một số kiến nghị qua việc áp dụng chế độ Hợp đồng kinh tế tại chi nhánh công ty thái bình dương
Trang 1Mục lục
Chơng I:
Chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế 3
I Những vấn đề lý luận về hợp đồng kinh tế 3
1 Khái niệm chung về hợp đồng 3
2 Khái niệm về hợp đồng kinh tế: 4
3 Đặc điểm hợp đồng kinh tế 9
II Chế độ ký kết hợp đồng kinh tế: 11
1 Nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế 11
2 Căn cứ để ký kết hợp đồng kinh tế 13
3 Thẩm quyền ký kết hợp đồng kinh tế 15
4 Nội dung ký kết hợp đồng kinh tế: 18
5 Thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế 23
III Chế độ thực hiện hợp đồng kinh tế 25
1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng kinh tế: 25
2 Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng: 26
3 Thay đổi đình chỉ thanh lý hợp đồng kinh tế 27
4 Hợp đồng kinh tế vô hiệu và xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu: 28
IV Trách nhiệm vật chất trong quan hệ hợp đồng kinh tế 30
1 Khái niệm và ý nghĩa của trách nhiệm vật chất 30
2 Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm vật chất 31
3 Các hình thức trách nhiệm vật chất 32
Chơng II: Thực tiễn áp dụng chế độ hợp đồng kinh tế tại chi nhánh công ty thái bình dơng 34
I Giới thiệu chung về công ty thái bình dơng 34
1 Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh: 38
2 Chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của chi nhánh công ty: 39
II Quá trình đàm phán ký kết thực hiện hợp đồng kinh tế tại chi nhánh công tyThái Bình Dơng 43
1 Tình hình ký kết hợp đồng kinh tế 43
2 Cơ sở thiết lập quá trình ký kết hợp đồng kinh tế tại chi nhánh công ty Thái Bình Dơng: 47
3 Quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế tại Chi nhánh Công ty Thái Bình Dơng 50
Trang 2Chơng III: một số kiến nghị qua việc áp dụng chế độ
Hợp đồng kinh tế tại chi nhánh công ty
thái bình dơng 52
I Đánh giá thực trạng công tác ký kết, thực hiện hợp đồng kinh tế tại Chi nhánh 52
1 Thuận lợi: 52
2 Khó khăn: 52
II Hớng sửa đổi bổ xung Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 53
Kết luận 56
Tài liệu tham khảo 57
Trang 3Chơng I:
Chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế
I Những vấn đề lý luận về hợp đồng kinh tế.
1 Khái niệm chung về hợp đồng
a Khái niệm
Hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai hoặc nhiều bên bình đẳng với nhaulàm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trongquá trình thực hiện một công việc hay giao dịch nhất định
b Vai trò của hợp đồng trong đời sống xã hội
Hợp đồng biểu hiện sự tự nguyện tham gia ký kết của các chủ thể mà ýchí của các bên thống nháat với nhau do yêu cầu khách quan của cuộc sốnghàng ngày, do điều kiện kinh tế nhất định tác động, ngoài ra ý chí của chủ thểtham gia hợp đồng còn bị chi phối bởi luật pháp tức là ý chí cua r nhà nớc Vìvậy, dới các chế độ khác nhau, hợp đồng có ý nghĩa và bản chất khác nhau.Trong đời sống kinh tế xã hội hiện nay, hợp đồng là công cụ pháp lý quantrọng của nhà nớc trong xây dựng và phát triển đời sống xã hội, nó làm cho lợiích của mỗi cá nhân, tập thể phù hợp với lợi ích chung của toàn xã hội Nó xáclập và gắn chặt mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân, đơn vị, tạo nên sự bình
đẳng về mặt pháp lý trong đời sống xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa các bên ký kết, giúp đỡ các bên xây dựng kế hoạch một cách vững chắc,
kế hoạch ấy chỉ trở thành phơng án thực hiện khi nó bảo đảm bằng những camkết hợp đồng Ngợc lại hợp đồng cụ thể hoá, chi tiết hoá nội dung kế hoạchcủa các chủ thể hợp đồng Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cụ thể đó chính làviệc thực hiện từng phần kế hoạch
Nghiên cứu vai trò của hợp đồng, chúng ta khẳng định rằng hợp đồng cóvai trò quan trọng trong đổi mới cơ chế quản lý đời sống xã hội: đổi mới kếhoạch hoá nhằm bảo đảm quyền tự chủ của các đơn vị, tăng cờng quản lýkinh tế quản lý thị trờng
Trang 4Trong pháp luật nớc ta đang quy định gồm nhiều loại hợp đồng tồn tạithuộc các lĩnh vực quan hệ xã hội khác nhau nh: hợp đồng dân sự, hợp đồngkinh tế, hợp đồng mua bán ngoại thơng, hợp đồng liên doanh, hợp đồng hợptác kinh doanh, hợp đồng lao động
2 Khái niệm về hợp đồng kinh tế:
a Lịch sử phát triển của hợp đồng kinh tế:
Trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nền kinh tế
n-ớc ta còn bao gồm nhiều thành phần kinh tế khác nhau Ngoài khu vực kinh tếquốc doanh, tập thể còn có kinh tế cá thể trong nông nghiệp, thủ công nghiệp
và thành phần kinh tế t bản t doanh cha đợc cải tạo Hoạt động kinh tế của cáccơ quan Xí nghiệp Nhà nớc của các đơn vị kinh tế tập thể tiến hành song songvới hoạt động kinh tế của t nhân Để thu hút mọi hoạt động kinh tế đi theo h-ớng có lợi cho việc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, từng bớc xây dựng quan hệsản xuất mối quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Thủ tớng Chính phủ đã banhành Nghị định 735/TTg ngày 10/4/1957, kèm theo Nghị định này là bản
Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh Bản Điều lệ này bao gồm nhữngquy định điều chỉnh các quan hệ hợp đồng giữa các đơn vị kinh tế nh các đơn
vị kinh tế quốc doanh, hợp tác xã, công ty hợp doanh, t doanh, ngời Việt Namhay ngoại kiều kinh doanh trên đất Việt Nam
Theo Điều lệ này, hợp đồng kinh doanh đợc thiết lập bằng cách hai haynhiều đơn vị kinh doanh tự nguyện cam kết với nhau thực hiện một một sốnhiệm vụ nhất định, trong một thời gian nhất định, nhằm phát triển kinhdoanh công thơng nghiệp, góp phần thực hiện kế họach Nhà nớc Hợp đồngkinh doanh đợc xây dựng trên nguyên tác các bên tự nguyện, cùng có lợi và cólợi ích cho việc phát triển nền kinh tế quốc dân Điều lệ còn quy định nếutrong quan hệ hợp đồng có 1 bên là t doanh, hợp đồng phải đợc đăng ký tại cơquan Nhà nớc có thẩm quyền (cơ quan công thơng tỉnh hoặc Uỷ ban hànhchính huyện) thì mới có giá trị về mặt pháp lý
Việc thực hiện Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh, trong mộtchừng mực nhất định, đã sử dụng đợc khả năng của các thành phần kinh tếquốc dân theo hớng thống nhất của kế hoạch Nhà nớc, góp phần cải tạo quan
hệ sản xuất cũ, từng bớc xây dựng quan hệ sản xuất mới
Đến năm 1960, ở miền Bắc, chúng ta đã hoàn thành cơ bản công cuộc cảitạo xã hội chủ nghĩa, bớc vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, mở đầu
Trang 5bằng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1960 - 1965 Các quan hệ kinh tế đã có sựthay đổi về cơ cấu chủ thể và về tính chất Công tác kế hoạch hoá và hạch toánkinh tế đòi hỏi phải có những quy định mới về điều chỉnh các quan hệ hợp
đồng giữa các đơn vị kinh tế Vì vậy, Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồngkinh tế đợc Nhà nớc ban hành kèm theo Nghị định 04/TTg ngày 4/1/1960,
đồng thời Nhà nớc cũng quyết định thành lập Hội đồng trọng tài kinh tế đểthực hiện chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế và giải quyết các tranhchấp hợp đồng kinh tế (Nghị định 20/TTg ngày 14/1/1960)
Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế đã quy định rõ các bên thamgia quan hệ hợp đồng là các đơn vụ kinh tế cơ sở, các tổ chức xã hội chủnghĩa, việc ký kết hợp đồng là nhằm thực hiện chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nớc,khi hợp đồng kinh tế bị vi phạm, thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Hội
đồng trọng tài kinh tế
Trong quá trình thực hiện bản Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh
tế, Nhà nớc đã ban hành nhiều văn bản quy định các điều lệ về từng chủngloại hợp đồng chính trị ở nớc ta Hợp đồng kinh tế đã thực sự trở thành công
cụ điều chỉnh và củng cố các quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa
Trớc yêu cầu của việc cải tiến quản lý kinh tế: “xoá bỏ lối quản lý hànhchính cung cấp, thực hiện quản lý theo phơng thức kinh doanh xã hội chủnghĩa, khắc phục cách quản lý thủ công phân tán theo lối sản xuất nhỏ, xâydựng cách tổ chức quản lý của nền công nghiệp lớn nhằm thúc đẩy quá trình
đa nền kinh tế quốc dân từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất xã hội chủ nghĩa”.Ngày 10/3/1975, Nhà nớc ta đã ban hành bản Điều lệ về chế độ hợp đồngkinh tế (ban hành kèm theo Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 của Hội đồngChính phủ) Điều lệ này đã quy định tơng đối đầy đủ các vấn đề nh: Vai tròcủa hợp đồng kinh tế, nguyên tắc ký kết, các nội dung ký kết và thực hiện hợp
đồng kinh tế, giải quyết tranh chấp và trách nhiệm do vi phạm chế độ hợp
đồng kinh tế những quy định này đã trở thành căn cứ pháp lý quan trọng đápứng yêu cầu của công cuộc cải tiến quản lý kinh tế, góp phần đa các quan hệhợp đồng kinh tế trở thành nề nếp, ở giai đoạn này với sự phát triển cao độ củacơ chế tập trung quan liên bao cấp, hợp đồng kinh tế đã trở thành một công cụpháp lý chủ yếu của Nhà nớc để quản lý nền kinh tế kế hoạch hoá xã hội chủnghĩa Nghĩa là hợp đồng kinh tế đợc coi là một công cụ hữu hiện trong xâydựng, thực hiện và đánh dấu việc hoàn thành hay không hoàn thành kếhoạch
Trang 6Nói một cách khác, Nhà nớc ta đã đặt một cái dấu bằng giữa hợp đồngkinh tế và kế hoạch Ký kết hợp đồng kinh tế là xây dựng kế hoạch, thực hiệnhợp đồng kinh tế là thực hiện kế hoạch vi phạm hợp đồng kinh tế là vi phạmhợp đồng kế hoạch Do đó, việc ký kết hợp đồng kinh tế đợc Nghị định54/CP quy định là một nghĩa vụ, là kỷ luật Nhà nớc Nhà nớc quy định tỷ mỉ,chặt chẽ gần nh toàn bộ nội dung của hợp đồng kinh tế buộc các bên phải tuânthủ nghiêm chỉnh Về mặt lý luận, ai cũng biết rằng, một trong những đặc
điểm của hợp đồng kinh tế buộc các bên phải tuân thủ nghiêm chỉnh Về mặt
lý luận, ai cũng biết rằng, một trong những đặc điểm của hợp đồng kinh tếtrong cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ là ở chỗ, trong quan hệ hợp đồngkinh tế có sự thống nhất của 2 yếu tố: yếu tố trao đổi tài sản (quan hệ ngang)
và yếu tố tổ chức kế hoạch (quan hệ quản lý) Nhng phải nói rằng, do Nhà nớc
ta đã nhấn mạnh quá mức yếu tố tổ chức - kế hoạch trong quan hệ hợp đồngkinh tế nên đã làm cho hợp đồng bị biến dạng và đã trở thành công cụ chủ yếu
để Nhà nớc thực hiện sự can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các
đơn vị kinh tế, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chếthị trờng có định hớng xã hội chủ nghĩa
Để thực hiện nội dung đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cần xoá bỏ hoàntoàn cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp xác định rõ phạm vi quản lýNhà nớc về kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh, xác lập và mở rộng quyền
tự chủ sản xuất kinh doanh cho các đơn vị kinh tế cơ sở, bảo đảm sự bình đẳng
về mặt pháp lý trong các quan hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế, không phânbiệt thành phần kinh tế
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cácquan hệ hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị kinh tế mang một nội dung mới Bản
Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế ban hành kèm theo Nghị định 54/CP ngày10/3/1975 không còn phù hợp nữa Vì vậy, Nhà nớc đã ban hành Pháp lện hợp
đồng kinh tế ở nớc ta, nó đã thể chế hoá đợc những t tởng lớn về đổi mới quản
lý kinh tế của Đảng, trả lại giá trị đích thực của hợp đồng kinh tế với t cách là
sự thống nhất ý chí của các bên, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và các văn bảnpháp lý cụ thể hoá pháp lệnh đã tạo thành hệ thống các quy phạm pháp luậtlàm cơ sở pháp lý quan trọng điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế trongcơ chế kinh tế mới hiện nay
Trang 7b Khái niệm hợp đồng kinh tế
Theo điều 1 pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/ 9/1989 thì hợp đồnhkinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, hay tài liệu giao dịch giữa các bên kýkết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiêncứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinhdoanh cà thực hiện kế hoạch của mình
c Phân loại hợp đồng kinh tế:
*.Căn cứ vào thời gian của hợp đồng kinh tế
+Hợp đồng dài hạn: Hợp đồng này có thời hạn từ trên một nam nhằmthực hiện kế hoạch dài hạn
+Hợp đồng ngắn hạn: Đây là những hợp đồng có thời hạn đợc thu thựchiện từ một năm trở xuống
Dựa vào tính chất của hợp đồng kinh tế, có thể chia hợp đồng kinh tếthành hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh và hợp đồng kinh tế khôngtheo chỉ tiêu Pháp lệnh
Hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh là hợp đồng kinh tế đợc ký căn
cứ vào chỉ tiêu Pháp lệnh của Nhà nớc giao Ký kết và thực hiện hợp đồngkinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh là kỷ luật của Nhà nớc, là nghĩa vụ của các
đơn vị kinh tế đợc Nhà nớc giao chỉ tiêu Pháp lệnh Trong nền kinh tế thị ờng, số lợng hợp đồng kinh tế thuộc loại này rất hạn chế
tr-Hợp đồng kinh tế không theo chỉ tiêu Pháp lệnh là loại hợp đồng đ ợc kýkết theo nguyên tắc tự nguyện nhằm xây dựng và thực hiện kế hoạch của cácchủ thể Các chế độ ký kết, thực hiện hợp đồng của loại hợp đồng này đợcnghiên cứu trong các mục tiếp theo của chơng này
Căn cứ vào nội dung cụ thể của các quan hệ kinh tế, trong hợp đồng cóthể chia hợp đồng kinh tế thành các loại sau đây:
Trang 8- Hợp đồng nghiên cứu khoa học, triển khai kỹ thuật
- Các loại hợp đồng khác
3 Đặc điểm hợp đồng kinh tế
- Về nội dung: Hợp đồng kinh tế đợc ký kết nhằm phục vụ hoạt độngkinh doanh Đó là nội dung thực hiện các công việc sản xuất, trao đổi hànghoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác
do các chủ thể tiến hành trong một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trìnhtái sản xuất, từ khi đầu t vốn đến khi tiêu thụ sản phẩm hoặc hoàn thành dịch
vụ nhằm sinh lợi hợp pháp
Kinh doanh là chức năng, nhiệm vụ, là mục tiêu của các đơn vị kinh tế.Vì vậy, mục đích là kinh doanh luôn đợc thể hiện hàng đầu trong các hợp
đồng mà các chủ thể kinh doanh ký kết, nhằm xây dựng và thực hiện kế hoạchcủa mình Khác với hợp đồng kinh tế, nội dung của hợp đồng dân sự lại chủyếu nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của các chủ thể kýkết
- Về chủ thể hợp đồng, theo Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì hợp
đồng kinh tế đợc ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân, hay pháp nhân với cánhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và phải ký kết trongphạm vi nghề nghiệp kinh doanh đã đăng ký Ngoài ra, Pháp lệnh còn quy
định những ngời làm công tác khoa học kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia
đình, hộ nông dân, ng dân cá thể, các tổ chức và cá nhân nớc ngoài ở ViệtNam cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng kinh tế khi họ ký kết hợp
đồng với một pháp nhân
Trên thực tế hiện nay và xu hớng trong nền kinh tế thị trờng chủ thể chủyếu của hợp đồng kinh tế là các doanh nghiệp Đối với hợp đồng dân sự, mọipháp nhân và cá nhân có năng lực pháp luật và năng lực hành vi đều có thể làchủ thể của hợp đồng,
- Về hình thức, hợp đồng kinh tế phải đợc ký kết bằng văn bản Đó là bảnhợp đồng hay các tài liệu giao dịch mang tính văn bản có chữ ký của các bênxác nhận nội dung trao đổi, thoả thuận nh công văn, đơn chào hàng, đơn đặthàng, giấy chấp nhận
Ký kết hợp đồng kinh tế bằng văn bản là một quy định bắt buộc mà cácchủ thể của hợp đồng phải tuân theo Văn bản này là sự ghi nhận rõ ràng về
Trang 9quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thoả thuận với nhau, là cơ sở pháp lý để cácbên tiến hành thực hiện các điều đã cam kết, để các cơ quan Nhà nớc có thẩmquyền kiểm tra tính hợp pháp của mối quan hệ kinh tế và giải quyết các tranhchấp, xử lý các vi phạm nếu hợp đồng dân sự phải ký kết bằng văn bản hoặcthoả thuận miệng tuỳ theo nội dung của từng quan hệ hợp đồng và ý chí củacác bên ký kết.
Hợp đồng kinh tế còn mang tính kế hoạch và phản ảnh mối quan hệ giữa
kế hoạch với thị trờng Hợp đồng kinh tế đợc ký kết dựa trên định hớng kếhoạch của Nhà nớc, nhằm các việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của các
đơn vị kinh tế Trong đó có những hợp đồng kinh tế mà việc ký kết và thựchiện nó phải hoàn toàn tuân theo các chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh của Nhà nớc.Trong cơ chế quản lý theo phơng pháp kế hoạch hoá tập trung thì tính kếhoạch là đặc tính số một của hợp đồng kinh tế Mặc dù trong giai đoạn hiệnnay, Nhà nớc ta đã có những thay đổi lớn trong công tác kế hoạch hóa, nhngtính kế hoạch của hợp đồng kinh tế vẫn tồn tại: “Hợp đồng kinh tế giữa các
đơn vị sản xuất kinh doanh vừa là cơ sở để xây dựng kế hoạch, vừa là công cụpháp lý bảo đảm việc thực hiện kế hoạch”
Những đặc điểm của hợp đồng kinh tế giúp ta phân biệt hợp đồng kinh tế
“Hợp đồng kinh tế đợc ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi,bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và khôngtrái pháp luật”
a- Nguyên tắc tự nguyện:
Theo nguyên tắc này, một hợp đồng kinh tế đợc hình thành, phải hoàntoàn dựa trên cơ sở tự nguyện thoả thuận giữa các chủ thể (tự do ý chí ), khôngthể do sự áp đặt ý chí của bất cứ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào
Trang 10Khi xác lập quan hệ hợp đồng, các bên hoàn toàn tự do ý chí, tự nguyệntrong việc thoả thuận, bày tỏ ý chí và thống nhất ý chí nhằm đạt tới mục đíchnhất định Các bên có quyền tự do lựa chọn bạn hàng, thời điểm ký kết và cácnội dung ký kết Mọi sự tác động làm tính tự nguyện của các bên trong quátrình ký kết nh bị cỡng bức, lừa đảo, nhầm lẫn đều làm ảnh hởng đến hiệulực của hợp đồng kinh tế.
Nguyên tắc này thể hiện quyền tự chủ trong ký kết hợp đồng kinh tế củacác chủ thể kinh doanh đợc Nhà nớc đảm bảo Ký kết hợp đồng kinh tế làquyền của các đơn vị kinh tế, quyền này phải gắn liền với những các điều kiệnnhất định, đó là:
- Không đợc phép lợi dụng ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt động tráipháp luật
- Đối với các đơn vị kinh tế có chức năng sản xuất kinh doanh trong cácthành phần kinh tế thuộc độc quyền của Nhà nớc thì không đợc lợi dụngquyền ký kết hợp đồng kinh tế để đòi hỏi những điều kiện bất bình đẳng, épbuộc, cửa quyền, hoặc vì không đạt đợc những đòi hỏi bất bình đẳng đó nên
đã từ chối ký kết hợp đồng kinh tế thuộc ngành nghề độc quyền của mình
- Quyền ký kết hợp đồng kinh tế của các đơn vị kinh tế còn đợc thể hiệnqua việc quy định các đơn vị kinh tế có quyền từ chối mọi sự áp đặt của bất cứcơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong việc ký kết hợp đồng kinh tế
Nguyên tắc tự nguyện trong ký kết hợp đồng kinh tế đánh dấu bớc đổimới căn bản trong chế độ hợp đồng kinh tế của Nhà nớc ta, đợc ghi nhận trongPháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989
Cũng cần lu ý rằng, trớc đây cũng nh hiện nay, việc ký kết các hợp đồngkinh tế theo chỉ tiêu kế hoạch Pháp lệnh là nghĩa vụ bắt buộc của các đơn vịkinh tế đợc Nhà nớc giao chỉ tiêu Pháp lệnh, là kỷ luật Nhà nớc Đối với việc
ký kết loại hợp đồng này, tính tự nguyện của các chủ thể bị hạn chế đáng kể
do có sự ràng buộc bởi tính kỷ luật của các chỉ tiêu kế hoạch Pháp lệnh
Trang 11kinh tế thuộc thành phàn kinh tế nào, do cấp nào quản lý, khi ký kết hợp đồng
đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, cũng có lợi trên cơ sở thoả thuận và phảichịu trách nhiệm vật chất nếu vi phạm hợp đồng đã ký kết Không thể có mộthợp đồng kinh tế nào chỉ mang lại lợi ích cho một bên hoặc một bên chỉ cóquyền còn bên kia chỉ có nghĩa vụ Một hợp đồng kinh tế đợc ký kết mà viphạm nguyên tắc bình đẳng thì sẽ ảnh hởng đến hiệu lực của hợp đồng kinh tế
c Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật
Trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản là các bên tham gia quan hệ hợp đồngkinh tế phải dùng chính tài sản của đơn vị mình để đảm bảo việc ký kết vàthực hiện hợp đồng kinh tế Tuy nhiên, một chủ thể có thể ký kết hợp đồngkinh tế trong trờng hợp đợc một chủ thể khác đứng ra bảo lãnh về tài sản.Quy định việc ký kết hợp đồng “không trái pháp luật” đòi hỏi nội dung,hình thức chủ thể của hợp đồng kinh tế đó phải phù hợp, tuân theo các quy
định của pháp luật, không đợc lợi dụng việc ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt
động trái pháp luật
Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện hợp đồngkinh tế và việc bảo về trật tự quản lý kinh tế của Nhà nớc Một hợp đồng kinh
tế chỉ có thể đợc thực hiện một cách nghiêm chỉnh khi nó không trái pháp luật
và các bên có khả năng thực hiện đẩy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.Trong giai đoạn hiện nay nguyên tắc này càng cần đợc coi trọng
2 Căn cứ để ký kết hợp đồng kinh tế
Căn cứ ký kết hợp đồng kinh tế đợc quy định tại Điều 10 Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế Theo quy định này, hợp đồng kinh tế đợc ký kết trên các căn cứsau:
Trang 12a Định hớng kế hoạch của Nhà nớc, các chính sách, chế độ, các chuẩn mực kinh tế, kỹ thuật hiện hành.
Đối với mỗi đơn vị kinh tế, ký kết hợp đồng kinh tế là cơ sở để xây dựng
kế hoạch và là cộng cụ để thực hiện kế hoạch của mình Kế hoạch của mỗi
đơn vị kinh tế đợc xây dựng căn cứ vào định hớng kế hoạch của Nhà nớc, do
đó việc ký kết các hợp đồng kinh tế cũng phải căn cứ vào định hớng kế hoạchcủa Nhà nớc Ngoài ra, để đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý và hiệu quả trongviệc xây dựng nội dung của hợp đồng kinh tế, khi ký kết hợp đồng các chủ thểcũng phải căn cứ vào các chính sách và chế độ quản lý kinh tế của Nhà nớc,các chuẩn mực kinh tế kỹ thuật hiện hành đối với từng loại sản phẩm, ngànhnghề
b Nhu cầu thị trờng, đơn đặt hàng, đơn chào hàng của bạn hàng.
Hợp đồng kinh tế phản ánh mối quan hệ hàng hoá - tiền tệ, luôn luôn gắnliền với sự vận động của thị trờng của quan hệ cung cầu Vì vậy, trong việc kýkết hợp đồng kinh tế, các chủ thể phải luôn luôn căn cứ vào nhu cầu của thị tr-ờng bao gồm các khả năng cung cấp hàng hoá, dịch vụ và nhu cầu cần đápứng về hàng hoá dịch vụ của mình và của bạn hàng
Căn cứ này nhằm đảm bảo cho các hoạt động kinh tế đợc ký kết có khảnăng thực hiện trên thực tế, đồng thời đảm bảo cho sản xuất kinh doanh vừamang lại hiệu quả cao cho các đơn vị kinh tế, vừa thoả mãn nhu cầu xã hội,
đảm bảo gắn kế hoạch sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế với quan hệthị trờng
c Khả năng phát triển sản xuất kinh doanh, chức năng hoạt động của các chủ thể ký kết.
Khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế là nhữngkhả năng thực tế về tiền vốn, vật t, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinhdoanh Chức năng hoạt động là phạm vi ngành nghề, lĩnh vực kinh tế mà đơn
vị đó đợc tiến hành hoạt động
Việc ký kết hợp đồng kinh tế không thể bỏ qua đợc căn cứ này bởi vì nó
đảm bảo khả năng thực tế của việc thực hiện hợp đồng, đồng thời bảo đảmtính cân đối giữa khả năng và nhu cầu, giữa sản xuất và tiêu thụ, giữa giá trị vàhiện vật
Trang 13Mặt khác, các đơn vị kinh tế hoạt động đúng ngành nghề cần đảm bảocác cân đối ngành kinh tế và trật tự quản lý kinh tế của Nhà nớc.
d Tính hợp pháp của hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng
đảm bảo tài sản của các bên cùng ký kết hợp đồng
Đây là một căn cứ rất quan trọng để đảm bảo hiệu lực của hợp đồng kinh
tế về mặt nội dung cũng nh tính chất hợp pháp của mỗi quan hệ và khả năng
đáp ứng về hàng hoá, khả năng thanh toán của mỗi bên Căn cứ này nhằm đảmbảo cho mỗi hợp đồng kinh tế có đầy đủ cơ sở pháp lý và cơ sở kinh tế để thựchiện trên thực tế
Tóm lại, khi tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế, các đơn vị kinh tế phảicăn cứ vào những quy định của pháp luật, những yêu cầu khách quan và khảnăng chủ quan để xác lập mối quan hệ kinh tế một cách hợp pháp, có đầy đủ
điều kiện để thực hiện nhằm mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho đơn vịmình và cho xã hội
Pháp nhân là một tổ chức có đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Có tài khoản riêng và chịu trách nhiệm một cách độc lập bằng các tàisản đó
- Tự nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật, có thể trở thànhnguyên đơn, bị đơn trớc toà án
- Tồn tại độc lập và đợc pháp luật công nhận là một tổ chức độc lập
- Cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật là ngời đã
đăng ký kinh doanh tại cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền theo đúng thủ tục
Trang 14pháp luật quy định và đã đợc cấp giấy phép kinh doanh (giấy chứng nhận đăng
Về chủ thể của hợp đồng kinh tế, trong khoa học pháp lý hiện có quan
điểm cho rằng, hợp đồng kinh tế là những hợp đồng có mục đích kinh doanh.Vì vậy, nó phải đợc thiết lập giữa các chủ thể kinh doanh - chủ yếu là giữa cácdoanh nghiệp với nhau
Khi tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế, mỗi bên tham gia quan hệ hợp
đồng chỉ cần cử một đại diện để ký vào hợp đồng kinh tế Nếu là pháp nhânthì ngời ký hợp đồng phải là ngời đợc bổ nhiệm hoặc đang giữ chức vụ đó.Nếu là cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật thì ngời kýhợp đồng phải là ngời đứng tên trang giấy phép kinh doanh (đã đăng ký kinhdoanh theo đúng quy định của pháp luật và đợc cấp giấy phép kinh doanh).Trong tất cả các trờng hợp, hợp đồng kinh tế không bắt buộc kế toán trởngphải cùng ký vào bản hợp đồng kinh tế, đây là điểm khác biệt so với quy địnhtrong Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế ban hành theo Nghị định 54/CP ngày10/3/1975
Trong trờng hợp một bên là ngời làm công tác khoa học, kỹ thuật, nghệnhân thì ngời ký hợp đồng kinh tế phải là ngời trực tiếp thực hiện công việctrong hợp đồng (nếu có nhiều ngời cùng làm thì ngời ký vào bản hợp đồngkinh tế phải do những ngời cùng làm cử bằng văn bản có chữ ký của tất cảnhững ngời đó, văn bản này phải kèm theo hợp đồng kinh tế )
Khi một bên là hộ kinh tế gia đình nông dân, ng dân cá thể thì đại diện
ký hợp đồng kinh tế phải là chủ hộ Khi một bên là tổ chức nớc ngoài tại ViệtNam thì đại diện tổ chức đó phải đợc uỷ nhiệm bằng văn bản, nếu là cá nhânnớc ngoài ở Việt Nam thì bản thân họ phải là ngời ký kết các hợp đồng kinhtế
Đại diện ký kết hợp đồng kinh tế nh trên cũng chính là đại diện đơngnhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế và trong tố tụng trớc cơ quantài phán
Trang 15Tuy nhiên, ngời đại diện đơng nhiên của các chủ thể hợp đồng kinh tế cóthể uỷ quyền cho ngời khác hay mình ký kết, thực hiện hợp đồng kinh tế Việc
uỷ quyền có thể theo vụ việc hoặc thờng xuyên nhng phải đợc thể hiện dớihình thức văn bản Việc uỷ quyền thờng xuyên có thể áp dụng trong trờng hợpngời đại diện đơng nhiên uỷ quyền cho cấp phó của mình (hoặc do ngời đứng
đầu chi nhánh trực thuộc, có t cách pháp nhân không đầy đủ) theo kỳ hạn cần
uỷ quyền Văn bản uỷ quyền phải ghi rõ họ tên, chức vụ của ngời uỷ quyền,ngời đợc uỷ quyền, số chứng minh th của ngời đợc uỷ quyền; tính chất và nộidung uỷ quyền, thời hạn uỷ quyền và phải có chữ ký xác nhận của cả hai ngờinày Ngời đợc uỷ quyền chỉ đợc phép hành động trong phạm vi đợc uỷ quyền
và không đợc uỷ quyền lại cho ngời khác Trong phạm vi uỷ quyền, ngời uỷquyền phải chịu trách nhiệm về hành vi của ngời đợc uỷ quyền nh hành vichính của mình
Quy định trên đây có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc vì nó vừa giúp cho các
đơn vị kinh tế có thể linh hoạt trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tếlại vừa ràng buộc trách nhiệm theo nguyên tắc chịu trách nhiệm cá nhân
4 Nội dung ký kết hợp đồng kinh tế:
Theo quy định tại Điều 12 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì nội dung củahợp đồng kinh tế bao gồm những điều khoản cụ thể sau:
a Ngày tháng năm ký kết hợp đồng kinh tế.
- Tên, địa chỉ, số tài khoản, ngân hàng giao dịch của các bên
- Họ tên ngời đại diện, ngời đứng tên đăng ký kinh doanh
b Điều khoản đối tợng của hợp đồng:
Tức là các bên trao đổi mua bán, giao dịch về cái gì ? công việc gì ?
Đối tợng của hợp đồng đợc tính bằng khối lợng, số lợng hoặc giá trị quy
ớc đã thoả thuận
c Điều khoản chất lợng
Tức là sự quy định thể hiện những đặc điểm, tính cách của đối tợng hợp
đồng Các bên phải thoả thuận cụ thể về chủng loại, quy cách, cách tính, tính
đồng bộ, mẫu mã, tiêu chuẩn của sản phẩm Hàng hoá hoặc những yêu cầu
kỹ thuật của công việc giao dịch giữa các bên
Trang 16d Điều khoản giá cả:
Các bên có thể thoả thuận xác định đơn giá, hoặc giá trị của toàn bộ côngviệc thoả thuận những nguyên tắc xác định rõ giá cả
e Điều khoản bảo hành:
g Điều khoản nghiệm thu, giao nhận:
Các bên đợc thoả thuận đặt ra các điều kiện dể giao nhận sản phẩm hànghoá, điều kiện để nghiệm thu đối tợng của hợp đồng.
h Điều khoản phơng thức thanh toán:
Các bên đợc quyền lựa chọn phơng thức thanh toán cho phù hợp với hoạt
động kinh doanh, nhng không trái với những quy định của pháp luật hiệnhành
i Điều khoản trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh tế:
Các bên đợc thoả thuận trong khung phạt do pháp luật quy định đối vớihành vi vi phạm hợp đồng kinh tế, đối với từng chủng loại hợp đồng kinh tế
k Điều khoản thời hạn có hiệu lực của hợp đồng:
l Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng:
Các bên có thể thỏa thuận các biện pháp bảo đảm thực hiện
hợp đồng nh: thế chấp tài sản, cầm cố, bảo lãnh tài sản theo quy định củapháp luật
m Các bên có quyền xây dựng những điều khoản thể hiện sự thoả thuận về các vấn đề khác, không trái quy định của pháp luật
Đề cập đến nội dung hợp đồng kinh tế, khi ký kết hợp đồng do khôngnắm vững các quy định pháp luật nên các bên thờngmắc sai lầm khi thoảthuận các điều khoản Theo quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế để mộthợp đồng hợp pháp thì ngoài các điều kiện chủ thể, hình thức hợp đồng cònphải đảm bảo yếu tố nội dung hợp đồng Hợp đồng phải đảm bảo các điềukhoản cơ bản thì mới đảm bảo tính hiệu lực
Về phơng diện khoa pháp lý, căn cứ vào tính chất vai trò của các điềukhoản, nội dung của hợp đồng kinh tế đợc xác định thành ba loại với các điềukhoản sau:
Trang 17Thứ nhất: điều khoản chủ yếu là những điều khoản cơ bản, quan trọngnhất của một hợp đồng bắt buộc phải có trong bất cứ hợp đồng kinh tế nào,nếu không thì hợp đồng sẽ không có giá trị Pháp lý, theo Điều 12 Pháp lệnhhợp đồng kinh tế các Điều khoản chủ yếu của hợp đồng kinh tế bao gồm:
- Ngày, tháng năm ký hợp đồng, tên, địa chỉ, số tài khoản, ngân hànggiao dịch của các bên, họ tên ngời đại diện, ngời đứng tên đăng ký kinhdoanh
- Điều khoản đối tợng của hợp đồng kinh tế tính bằng số lợng, khối lợnghoặc giá trị quy ớc đã thoả thuận
- Điều khoản chất lợng
- Điều khoản giá cả
Ngoài ra hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận của các bên về viềc thiết lập,thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động kinhdoanh Do đó nội dung của hợp đồng kinh tế trớc hết là những điều khoản docác bên thoả thuận Những điều khoản mà các bên đã thoả thuận đó là phátsinh thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của ác bên tham gia thoảthuận
Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng trong nền kinh tế thị trờng, phápluật không giới hạn các điều khoản mà các bên đã ký kết hợp đồng thoả thuậnvới nhau Nói nh vậy không có nghĩa là các bên thoả thuận nh thế nào đợc,các bên có quyền thoả thuận nhng những thoả thuận đó không đợc trái vớipháp luật thì mới có hiệu lực và đợc pháp luật bảo vệ Do đó yêu cầu đặt ra lànội dung của hợp đồng kinh tế phải hợp pháp, có khả năng thực hiện, các điềukhoản của hợp đồng phải rõ ràng cụ thể
Trong trờng hợp cần thiết, Nhà nớc vẫn có quyền can thiệp vào nội dungcủa quan hệ hợp đồng Chẳng hạn buộc các bên ký kết hợp đồng phải tuântheo những quy định bắt buộc về chất lợng sản phẩm để đảm bảo an toànchongời tiêu dùng
Nh vậy, nội dung của hợp đồng kinh tế không chỉ là những điều khoản
mà các bên thoả thuận mà còn có thể bao gồm cả những điều khoản mà cácbên không thoả thuận nhng theo dquy định của pháp luật các bên có nghĩa vụthực hiện Bởi vì quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng
Trang 18không chỉ phát sinh từ những điều khoản mà các bên thoả thuận mà còn có thểphát sinh từ những quy định pháp luật.
Trong Thứ hai: điều khoản thờng lệ, là những điều khoản đã đợc phápluật ghi nhận, nếu các bên không ghi vào các văn bản hợp đồng thì coi nh cácbên đã mặc nhiên công nhận và có nghĩa vụ thực hiện những quy định đó Nếucác bên thoả thuận ghi vào văn bản hợp đồng thì không đợc ghi trái với những
điều đã quy đinh đó, nếu thoả thuận trái pháp luật thi những thoả thuận đókhông có giá trị
Những quy định của pháp luật sẽ trở thành nội dung của hợp đồng kinh
tế thay vào những điều khoản các bên đã thoả thuận trái đó Do đó, các bênphải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ quy phạm pháp luật có liên quan Ví dụ:
điều khoản về bối thờng thiệt hại, về khung phạt vi phạm hợp đồng kinh tế,
điều khoản về bảo hành Trong hợp đồng có thể các bên không thoả thuận về
điều khoản bảo hành nhng bên bán vẫn có nghĩa vụ phải bảo hành nếu có quy
định của Nhà nớc về bảo hành sản phẩm đó Bên bán không thể viện cớ làtrong hợp đồng hai bên không thoả thuận về điều khoản bảo hành để trốntrách nhiệm bảo hành Qua đây chúng ta càng thấy rõ hơn nội dung của hợp
đồng kinh tế không chỉ bao gồm những điều khoản mà các bên đã thỏa thuận
mà còn có thể bao gồm cả những điều khoản mà các bên không thoả thuận,nhng theo quy định của Pháp luật, các bên có nghĩa vụ phải thực hiện
Trong mối quan hệ giữa các điều khoản chủ yếu và điều khoản thờng lệcủa hợp đồng kinh tế thì sự tồn tại của hợp đồng kinh tế không phụ thuộc vàocác điều khoản thờng lệ mà chỉ phụ thuộc vào các điều khoản chủ yếu Haibên không thoả thuận về những điều khoản thờng lệ thì hợp đồng kinh tế vẫn
cứ hình thành và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên
Thứ ba: điều khoản tuỳ nghi là những điều khoản do các bên tự thoảthuận với nhau khi pháp luật cho phép Khi một quy phạm pháp luật quy địnhcác bên có thoả thuận về vấn đề này hay vấn đề khác thì các bên có thể thoảthuận hoặc không thoả thuận Nếu các bên thoả thuận đó là nội dung của hợp
đồng các bên phải có trách nhiệm thực hiện Còn nếu các bên không thoảthuận thì các bên không phải thực hiện Ví dụ: điều khoản thởngvật chất, điềukhoảm áp dụng mức phạt cụ thể khi vi phạm các điều khoản của hợp đồngtrogn khung phạt mà pháp luật đã quy định
Trang 19Theo pháp luật về hợp đồng kinh tế của nớc ta hiện nay thì những thoảthuận về biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng (cầm cố tài sản, thế chấp tàisản, bảo lãnh tài sản, thoả thuận về tiền thởng do thực hiện tốt hợp đồng) lànhững điều khoản tuy nghi Những điều khoản này chỉ trở thành nội dung hợp
đồng nếu các bên trực tiếp thoả thuận với nhau
Về điều khoản thởng do thực hiện tốt hợp đồng cần phải xem xét them.Khái niệm, “thực hiện tốt hợp đồng” theo chúng tôi là một khái niệm không
có cơ sở khoa học Thế nào là thực hiên tốt hợp đồng? Sau khi hợp đồng đợc
ký kết và có hiệu lực các bên phải thực hiện đúng hợp đồng và nếu thực hiện
đúng hợp đồng là bình thờng Còn nếu các bên thực hiện không đúng, không
đầy đủ hoặc không là nghĩa vụ của các bên, do đó nó hoàn toàn là bình thờng,chẳng có lý do gì để thởng cả, còn bên nào vi phạm hợp đồng thì phải chịutrách nhiệm vật chất (phạt hợp đồng và bồi thờng thiệt hại nếu có)
Trong hợp đồng kinh tế, hàng hoá đợc trao đổi ngang giá, do đó điềukhoản thởng phạt tronh hợp đồng kinh tế là vô lý, trái với quy luật kinh tế Bởivì giá cả trong hợp đồng đã chịu sự tác động khách quan của quy luật giá trị
và quy luật cung cầu của thị trờng Nếu cộng thêm khoản tiền thởng nó sẽ phá
vỡ quy luật trao đổi hàng hoá trên cơ sở ngang giá
Trong quan hệ hợp đồng kinh tế giữa các chủ doanh nghiệp t nhân vớinhau hoặc giữa các doanh nghiệp ngoài khu vực kinh tế quốc doanh, nếu họthoả thuận thởng cho nhau thì đó là việc của họ Điều vô lý đó không ảnh h-ởng đến lợi ích của ai nên pháp luật cũng không can thiệp Nhng trong quan
hệ hợp đồng giữa các doanh nghiệp Nhà nớc với nhau hoặc giữa doanh nghiệpNhà nớc với doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác thì không nên có
điều khoản tuỳ nghi này Vì sự “tuỳ nghi” đó có thể dẫn đến sự “tuỳ tiện” làmthiệt hại đến lợi ích của Nhà nớc
Nói tóm lại các điều khoản của hợp đồng là do các bên thoả thuận, phápluật không hạn chế các điều khoản mà các bên thoả thuận, miễn là những thoảthuận đó không phải trái pháp luật Pháp luật chỉ quy định những điều khoảntối thiểu phải có để chứng tỏ giữa các bên có quan hệ hợp đồng Những điềukhoản tối thiểu đó là những điều khỏan chủ yếu của hợp đồng
Tuy nhiên, về từng khía cạnh cụ thể cần có những hiểu biết và kinhnghiệm sâu sắc đặc biệt về chủ thể hợp đồng, về hình thức, về nội dung hợp
đồng nh tiêu đề trình bày
Trang 20-Bớc hai: Bên nhận đợc đề nghị hợp đồng tiến hành trả lời cho bên
đề nghị hợp đồng bằng văn bản, trong đó ghi rõ nội dung chấp nhận, nội dungkhông chấp nhận, những đề nghị bổ sung
Trong trờng hợp ký kết theo cách ký gián tiếp, hợp đồng kinh tế đợc coi
là hình thành và có giá trị pháp lý từ khi các bên nhận đợc tài liệu giao dịchthể hiện sự thoả thuận xong những điều khoản chủ yếu của hợp đồng
Dù ký kết bằng phơng pháp ký trực tiếp hay gián tiếp, những hợp đồngkinh tế đợc hình thành đều có hiệu lực pháp lý nh nhau và các bên đều phảinghiêm chỉnh thực hiện các điều khoản đã cam kết Để cho hợp đồng kinh tế
có hiệu lực, việc thoả thuận của các bên phải đảm bảo những điều kiện sau:
- Nội dung thoả thuận không vi phạm pháp luật;
- Phải đảm bảo điều kiện chủ thể của hợp đồng;
- Đại diện ký kết hợp đồng phải đúng thẩm quyền
Nếu không đảm bảo một trong các điều kiện này, hợp đồng sẽ trở thànhvô hiệu
Trang 21Mỗi cách ký kết đều có những u điểm và nhợc điểm riêng của nó, lựachọn cách nào là quyền của các chủ thể ký kết, song việc lựa chọn luôn luônphải tính đến hiệu quả kinh tế, thời cơ kinh doanh Các chủ thể cũng có thể kếthợp cả hai phơng pháp ký kết để xác lập một quan hệ hợp đồng kinh tế.
III Chế độ thực hiện hợp đồng kinh tế
1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng kinh tế:
Sau khi ký hợp đồng kinh tế và hợp đồng kinh tế có hiệu lực, các bên bịràng buộc vào trách nhiệm thực hiện các cam kết trong hợp đồng Mọi hành vikhông thực hiện hợp đồng và thực hiện không đầy đủ đều đợc coi là vi phạmhợp đồng và chịu trách nhiệm vật chất Để cho hợp đồng đợc thực hiện mộtcách đầy đủ và đúng đòi hỏi các bên phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:-Nguyên tắc chấp hành hiện thực: Chấp hành hiện thực hợp đồng là chấphành đúng đói tợng hợp đồng, không đợc tự ý thay đổi đối tợng này bằng một
đối tợng khác hoặc không đợc thay thế việc thực hiện nó Nguyên tắc này đòihỏi thoả thuận cái gì thì thực hiện đúng cái đó
-Nguyên tắc chấp hành đúng: Thực hiện hợp đồng một cách đầy đủ vàchính xác tất cả các điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng Theo nghĩanày, đây là nguyên tắc bao trùm, rộng hơn nguyên tắc hiện thực Nguyên tắcchấp hành đúng đòi hỏi các bên thực hiện nghĩa vụ của mình một cách đầy đủ
đúng đắn, chính xác cam kết không phân biệt điều khoản chủ yếu, điều khoảnthờng lệ hay tuỳ nghi Nếu vi phạm bất cứ cam kết nào trong hợp đồng đềuphải chịu trách nhiệm vật chất cho hành vi đó
-Nguyên tác hợp tác, tơng trợ giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở hai bên cùng cólợi Nguyên tắc này đòi hỏi các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tếphải hợp tác chặt chẽ, thờng xuyên theo dõi giúp đỡ lẫn nhau để khắc phụckhó khăn nhằm thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đã cam kết và ngay cảkhi có tranh chấp, các bên cũng phải áp dụng phơng pháp này thông qua việchiệp thơng giải quyết hậu quả của việc vi phạm hợp đồng kinh tế Nguyên tắcnày có ý nghĩa quan trọng trog việc phòng ngừa và giải quyết kịp thời cáctranh chấp hợp đồng kinh tế nhằm bảo đảm lợi ích các bên
2 Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng:
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/09/1989 Nghị định số 17/HĐBTngày 16/01/1990 của Hội đồng Bộ trởng quy đinh chi tiết thi hành Pháp lệnh
Trang 22về hợp đồng kinh tế có nêu ra các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng Thếchấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo lãnh tài sản Đây là những biện pháp bảo đảmmang tính chất kinh tế thờng đợc chủ thể áp dụng.
- Bảo lãnh tài sản
Là sự đảm bảo bằng tài sản thuộc quyền sở hữu của ngời nhận bảolãnhđể chịu trách nhiệm tài sản thay cho ngời đợc bảo lãnh khi ngời này viphạm hợp đồng kinh tế đã ký kết Ngời nhận bảo lãnh phải có số tài sản không
ít hơn số tài sản mà ngời đó nhận bảo lãnh Việc bảo lãnh tài sản phải đợc làmthành văn bản, có sự xác nhận về tài sản của ngân hàng nơi ngời bảo lãnh giaodịch của cơ quan công chứng Nhà nớc hoặc cơ quan có thẩm quyền đăng kýkinh doanh (trờng hợp không có cơ quan công chứng Nhà nớc)
Việc xử lý các tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh khi có vi phạm hợp
đồng kinh tế đợc thực hiện cùng với việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh
Trang 23tế tại cơ quan có thẩm quyền Đó là Toà án kinh tế hoặc các trung tâm Trọngtài kinh tế phi Chính phủ.
So với pháp luật về hợp đồng kinh tế trớc đây, Bộ luật dân sự quy định vềcác biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự một cách chặt chẽ và đầy đủhơn Các biện pháp đảm bảo trong Bộ luật dân sự phong phú hơn
3 Thay đổi đình chỉ thanh lý hợp đồng kinh tế
-Thay đổi hợp đồng kinh tế là việc sửa đổi, bổ sung một số điểm của nộidung của hợp đồng kinh tế ch o phù hợp với nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinhdoanh của các bên hoặc là sự thay đổi chủ thể hợp đồng Khi có sự chuyểngiao một phần hoặc toàn bộ nhiệm vụ sản xuất kinh doanh từ một chủ thể hợp
đồng kinh tế sang một pháp nhân hay cá nhân có đăng ký kinh doanh Việcsửa đổi hợp đồng kinh tế có mục đích giúp các bên khắc phục các thiếu sóttrong ký kết hợp đồng các bên gặp phải hoặc nhằm khắc phục hậu quả củanguyên nhân khách quan hợp đồng kinh tế chỉ thay đổi khi các bên thốngnhất ý chí bằng văn bản
-Đình chỉ thực hiện hợp đồng kinh tế là sự chấm dứt nửa chừng việc thựchiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong hợp đồng kinh tế Khi mộtbên vi phạm hợp đồng kinh tế và đã thừa nhận sự vi phạm đó hoặc đã đợc cơquan, tổ chức, toà án có thẩm quyền kết luận là có vi phạm, bên bị vi phạm cóquyền đơn phơng đình chỉ thực hiện hợp đồng kinh tế đó, nếu việc tiếp tụcthực hiện hợp đồng kinh tế không có lợi cho mình Bên đơng phơng đình chỉphải thông báo cho bên vi phạm biết bằng văn bản và văn bản đó phải gửi chobên vi phạm biết trong thời gian 10 ngày, kể từ ngày bên vi phạm thừa nhận viphạm hoặc có kết luận của cơ quan toà án có thẩm quyền Hợp đồng kinh tế
có thể bị huỷ bỏ khi các bên thoả thuận với nhau bằng văn bản Tuy nhiên, cần
lu ý rằng hợp đồng kinh tế có thể bị huỷ bỏ không phải có sự thống nhất ý chícủa các bên mà do ý chí của cơ quan toà án có thẩm quyền bắt buộc
-Thanh lý hợp đồng kinh tế là hành vi của chủ thể hợp đồng kinh tế nhằmkết thúc quan hệ hợp đồng kinh tế Đê r đạt đợc mục đích đó, trong quá trìnhthanh lý hợp đồng kinh tế các bên phải gặp nhau giải quyết những tồn đọng,
đánh giá những kết quả đạt đợc hoặc cha đạt đợc để xác định quyền và vànghĩa vụ của các bên, thanh lý hợp đồng vừa là nghĩa vụ vừa là quyền của cácbên
Trang 244 Hợp đồng kinh tế vô hiệu và xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu:
Một hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu khi hợp đồng kinh tế đó ký kếttrái với những quy định của pháp luật Những nội dung về quyền và nghĩa vụcủa các bên đợc xác lập trái với những quy định của pháp luật thì không cóhiệu lực thực hiện Có 2 loại hợp đồng kinh tế vô hiệu là hợp đồng kinh tế vôhiệu toàn bộ và hợp đồng kinh tế vô hiệu từng phần Việc kết luận hợp đồngkinh tế vô hiệu toàn bộ hay từng phần thuộc thẩm quyền của toà án kinh tế
a Hợp đồng kinh tế vô hiệu toàn bộ:
Những hợp đồng kinh tế nào có một trong các nội dung sau đây thì bị coi
là vô hiệu toàn bộ ngay từ khi ký hợp đồng kinh tế đợc hình thành
- Nội dung của hợp đồng kinh tế vi phạm điều cấm của pháp luật Ví dụcác bên thoả thuận sản xuất, tiêu thụ hàng giả, mua bán vận chuyển hàng cấm
- Không đảm bảo t cách chủ thể của quan hệ hợp đồng, một trong cácbên đã ký kết hợp đồng không có giấy phép đăng ký kinh doanh, theo quy
định của pháp luật để thực hiện công việc đã thoả thuận trong hợp đồng Nếupháp luật quy định để thực hiện công việc đó đòi hỏi cả hai bên phải có đăng
ký kinh doanh mà một trong các bên không có đăng ký kinh doanh thì hợp
đồng kinh tế đó bị coi là vô hiệu toàn bộ Nếu pháp luật chỉ cần có một bên có
đăng ký kinh doanh (ví dụ: bên bán, bên làm dịch vụ, bên nhận thầu, bên chủphơng tiện vận tải ) mà bên đó không có đăng ký kinh doanh thì hợp đồng đócũng bị coi là vô hiệu toàn bộ
- Ngời ký kết hợp đồng không đúng thẩm quyền hoặc có hành vi lừa đảo.Ngời ký kết hợp đồng đúng thẩm quyền tức là ngời đó không phải là đại diệnhợp pháp; không phải là ngời đợc uỷ quyền hoặc đợc uỷ quyền nhng vợt quáphạm vi uỷ quyền đó Khi ngời ký kết hợp đồng có hành vi lừa đảo nh giảdanh, giả mạo giấy tờ, chữ ký, con dấu, thì hợp đồng đó đợc coi là vô hiệutoàn bộ