên thế giới 255
1.4.1 Kinh nghiệm ở một số địa phương trong nước 255
1.4.2 Kinh nghiệm ở một số quốc gia trên thế giới 288
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 333
Chương 2 THỰC TRẠNG THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM 344
2.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế - xã hội và đặc điểm của các đơn vị sự nghiệp công lập tỉnh Quảng Nam .344
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Nam 344
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam 355
2.1.3 Đặc điểm của các đơn vị sự nghiệp công lập ở tỉnh Quảng Nam 433
2.2 Thực trạng nguồn nhân lực ở các đơn vị sự nghiệp công lập của tỉnh Quảng Nam .433
2.2.1 Nguồn nhân lực ở các đơn vị sự nghiệp công lập của tỉnh Quảng Nam 433
2.2.2 Nhận xét chung về nguồn nhân lực trong các đơn vị sự nghiệp công lập của tỉnh Quảng Nam 4949
2.3 Thực trạng thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 5050
2.3.1 Số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao đã thu hút vào các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 5050
2.3.2 Phân tích nội dung thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 522
Trang 72.3.3 Nhận xét ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế thu hút
nguồn nhân lực chất lượng cao trong các đơn vị sự nghiệp công lập 644
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 711
Chương 3 NHỮNG YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM .722
3.1 Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016-2020 722
3.1.1 Mục tiêu tổng quát 722
3.1.2 Các chỉ tiêu chủ yếu 722
3.1.3 Các lĩnh vực ưu tiên phát triển 733
3.1.4 Về phát triển kinh tế - xã hội trên các lĩnh vực 744
3.2 Quan điểm và định hướng của tỉnh Quảng Nam về thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các đơn vị sự nghiệp công lậpError! Bookmark not defined.79 3.3 Các nhóm giải pháp chủ yếu 86
3.3.1 Nhóm giải pháp về nâng cao nhận thức, xác định mục tiêu, đối tượng cần thu hút ở các đơn vị sự nghiệp công lập 866
3.3.2 Nhóm giải pháp lãnh đạo, đổi mới mô hình quản lý viên chức; tập trung thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào các trường đại học, cao đẳng, cơ sở y tế, các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng .911
3.3.3 Nhóm giải pháp xây dựng tiêu chí về nguồn nhân lực chất lượng cao cần thu hút ở các đơn vị sự nghiệp công lập 944
3.3.4 Nhóm giải pháp về xây dựng, cải thiện môi trường và điều kiện làm việc ở các đơn vị sự nghiệp công lập 955
Trang 83.3.5 Nhóm giải pháp về các chế độ đãi ngộ, lương, thưởng cho đối tượng được thu hút 9898
3.3.6 Nhóm giải pháp kết hợp chặt chẽ giữa thu hút và phát hiện, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao 9999 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 1033 KẾT LUẬN 1044 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011-2015 377
Biểu đồ 2.2: cơ cấu kinh tế 388
Biểu đồ 2.3: giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) 3939
Biểu đồ 2.4: một số chỉ tiêu lĩnh vực dịch vụ 400
Biểu đồ 2.5: một số chỉ tiêu lĩnh vực NLTS 411
Biểu đồ 2.6 : Một số chỉ tiêu lĩnh vực xã hội (%) 422
Biểu đồ 2.7 Trình độ lý luận chính trị của viên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập tỉnh Quảng Nam 477
Biểu đồ 2.8 Trình độ tin học, ngoại ngữ của viên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập tỉnh Quảng Nam 488
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tóm tắt chính sách thu hút của Thành phố Đà Nẵng 266Bảng 1.2: Tóm tắt chính sách thu hút của tỉnh Quảng Bình 288Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 366Bảng 2.2 Số VC sau đại học trong các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam phân theo lĩnh vực công tác 466Bảng 2.3 Số người được thu hút từ năm 2009 đến năm 2016 511Bảng 2.4 Kết quả thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các đơn vị sự nghiệp phân theo cấp hành chính 511Bảng 2.5 Đánh giá chính sách thu hút nguồn nhân lực (tỷ lệ%) 555Bảng 2.6 Chính sách hỗ trợ một lần so sánh với tỉnh Quảng Ngãi 566Bảng 2.7 Đánh giá của đối tượng được thu hút về chế độ đãi ngộ của tỉnh (tỷ
lệ %) 577Bảng 2.8 Đánh giá của các cơ quan sử dụng về chính sách thu hút và các cơ chế, chính sách khác đối với người được thu hút (tỷ lệ %) 588Bảng 2.9 Đánh giá của người được thu hút về chế độ sử dụng lao động của các đơn vị sự nghiệp công (tỷ lệ %) 600Bảng 2.10 Đánh giá của đối tượng thu hút về điều kiện và môi trường làm việc (tỷ lệ %) 611Bảng 2.11 Nhận xét của cơ quan tiếp nhận, sử dụng về việc tạo điều kiện, môi trường làm việc của đối tượng thu hút (tỷ lệ %) 622Bảng 2.12 Đánh giá về cơ hội đào tạo và phát triển (tỷ lệ %) 633Bảng 3.1 Tổng hợp nhu cầu thu hút nhân lực có trình độ đại học, sau đại học trong các đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2015-2020 844Bảng 3.2 Tổng hợp nhu cầu thu hút nhân lực có trình độ đại học, sau đại học
ở các đơn vị sự nghiệp công lập theo lĩnh vực, ngành nghề 855
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong các nhân tố tạo nên sự phát triển kinh tế - xã hội thì nhân tố con người có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng Đảng ta luôn xác định, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, đầu tư cho nguồn lực con người là đầu tư cho sự phát triển nhanh và bền vững Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, vị thế của các quốc gia tùy thuộc rất lớn vào nguồn nhân lực được đào tạo một cách hệ thống, có khả năng thích nghi với thị trường lao động Các quốc gia phát triển trên thế giới đã xác định mối quan hệ giữa chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược phát triển nguồn nhân lực Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII năm 2016 của Đảng ta đã khẳng định trong thời gian tới phải “Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển KTXH, với tiến bộ KHCN, yêu cầu phát triển NNL và thị trường lao động”, “Xây dựng chiến lược phát triển NNL cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với những giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực trong nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh, chú trọng nâng cao tính chuyên nghiệp và kỹ năng thực hành” [tr114-116] để đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH
Quảng Nam có lực lượng lao động dồi dào, là một tỉnh với qui mô và
cơ cấu dân số trẻ, đa phần trong độ tuổi lao động Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và nhận thức về tầm quan trọng phát triển NNLCLC, thực hiện mục tiêu Nghị quyết đại hội Đảng
bộ tỉnh lần thứ XXI “quyết tâm đưa Quảng Nam phát triển nhanh, bền vững, phấn đấu đến năm 2020, trở thành tỉnh khá của cả nước, sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại” [tr156-157] Vì vậy, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết, cơ chế, chính sách thu hút NNLCLC ở các cơ quan hành chính nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Qua quá trình thực hiện việc thu hút NNLCLC đã đạt được
Trang 132
những kết quả nhất định, thu hút được nhân tài, góp phần nâng cao chất lượng NNL của địa phương Đứng trước yêu cầu thực tiễn đặt ra trong sự nghiệp CNH, HĐH, nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXI năm 2016 đã xác định “Thực hiện đồng bộ các giải pháp về phát triển NNL đủ về số lượng, không ngừng nâng cao chất lượng, trọng tâm là phát triển NNLCLC; hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng nhân tài, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức từ tỉnh đến cơ sở bảo đảm chất lượng, có cơ cấu hợp lý, có phẩm chất đạo đức, lối sống tốt, có năng lực và trình độ, thật sự
có tâm và có tầm để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới” 167] Tuy nhiên, việc thu hút NNLCLC trong các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh vẫn còn hạn chế, hình thức đào tạo, tuyển dụng, lựa chọn đối tượng thu hút đôi lúc chưa phù hợp; môi trường làm việc, chất lượng, cơ cấu NNL còn thấp, chưa hợp lý; chưa đáp ứng được yêu cầu về quy mô, năng lực
[tr160-và chất lượng; hệ thống chính sách phát triển NNL chưa thật sự đồng bộ, còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, do đó cần tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống, từ lý luận đến thực tiễn
Trước yêu cầu về phát triển NNL trong tình hình mới, việc nghiên cứu
lý luận và thực tiễn, khảo sát, tìm hiểu thực trạng, phân tích các yếu tố tác động đến thu hút NNLCLC ở các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua, đề ra những yêu cầu, giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế thu hút NNLCLC, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển KTXH là rất cần thiết Chính vì những lý do nêu trên, học viên đã chọn vấn
đề nghiên cứu “Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành Quản lý công
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề thu hút NNLCLC ở các đơn vị sự nghiệp công lập là một trong những nội dung hết sức quan trọng trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao chất
Trang 143
lượng phục vụ các dịch vụ công, đặc biệt trong gian đoạn hiện nay, chúng ta đang chuyển từ nền hành chính “quản lý” sang “phục vụ” Vì vậy, đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước như:
PGS TS Nguyễn Phú Trọng và PGS TS Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên, 2001) với cuốn sách “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã tập trung phân tích, lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp Từ đó đưa ra một hệ thống các quan điểm, phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI
Tác giả Phạm Thanh Nghị và Vũ Hoàng Ngân (2004) trong cuốn sách
“Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” tập trung phân tích những cơ sở khoa học của quản lý NNL ở Việt Nam Những vấn đề về chính sách, giải pháp quản lý, phát triển NNL trẻ ở Việt Nam, những kinh nghiệp quản lý, phát triển NNL trẻ các nước Đông Nam Á và một
số nước phát triển khác Ở phạm vi NNL cho sự phát triển bền vững vùng, tác giả Nguyễn Hồng Quang (2013) qua cuốn sách “Nguồn nhân lực với phát triển bền vững vùng Bắc Bộ giai đoạn 2011 - 2020” đã tập trung phân tích vai trò và tác động của NNL đối với phát triển bền vững vùng Bắc Bộ
PGS.TS Trần Thị thu và PGS TS Vũ Hoàng Ngân trong cuốn quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức công – NXB Đại học Kinh tế quốc dân – Hà Nội PGS.TS Lê Minh Thông và TS Nguyễn Danh Châu đã nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm công tác nhân sự của Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc
Đề án: “Thực trạng và giải pháp thu hút nguồn nhân lực trình độ cao của thành phố Đà Nẵng” do Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng thực hiện; Sách: “Tài năng trong thời kỳ kinh tế tri thức và toàn cầu hóa” do Giáo sư Hoàng Chương làm chủ biên
Trang 154
Tuy nhiên, xã hội ngày càng phát triển đặt ra yêu cầu ngày càng cao về chất lượng NNL trong các đơn vị sự nghiệp công lập, nên việc thu hút NNLCLC là vấn đề cần được quan tâm thường xuyên hơn, liên tục phát triển Cùng nghiên cứu về vấn đề thu hút NNLCLC, nhưng mỗi đề tài chọn một cách tiếp cận dưới những góc độ khác nhau và ở các địa phương khác nhau
Do vậy, việc tìm hiểu trong công tác thu hút NNLCLC ở các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trên cơ sở tham khảo các nghiên cứu của nhiều học giả là vấn đề có tính cấp thiết trong lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc thu hút NNLCLC ở các đơn vị sự nghiệp công lập Từ đó, đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, đề ra giải pháp hoàn thiện các cơ chế, chính sách trong công tác thu hút NNLCLC ở các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
- Nhiệm vụ: Thu thập, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực chất lượng cao và hoạt động thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao
ở các đơn vị sự nghiệp công lập Phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực và các chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Phân tích các mặt hạn chế, tìm ra nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trong việc thực hiện thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng thu hút NNLCLC ở các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới
4 Đối tượng nghiên cứu
Thu hút NNLCLC ở các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam là vấn đề rộng, liên quan đến rất nhiều khía cạnh khác nhau của quá trình phát triển NNL, ở nhiều cơ quan từ trung ương đến huyện Do đó
Trang 165
luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung của công tác thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, không nghiên cứu các đối tượng đang làm việc tại các đơn vị trực thuộc Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung trong công tác thu hút NNLCLC vào làm việc ở các đơn vị sự nghiệp công lập cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, không nghiên cứu các đối tượng đang làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan ngành tòa án, viện kiểm sát nhân dân, lực lượng vũ trang và đơn vị sự nghiệp công lập cấp huyện
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về đào tạo cán bộ, công chức và thu hút NNLCLC; các quan điểm khách quan, khoa học để phân tích vấn đề
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp thu thập thông tin, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, bộ, ban, ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban, ngành, các tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới công tác thu hút NNLCLC ở nước ta nói chung và thực tiễn tỉnh Quảng Nam nói riêng
+ Phương pháp điều tra thu thập thông tin sơ cấp trên cơ sở xây dựng các bảng hỏi, điều tra thực tế ở một số đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn
+ Phương pháp quan sát, phỏng vấn sâu: Sử dụng phương pháp phỏng vấn một số đối tượng nhằm thu thập thông tin
+ Phương pháp so sánh: dựa trên kết quả thực tế từ đó dự báo xu hướng phát triển đề ra giải pháp trong giai đoạn tới
Trang 176
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: Đề tài vận dụng, minh chứng lý thuyết khoa học về quản lý công để làm rõ vấn đề khoa học, thực tiễn trong công tác thu hút NNLCLC, là căn cứ lý luận và thực tiễn góp phần xác định các giải pháp hữu hiệu thu hút NNLCLC ở các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả phân tích thực trạng, tổng kết thực tiễn sẽ làm tư liệu tham khảo giúp cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các sở, ban, ngành liên quan, các nhà quản lý vận dụng, điều chỉnh các chính sách thu hút NNLCLC ở các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam một cách hiệu quả hơn
8 Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các đơn vị sự nghiệp công lập
Chương 2: Thực trạng công tác thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao
ở các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Những yêu cầu và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Trang 187
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG
CAO Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.1 Một số khái niệm cơ bản về nguồn nhân lực chất lượng cao ở đơn vị
sự nghiệp công lập
1.1.1 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập
Trước đây, chưa có sự phân biệt cơ chế quản lý giữa đơn vị sự nghiệp công lập với các cơ quan nhà nước, giữa người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập với trong cơ quan hành chính nhà nước Khái niệm về đơn vị
sự nghiệp công lập chỉ được ghi nhận trong văn bản pháp luật khi Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8, thông qua Luật Viên chức số 58/2010/QH12, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 Đây cũng là lần đầu tiên khái niệm này được ghi nhận trong văn bản pháp luật Theo khoản 1, Điều 9, Luật Viên chức số 58/2010/QH12, thì đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước Như vậy, Nhà nước thiết lập các đơn vị sự nghiệp công lập để đảm nhận nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực, trong đó, các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao chiếm số lượng lớn Đơn vị sự nghiệp công lập được xác định là bộ phận cấu thành bộ máy cơ quan nhà nước và chịu sự quản lý nhà nước cả về tổ chức cũng như hoạt động
Theo Luật Viên chức thì đơn vị sự nghiệp công lập được nhận diện thông qua các yếu tố sau đây: (i) được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; (ii) là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; (iii) có tư cách pháp nhân; (iv) cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước; (v) viên
Trang 198
chức là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị Đặc trưng của đơn vị sự nghiệp công lập để phân biệt với cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị ngoài công lập và các cơ quan, tổ chức khác là vị trí pháp lý, tính chất hoạt động và đội ngũ viên chức Các đơn
vị sự nghiệp công lập được các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và là bộ phận cấu thành trong cơ cấu tổ chức cơ quan nhà nước, nhưng không mang quyền lực nhà nước, không có chức năng quản lý nhà nước Các đơn vị sự nghiệp công lập bình đẳng với các tổ chức, cá nhân trong cung cấp dịch vụ công
1.1.2 Khái niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao
1.1.2.1 Nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, NNLCLC là vấn đề được các tổ chức, quốc gia quan tâm Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau để chỉ NNLCLC như: nguồn nhân lực trình độ cao, nguồn nhân lực tài năng cao, lao động trình độ cao, trí thức, nhân tài Tuy nhiên, tùy vào cách tiếp cận khác nhau, mà các học giả có khái niệm khác nhau về NNLCLC
Dựa vào trình độ được đào tạo của nguồn lao động: NNLCLC bao gồm những người lao động qua đào tạo có trình độ từ đại học trở lên Các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm
và được Cộng đồng châu Âu (EU) áp dụng: “Nguồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực KHCN phải thỏa mãn 01 trong 02 tiêu chí: hoặc có trình độ đại học hoặc chưa chính thức đủ bằng cấp, nhưng đã từng làm việc trong lĩnh vực KHCN ở vị trí của người phải tốt nghiệp Đại học” [tr15]
Về mặt hình thức, nếu xét về bằng cấp thì sức lao động chất lượng cao bao gồm những người được đào tạo một cách có hệ thống và có bằng cấp Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả những người có bằng cấp đều là sức lao động chất lượng cao, mà sức lao động đó phải đem lại hiệu quả cao đối
Trang 209
với những công việc cụ thể, hành vi của người đó không chỉ biểu hiện ở mức
độ kỹ năng, mà còn trở thành kỹ xảo Theo Các Mác “Một lao động được coi
là cao hơn, phức tạp hơn so với lao động xã hội trung bình, là biểu hiện của một sức lao động đòi hỏi những chi phí đào tạo cao hơn, người ta phải tốn nhiều thời gian lao động để tạo ra nó và vì vậy nó có một giá trị cao hơn so với sức lao động giản đơn” (Cac Mac - [16] tr 29 )
Dưới góc độ cơ cấu nguồn nhân lực phân chia theo trình độ đã được các chuyên gia trong và ngoài nước phân tích thì NNLCLC bao gồm: các nhà chính trị, các nhà sáng chế, quản trị bậc cao, bác sỹ và cả thợ thủ công hay công nhân lành nghề có tay nghề cao đang tham gia hoặc có tiềm năng tham gia vào hoạt động lao động nào đó để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ có ích cho
xã hội Như vậy, NNLCLC được nghiên cứu, tiếp cận từ vị trí việc làm, về trình độ được đào tạo hoặc tự tích luỹ, đóng góp có hiệu quả đối với xã hội, từ
đó có thể nêu quan niệm nguồn nhân lực trình độ cao mà xã hội cần hướng tới
là NNL đáp ứng được các yêu cầu của thị trường, có kiến thức, kỹ năng, thái
độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc Như vậy, bất kỳ người lao động nào (công nhân, kỹ thuật viên, kỹ sư, bác sỹ, tiến sỹ) được sử dụng đúng ngành nghề đào tạo, đáp ứng nhu cầu tốt nhất công việc của cơ quan, đơn vị, có trình độ chuyên môn được đào tạo cao và tích luỹ; tri thức văn hoá, những kỹ năng cũng như tinh thần sáng tạo của con người đều là NNLCLC
Trong thực tiễn, thuật ngữ NNLCLC được dùng khá phổ biến, tuy nhiên, khái niệm về NNLCLC vẫn chưa được ghi nhận trong từ điển Tiếng Việt Tại Hội nghị Trung ương 9 khóa IX, Đảng ta lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ NNLCLC, Hội nghị nhấn mạnh “phát triển NNLCLC thông qua con đường phát triển, giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ chính là khâu then chốt để nước ta vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển” Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh thuật ngữ này khi đưa ra định hướng tập trung phát triển NNLCLC như: trọng dụng nhân
Trang 2110
tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao Có chính sách thu hút các nhà khoa học công nghệ giỏi trong nước và ngoài nước, trong cộng đồng người Việt định cư ở nước ngoài Như vậy, theo quan niệm của Đảng ta, NNLCLC bao gồm đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao
Trong lĩnh vực xã hội nhân văn, các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã bắt đầu hình thành nên những quan niệm xung quanh vấn đề NNLCLC Theo GS.TS Phạm Minh Hạc thì NNLCLC là đội ngũ nhân lực có trình độ và nhân lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận, chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân của mình vào CNH, HĐH mở rộng theo kiểu “vết dầu loang” bằng cách dẫn dắt những bộ phận công nhân có trình độ và năng lực thấp hơn đi lên với tốc độ nhanh Trong cuốn “Văn hoá Việt Nam, xã hội và con người”, GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn đưa ra khái niệm: Một NNL mới để chỉ một lực lượng lao động
có học vấn, trình độ chuyên môn cao và nhất là khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của công nghệ sản xuất
Các tài liệu nghiên cứu cho thấy, các tác giả khi tiếp cận khái niệm NNLCLC đều thiên về cách nhìn nhận, chỉ ra các tiêu chí để xác định NNLCLC Trong thời kỳ CNH,HĐH thì NNLCLC là đội ngũ cán bộ quản lý
và hoạch định chính sách, nguồn nhân lực khoa học công nghệ, đội ngũ bác
sỹ, giảng viên các trường đại học, cao đẳng và nhóm công nhân kỹ thuật chất lượng cao Như vậy, thì NNLCLC phải được xem xét trên tất cả các khía cạnh hình thành, chất lượng NNL (thể lực, trí lực, tâm lực) đảm bảo gắn với kết quả lao động
Từ những cách tiếp cận nêu trên, học viên có thể hiểu: NNLCLC là khái niệm chỉ những người lao động cụ thể, có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể, theo tiêu thức phân loại lao
Trang 2211
động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (đại học, trên đại học, lao động kỹ thuật lành nghề); có kỹ năng lao động giỏi và khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ; có sức khỏe và phẩm chất tốt; có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm mang lại chất lượng và năng suất lao động
1.1.2.2 Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao
Thu hút NNLCLC có thể được hiểu là các biện pháp, cách thức cần thiết của tổ chức, các nhà quản lý nhằm lôi cuốn NNLCLC tại chổ hoặc từ nơi này đến nơi khác, đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức, địa phương Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, mỗi quốc gia, tổ chức, cơ quan, đơn vị muốn phát triển, đảm bảo các kết quả hoạt động tốt nhất đều phải tính đến việc thu hút NNLCLC Vì vậy, khi đề cập tới NNLCLC, người ta thường chú trọng tới mặt số lượng và chất lượng Số lượng nguồn lực con người chính là lực lượng lao động và khả năng cung cấp lực lượng lao động cho sự phát triển KTXH Nhưng, yếu tố quan trọng nhất trong nguồn nhân lực không phải là số lượng,
mà là chất lượng nguồn lực con người Đây mới chính là yếu tố quyết định đối với sự phát triển của quốc gia, dân tộc, cũng như đối với quá trình CNH,HĐH Nói đến chất lượng của nguồn lực con người là nói đến hàm lượng trí tuệ, nói tới “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo,
có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền KHCN hiện đại” Sở dĩ người ta nói đến tính vô tận, tính không bị cạn kiệt, tính khai thác không bao giờ hết của nguồn lực con người chính là nói tới yếu tố trí tuệ Trí tuệ của con người ngày càng phát triển và có tác động mạnh mẽ nhất đối với sự tiến bộ và phát triển
xã hội Nhà tương lai học Mỹ - Alvin Toffler khẳng định rằng, mọi nguồn lực
tự nhiên đều có thể bị khai thác cạn kiệt, chỉ có trí tuệ con người là không bao giờ cạn kiệt và tri thức có tính chất lấy không bao giờ hết Do tầm quan trọng
Trang 23và tri thức trở thành yếu tố cốt lõi của cả hệ thống hiện đại Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà Gary Becker, người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm
1992, đã khẳng định “không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn lực con người” Người ta ước tính chỉ trong vòng 15 năm (1960-1975), việc thu hút nhân tài đã đem lại lợi ích cho 3 nước Hoa Kỳ, Canada, Anh trên 50 tỷ USD Vì vậy, càng ngày người ta càng thấy hiệu quả kinh tế cao của việc thu hút NNLCLC
Đối với Việt Nam, phát triển NNLCLC là một trong những chủ trương, chiến lược của Đảng ta được thể hiện trong các Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 7, 9 khóa X Trong đó nhấn mạnh: một trong những nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện, ban hành và thực hiện tốt các chế độ, chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc và nhà khoa học trẻ để bổ sung cán bộ tài năng cho các lĩnh vực công tác Vai trò và sự cần thiết phải thu hút NNLCLC xuất phát từ thực tế của đất nước trước và sau đổi mới cũng như nắm bắt được xu hướng đầu tư, phát triển của các nước trên thế giới, từ đại hội Đảng lần thứ VI đến nay, Đảng ta đã nhận thức ngày càng đầy đủ hơn vai trò của con người trong sự phát triển KTXH Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã ghi rõ: “Con người
là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”
Tại Ðại hội XII của Ðảng, xuất phát từ yêu cầu thực hiện mục tiêu tổng quát là “đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
Trang 2413
hướng hiện đại”, Ðảng ta đã xác định ba khâu đột phá chiến lược: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng đồng bộ và phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là NNLCLC, trong đó phát triển và nâng cao chất lượng NNLCLC được xác định là “yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững” Đây là khâu đột phá quan trọng nhằm tập trung nâng cao sức mạnh nội sinh: tri thức - trí tuệ của dân tộc Việt Nam để thích ứng và đột phá phát triển trong thời kỳ hội nhập quốc tế Trong Chiến lược phát triển KTXH 5 năm
2016 - 2020, được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, năm
2016, khẳng định “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH” Bởi lẽ, NNLCLC không chỉ có vai trò quyết định đối với phát triển kinh tế, mà còn dẫn đến ý thức xã hội càng phát triển, mối quan hệ giữa người với người tốt hơn Đặc biệt trong bối cảnh nước ta đang trong quá trình CNH, HĐH, vai trò của con người càng được coi trọng hơn, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp
Quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam được tiến hành sau các nước phát triển, cộng thêm với nguồn lực tự nhiên không thực sự giàu có và những hậu quả nặng nề mà chiến tranh để lại Vì thế, những bài học và kinh nghiệm của các nước phát triển sẽ vô cùng bổ ích đối với Việt Nam, nếu chúng ta biết tiếp thu và vận dụng chúng một cách sáng tạo Để làm được điều đó, không
có con đường nào khác là phải phát huy, thu hút và sử dụng đúng đắn NNLCLC Tuy nhiên, hiện nay, trong các chính sách đối với NNLCLC của các bộ, ngành Trung ương và địa phương đều đề cập đến đối tượng thu hút được xác định là những người có học hàm giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị
Trang 2514
tiến sỹ, thạc sỹ, đại học Cách tiếp cận này không chú trọng đến người có kỹ năng làm việc và tay nghề chuyên môn cao Những người có trình độ kỹ thuật lành nghề như: nghệ nhân, công nhân, nông dân có tay nghề cao thì không được xem là NNLCLC Một thực tế cho thấy, nhiều người chỉ học hết THCS, THPT, thậm chí không có bằng cấp, nhưng bằng sự nỗ lực, đam mê, với tinh thần dám nghĩ, dám làm, chủ động sáng tạo, họ đã trở thành những nhà sáng chế, đã tạo ra những sản phẩm thiết thực phục vụ lợi ích cho xã hội Ví dụ như nông dân Trần Quốc Hải (Tây Ninh) chế tạo được máy bay, xe bọc thép; nông dân Nguyễn Văn Thanh (Lâm Đồng) chế tạo ra thiết bị chống trộm tài sản Như vậy, cách tiếp cận về thu hút NNLCLC chỉ xét đến bằng cấp chưa thực sự xác định đầy đủ đối tượng cần thu hút, do đó gặp không ít khó khăn cho hoạt động thống kê và hoạch định chính sách phát triển NNLCLC
Thu hút NNLCLC là một chính sách tốt, có tính đột phá và đúng đắn ở mỗi quốc gia, mỗi tỉnh, thành phố, ngành nghề, mỗi cơ quan đơn vị hay trong các loại hình doanh nghiệp Thu hút được NNLCLC từ quốc gia khác, từ nơi khác hay địa bàn khác, đã không mất công đào tạo, giảm được chi phí đào tạo lại có được ngay NNL theo nhu cầu của quốc gia, địa phương mình, lại kịp thời bổ sung vào các vị trí công tác Vì vậy, ngày nay các nước phát triển thường dùng những chế độ hấp dẫn về lương, điều kiện làm việc và sinh hoạt cho NNLCLC và gia đình họ, để thu hút từ các nước kém phát triển hoặc từ các vùng miền khác nhau trên phạm vi của một quốc gia
1.2 Vai trò của việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các đơn vị
sự nghiệp công lập trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.1 Nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò quan trọng trong chuyển đổi mô hình kinh tế - xã hội của đất nước
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa, nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho các quốc gia Nhân loại đang bước vào thời đại kinh tế, lấy việc chi phối, chiếm hữu nguồn tài nguyên trí lực và
Trang 2615
lấy việc sử dụng, phân phối, sản xuất tri thức làm nhân tố chủ yếu Sự phát triển của một quốc gia phụ thuộc vào nguồn lực trí tuệ và tay nghề của con người, thay vì dựa vào nguồn tài nguyên, vốn vật chất như trước đây
Lý luận và thực tiễn cũng đã rút ra những yêu cầu cho sự phát triển của các quốc gia: Một chính phủ có năng lực, một thể chế vững mạnh, một thị trường hoạt động hợp lý; con người có giáo dục, có thể chất tốt và quốc gia
đó có khả năng huy động, tích luỹ được vốn cho phát triển Thông qua các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh - PCI là: Chi phí gia nhập thị trường; tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; tính minh bạch và tiếp cận thông tin; chi phí thời gian để thực hiện quy định của nhà nước; chi phí không chính thức; tính năng động và tiên phong của lãnh đạo; đào tạo lao động; dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; thiết chế pháp lý, cho ta thấy rất rõ vai trò của thể chế và vai trò của NNLCLC đối với phát triển kinh tế
NNLCLC là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH; là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang
sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao Các chuyên gia Ngân hàng thế giới đã có nghiên cứu
số liệu từ 94 nước công nghiệp và đang phát triển trong 30 năm từ 1964 đến
1994 và đã rút ra kết luận: “Các nước có các chính sách kinh tế tốt và năng lực thể chế mạnh hơn thường tăng trưởng nhanh hơn”
Để có NNLCLC đủ sức đáp ứng những đòi hỏi của kinh tế tri thức, góp phần vào quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của Việt Nam, thì NNL phải được nâng cao về trình độ, phải có khả năng sáng tạo cao và người lao động phải có khả năng thích ứng với môi trường, có tính linh hoạt cao Bên cạnh
đó, nền sản xuất công nghiệp đòi hỏi người lao động phải có các năng lực cần
Trang 27bộ điều hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhà quản lí, trực tiếp nghiên cứu và sản xuất tại các doanh nghiệp; các Y, Bác sỹ; các nhà giáo, nhà nghiên cứu hoặc trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo NNLCLC ở các Viện nghiên cứu, các trường Đại học bồi dưỡng và phát triển nhân tài cho đất nước
1.2.2 Nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng của phát triển bền vững
và nâng cao sức cạnh tranh của Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
NNLCLC là điều kiện để một quốc gia hội nhập kinh tế quốc tế, điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đất nước; đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Có vai trò quan trọng trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, giải quyết tốt hơn các vấn đề an sinh xã, tổ chức và thực hiện phục vụ tốt hơn các dịch vụ công, nhằm cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân Sự phát triển đòi hỏi phải có một nhà nước hiệu quả, một nhà nước có đủ năng lực để quản lý xã hội, đề ra những chính sách khoa học và phù hợp với thực tiễn; xây dựng thể chế chính trị và thể chế kinh tế hợp lý tạo hành lang phát triển kinh tế Để thực hiện tốt các chức năng đó, nhà nước phải thực hiện bước chuyển mạnh mẽ từ “quản lý” sang “phục vụ” với đội ngũ cán bộ, viên chức có tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn để phục vụ nhân dân; cải thiện môi trường thân thiện trong quan hệ Quốc tế Cơ chế thị trường tạo ra sự công bằng trong lao động cho mọi thành viên trong xã hội Một nhà nước hiệu quả đòi hỏi các hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập đều phải đạt được
Trang 2817
hiệu quả KT-XH Đội ngũ CCVC nhà nước không chỉ là nguồn lực chủ yếu
để cấu thành các cơ quan nhà nước mà nó còn có vai trò quyết định cơ chế vận hành, tổ chức hoạt động, quyết định sự thành công hay thất bại của cơ chế vận hành hoạt động của nhà nước
Sự phát triển nhanh của nền kinh tế, cùng với sự phân công lao động quốc tế đang tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho lực lượng lao động chất lượng cao Khi cơ hội tìm kiếm việc làm không còn giới hạn trong phạm vị một quốc gia hay một đơn vị lãnh thổ, thì bức tranh so sánh giữa các khu vực sử dụng lao động, nhất là NNL ở khu vực công Khi Việt Nam bước vào giai đoạn đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế và thực hiện CNH, HĐH thì yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là trí lực, góp phấn làm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh
về thị trường lao động, đặc biệt là lao động chất lượng cao trong khu vực và thế giới Trước đây, được làm việc trong khu vực công được xem là có sức hấp dẫn cao nhất về tính chất ổn định và an toàn, thì ngày nay sự xuất hiện các khu vực khác với những việc làm mới hấp dẫn và có thu nhập cao đang là
sự lựa chọn của lực lượng lao động tiềm năng Đây thực sự là một thử thách lớn dẫn đến nguy cơ khan hiếm NNLCLC cho các đơn vị sự nghiệp công lập
Trong quá trình hội nhập quốc tế sâu và rộng như giai đoạn hiện nay, mỗi địa phương của mỗi quốc gia muốn thực hiện thành công mục tiêu hiện đại hóa để phát triển kinh tế - xã hội của mình cần phải tính đến nhiều yếu tố như: nhân lực, khoa học, công nghệ trong đó yếu tố con người phải được ưu tiên số một, phải duy trì và phát triển được đội ngũ công chức, viên chức thực
sự là NNLCLC, nhất là trong các đơn vị sự nghiệp công lập, để nâng cao tính cạnh tranh, đáp ứng dịch vụ công phục vụ nhân dân Thực tế đã cho thấy, vai trò động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội luôn thuộc về con người Chính con người với sức lực và trí tuệ của mình mới là nhân tố quyết định hiệu quả của việc khai thác, sử dụng nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác của mỗi
Trang 2918
địa phương Do đó, đối với mỗi địa phương, nếu giành được ưu thế về nguồn nhân lực chất lượng cao, là giành được ưu thế trong sự cạnh tranh và phát triển, tạo nền tảng giúp cho các địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập
1.3 Nội dung thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở các đơn vị sự nghiệp công lập
Thu hút NNLCLC là tổng thể các cơ chế chính sách nhằm kêu gọi, tạo điều kiện thuận lợi nhất về mọi mặt để lôi kéo những người có trình độ cao di trú tới địa phương mình Đây là nhân tố đáp ứng yêu cầu cải cách nền công
vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ công Để xác định việc thu hút NNLCLC, các địa phương, đơn vị có thể đưa ra những nội dung, tiêu chí thu hút khác nhau, nhưng chúng có thể bao gồm:
1.3.1 Chính sách xúc tiến thu hút
Đây là một chính sách có ý nghĩa rất lớn, lâu dài cho sự phát triển của
tổ chức; cần sự thống nhất, đồng bộ trong các khâu liên cơ quan quản lý đến đơn vị sử dụng NNLCLC, cũng như các đối tượng cần thu hút Do vậy, để xây dựng chính sách cần phải được nghiên cứu đầy đủ quy trình từ mục tiêu, đối tượng, hình thức thu hút, tuyển dụng đến công tác quảng bá, công bố chính sách nhằm bảo đảm chính sách thu hút sau khi ban hành, được công
bố rộng rãi, giới thiệu đầy đủ các thông tin về chính sách, qua đó thể hiện quyết tâm và mong muốn của các đơn vị đối với các đối tượng cần thu hút, góp phần thu hút được nhiều ứng viên tiềm năng một cách công khai, tạo dựng niềm tin ban đầu đối với các ứng viên Trong thực tế thị trường lao động hiện nay, NNLCLC có nhiều cơ hội để được mời gọi vào làm việc trong các doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị với sự hỗ trợ rất tốt về vật chất, tinh thần Chính vì vậy, để NNLCLC có sự lựa chọn, quyết định vào làm việc ở các đơn
vị sự nghiệp công lập, thì công tác xúc tiến ban đầu phải được thực hiện một cách đồng bộ Nội dung này bao gồm: quảng bá về tiềm năng phát triển
Trang 3019
KTXH; hình ảnh tương lai của địa phương; quyết tâm và sự cầu thị của lãnh đạo thực sự chiêu hiền, đãi sĩ; điều kiện và môi trường làm việc; điều kiện sinh sống hay học hành của con cái; những ưu đãi của địa phương đối với NNLCLC cần thu hút; chất lượng các dịch vụ công đang triển khai trên địa bàn theo lĩnh vực; cơ hội và triển vọng công việc trước mắt và lâu dài
Các hoạt động xúc tiến cần triển khai đồng bộ, nhằm tạo sự đồng thuận trong thực thi chính sách Những người đang làm việc trong nội bộ cũng có vai trò quan trọng trong hoạt động này thể hiện sự cầu thị, sẵn sàng và nâng cao độ tin cậy của chính sách Quảng bá bên ngoài cần nhiều hình thức: trên thông tin đại chúng, tổ chức hội nghị ở những địa bàn tập trung nhiều nhân lực trình độ cao, các trường Đại học có uy tín trong khu vực – nơi có tiềm năng thu hút được nhiều ứng viên giỏi; các hoạt động xúc tiến qua các tổ chức đồng hương, các nhà đầu tư, các chính trị gia tâm huyết với địa phương
1.3.2 Tạo dựng môi trường, điều kiện làm việc và cơ hội đào tạo, phát triển đối với nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong hoạt động của nền công vụ hiện nay, môi trường làm việc là một trong những yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của người lao động, của các đơn vị Con người không chỉ có nhu cầu vật chất mà còn có nhu cầu giao tiếp, được ghi nhận, tôn trọng và yêu thương Thái
độ thân thiện, giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp sẽ khiến cho người lao động cảm thấy gắn bó hơn với nơi làm việc; trong khi sự so bì, ganh đua dễ khiến những người giỏi thấy nản lòng Những người có trình độ cao cũng có nhu cầu được làm việc với những người giỏi, nhất là cấp trên trực tiếp của họ phải có năng lực chuyên môn và khả năng quản lý tốt Vì vậy, môi trường làm việc lý tưởng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thu hút và giữ chân người tài, cũng như tạo ra lực đẩy gia tăng hiệu quả hoạt động của tổ chức
Họ luôn cần đến sự quan tâm, chia sẻ, được tôn trọng của tổ chức, xã hội và đồng nghiệp, được làm việc trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình
Trang 3120
đẳng để phát triển Ngược lại, những đơn vị có môi trường làm việc không đảm bảo, dẫn đến chất lượng, hiệu quả làm việc kém, mất đoàn kết, thậm chí
là mất đi những nhân viên có trình độ cao, gây tổn thất cho đơn vị
Vì thế, muốn thu hút được NNLCLC, đảm bảo lâu dài và bền vững, chúng ta cần xây dựng cho người lao động một môi trường làm việc vui
vẻ, thân thiện và năng động, điều này có ý nghĩa trong việc khơi nguồn sáng tạo, sự đam mê, lòng nhiệt tình trong công việc mà họ đảm nhận Đối với NNLCLC tiền lương và phúc lợi không hẳn là thứ mà họ quan tâm, mà nhiều khi môi trường làm việc mới là sự lựa chọn của họ Chính vì thế, nhiều đơn vị
sự nghiệp công lập đã và đang không ngừng đầu tư xây dựng nên môi trường, điều kiện làm việc tốt đối với NNLCLC Điều kiện làm việc bao gồm các yếu
tố vật chất như máy móc, thiết bị, thông tin, tài liệu, phòng làm việc, Đối với NNLCLC thì yêu cầu về điều kiện làm việc càng cấp thiết Các nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên, công nghệ, kỹ thuật cần các phòng thí nghiệm, thư viện hiện đại; các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, nhân văn, kinh tế cần nguồn thông tin, tài liệu đầy đủ, kịp thời; bác sĩ cần công nghệ máy móc, thiết
bị tiên tiến, Nếu điều kiện làm việc không đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu, sáng tạo, ứng dụng thì rất khó có thể thu hút được NNLCLC về công tác
Trong nhiều trường hợp, NNLCLC vẫn chấp nhận mức lương tương đối, nếu môi trường làm việc phù hợp và có cơ hội đào tạo, phát triển Quá trình công tác cống hiến, NNLCLC cũng cần được ghi nhận đóng góp của bản thân, thông qua việc được đề bạt, bổ nhiệm các nhiệm vụ quản lý Để từ đó bản thân NNLCLC có định hướng được lộ trình công tác bản thân, nỗ lực cố gắng hoàn thành tốt các công việc được giao Việc tạo cơ hội đào tạo và phát triển là yếu
tố ảnh hưởng về mặt lâu dài, giữ chân NNLCLC
Trang 32họ, được làm việc theo đúng năng lực sở trường, luôn nhận được những thách thức trong công việc để có cảm hứng vươn lên, vượt qua thách thức thì họ sẽ gắn bó với công việc lâu dài hơn Thực chất khi được sử dụng NNLCLC đúng theo năng lực sở trường, thì họ sẽ tự mình nhận được lợi ích nhất định và tích lũy kinh nghiệm Công tác tuyển dụng nhân sự hết sức quan trọng đối với mỗi
cơ quan, tổ chức, tuyển dụng “đúng người”, theo từng vị trí việc làm cụ thể luôn là một thách thức đối với sự phát triển của các tổ chức Khi tuyển dụng, nếu chọn sai người, sai vị trí sẽ rất tốn kém, mất thời gian, không mang lại hiệu quả công việc Vì vậy, cần phải tuyển dụng phải đảm bảo đúng tiến trình
Các đơn vị sự nghiệp công lập khi muốn thu hút NNLCLC, phải có chính sách sử dụng hợp lý Điều này vừa giúp cho nhà quản lý có thể khai thác tốt nhất nguồn nhân lực quý giá này Đồng thời, việc sử dụng tốt NNLCLC hiện có sẽ góp phần quảng bá cho chính sách thu hút của địa phương Thu hút và tuyển chọn được NNLCLC đã là một việc khó, thì việc sử dụng họ như thế nào để họ phát huy được năng lực, mang lại hiệu quả cho đơn vị và tạo ra sự hài lòng trong công việc, giữ chân được người tài cũng là một vấn đề đáng lưu tâm Chỉ có qua sử dụng mới có điều kiện hiểu biết một cách đầy đủ những mặt mạnh và yếu của người được sử dụng, để trên cơ sở
đó có kế hoạch tổ chức bồi dưỡng và đào tạo để tạo mọi điều kiện cho NNLCLC Vì vậy, để sử dụng NNLCLC có hiệu quả chúng ta cần: Phải tuân
Trang 331.3.4 Chế độ đãi ngộ và tạo động lực lao động
Con người sống và làm việc có những nhu cầu khác nhau Đó là nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu xã hội và cũng có thể là nhu cầu hoạt động, làm việc Theo Abraham Maslow, đây là đòi hỏi khách quan của mọi con người để đảm bảo sự tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định Động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động Đó chính là sức mạnh bên trong thúc đẩy con người hoạt động, chỉ đạo hành vi và làm gia tăng lòng quyết tâm bền bỉ giành lấy mục tiêu [25] Chế
độ đãi ngộ tốt sẽ tạo điều kiện để người lao động nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần, từ đó tác động tạo động lực kích thích người lao động làm việc với hiệu quả cao nhất Theo thuyết nhu cầu của Abraham Maslow, nhu cầu của con người được chia thành năm bậc từ thấp đến cao Đó là: nhu cầu về vật chất, nhu cầu về an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được kính trọng và nhu cầu được thể hiện bản thân Cũng theo Maslow, những nhu cầu ở mức thấp sẽ phải được thỏa mãn trước khi xuất hiện nhu cầu ở mức cao hơn Khi mỗi nhu cầu trong số các nhu cầu đó được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng Như vậy, để thu hút được NNLCLC, cần phải có những chế độ đãi ngộ tác động đến các yếu tố thỏa mãn nhu cầu của con người
Chế độ đãi ngộ được hiểu theo nghĩa chung nhất bao gồm toàn bộ lương, thưởng, các chế độ phúc lợi, mang tính vật chất hay phi vật chất, cơ
Trang 34là thu hút được những người lao động giỏi phù hợp với yêu cầu công việc của đơn vị, gìn giữ và động viên họ thực hiện công việc tốt nhất Do vậy, mọi đơn
vị, tổ chức, nhất là trong khu vực tư đều có chính sách đãi ngộ đối với nhân tài, người có trình độ cao, nhất là trong điều kiện cạnh tranh hiện nay và trong tương lai Thực tế hiện nay, với khả năng ngân sách hạn chế, khung lương cơ bản và mức lương tối thiểu của các đơn vị sự nghiệp công lập còn thấp, ít linh hoạt hơn khu vực tư nên các đơn vị sự nghiệp công lập cần có những chính sách hỗ trợ tài chính hoặc tạo điều kiện nâng cao thu nhập bằng năng lực, trí tuệ cho NNLCLC thì mới có thể kết hợp thêm các yếu tố khác để cạnh tranh thu hút Vì thế, hầu hết các địa phương khi xây dựng chính sách này đều tính đến việc hỗ trợ kinh phí một lần, hỗ trợ kinh phí thuê nhà hoặc cấp đất làm nhà ở; trợ cấp thêm lương hằng tháng; bố trí công việc hợp lý cho vợ hoặc chồng, điều kiện học tập cho con người được thu hút
Các lợi ích vật chất gián tiếp thường được hiểu là các chế độ phúc lợi
mà người lao động được hưởng ví dụ xe, nhà công vụ, bảo hiểm, nghỉ phép, học tập Nếu các lợi ích vật chất trực tiếp biểu hiện mối quan hệ giữa cá nhân người lao động đối với đơn vị công tác thì các phúc lợi biểu hiện mối quan hệ của đơn vị với tập thể người lao động Các chế độ phúc lợi thường được áp dụng chung cho các nhóm công việc giống nhau hoặc các chức danh ở vị trí thứ bậc tương đương, hoặc khi người lao động đáp ứng những điều kiện nhất định theo quy định của cơ quan, đơn vị Theo xu hướng chung, các địa
Trang 35Chính vì vậy mà không ít quan điểm cho rằng việc tìm hiểu và đáp ứng những nhu cầu của NNLCLC là không thể Song, để giữ được các nhân tài trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, đây là một việc làm vô cùng cần thiết Nhu cầu về cuộc sống của con người ngày càng cao, đặc biệt đối với các lĩnh vực đòi hỏi nhiều chất xám Vì vậy, các chính sách, chế độ đãi ngộ đối với người tài cần xuất phát từ nhu cầu của chính họ, việc thỏa mãn nhu cầu sẽ chi phối, thậm chí quyết định đến hành động của họ.
1.3.5 Xây dựng mối quan hệ làm việc và một tập thể đoàn kết
Lãnh đạo đơn vị phải có tầm nhìn xa, trông rộng, là người công tâm, có tâm huyết với công việc, có đầu óc tổ chức để xây dựng đơn vị vững mạnh
Để tạo được mối quan hệ tốt giữa lãnh đạo và nhân viên, đòi hỏi người lãnh đạo tổ chức, phân công, bố trí công việc hợp lý, phù hợp với trình độ chuyên môn và năng lực công tác của mỗi cán bộ Người lãnh đạo có tâm lý, biết lắng nghe, kiềm chế trong mọi hoàn cảnh, luôn giữ được mối quan hệ mật thiết với nhân viên, đặc biệt là đối tượng được thu hút, quan tâm đến đời sống, hoàn cảnh, kịp thời hỗ trợ khi có khó khăn; có những đánh giá và khen thưởng, biểu dương kịp thời…sẽ làm cho nhân viên có tâm lý thoải mái, hứng khởi,
Trang 361.4 Kinh nghiệm về thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số địa phương trong nước và một số quốc gia trên thế giới
1.4.1 Kinh nghiệm ở một số địa phương trong nước
Trang 3726
nguyện đến làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc UBND thành phố, Thông báo số 87/TB-UBND ngày 18/6/2010 của UBND thành phố về danh mục ngành nghề tiếp nhận, bố trí công tác đối với những người tự nguyện đến làm việc tại các cơ quan, đơn vị; ban hành các đề án “Hỗ trợ đào tạo Đại học tại các cơ sở giáo dục trong và ngoài nước bằng ngân sách Nhà nước dành cho học sinh các trường THPT”; đề án “Đào tạo 100 Thạc sĩ, Tiến sĩ tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách thành phố”; quy định về chính sách ưu đãi đối với những người tự nguyện đến làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố quản lý Để thu hút NNLCLC phục vụ cho cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập, Đà Nẵng đã ban hành các cơ chế thu hút cụ thể: Bảng 1.1: Tóm tắt chính sách thu hút của Thành phố Đà Nẵng
Cử nhân giỏi
sẽ được hỗ trợ thêm 20% Trợ cấp
hàng tháng thực hưởng trong 5 năm 01 triệu + 50% lương 01 triệu trong 5 năm
Chính sách
khác
Tính đủ lương khởi điểm
hoặc theo bậc hiện
hưởng; bố trí nhà chung
cư, miễn tiền thuê nhà 5
năm; giảm 10-30% tiền
mua nhà/đất
Tính đủ lương khởi điểm hoặc theo bậc hiện hưởng; xem xét tuyển dụng vào biên chế, xem xét cử đi đào tạo, bồi dưỡng trong hoặc ngoài nước
Nguồn: Sở nội vụ TP Đà Nẵng Ngoài ra những người được tiếp nhận sau khi được bố trí công tác đều được có cơ hội cử đi đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng chuyên sâu nhằm nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn Với những chính sách liên tục thay đổi cho phù hợp, giai đoạn 2006 -2012, Thành phố đã đưa đi đào tạo 59 thạc
Trang 38và 945 người tốt nghiệp đại học loại khá, giỏi Đối với chính sách đào tạo thạc
sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài, tuy mới triển khai thực hiện trong thời gian ngắn nhưng đã có 15 người cử đi đào tạo tiến sĩ và 44 người đào tạo thạc sĩ Chính sách đào tạo bậc đại học, sau năm học 2008 - 2009 đã có 226 học sinh các trường THPT tham gia Trong đó có 134 học sinh đào tạo ở trong nước và 92 học sinh đào tạo ở nước ngoài Qua thực tế việc thu hút 1056 người về công tác tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập, đã tiếp nhận được một lực lượng lao động trẻ, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao; đây là giải pháp quan trọng nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từng bước trẻ hoá và chuyển biến chất cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; bổ sung đội ngũ cán bộ có trình độ, có năng lực Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, thì “có thể nhận định chính sách thu hút nguồn nhân lực của thành phố là một chính sách đúng đắn và phát huy tác dụng tích cực trên thực tế Kết quả thực hiện chính sách này đã góp phần trẻ hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thành phố
và hỗ trợ tích cực cho các cơ quan, đơn vị Hầu hết đối tượng thu hút phát huy tốt trình độ, năng lực bản thân, hoàn thành tốt công việc được giao và được lãnh đạo đơn vị đánh giá cao Phần lớn đối tượng thu hút được bố trí làm việc đúng chuyên môn, có cơ hội học tập, đào tạo nâng cao trình độ, ngày càng trưởng thành, có cơ hội thăng tiến”
- Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Bình
Quảng Bình là một trong những tỉnh có nền kinh tế tương đối khó khăn, tuy nhiên trong thời gian qua, UBND tỉnh đã ban hành các chính sách thu hút NNLCLC, đã ban hành Quyết định số 17/2011/QĐ-UBND ngày 10/11/1011
Trang 39sư
Tiến
sĩ Thạc sĩ
Bác sỹ nội trú
Cử nhân giỏi
Ghi chú
1 Thu hút bằng hình thức mời gọi trực tiếp
Hỗ trợ 1,5 lần lương tối thiểu
Đãi ngộ khác
- Tạo điều kiện cho vợ hoặc chồng vào làm việc tại các đơn vị trên địa bàn nếu có nhu cầu và chuyên môn phù hợp
- Sau 03 năm công tác, được
cử đào tạo chuyên môn ở bậc cao hơn
2 Thu hút bằng hình thức tiếp nhận, tuyển dụng
Hỗ trợ ban đầu
(triệu đồng)
Hỗ trợ hàng
tháng Hỗ trợ 1,5 lần lương tối thiểu trong 5 năm đầu
Nguồn: Sở nội vụ tỉnh Quảng Bình 1.4.2 Kinh nghiệm ở một số quốc gia trên thế giới
Theo nghiên cứu của James H Anderson, Gary Reid và Randi Ryterman được tiến hành vào năm 2003 ở ba nước có nền kinh tế chuyển đổi
là Rumani, Cộng hòa Slovakia, Cộng hòa Kiếc-gi-a để tìm hiểu các yếu tố trong quản lý nhân sự, quy trình hành chính nội bộ và việc sử dụng các động
cơ khuyến khích có thể nâng cao chất lượng hoạt động hay không Kết quả nghiên cứu cho thấy chế độ trọng dụng nhân tài có vai trò rất quyết định để nâng cao hiệu quả hoạt động, còn quy trình hành chính nội bộ có ảnh hưởng gián tiếp hơn Việc sử dụng các động cơ khuyến khích cụ thể nhằm nâng cao chất lượng lại không có nhiều ảnh hưởng, nhưng việc đảm bảo hiệu quả công
Trang 40số liệu từ các nước khác nhau và sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, đều tương đồng ở một điểm là, tầm quan trọng của chế độ trọng dụng nhân tài” [Tr 20] Qua các nghiên cứu trên, có thể rút ra một số vấn đề cơ bản
từ kinh nghiệm thực tiễn của các nước trên thế giới về thu hút NNLCLC trong thực thi nhiệm vụ, phục vụ nền hành chính hiện đại cụ thể như sau:
- Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong phát triển NNLCLC Nhật Bản luôn xác định rằng, Nhật Bản là nước nghèo tài nguyên thiên nhiên,
để phát triển chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân Nhật Bản, Chính phủ nước này đã đặc biệt chú trọng tới hoạt động thu hút NNLCLC thể hiện thông qua các chính sách về giáo dục - đào tạo, thực sự coi đây là quốc sách hàng đầu, là thị trường NNLCLC, tiềm năng cho cả khu vực tư nhân và khu vực công Theo đó, chương trình giáo dục đối với cấp tiểu học và trung học
cơ sở là bắt buộc, tất cả học sinh trong độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi được học miễn phí Kết quả là, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ở nước này ngày càng nhiều Nhật Bản trở thành một trong những cường quốc giáo dục của thế giới Về sử dụng và quản lý NNLCLC, Nhật Bản thực hiện chế độ tăng lương và tăng thưởng theo thâm niên Nếu như ở nhiều nước phương Tây, chế độ này chủ yếu dựa vào năng lực và thành tích cá nhân, thì ở Nhật Bản, hầu như không có trường hợp cán bộ trẻ tuổi, ít tuổi nghề lại có chức vụ
và tiền lương cao hơn người làm lâu năm Chính phủ Nhật Bản đã triển khai
hệ thống tuyển dụng rộng khắp, thông qua kết nối tuyển dụng lao động giữa