Thực thi chính sách đối với ngƣời có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà NẵngThực thi chính sách đối với ngƣời có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà NẵngThực thi chính sách đối với ngƣời có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà NẵngThực thi chính sách đối với ngƣời có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà NẵngThực thi chính sách đối với ngƣời có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà NẵngThực thi chính sách đối với ngƣời có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà NẵngThực thi chính sách đối với ngƣời có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà NẵngThực thi chính sách đối với ngƣời có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà NẵngThực thi chính sách đối với ngƣời có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà NẵngThực thi chính sách đối với ngƣời có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ THANH PHÚC
THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI
CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU,
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ THANH PHÚC
THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI
CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS LƯU KIẾM THANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lưu Kiếm Thanh Các tư liệu, số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, dựa trên sự khảo sát trực tiếp và tổng hợp của bản thân và các nguồn tài liệu tin cậy, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, được các cơ quan cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thừa Thiên Huế, ngày … tháng … năm 201
Học viên
Lê Thị Thanh Phúc
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài luận văn 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 9
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 9
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 10
7 Kết cấu của luận văn 11
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG 12
1.1 Chính sách và chính sách đối với người có công 12
1.1.1 Chính sách 12
1.1.2 Chính sách đối với người có công 14
1.2 Một số vấn đề lý luận về thực thi chính sách đối với người có công 22
1.2.1 Thực thi chính sách và thực thi chính sách đối với người có công 22
1.2.2 Ý nghĩa của thực thi chính sách đối với người có công 23
1.2.3 Quy trình thực thi chính sách đối với người có công 26
1.2.4 Nội dung thực thi chính sách đối với người có công 29
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách đối với người có công 31
1.4 Kinh nghiệm của các tỉnh trong thực thi chính sách đối với người có công 36
1.4.1 Tỉnh Bắc Giang 37
1.4.2 Tỉnh Đồng Nai 38
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 41
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ
CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU 42
2.1 Khái quát về quận Liên Chiểu 42
2.1.1 Về dân số 43
2.1.2 Về kinh tế 43
2.1.3 Về văn hóa, xã hội 45
2.2 Tình hình người có công đang quản lý trên địa bàn quận Liên Chiểu 45
2.3 Thực trạng thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu 47
2.3.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu 47
2.3.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách đối với người có công 57
2.3.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách đối với người có công 63
2.3.4 Duy trì chính sách đối với người có công 71
2.3.5 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách đối với người có công 75
2.4 Đánh giá việc thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu 76
2.4.1 Ưu điểm 76
2.4.2 Hạn chế 78
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 79
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 81
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 82
3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 82
3.1.1 Cơ sở lý luận 82
3.1.2 Cơ sở thực tế 86
3.2 Một số giải pháp cụ thể 87
Trang 63.2.1 Thành lập một ban thường xuyên rà soát tình hình đối tượng chính sách đang quản lý cũng như phát sinh trên địa bàn kết hợp ứng dụng tin học hóa trong quản lý đối
tượng chính sách 87
3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức đồng thời phân công rõ ràng trong thực hiện nhiệm vụ 89
3.2.3 Nhóm giải pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách người có công 90
3.2.4 Nhóm giải pháp về thu hút nguồn lực cho thực thi chính sách đối với người có công 93
3.2.5 Xây dựng các mô hình, chương trình thiết thực cho người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu 96
3.3 Kiến nghị 99
3.3.1 Đối với Trung ương 99
3.3.2 Đối với Thành phố Đà Nẵng 101
3.3.3 Đối với quận Liên Chiểu 101
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 103
KẾT LUẬN 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 110
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Dân số quận Liên Chiểu 43 Bảng 2.2: Số lượng người có công đang quản lý trên địa bàn quận Liên Chiểu 46 Bảng 2.3: Kinh phí tổ chức thăm viếng, cấp phát quà cho đối tượng chính sách 48 Bảng 2.4: Trợ cấp khó khăn cho đối tượng chính sách 49 Bảng 2.5: Kinh phí tổ chức cho đối tượng chính sách đi tham quan, nghỉ dưỡng 52 Bảng 2.6: Kinh phí khảo sát, sửa chữa, xây dựng nhà ở 53 Bảng 2.7: Số liệu điều tra các hình thức phản hồi về chính sách với chính quyền địa phương 61 Bảng 2.8: Số liệu điều tra trình độ chuyên môn của công chức thực thi chính sách của 05 phường và công chức phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Liên Chiểu 65 Bảng 2.9: Số liệu điều tra về các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu 74
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Chiến tranh đã đi qua nhưng những gì nó để lại chính là những đau thương, mất mát Trải qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến đế quốc
Mỹ với sự chiến đấu ngoan cường không chịu khuất phục của nhân dân để giờ đây chúng ta được sống trong hòa bình, no ấm Mỗi giây phút chúng ta được sống trong hòa bình, hạnh phúc chính là nhờ vào công lao của các chiến sĩ, của đồng bào đã chiến đấu anh dũng và biết bao chiến sĩ người đã hy sinh để giành độc lập cho dân tộc, họ đã đánh đổi cả xương máu và nước mắt vì nền độc lập của dân tộc Hòa bình đã trở lại nhưng nỗi đau chiến tranh vẫn khắc khoải đè nặng lên vai những người lính mang thương tật trở về, người ở lại mang trong tim một nỗi đau khôn nguôi, những người mẹ Việt Nam anh hùng có lẽ đã cạn nước mắt để trông ngóng những người con mãi nơi xa và có những anh hùng
đã mãi mãi nằm lại nơi đất Mẹ Chính vì vậy, việc chăm lo cho người có công
là nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và Nhà nước luôn quan tâm
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy nhân ngày Thương binh toàn quốc đầu tiên (27/7/1947): “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào…Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy” Thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người có công, gia đình liệt sĩ và thân nhân của họ không chỉ là nhiệm vụ, trách nhiệm của Đảng và Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội Điều này thể hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc và tình yêu thương giữa con người với nhau Để ghi nhớ công ơn của những người con ưu tú của dân tộc, năm 1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL lấy ngày 27/7 hàng năm là ngày để nhân dân ta tỏ lòng “Hiếu nghĩa bác ái” và lòng yêu mến đối với các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh Thực hiện tư tưởng của Người, cùng
Trang 9với sự tôn vinh, biết ơn, Đảng và Nhà nước có những chính sách và việc làm thích hợp để có sự đãi ngộ xứng đáng đối với những người có công đang còn sống và thân nhân của những người đã hy sinh
Chính sách không chỉ giúp cho người có công yên ổn về đời sống vật chất và vui vẻ về tinh thần mà còn tôn vinh, khen thưởng và ghi nhận công lao với những danh hiệu cao quý, mang ý nghĩa chính trị sâu sắc, thể hiện niềm tin của nhân dân nói chung và người có công nói riêng vào Đảng và Nhà nước Hơn nữa thực thi chính sách đối với người có công tạo điều kiện cho người có công có thể tiếp tục cống hiến, đóng góp những việc có ích cho xã hội, phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Hệ thống pháp luật trong thực thi chính sách đối với người có công tương đối đầy đủ, ngày càng được bổ sung và hoàn thiện đã đáp ứng phần nào những nhiệm vụ trong thực thi chính sách, tuy nhiên vẫn còn những bất cập
và những thiếu sót gây khó khăn cho công tác thực thi chính sách và ảnh hưởng đến người thụ hưởng chính sách Số lượng văn bản đồ sộ cũng là một trong những khó khăn lớn trong việc nắm bắt và thực thi chính sách
Liên Chiểu là một địa bàn chiến lược gồm các xã cánh Bắc của huyện Hòa Vang trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước
Liên Chiểu là mảnh đất hoạt động sôi nổi của các phong trào yêu nước, số
lượng người có công trên địa bàn với khoảng 3000 đối tượng, chính vì vậy công tác chăm lo về đời sống vật chất và tinh thần cho người có công với cách mạng là nhiệm vụ được quan tâm hàng đầu Với sự quan tâm của Đảng, thành phố, Uỷ ban nhân Quận Liên Chiểu đã thực hiện nhiều chính sách thiết thực cho người có công trên địa bàn quận mang lại cuộc sống tốt hơn và niềm tin cho người dân Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được thì việc thực chính sách đối với người có công trên địa bàn còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc về mặt thủ tục, thiếu sự thống nhất, nhiều gia đình đối tượng vẫn còn rất
Trang 10khó khăn Chính vì vậy bảo vệ quyền lợi cho người có công, chăm lo cho đời sống người có công là nhiệm vụ vừa mang tính nhân văn sâu sắc vừa thể hiện trách nhiệm của Đảng và Nhà nước để thực thi chính sách cho người có công thật sự hiệu quả, đúng người, đúng chính sách
Chính vì những lý do trên, đề tài “Thực thi chính sách đối với người
có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng” được tác giả
chọn làm luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Quản lý công Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng, đề xuất những giải pháp với mong muốn góp phần hoàn thiện công tác thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Ngày 27-7-1947 là ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh chọn ngày Thương binh - Liệt sĩ để toàn Đảng toàn dân tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công cách mạng Sắc lệnh
số 20/SL ngày 16 tháng 2 năm 1947 đã đặt nền móng cho sự ra đời của hệ thống chính sách trong lĩnh vực chăm sóc người có công với cách mạng của Việt Nam
Ngày 27-7-1947 là ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh chọn ngày Thương binh - Liệt sĩ để toàn Đảng toàn dân tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công cách mạng Sắc lệnh
số 20/SL ngày 16 tháng 2 năm 1947 đã đặt nền móng cho sự ra đời của hệ thống chính sách trong lĩnh vực chăm sóc người có công với cách mạng của Việt Nam Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII trong thời
kì đổi mới của đất nước đã xác định rõ: Coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền
đề để thực hiện các chính sách xã hội; thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, và quan tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh,
Trang 11gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng…vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của nhân dân
Hệ thống chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công ngày càng được xem xét sửa đổi, bổ sung hoàn thiện thì đối tượng hưởng chế độ ưu đãi cũng thường xuyên được xem xét mở rộng, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Từ Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng được ban hành năm
1994 đến Pháp lệnh sửa đổi điều 21 của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng năm 2000; Pháp lệnh sửa đổi điều 22 và điều 23 của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người
có công giúp đỡ cách mạng năm 2002; đặc biệt Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng (Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11), Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng ngày 16 tháng 7 năm 2012; Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “
Bà mẹ Việt Nam anh hùng”…[17]
Nghị quyết Trung ương 5 và nghị quyết Trung ương 7 (khóa XI) về một số vấn đề tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020 Nghị quyết Đại hội XI của Đảng xác định những định hướng chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 với mục tiêu tổng quát: Tiếp tục cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công và gia đình, phấn đấu đến năm 2015 cơ bản hoàn thành mục tiêu bảo đảm các gia đình người có công có mức sống tối thiểu bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cư dân trên địa bàn
Trang 12Trên thực tế có nhiều đề tài nghiên cứu về đối tượng người có công với những khía cạnh khác nhau, trong đó có một số đề tài nghiên cứu với nội dung như:
TS Mai Ngọc Cường: Một số vấn đề cơ bản về chính sách xã hội Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia;
Từ thực tiễn thực hiện các chính sách cho thương binh và liệt sĩ của tỉnh Bình Phước, kinh nghiệm của tỉnh bạn (Bình Dương, Đồng Nai), những yếu tố tác động đối với thực hiện chính sách sách đối với thương binh và gia đình liệt sĩ, thực trạng quản lý nhà nước đối với thương binh và gia đình liệt sĩ trên địa bàn tỉnh Bình Phước, đề tài “Những giải pháp chủ yếu đổi mới trong
tổ chức thực hiện chính sách đối với thương binh và gia đình liệt sĩ tỉnh Bình Phước” đã được tác giả Huỳnh Quang Tiên nghiên cứu và đưa ra những giải pháp góp phần đổi mới việc tổ chức thực hiện chính sách, chăm sóc đối tượng, huy động sức mạnh tổng hợp của cộng đồng thực hiện xã hội hóa công tác chăm sóc thương binh và gia đình liệt sĩ [22]
Đề tài “Nâng cao năng lực của cơ quan hành chính nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng” của tác giả Phạm Hải Hưng năm 2007 Đề tài nghiên cứu những lý luận về nâng cao năng lực của
cơ quan hành chính nhà nước và thực trạng năng lực của cơ quan nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công, kinh nghiệm của các nước trên thế giới và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực của cơ quan hành chính nhà nước như hoàn thiện hệ thống pháp luật người có công, đổi mới phương thức và tổ chức quản lý, giải pháp về cơ chế thanh tra kiểm tra…[13]
Trên cơ sở phân tích tình hình thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công trên địa bàn tỉnh An Giang, nghiên cứu những thuận lợi, khó khăn, hạn chế, kinh nghiệm của tỉnh bạn (Kon Tum, Quảng Ngãi), những
Trang 13nhân tố tác động đến thực hiện chính sách đối với người có công, đề tài “Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công ở tỉnh An Giang” của tác giả Lê Thị Hải Âu năm 2012 đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách đối với người có công ở An Giang [1]
Một số bài viết của các tác giả được đăng trên Tạp chí cộng sản như:
Bài viết của tác giả Bùi Hồng Lĩnh - Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2009), “Kết quả thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng những năm vừa qua và nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới” Bài viết đề cập đến 3 vấn đề chính: Thành tựu thực hiện pháp lệnh sau 3 năm ban hành, một số tồn tại và vướng mắc từ đó tác giả xác định những nhiệm vụ và giải pháp để khắc phục [15]
Trong bài viết “Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách ưu đãi người có công, bảo đảm an sinh xã hội trong phát triển bền vững” của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân - Bí thư Trung ương Đảng, Nguyên Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2011) đã đề cập đến ba vấn đề chính: Thành tựu chủ yếu trong lĩnh vực chăm sóc người có công trong thời gian qua đặc biệt hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, sự chung tay của các lực lượng xã hội
và Nhà nước trong nâng cao đời sống cho người có công; những tác động của bối cảnh thế giới trong thực hiện các chính sách xã hội; đồng thời đưa ra những giải pháp nâng cao công tác chăm sóc người có công [17]
Bài viết của tác giả Phạm Thị Hải Chuyền - Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2014), “Tăng cường và đa dạng hóa nguồn lực tài chính để thực hiện hiệu quả chính sách ưu đãi người có công với cách mạng” Bài viết xác định hai nguồn lực chính trong thực hiện chính sách đối với người có công bao gồm nguồn lực từ ngân sách Nhà nước và nguồn lực từ xã hội hóa đồng thời nhấn mạnh đến vấn đề đa dạng, tăng cường các giải pháp huy động nguồn lực để thực hiện chính sách ưu đãi người có công [4]
Trang 14Bài viết “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, nâng cao mức sống người có công với cách mạng” của tác giả Đào Ngọc Dung - Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã khái quát về tình hình thực hiện chính sách đối với người có công ở nước ta trong thời gian qua, đồng thời xác định hai nguồn lực chính trong thực hiện chính sách đó là: Ngân sách Nhà nước và nguồn xã hội hóa, trong đó nguồn lực từ Nhà nước giữu vai trò chủ đạo Theo tác giả “các chế độ ưu đãi người có công đã được xây dựng và thực hiện tương đối toàn diện” Tuy nhiên, theo tác giả bài viết trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập và một trong những nguyên nhân xuất phát từ cơ quan quản lý Nhà nước Bài viết đưa ra những giải pháp cần tập trung như: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đầy đủ chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công; tiếp tục nghiên cứu toàn diện các vấn đề tồn tại, vướng mắc, phát sinh liên quan đến chính sách người có công; thực hiện xử lý hồ sơ tồn đọng; thực hiện tốt việc xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin bằng phương pháp thực chứng và giám định AND; tăng cường phối hợp với cơ quan liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong công tác kiểm tra, thanh tra; tiếp tục tuyên truyền sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chính sách ưu đãi đối với người có công [7]
Các công trình nghiên cứu cũng như những bài viết là cơ sở để tác giả tham khảo về cơ sở lý luận cũng như có cách nhìn sâu hơn về người có công
và chính sách cho người có công hiện nay, giúp tác giả có thể vận dụng tốt hơn trong việc nghiên cứu đề tài của mình
Những công trình nghiên cứu, các ấn phẩm khoa học đã nghiên cứu về người có công cũng như chính sách người có công ở những góc độ khác nhau
và ở những cơ quan, đơn vị khác nhau Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu về thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên
Trang 15Chiểu Do đó đề tài “Thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng” được tác giả nghiên cứu là không có sự trùng lắp và rất cần thiết nhằm đánh giá thực trạng, những khó khăn cũng như đưa ra những giải pháp phù hợp với thực tế góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương trong thực thi chính sách đối với người có công để tạo điều kiện tốt hơn cho người thụ hưởng chính sách Những văn bản pháp lý do cơ quan có thẩm quyền ban hành cũng như những đề tài nghiên cứu khoa học, các ấn phẩm, bài báo là cơ sở để tác giả tham khảo và nghiên cứu luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng; luận văn đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện công tác thực thi chính sách với đối tượng người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa và phân tích một số vấn đề lý luậncủa thực thi chính sách đối với người có công như: chính sách đối với người có công, thực thi chính sách đối với người có công, quy trình thực thi chính sách đối với người có công, nội dung thực thi chính sách đối với người có công và các nhân tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách đối với người có công
Phân tích thực trạng thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng,đánh giá những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế
Trang 16Xác định mục tiêu, quan điểm và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu
Thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: từ năm 2012 đến 2016
Về không gian: quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
Về nội dung: đề tài tiếp cận theo hướng quy trình thực thi chính sách
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng hai nhóm phương pháp chính là phương pháp luận
và phương pháp nghiên cứu cụ thể
5.1 Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở các
quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, hệ thống văn bản pháp quy của nhà nước về thực thi chính sách đối với người có công
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp
tổng hợp, thống kê, phương pháp phỏng vấn, phương pháp điều tra xã hội
học
Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Trong bài luận văn của mình, học viên đã sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp Những tài liệu tham khảo bao gồm: Báo cáo kết quả thực hiện kinh tế xã hội quốc phòng an ninh các năm và một số báo cáo khác có liên quan
- Phương pháp điều tra xã hội học: Học viên cũng tiến hành phát 150 phiếu điều tra xã hội học cho đối tượng thụ hưởng chính sách và thân nhân
Trang 17người có công với cách mạng; tổng số phiếu phát ra 150, số phiếu thu về 146 (hợp lệ) và tiến hành phát 07 phiếu cho công chức thực thi chính sách ở 05 phường và công chức phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Liên Chiểu; tổng số phiếu phát ra 07, số phiếu thu về 07 (Phiếu điều tra ở phần phụ lục) Phương pháp điều tra xã hội học nhằm làm rõ hơn công tác thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận nhằm có những đánh giá khách quan, làm cơ sở đưa ra những kết luận và đề xuất các giải pháp trong Chương 3 của đề tài này
Đề tài còn sử dụng nhiều phương pháp khác như phương pháp so sánh, phỏng vấn đối tượng chính sách và công chức thực thi chính sách tại phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Liên Chiểu…
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, luận văn có sử dụng và kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đã thực hiện trong nước có liên quan để làm sáng tỏ vấn đề mà mục đích nghiên cứu đã đề ra
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Hệ thống lại được một số các khái niệm như chính sách, thực thi chính sách, người có công và xây dựng khái niệm mới đó là thực thi chính sách đối với người có công Góp phần phân tích rõ hơn công tác thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu
Về mặt thực tiễn: Đưa ra những giải pháp phù hợp với tình hình của quận dựa trên những nguyên nhân phân tích nhằm góp phần hoàn thiện hơn
Trang 18hoạt động thực thi chính sách đối với người có công, nâng cao đời sống cho người có công trên địa bàn quận
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của thực thi chính sách đối với người có công Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
Trang 19Chương 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI
NGƯỜI CÓ CÔNG 1.1 Chính sách và chính sách đối với người có công
Từ điển Hành chính (2003) đã đưa ra khái niệm: “Chính sách là chiến lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế” [8, tr.55]
Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính (2002), “Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế” [23, tr.99]
Theo Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công (2008)
“Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [10, tr.14]
Như vậy chính sách được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, đó có thể là chiến lược, sách lược, kế hoạch hay chuẩn tắc cụ thể và tác giả chọn
Trang 20cách tiếp cận theo hướng “Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định”
trong đó phổ biến một số cách phân loại sau:
Căn cứ theo chủ thể ban hành gồm có:
Chính sách của Trung ương ban hành: Gồm những chính sách do Quốc hội, Chính phủ, liên Bộ và các Bộ ban hành Những chính sách này có tác dụng điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trên phạm vi toàn quốc gia, có ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều địa phương, nhiều nhóm dân cư khác nhau trong xã hội [16, tr 57]
Chính sách do địa phương ban hành: Là những chính sách do các cấp chính quyền địa phương đề ra, nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh trong phạm vi địa phương đó [16, tr 58]
Căn cứ theo lĩnh vực tác động chính sách có thể chia thành một số loại như sau: Chính sách kinh tế, chính sách xã hội, chính sách văn hóa, chính sách đối nội, chính sách đối ngoại [16, tr 55, 56]
Chính sách kinh tế: Là những chính sách điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực kinh tế nhằm tạo ra những động lực phát triển kinh tế
Chính sách xã hội: Là những chính sách điều tiết các mối quan hệ xã hội làm cho xã hội phát triển theo hướng công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 21Chính sách văn hóa: Là những chính sách phát triển nền văn hóa với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, hình thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại
Chính sách đối nội: Là những chính sách hướng vào việc tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, tạo điều kiện cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Chính sách đối ngoại: Là những chính sách hướng dẫn và điều tiết các quan hệ đối ngoại của nhà nước với các quốc gia trên thế giới
Căn cứ theo thời gian ban hành có thể phân thành: Chính sách dài
hạn, chính sách ngắn hạn, chính sách trung hạn [16, tr 59]
Chính sách dài hạn: Là những chính sách được áp dụng lâu dài, điều tiết những mối quan hệ lớn trong đời sống kinh tế - xã hội, nhằm tạo sự phát triển ổn định trong lĩnh vực thực thi chính sách
Chính sách trung hạn: Là những chính sách được áp dụng trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 năm Những chính sách này tập trung vào vấn đề có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế - xã hội nhưng có thể giải quyết trong một thời gian nhất định
Chính sách ngắn hạn: Là những chính sách được áp dụng trong một khoảng thời gian không lâu (dưới 2 năm) đối với những vấn đề phát sinh trong có thể giải quyết tương đối nhanh chóng
1.1.2 Chính sách đối với người có công
1.1.2.1 Người có công
Khái niệm
Mặc dù Pháp lệnh ưu đãi người có công được thực hiện từ năm 1995 nhưng cho tới nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào nêu rõ khái niệm người có công Người có công là một khái niệm xuất hiện trong lịch sử đấu
Trang 22tranh giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta Ngay từ những ngày đầu năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào hằng năm chọn một ngày để đền ơn đáp nghĩa ghi nhớ tri ân những người có công lao với Tổ quốc, với nhân dân Người nói: “Thương binh là những người hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào Vì lợi ích của
Tổ quốc, của đồng bào, các đồng chí đã chịu ốm yếu, què quặt Vì vậy, Tổ quốc, đồng phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy…Ngày
27 tháng 7 là dịp để đồng bào tỏ lòng hiếu nghĩa, bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh”
Theo nghĩa rộng, người có công là những người đã tự nguyện hiến
dâng cuộc đời mình cho việc đại nghĩa, cho sự nghiệp của đất nước Họ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc phục vụ cho lợi ích của đất nước, của dân tộc Người có công gồm những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ tuổi tác, miễn là họ có những hành động xuất sắc có
lợi cho dân tộc [1, tr.9]
Theo nghĩa hẹp, khái niệm người có công để chỉ những cá nhân, không
phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ,…có những đóng góp, cống hiến xuất sắc trong thời kì Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan nhà nước, tổ chức
có thẩm quyền công nhận [1, tr.10]
Như vậy, tiêu chí cơ bản để xác định người có công đó là phải có đóng góp, cống hiến xuất sắc vì lợi ích dân tộc Những đóng góp, những cống hiến của họ có thể là trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Từ những phân tích nêu trên, khái niệm người có công được hiểu là:
“Người có công là người không biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, tuổi tác,…có những cống hiến, sức lực, tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Trang 23Tổ quốc, độc lập dân tộc hay đem lại thành tích vẻ vang cho đất nước được
cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật” [6, tr.260]
Ở nước ta, Theo khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng thì người có công bao gồm các đối tượng:
Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945,
Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945,
Liệt sĩ,
Bà mẹ Việt Nam anh hùng,
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân,
Anh hùng Lao động trong thời kì kháng chiến,
Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh,
Bệnh binh,
Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học,
Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày, Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế,
Người có công giúp đỡ cách mạng
Như vậy, ở nước ta người có công không chỉ là người trực tiếp chiến đấu ở chiến trường mà còn bao gồm những đối tượng đã giúp đỡ, cống hiến (người có công giúp đỡ cách mạng, bà mẹ Việt Nam anh hùng) cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Pháp lệnh ưu đãi người có công chủ yếu điều chỉnh các đối tượng theo nghĩa hẹp
Trang 24Phân loại Người có công
Theo khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng
số 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng thì người có công bao gồm các đối tượng [28]
Một là, người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945
Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945
Hai là, người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến
ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945
Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945
Ba là, liệt sĩ
Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”, thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;
Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch; Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt
tù, vượt ngục mà hy sinh;
Làm nghĩa vụ quốc tế;
Đấu tranh chống tội phạm;
Trang 25Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an nính; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân;
Do đau ốm, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm;
Thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh chết vì vết thương tái phát;
Người mất tin, mất tích trong các trường hợp quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng
Bốn là, bà mẹ Việt Nam anh hùng
Theo Điều 1 Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” ngày 29 tháng 8 năm 1994 thì Bà mẹ Việt Nam anh hùng là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế [29]
Năm là, anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua khen thưởng
số 39/2013/QH ngày 16 tháng 11 năm 2013
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là những người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng cho cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có đạo đức, phẩm chất cách mạng [20]
Sáu là, anh hùng Lao động trong thời kì kháng chiến
Anh hùng Lao động trong thời kì kháng chiến là người được nhà nước tuyên dương Anh hùng lao động vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến
Bảy là, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh
Trang 26Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp
“Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh”
Người hưởng chính sách như thương binh là người không phải là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên theo quy định được cơ quan có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh”
Thương binh loại B là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên trong khi tập luyện, công tác đã được
cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993
a) Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;
b) Hoạt động liên tục ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ mười lăm tháng trở lên;
c) Hoạt động ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chưa đủ mười lăm tháng nhưng đã có đủ mười năm trở lên công tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân;
d) Đã công tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đủ mười lăm năm nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí;
đ) Làm nghĩa vụ quốc tế;
e) Thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh;
Trang 27g) Khi đang làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan
có thẩm quyền giao
Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 41% đến 60% đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1994
Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh khi thực hiện nhiệm vụ thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b và đ đã xuất ngũ về gia đình, nay bị rối loạn tâm thần có liên quan đến bệnh cũ làm suy giảm khả năng lao động từ 61 % trở lên."
Chín là, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học
Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là người được
cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ tháng 8 năm 1961 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại các vùng
mà quân đội Mỹ sử dụng chất độc hóa học và do nhiễm chất độc hóa học dẫn đến một trong các trường hợp sau đây:
Mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên
Mười một, người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ
quốc và làm nghĩa vụ quốc tế
Trang 28Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế là người tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến
Mười hai, người có công giúp đỡ cách mạng
Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm
Theo Pháp lệnh này thì đối tượng được hưởng ưu đãi của Nhà nước không chỉ là người có công kể trên mà còn bao gồm cả thân nhân của họ Đó
là những người có có mối quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng người có công
1.1.2.2 Chính sách đối với người có công
Trải qua các cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ để giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế, số lượng người có công với cách mạng ở nước ta rất lớn Nhân dân ta không bao giờ quên công lao to lớn ấy, đồng thời thấm nhuần tư tưởng của Bác Hồ về truyền thống
“Uống nước nhớ nguồn”, Đảng và Nhà nước luôn đưa ra những chính sách để phần nào bù đắp phần nào về mặt vật chất và tinh thần cho họ, đó là một bộ phận của hệ thống chính sách xã hội Đó có thể là những quyết sách của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội trong đó chăm
lo cho người có công là một trong những vấn đề mà chính sách điều chỉnh, phục vụ cho lợi ích của xã hội nói chung và người có công nói riêng
Chính sách đối với người có công là đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước căn cứ nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ cách mạng, dựa trên sự phát triển kinh tế - xã hội nhằm ghi nhận công lao, sự đóng góp, hy sinh cao cả của người có công [1, tr.8] Chính sách với người có công phản ánh sự quan tâm, trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng, của thế hệ đi sau đối với thế hệ
Trang 29cha anh thông qua các văn bản pháp luật, các căn cứ pháp lý với người có công được thể chế hóa
Như vậy “Chính sách đối với người có công là đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người có công với đất nước nhằm mục đích ghi nhận công lao, sự đóng góp,
sự hy sinh cao cả của họ; đồng thời đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công và gia đình của họ” [5, tr.261]
Chính sách đối với người có công không chỉ đơn thuần ghi nhận sự biết
ơn của Nhà nước, cộng đồng, xã hội đối với người có công và thân nhân trong gia đình họ mà còn thể hiện tinh thần nhân văn cao cả, góp phần ổn định chính trị - xã hội
1.2 Một số vấn đề lý luận về thực thi chính sách đối với người có công
1.2.1 Thực thi chính sách và thực thi chính sách đối với người có công
Thực thi chính sách là tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của công
cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của Nhà nước và cũng là để đạt mục tiêu
đề ra của chính sách Thực thi chính sách là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách,
có vị trí đặc biệt quan trọng
Thực thi chính sách công tức là giai đoạn đưa chính sách vào thực hiện trong đời sống Đây là giai đoạn tổ chức thực hiện các giải pháp chính sách đã lựa chọn và kiểm tra việc thực hiện Có thể nói giai đoạn này có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một chính sách công, thực thi chính sách là một khâu hợp thành của chu trình chính sách nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại Thực thi chính sách chính là giai đoạn biến
ý đồ chính sách thành hiện thực, từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách
và mục tiêu chung, qua đó khẳng định tính đúng đắn của chính sách và giúp chính sách ngày càng hoàn chỉnh
Trang 30Chính sách là một dạng thức vật chất đặc biệt nên nó cũng cần thực hiện những chức năng để tồn tại Song muốn thực hiện được chức năng, chính sách phải tham gia vào quá trình vận động như các vật chất khác Nghĩa là sau khi ban hành chính sách phải được triển khai thực hiện trong đời sống xã hội Thực thi chính sách công có thể hiểu là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các quy định, thủ tục, chương trình hoặc dự án và thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu
chính sách Hay nói cách khác là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng [11, tr.77]
Từ quan niệm nêu trên theo tác giả thực thi chính sách đối với người có công là quá trình đưa những chính sách đối với người có công, các ưu đãi xã hội của Nhà nước vào thực tiễn thông qua các văn bản pháp luật, chủ trương nhằm giúp hỗ trợ cho người có công phần nào về vật chất cũng như tinh thần, giúp họ vượt qua nhưng khó khăn trong cuộc sống
Do tầm quan trọng của giai đoạn hiện thực hóa chính sách nên các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền địa phương cần đặc biệt quan tâm chỉ đạo sát sao công tác tổ chức triển khai thực hiện này Có thể thấy số lượng người có công hiện nay rất lớn, với những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, chế độ chính sách khác nhau; do đó để có thể thực thi chính sách đối với người có công thì đòi hỏi phải định ra một hệ thống tổ chức, phân công trách nhiệm cho các tổ chức, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các tổ chức một cách hữu hiệu trong việc thực thi chính sách nhằm đạt được những mục tiêu
đề ra, đảm bảo công bằng cho các đối tượng
1.2.2 Ý nghĩa của thực thi chính sách đối với người có công
Người có công là những người đã chịu nhiều những thiệt thòi trong cuộc sống, chiến tranh đã đi qua nhưng hậu quả để lại của chiến tranh là rất
Trang 31lớn; mặc dù nhiều người vẫn còn sức lao động nhưng vẫn còn rất nhiều người mãi mãi không thể đi lại và lao động, cuộc sống của họ gặp rất nhiều khó khăn Chính vì vậy thực thi chính sách đối với người có công mang nhiều ý nghĩa sâu sắc
Thực thi chính sách đối với người có công nhằm đảm bảo cho chính sách được hiện thực hóa trong đời sống, đưa chính sách đến đúng với người thụ hưởng, thông qua thực thi chính sách có thể khẳng định được tính đúng đắn của chính sách đồng thời có sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách Trong từng thời kỳ, tùy theo tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ở từng thời kỳ lịch sử, Đảng và Nhà nước đề ra đường lối, hoạch định chính sách về ưu đãi cho người có công Bằng các văn bản pháp luật về ưu đãi người có công, Nhà nước xác định các hình thức, phương pháp quản lý phù hợp trên cơ sở nhận thức đầy đủ, chính xác đối tượng thụ hưởng và các biện pháp bảo đảm hiệu quả trong quản lý Thực tế đó cho thấy, mục tiêu chính sách chỉ có thể đạt được thông qua thực thi chính sách, đồng thời giữa các mục tiêu chính sách
có quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng rất lớn đến nhau và ảnh hưởng đến mục tiêu chung
Thực hiện chính sách đối với người có công mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện truyền thống, đạo lý làm người “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta, góp phần ổn định chính trị, xã hội Thực hiện việc đền ơn, đáp nghĩa, tôn vinh đối với những người đã có nhiều cống hiến, hy sinh cho đất nước là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, đảm bảo người có công được hưởng những chế độ ưu đãi về vật chất, tinh thần, phù hợp với những cống hiến, đóng góp của họ theo thực tiễn đất nước Thực hiện tốt chính sách đối với người có công góp phần vào việc giáo dục sâu sắc ý thức, đạo đức của các thế hệ con cháu về lòng kính trọng, biết ơn đối với thế hệ đi
Trang 32trước; giáo dục truyền thống anh hùng của lớp cha anh đi trước cho thế hệ trẻ,
cổ vũ cho thế hệ trẻ tiếp bước cha anh bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn thành quả cách mạng mà thế hệ cha anh đã đổ máu hy sinh mới giành lại được
Người có công là những người cần sự quan tâm đặc biệt của xã hội, họ
là những người đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, hy sinh cả tính mạng để mang lại hòa bình cho dân tộc Thực thi chính sách đối với người có công cách mạng chính là sự ghi nhận công lao đối với những người đã cống hiến, hy sinh vì nền độc lập, tự do của đất nước; góp phần hỗ trợ, đảm bảo về mặt vật chất cũng như bù đắp về mặt tinh thần cho họ và thân nhân, giúp họ có cuộc sống tốt hơn
Chăm lo, đảm bảo cuộc sống cho người có công với cách mạng một phần giúp họ giảm bớt những mất mát, đau thương mặt khác tạo niềm tin của
họ vào Đảng, Nhà nước, xã hội, giúp họ vươn lên trong cuộc sống, cùng xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, góp phần vào sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước Ưu đãi xã hội đối với người có công bao gồm quyền ưu đãi về đời sống vật chất và đời sống văn hóa, tinh thần, được xây dựng và ngày càng hoàn thiện trong mối tương quan với điều kiện kinh tế - xã hội Thông qua thực thi chính sách đối với người có công, các chế độ ưu đãi được thực hiện, tác động không nhỏ đến đời sống vật chất và tinh thần của đối tượng thụ hưởng Nhà nước ta là người đại diện cho giai cấp, cho nhân dân, cho toàn xã hội nên Nhà nước thông qua quản lý nhà nước bằng pháp luật về ưu đãi xã hội đối với người có công sẽ có nghĩa vụ, trách nhiệm đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần với người có công với đất nước
Có thể thấy chính sách đối với người có công trong nhiều năm qua đã trở thành công cụ quản lý có hiệu lực về mọi mặt của đời sống vật chất và tinh thần trong lĩnh vực người có công Thực thi chính sách đối với người có công
Trang 33có nhiệm vụ và giữ vững vai trò đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, công bằng xã hội trong các thời kỳ cách mạng
1.2.3 Quy trình thực thi chính sách đối với người có công
Thực thi chính sách đối với người có công cũng tuân theo quy trình trình thực thi chính sách nói chung và được tiến hành qua 7 bước như sau:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Thực thi chính sách là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách một cách chủ động Kế hoạch triển khai gồm các nội dung: Kế hoạch về tổ chức, điều hành; kế hoạch cung cấp nguồn vật lực (tài chính, thiết bị…); kế hoạch thời gian triển khai thực hiện; Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách; dự kiến nội quy quy chế về tổ chức và điều hành thực thi chính sách [12, tr 82]
Trong thực thi chính sách đối với người có công ở quận Liên Chiểu thì phòng Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm tham mưu cho Uỷ ban nhân dân quận trong việc xây dựng các kế hoạch trong lĩnh vực người có công như: Kế hoạch khảo sát, sửa chữa và xây dựng nhà ở; kế hoạch chi trả trợ cấp; kế hoạch tham quan nghỉ dưỡng cho các đối tượng chính sách trong
đó quan trọng xác định đối tượng, thời gian, kinh phí thực hiện
Bước 2: Phổ biến tuyên truyền chính sách
Đây là công đoạn tiếp theo sau khi chính sách đã được thông qua Đây
là giai đoạn cần thiết vì giúp cho nhân dân, các cấp chính quyền hiểu được về chính sách và giúp cho chính sách được triển khai thuận lợi và có hiệu quả
Để làm được việc tuyên truyền này thì chúng ta cần phải đầu tư về trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, trang thiết bị kỹ thuật…vì đây là đòi hỏi của thực tế khách quan Việc tuyên truyền này cần phải được thực hiện thường xuyên liên tục, ngay cả khi chính sách đang được thực thi, với mọi đối
Trang 34tượng và trong khi tuyên truyền phải sử dụng nhiều hình thức như tiếp xúc trực tiếp, trao đổi [12, tr 83]
Thực thi chính sách đối với người có công để thực hiện tốt thì công tác phổ biến tuyên truyền tiến hành dưới nhiều hình thức và dưới nhiều kênh thông tin khác nhau, đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể (mít tinh, tập huấn cán bộ, thông qua báo chí, thông qua tuyên truyền trên báo đài, trao đổi) Phổ biến, tuyên truyền được thực hiện cả trước và trong quá trình thực thi chính sách
Bước 3: Phân công phối hợp thực hiện chính sách
Một chính sách thường được thực hiện trên một địa bàn rộng lớn và nhiều tổ chức tham gia do đó phải có sự phối hợp, phân công hợp lý để hoàn thành tốt nhiệm vụ Mặt khác các hoạt động thực thi mục tiêu là hết sức đa dạng, phức tạp, chúng đan xen, thúc đẩy lẫn nhau, kìm hãm, bởi vậy nên cần phối hợp các cấp, các ngành để triển khai chính sách một cách chủ động khoa học sáng tạo thì sẽ có hiệu quả cao, và duy trì ổn định [16, tr 85] Để tổ chức thực thi chính sách đối với người có công thì phòng Lao động - Thương binh
và Xã hội là cơ quan chính chủ trì và cùng phối hợp với các cơ quan tổ chức khác như các phường trên địa bàn quận, các ngành, các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Trung tâm giới thiệu việc làm và các đơn vị bên ngoài khác
Bước 4: Duy trì chính sách
Duy trì chính sách là làm cho chính sách tồn tại được và phát huy hết tác dụng trong thực tế Để duy trì được chính sách đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hiệp lực của nhiều yếu tố, như nhà nước là người tổ chức thực thi chính sách phải tạo điều kiện và môi trường để chính sách được thực thi Đối với người chấp hành chính sách phải có trách nhiệm tham gia tích cực vào thực thi chính sách [12, tr.85]
Trang 35Trong hoạt động thực thi chính sách đối với người có công quận Liên Chiểu luôn quan tâm đến công tác tuyên truyền, có những chính sách khuyến khích sự tham gia của các cá nhân, tổ chức từ bên ngoài để đảm bảo chính sách được tiếp tục thực hiện Trong đó đối tượng thụ hưởng là người có công cũng là chủ thể quan trọng trong duy trì chính sách, do đó có những hoạt động
để giúp họ hiểu hơn về vai trò của mình và có sự hợp tác với cơ quan nhà nước trong duy trì chính sách
Bước 5: Điều chỉnh chính sách
Đây là việc làm cần thiết, diễn ra thường xuyên trong quá trình tổ chức thực thi chính sách Nó được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc điều chỉnh này phải đáp ứng được việc giữ vững mục tiêu ban đầu của chính sách, chỉ điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu Hoạt động này phải hết sức cẩn thận và không làm biến dạng mục tiêu ban đầu [12, tr 87]
Bước 6: Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
Để đảm bảo cho chính sách được thực hiện đúng và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực Cơ quan nhà nước thực hiện việc kiểm tra này và nếu tiến hành thường xuyên sẽ giúp cho nhà quản lý nắm vững được tình hình thực thi chính sách từ đó có những kết luận chính xác về chính sách Công tác kiểm tra giúp cho các đối tượng thực chính sách nhận ra những hạn chế để điều chỉnh bổ sung, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách [15, tr 88] Trong tổ chức thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu thì việc kiểm tra đôn đốc được các cơ quan Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Uỷ ban nhân dân, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận tiến hành thông qua các cơ chế kiểm tra khác nhau, đồng thời có sự giám sát của các tổ chức xã hội khác
Trang 36Bước 7: Đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm
Khâu này được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình này có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ chính sách; việc đánh giá này phải tiến hành đối với cả cơ quan nhà nước và đối tượng thực hiện chính sách [12, tr 89]
1.2.4 Nội dung thực thi chính sách đối với người có công
Nội dung thực thi chính sách đối với người có công dựa trên các văn bản pháp luật và các văn bản hướng dẫn liên quan, trong đó quan trọng nhất là Pháp lệnh ưu đãi người có công Trong đó các nội dung được thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần; Thứ hai, cấp bảo hiểm y tế;
Thứ ba, điều dưỡng phục hồi sức khỏe;
Thứ tư, Nhà nước có chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ có khó khăn về nhà ở và huy động sự tham gia của xã hội, gia đình người có công với cách mạng;
Thứ năm, được ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; được hỗ trợ để theo học tại cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học;
Trợ cấp ưu đãi hàng tháng và trợ cấp một lần cho các đối tượng sau:
- Người hoạt động cách mạng trước tháng 8/1945;
- Liệt sĩ và gia đình liệt sĩ;
- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lao động;
Trang 37- Thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh;
- Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt
tù đầy;
- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;
- Người có công giúp đỡ cách mạng;
- Các đối tượng khác theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công cách mạng và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành
Bên cạnh các nội dung trợ cấp còn thực hiện các nội dung ưu đãi khác:
- Mua báo Nhân dân cho người hoạt động cách mạng trước tháng 8/1945;
- Thuốc đặc trị và các điều trị đặc biệt khác cho thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh điều trị vết thương, bệnh tật tái phát;
- Trang cấp đặc biệt cho thương binh, bệnh binh nặng;
Trang 38- Dụng cụ chỉnh hình, phương tiện trợ giúp cho thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh và người có công với cách mạng theo quyết định của cấp có thẩm quyền;
- Điều trị điều dưỡng cho thương binh, bệnh binh và người có công;
- Quà tặng của Chủ tịch nước và ăn thêm ngày lễ, tết;
- Hỗ trợ thương binh, bệnh binh nặng về an dưỡng tại gia đình;
- Hỗ trợ công tác mộ, nghĩa trang liệt sĩ và các công trình ghi công liệt sĩ;
- Trợ cấp ưu đãi trong giáo dục, đào tạo;
- Sửa chữa nhà cửa, cơ sở hạ tầng;
- Mua sắm, sửa chữa đồ dùng, trang thiết bị, phương tiện;
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách đối với người có công
Các nhân tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách công thay đổi theo từng chính sách Các nhân tố đó có thể là: Bản chất của vấn đề chính sách, môi trường thực thi chính sách, chủ thể thực thi chính sách, các đối tác và người hưởng lợi [9, tr 341]
Thực thi chính sách đối với người có công cũng chịu ảnh hưởng của các nhân tố này và trên thực tế cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên trong phạm vi đề tài cũng như điều kiện nghiên cứu của luận văn, tác giả xin nhấn mạnh một số nhân tố sau:
Thứ nhất, bản chất của vấn đề chính sách
Bản chất của vấn đề chính sách cần giải quyết tác động đến việc thực hiện các chương trình thực thi chính sách theo cách thức: Các quyết định chính sách có các mức độ khó khăn kỹ thuật khác nhau trong quá trình thực
Trang 39hiện, tính đa dạng của vấn đề, quy mô của nhóm mục tiêu, phạm vi thay đổi của nhóm mục tiêu
Người có công theo Pháp lệnh ưu đãi người có công năm 2005 (sửa đổi năm 2012) bao gồm 12 đối tượng, chính vì vậy đối tượng điều chỉnh của chính sách đối với người có công lớn Trong đó, mỗi đối tượng có những điều kiện khác nhau, tỷ lệ thương tật khác nhau nên việc giải quyết chính sách cho các đối tượng cũng sẽ khác nhau, trong quá trình tổ chức thực hiện cũng sẽ đưa ra những chính sách khác nhau để có thể đảm bảo đúng nhu cầu của đối tượng thụ hưởng, đúng vấn đề mà đối tượng gặp phải Nếu một đối tượng chính sách là thương binh thì việc thực thi chính sách sẽ không thể giống với đối tượng chính sách là thương binh nhưng lại vừa nhiễm chất độc hóa học Bên cạnh đó, việc thực thi chính sách đối với người có công không chỉ là một hoạt động mà bao gồm nhiều hoạt động, ở nhiều lĩnh vực khác nhau như hỗ trợ nhà ở, trợ cấp, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng…vì vậy việc thực thi chính sách đòi hỏi thực hiện một cách toàn diện với nguồn lực lớn và sự tham gia của nhiều chủ thể
Thứ hai, yếu tố hệ thống văn bản pháp luật, chính sách của Nhà nước
Hệ thống văn bản pháp luật, các chính sách sẽ không có ý nghĩa nếu không được đưa vào thực tiễn Hệ thống pháp luật, chính sách của nhà nước
có ảnh hưởng rất lớn đến thực thi chính sách đối với người có công; đó là cơ
sở để việc thực thi chính sách được đúng đắn, hợp lý Nếu hệ thống pháp luật hoàn thiện, đầy đủ cũng như chính sách phù hợp với thực tế thì việc thực thi chính sách sẽ dễ dàng và thuận tiện hơn; ngược lại nếu hệ thống pháp luật còn nhiều kẽ hở, thiếu sót, bất cập thì việc thực thi chính sách sẽ trở nên khó khăn
và ảnh hưởng đến đối tượng chính sách Trong thực thi chính sách đối với người có công và thân nhân được điều chỉnh bởi hệ thống các văn bản pháp luật ở cả Trung ương và địa phương, trong đó:
Trang 40Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005 của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội về ưu đãi người có công với cách mạng;
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng ngày 16 tháng 7 năm 2012;
Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “ Bà mẹ Việt Nam anh hùng”;
Nghị định 31/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2013 của Chính phủ Quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người
có công với cách mạng;
Nghị định 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 05 năm 2013 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh
dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”;
Nghị định 20/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ Quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng;
Quyết định 22/2013/QĐ-TTg ngày 26 tháng 04 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về Hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở;
Thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15 tháng 05 năm 2013 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản lý
hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân;
Thông tư 16/2014/TT-BLĐTBXH ngày 30 tháng 07 năm 2014 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Hướng dẫn một số nội dung xác nhận và thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng;
Thông tư Liên tịch số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 03 tháng
06 năm 2014 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính về Hướng dẫn chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình đối với người có công với cách mạng và thân nhân; quản
lý các công trình ghi công liệt sĩ;