1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

KTCT một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam trong tiến trình hội nhập

44 449 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 266,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Khi mà hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng cả về chiều rộng và chiều sâu thì không một quốc gia nào có thể tự tách rời, cô lập mình mà vẫn phát triển mạnh được. Tham gia hội nhập kinh tế mở ra những cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức to lớn đối với mỗi quốc gia nói chung và mỗi doanh nghiệp nói riêng. Quyết định thành công trong hội nhập kinh tế là năng lực cạnh tranh vì nó là điều kiện duy trì sự tồn tại và phát triển thị trường. Trong những năm qua, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của ta với ưu thế năng động, nhanh nhạy với cơ chế thị trường... đã đóng vai trò rất quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nó khai thác tiềm năng vốn có trong dân, phát huy nội lực, mở rộng ngành nghề, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo và góp phần đáng kể vào ngân sách hàng năm. Song một thực tế đáng buồn là trong xu thế hội nhập kinh tế hiện nay so với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của các nước trong khu vực và trên thế giới thì năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của ta còn quá thấp. Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam là một vấn đề thực sự cấp bách, cần phải được xem xét ngay. Góp phần nghiên cứu vấn đề này, đề tài của em tập trung nghiên cứu về “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập”. Nội dung chính của đề tài gồm: Chương I: Một số lý luận cơ bản về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ; Chương II: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam; Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Khi mà hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng cả về chiều rộng vàchiều sâu thì không một quốc gia nào có thể tự tách rời, cô lập mình mà vẫnphát triển mạnh được Tham gia hội nhập kinh tế mở ra những cơ hội nhưngđồng thời cũng đặt ra những thách thức to lớn đối với mỗi quốc gia nói chung

và mỗi doanh nghiệp nói riêng Quyết định thành công trong hội nhập kinh tế

là năng lực cạnh tranh vì nó là điều kiện duy trì sự tồn tại và phát triển thịtrường Trong những năm qua, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của ta với ưu thếnăng động, nhanh nhạy với cơ chế thị trường đã đóng vai trò rất quan trọngđối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nó khai tháctiềm năng vốn có trong dân, phát huy nội lực, mở rộng ngành nghề, góp phầntạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo và góp phần đáng kể vàongân sách hàng năm Song một thực tế đáng buồn là trong xu thế hội nhậpkinh tế hiện nay so với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của các nước trong khuvực và trên thế giới thì năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏcủa ta còn quá thấp Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanhnghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam là một vấn đề thực sự cấp bách, cần phải đượcxem xét ngay

* Góp phần nghiên cứu vấn đề này, đề tài của em tập trung nghiên cứu về

“Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập”.

* Nội dung chính của đề tài gồm:

Chương I: Một số lý luận cơ bản về cạnh tranh và nâng cao năng lực

cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ;

Chương II: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp

vừa và nhỏ ở Việt Nam;

Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của

các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Trang 2

CHƯƠNG I MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1 Lý luận chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.1 Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.1.1 Khái niệm chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tưcách pháp nhân, kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệptrong những giới hạn nhất định theo tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trịgia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia1

Đây là khái niệm chung nhất về doanh nghiệp vừa và nhỏ Tuy nhiên,khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ mang tính tương đối và giữa cácquốc gia thì nó có đặc trưng riêng

1.1.2 Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Theo Luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đượchiểu là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, không phânbiệt thành phần kinh tế, có quy mô về vốn hoặc lao động thoả mãn các quyđịnh của chính phủ đối với từng ngành nghề tương ứng với từng thời kỳ pháttriển của nền kinh2

Luật doanh nghiệp Việt Nam

-1 1 Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2002, tr 8.

2 Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2002, tr 11 (trích luật doanh nghiệp VN).

Trang 3

1.2 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ

+ Giá trị gia tăng

Trong đó, hai tiêu thức được sử dụng nhiều nhất là vốn và lao động

1.2.2 Các yếu tố tác động đến tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ

Có rất nhiều yếu tố tác động đến các tiêu chí phân loại doanh nghiệpvừa và nhỏ Sau đây là một số yếu tố cơ bản:

- Trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước: Trình độ phát triển càng caothì trị số các tiêu thức càng tăng lên Như vậy, ở một số nước có trình độ kinh

tế thấp thì các trị số về lao động và vốn để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ

sẽ thấp hơn so với các nước đang phát triển

- Tính chất ngành nghề: Vì đặc điểm của từng ngành nghề có những nétđặc trưng, có ngành sử dụng nhiều lao động (dệt, may ) nhưng lại có ngành

sử dụng nhiều vốn và ít lao động (hoá chất, bưu chính viễn thông ) nên dựavào tính chất ngành nghề để phân loại các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm để

có thể so sánh, đối chứng trong phân loại vừa và nhỏ giữa các ngành khácnhau

- Tính lịch sử: Một doanh nghiệp trước đây coi là lớn, nhưng với quy

mô như vậy hiện tại lại là doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chú ý rằng, các tiêu thức và các tiêu chuẩn giới hạn trong từng giaiđoạn cần có sự điều chỉnh để phù hợp với đường lối, chiến lược, chính sáchphát triển của mỗi nước3

3 3 Tham khảo: Giáo trình Quản lý học kinh tế quốc dân, Tập II, NXB Khoa Học và Kỹ Thuật, 2001, tr 395 396.

Trang 4

-1.2.3 Các tiêu chí phân loại được sử dụng ở Việt Nam

+ Số lao động thường xuyên

+ Vốn sản xuất

Theo quy định của Chính phủ tại Công văn số 681/CP-KTN ngày 20tháng 6 năm 1998 xác định tiêu thức phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ tạmthời quy định là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số laođộng trung bình hàng năm dưới 200 người Trong những trường hợp cụ thể cóthể sử dụng một hoặc cả hai tiêu thức trên

Cũng theo quy định, doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có số lao độngdưới 30 người và vốn dưới 1 tỷ đồng, còn doanh nghiệp vừa có từ 31 đến 200lao động và vốn từ 1 tỷ đồng đến 5 tỷ đồng Đối với doanh nghiệp côngnghiệp, doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có vốn từ 1 tỷ đồng trở xuống và

số lao động từ 50 người trở xuống, còn các doanh nghiệp thương mại và dịch

vụ có số lao động dưới 30 người4

Mặc dù, quy định này ra đời từ năm 1998 nhưng hiện nay do chưa cóthêm văn bản nào bổ sung nên đến nay nó vẫn còn có hiệu lực Mong rằngtrong những năm tới, khi đất nước ta ngày càng phát triển thì trị số về vốn vàlao động đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ cao hơn

Chú ý rằng sự phân loại trên chỉ mang tính tương đối, không thể hiểumột cách cứng nhắc mà phải thường xuyên đánh giá, cân nhắc, điều chỉnh chophù hợp với tình hình phát triển của đất nước trong từng thời kỳ

1.3 Vị trí và vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vị trí và vai trò rất quan trọng trong nềnkinh tế của mỗi nước kể cả các nước phát triển cao Thật vậy:

- Về số lượng: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm ưu thế tuyệt đối

- Doanh nghiệp vừa và nhỏ có mặt trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnhvực và là một bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế của mỗi nước

4 4 Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2002, tr 13 -14.

Trang 5

Nó là một bộ phận gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn, có tác dụng hỗtrợ, bổ sung, thúc đẩy các doanh nghiệp lớn phát triển.

- Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần quan trọngtrong việc giải quyết những mục tiêu KT - XH sau:

+ Một là, đóng góp đáng kể vào sự phát triển và ổn định kinh tế ở mỗinước Việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần tăng trưởng kinh tế,đặc biệt là những nước đang phát triển như nước ta

+ Hai là, cung cấp cho xã hội khối lượng hàng hoá đáng kể, phong phú

+ Năm là, khai thác, phát huy các nguồn lực và tiềm năng tại chỗ củacác địa phương

+ Sáu là, hình thành, phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động + Bảy là, tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sản xuất - kinh doanhphát triển hiệu quả hơn

Tóm lại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng giữ vai trò quan trọngtrong sự phát triển của mỗi nước, làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quảhơn

2 Cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường 2.1 Khái niệm về cạnh tranh

Do cách tiếp cận khác nhau và mục đích nghiên cứu khác nhau, nên trong

thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh Nhưng nhìn chung cạnh tranh trong kinh doanh được hiểu là chạy đua hay ganh đua gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường để giành giật

Trang 6

những điều kiện kinh doanh thuận lợi nhất nhằm đem lại cho mình nhiều lợi ích nhất

2.2 Tính quy luật của cạnh tranh

Cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường Vìtrong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thường muốn đạt được lợinhuận tối đa nên các doanh nghiệp có xu thế tham gia vào những ngành đemlại lợi nhuận cao chính điều này đã làm cho sự đua tranh giữa các doanhnghiệp để nhằm đạt được những điều kiện kinh doanh thuận lợi diễn ra quyếtliệt Theo lý luận kinh tế học, quy luật cạnh tranh sẽ đào thải những doanhnghiệp làm ăn kém hiệu quả Và đối với những doanh nghiệp làm ăn hiệu quảthì cạnh tranh lại là động lực cho sự phát triển lâu dài và ổn định của mình.Hơn nữa, nếu hạn chế cạnh tranh sẽ gây ra lãng phí nguồn lực, làm giảm tínhnăng động, sáng tạo của mỗi con người cũng như toàn xã hội, nền kinh tế sẽkém phát triển Do đó, cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế:thay thế những người thiếu năng lực bằng những người có năng lực, thay thếnhững doanh nghiệp yếu kém bằng những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, thaythế sự đáp ứng nhu cầu xã hội không đầy đủ bằng sự đáp ứng ngày một tốthơn

Tóm lại, các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường đềuphải đối mặt với cạnh tranh, nếu doanh nghiệp nào né tránh thì sớm muộndoanh nghiệp đó cũng sẽ bị đào thải bởi cạnh tranh là một quy luật kháchquan của nền kinh tế thị trường

2.3 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

2.3.1 Vai trò của cạnh tranh đối với doanh nghiệp

Cạnh tranh là quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường bởi vậybất cứ doanh nghiệp nào khi tham gia vào nền kinh tế thị trường cũng phảiđối mặt với cạnh tranh và phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình bằngcách tạo ra những lợi thế cạnh tranh vượt trội hơn so với đối thủ như là nângcao chất lượng và mẫu mã sản phẩm, giảm giá, nâng cao hiệu quả công tác

Trang 7

quản lý và nguồn nhân lực Do đó cạnh tranh nó kích thích các doanh nghiệpnăng động hơn, mạnh mẽ hơn và làm ăn có hiệu quả hơn Mặt khác, cácdoanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh vượt trội so với đối thủ trong điều kiệncạnh tranh khốc liệt sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển lâu dài và ổnđịnh.

2.3.2 Vai trò của cạnh tranh đối với người tiêu dùng

Cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp thúc đẩy theo đuổi các chiếnlược khác nhau, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, áp dụng những công nghệhiện đại để có thể đứng vững trên thị trường, thu được lợi nhuận cao chínhđiều này đã làm cho người tiêu dùng được hưởng nhiều điều kiện thuận lợihơn như: sự đa dạng chủng loại các mặt hàng, sản phẩm có chất lượng tốt hơn

mà giá lại rẻ hơn, các dịch vụ ngày càng thuận tiện

2.3.3 Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế

Cạnh tranh là động lực làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển vìcạnh tranh loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả đồng thời khẳngđịnh sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh hiệu qủa Cạnhtranh thúc đẩy sự phát triển bình đẳng của các thành phần kinh tế trong nềnkinh tế thị trường, góp phần xoá bỏ sự độc quyền, sự bất bình đẳng trong kinhdoanh Mặt khác, cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sựphân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng, tạo ra những sản phẩm đápứng nhu cầu ngày càng tốt hơn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộcsống của cộng đồng xã hội

2.4 Các hình thức cạnh tranh chủ yếu

2.4.1 Theo tính chất cạnh tranh

- Cạnh tranh lành mạnh (cạnh tranh mà có “sân chơi” bình đẳng)

- Cạnh tranh không lành mạnh (cạnh tranh mà có “sân chơi” không bìnhđẳng)

2.4.2 Theo mức độ cạnh tranh

- Cạnh tranh hoàn hảo (cạnh tranh thuần túy)

Trang 8

- Cạnh tranh không hoàn hảo.

a Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh mà trong đó người

bán và người mua không có ảnh hưởng lên giá thị trường mà giá cả thị trường

là do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định Các sản phẩm bán ra cótính chất đồng nhất cao Điều kiện tham gia hay rút lui khỏi thị trường rất dễdàng Hình thức cạnh tranh hoàn hảo khó tìm thấy hiện nay

b Cạnh tranh không hoàn hảo: Cạnh tranh không hoàn hảo là hình

thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành sản xuất, mà ở đó các doanhnghiệp có đủ sức mạnh và thế lực có thể chi phối được giá cả sản phẩm củamình trên thị trường

Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: Độc quyền nhóm và cạnhtranh mang tính độc quyền

+ Độc quyền nhóm: Tồn tại trong các ngành sản xuất mà ở đó chỉ có

một ít người sản xuất, mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả các sảnphẩm của mình không chỉ phụ thuộc vào hoạt động của mình mà còn phụthuộc vào hoạt động của những kẻ cạnh tranh quan trọng trong ngành đó

+ Cạnh tranh mang tính độc quyền: Là hình thức cạnh tranh mà

trong đó các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau bằng việc bán các sản phẩmphân biệt (đã được làm cho khác sản phẩm của các doanh nghiệp khác), cácsản phẩm này có thể thay thế cho nhau ở mức độ cao nhưng không phải làthay thế hoàn hảo Người bán có thể thu hút khách hàng bằng các cách hữuhiệu như quảng cáo, khuyến mại, dịch vụ hậu mãi Loại hình cạnh tranh nàyrất phổ biến hiện nay

2.4.3 Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường

- Cạnh tranh giữa người bán và người mua

- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau

- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau

Trong đó, cạnh tranh loại này chủ yếu xoay quanh vấn đề: chất lượng hànghoá, giá cả, các điều kiện dịch vụ

Trang 9

Ngoài ra chúng ta còn có thể có những hình thức cạnh tranh khác khixem xét dưới góc độ các công đoạn của sản xuất - kinh doanh, hoặc xem xéttheo mục tiêu kinh tế 5

2.5 Các công cụ cạnh tranh chủ yếu

2.5.1 Cạnh tranh bằng giá cả

Quy luật giá trị đã chỉ ra rằng: Với cùng một sản phẩm có chất lượngnhư nhau, nếu sản phẩm nào có giá thấp hơn thì sẽ giành được lợi thế cạnhtranh hơn so với các sản phẩm cùng loại, do vậy giá cả là một công cụ trongnhững công cụ cạnh tranh hữu hiệu của doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể

sử dụng công cụ cạnh tranh này qua các chính sách đặt giá như:

- Cạnh tranh bằng cách đặt giá cao: Được sử dụng khi doanh nghiệp có

một lợi thế đặc biệt hay độc quyền trong việc cung ứng hàng hoá Hoặc khicác sản phẩm mới được đưa ra lần đầu tiên, trên thị trường chưa có sản phẩmthay thế nên khách hàng khó so sánh hoặc khi cầu thị trường lớn hơn cung

- Cạnh tranh bằng cách đặt giá thấp: Đặt giá thấp không có nghĩa là bán

phá giá mà doanh nghiệp phải lấy mức giá hoà vốn làm căn cứ Công cụ nàyđược áp dụng nhằm đánh bại các đối thủ cạnh tranh khi áp lực cạnh tranh vềgiá cao Muốn vậy, doanh nghiệp phải tìm cách giảm chi phí sản xuất

- Cạnh tranh bằng mức giá linh hoạt: Tức là doanh nghiệp đưa ra

những mức giá khác nhau cho những thị trường khác nhau khi giữa các thịtrường có những điều kiện khác biệt

5 5 Tham khảo: Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2003, tr 10 - 13 và Giáo trình Kinh tế Vi mô, NXB Giáo dục, 145 - 168.

Trang 10

- Cạnh tranh bằng cách bán phá giá: Tức là bán với giá thấp hơn giá thị

trường, thậm chí còn thấp hơn giá thành sản phẩm Nó được sử dụng trongnhững trường hợp như: Bán hàng tồn kho để thu hồi vốn, hoặc muốn đánh bạiđối thủ đáng gờm trong trường hợp doanh nghiệp có tiềm lực tài chính Bánphá giá không được khuyến khích sử dụng vì nó có thể gây những biến độngxấu cho nền kinh tế, gây ra cạnh tranh không lành mạnh

2.5.2 Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm được thể hiện qua các chỉ tiêu như: tính kỹ thuật,tính thẩm mỹ, tính kinh tế, độ an toàn Chất lượng sản phẩm ngày càng trởthành một công cụ cạnh tranh hữu hiệu của doanh nghiệp Đặc biệt, khi màthu nhập và đời sống dân cư ngày càng cao thì phương thức cạnh tranh bằnggiá tỏ ra không hiệu quả Chất lượng sản phẩm và dịch vụ sẽ là mối quan tâmhơn đối với khách hàng, bởi vậy, một sản phẩm chất lượng thấp dù giá rẻcũng không thể tiêu thụ được, ngược lại, một sản phẩm dù mức giá cao hơnmột chút nhưng có chất lượng cao hơn lại dễ dàng tiêu thụ hơn Khi mà khoahọc ngày càng phát triển làm cho vòng đời của sản phẩm ngắn hơn, các sảnphẩm cũ nhanh chóng bị thay thế bởi những sản phẩm với những tính nănghoàn thiện hơn thì chất lượng trở thành một công cụ hữu hiệu để thành côngtrong cạnh tranh

2.5.3 Cạnh tranh bằng việc cung cấp các hoạt động dịch vụ

Trong cuộc sống ngày nay, khi mà cạnh tranh ngày càng trở nên gaygắt, những đòi hỏi của người tiêu dùng ngày càng cao, chất lượng và giá cảcủa các doanh nghiệp tương đối đồng đều thì để tạo được nét khác biệt, cácdoanh nghiệp phải quan tâm đến phương thức cạnh tranh bằng cung cấp dịch

vụ như: bảo hành, sửa chữa miễn phí, khuyến mại, giao hàng tận nơi Cácdịch vụ hoàn hảo sẽ làm tăng sự hài lòng của khách hàng, tạo được hình ảnhđẹp về doanh nghiệp trong lòng khách hàng Bởi vậy, khi cuộc sống ngày

Trang 11

càng phát triển thì hình thức cạnh tranh thông qua việc cung cấp các dịch vụ

tỏ ra rất hiệu quả6

Để có thể thành công trong cạnh tranh, các doanh nghiệp cần phải rấtlinh hoạt trong lựa chọn công cụ cạnh tranh và cần phải phối hợp nhiều công

cụ để có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp

3 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

3.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Có rất nhiều quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhưng

quan niệm cho rằng “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của nó so với các đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng, tồn tại và vươn lên trên thị trường cạnh tranh trong nước và quốc tế về một hay một hay nhiều sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp để thu được lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp mình” có lẽ là phù hợp hơn cả.

Xuất phát điểm của năng lực cạnh tranh là lợi thế cạnh tranh - nghĩa làkhả năng sản xuất và cung cấp sản phẩm tốt hơn đối thủ Tuy nhiên khôngpbải những gì doanh nghiệp hơn đối thủ đều là lợi thế cạnh tranh Lợi thếcạnh tranh trước hết phải là yếu tố thành công cơ bản, gắn liền với nhu cầucủa khách hàng, đồng thời là điểm mạnh của doanh nghiệp và luôn so sánhvới đối thủ Vì thế điều sống còn đối với mỗi doanh nghiệp là phải hiểu rất rõlợi thế cạnh tranh của mình là gì, bắt nguồn từ đâu và làm thế nào để duy trì

và phát triển lợi thế cạnh tranh đó

3.2 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

3.2.1 Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

Chiến lược của doanh nghiệp xác định lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạtđộng, mục tiêu và kỳ vọng trong lĩnh vực đó Trên cơ sở đó thì đề ra cáchthức phân bổ nguồn lực để có thể đạt được mục tiêu đã đề ra Một doanh

6 6 Tham khảo giáo trình Khoa học quản lý, Tập I, NXB Khoa Học và Kỹ Thuật, 2001, tr 361-362;

Giáo trình chiến lược kinh doanh, NXB Thống Kê, HN - 1999, tr 107 - 121.

Trang 12

nghiệp nếu xây dựng được chiến lược đúng đắn sẽ cho phép nó xác định đúnghướng đi của mình, sử dụng một cách hiệu quả các nguồn lực để có thể tạo ranhững lợi thế so với đối thủ cạnh tranh và cho phép thành công trong cạnhtranh.

3.2.2 Quy mô của doanh nghiệp

Quy mô của doanh nghiệp là một nhân tố quan trọng quyết định đếnnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có lợi thế quy mônhư có nguồn tài chính vững mạnh, số lượng đông đảo nhân viên có năng lực,thị phần lớn sẽ có năng lực cạnh tranh cao Doanh nghiệp có thể sử dụng lợithế quy mô để tạo ra rào cản ngăn cản các đối thủ cạnh tranh xâm nhập thịtrường, mở rộng thị trường, khẳng định vị thế của mình trên thị trường

3.2.3 Năng suất lao động

Năng suất lao động cũng là một nhân tố quan trọng cấu thành năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp Năng suất lao động chịu ảnh hưởng của nhiềunhân tố như văn hoá tổ chức, công nghệ của doanh nghiệp, hiệu quả của côngtác quản lý nhân sự Năng suất của doanh nghiệp cao sẽ làm tăng sản lượng,tiết kiệm thời gian, giảm chi phí, hạ giá thành dẫn đến nâng cao năng lực cạnhtranh về giá của doanh nghiệp

3.2.4 Sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp

+ Chất lượng và giá cả sản phẩm

Như đã nói ở trên, cả chất lượng và giá cả đều là những công cụ hữuhiệu để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Chúng luôn điliền với nhau, nếu sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng bảo đảm với giá

mà thị trường có thể chấp nhận được thì năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp sẽ cao Tuy vào từng loại thị trường, loại sản phẩm, khách hàng màdoanh nghiệp kinh doanh mà doanh nghiệp nên chú trọng chất lượng hay giá

cả hoặc cả hai để có thể tạo được năng lực cạnh tranh tốt nhất cho mình

Trang 13

+ Tính đa dạng và khác biệt của sản phẩm

Trong kinh doanh hiện đại, khi mà điều kiện thị trường phức tạp, haythay đổi, cạnh tranh gay gắt thì rất hiếm doanh nghiệp kinh doanh một loạisản phẩm vì như vậy sẽ khó tránh khỏi rủi ro Do đó, các doanh nghiệpthường lựa chọn chiến lược đa dạng hoá sản phẩm, nó cho phép doanh nghiệpđáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, giảm bớt rủi ro, tăng uytín của doanh nghiệp Mặt khác, các doanh nghiệp cố gắng tạo ra cho sảnphẩm của mình những tính năng nổi trội, độc đáo để tăng sự hấp dẫn, từ đótăng năng lực cạnh tranh của mình Do đó, tính đa dạng và khác biệt của sảnphẩm cũng là một nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

3.2.4 Vị thế của doanh nghiệp trên thị trường

Vị thế của doanh nghiệp biểu hiện ở thị phần, sức mạnh và khả năngchi phối của doanh nghiệp trên thị trường Nó cho phép doanh nghiệp thựchiện một cách thuận lợi các biện pháp cạnh tranh của mình và khả năng ảnhhưởng đến khách hàng, các đối tác cũng như các đối thủ cạnh tranh Vị thếcủa doanh nghiệp càng cao thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp càngcao

3.3 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

3.3.1 Thị phần của doanh nghiệp

Thị phần là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh thế mạnh trên thị trườngcủa một doanh nghiệp Thị phần lớn tạo điều kiện cho doanh nghiệp hạ thấpchi phí sản xuất do lợi thế về quy mô, đồng thời củng cố lòng tin của kháchhàng

Doanh thu của doanh nghiệp

Thị phần của doanh nghiệp = - x 100

Tổng doanh thu của toàn ngành

Chỉ tiêu càng lớn phản ánh vị trí càng cao của doanh nghiệp trong ngành

3.3.2 Tốc độ tăng doanh thu

Tốc độ tăng doanh Tốc độ tăng doanh thu của doanh nghiệp

Trang 14

thu của DN so với = - x 100 đối thủ cạnh tranh Tốc độ tăng doanh thu của đối thủ cạnh tranh

Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 thì chứng tỏ doanh thu của doanh nghiệptăng nhanh hơn doanh thu của đối thủ cạnh tranh, do đó doanh nghiệp có thể

có năng lực cạnh tranh cao hơn đối thủ cạnh tranh và ngược lại, nếu chỉ tiêunày nhỏ hơn 1 thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thấp hơn đối thủcạnh tranh

3.3.3 Tỷ suất lợi nhuận

Lợi nhuận của doanh nghiệp

Tỷ suất lợi nhuận = - x 100

Doanh thu của doanh nghiệp

Chỉ tiêu này cho thấy nếu thu được 100 đồng doanh thu thì sẽ có baonhiêu đồng lợi nhuận trong đó Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ DN làm ăn hiệuquả đồng thời phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là cao7

3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

3.4.1 Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài

Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài là các yếu tố bên ngoài doanhnghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của

7 7 Giáo trình Phân tích kinh doanh, NXB Giáo dục, tr.187.

8 8 Giáo trình Phân tích kinh doanh, NXB Giáo dục,tr 262.

Trang 15

doanh nghiệp Chúng tạo ra những cơ hội cũng như thách thức cho doanhnghiệp Môi trường bên ngoài gồm:

* Môi trường vĩ mô

* Môi trường vi mô (môi trường ngành)

a Môi trường vĩ mô

Môi trường vĩ mô của doanh nghiệp là tổng hợp các nhân tố kinh tế,chính trị - pháp luật, văn hoá - xã hội, tự nhiên, công nghệ, tự nhiên Cácnhân tố có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới doanh nghiệp và doanhnghiệp không thể thay đổi nó mà cần phải biết thích nghi một cách sáng tạo

* Môi trường kinh tế: Tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất, cơ cấu

sản xuất và tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế Chúng có ảnh hưởng đếnnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

* Môi trường chính trị - pháp luật: Luật doanh nghiệp, chính sách

thuế, các quan điểm, đường lối của nhà nước ngày càng có ảnh hưởng lớnđến hoạt động của doanh nghiệp Một thể chế chính trị ổn định, pháp luật rõràng sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh và ngược lại

* Môi trường khoa học công nghệ: Khi mà khoa học công nghệ ngày

càng phát triển thì nó sẽ tạo ra những cơ hội cũng như những nguy cơ cho cácdoanh nghiệp Cho phép các doanh nghiệp ứng dụng những khoa học hiện đại

để tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh lớn và ngược lại nó cũng có thể làmcho công nghệ hiện tại của doanh nghiệp trở nên lỗi thời

* Môi trường văn hoá - xã hội: Các yếu tố văn hoá - xã hội như phong

tục tập quán, lối sống, thói quen có ảnh hưởng đến việc tiêu dùng của kháchhàng Nếu doanh nghiệp có sự hiểu biết và thích nghi sáng tạo về môi trườngvăn hoá - xã hội có thể tạo ra cho mình năng lực cạnh tranh cao hơn so vớiđối thủ

* Môi trường tự nhiên: Đó là các tài nguyên thiên nhiên, đất đai,

khoáng sản, nước Nếu doanh nghiệp nào có thể khai thác hiệu quả, hợp lý

Trang 16

các tài nguyên thiên nhiên thì có thể tạo dựng được cho mình năng lực cạnhtranh cao.

* Môi trường quốc tế: Là các tiêu chuẩn kinh doanh của quốc tế, thông

lệ quốc tế Khi mà hội nhập ngày càng mở rộng thì nó mở ra cho các doanhnghiệp cơ heir và những thách thức, do đó có thể làm tăng hoặc giảm nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp

b Môi trường vi mô

So với môi trường vĩ mô, môi trường vi mô có tác động trực tiếp tớinăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành

Theo M.Porter thì có 5 lực lượng chính có ảnh hưởng đến năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp:

* Đối thủ cạnh tranh trực tiếp: Đó là những doanh nghiệp cùng tạo ra

và cung ứng một loại sản phẩm trên cùng một thị trường giống doanh nghiệp.Cạnh tranh với các đối thủ trực tiếp thường là gay gắt nhất Nếu đối thủ cạnhtranh có tiềm lực lớn hơn so với doanh nghiệp thì sẽ là mối đe doạ lớn đối vớidoanh nghiệp Doanh nghiệp muốn thắng được các đối thủ cạnh tranh thì cầnphải nghiên cứu về họ thật thận trọng để có thể đưa ra những chiến lược tácchiến hợp lý

* Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Đó là những người có dự tính sắp gia

nhập thị trường, những người mới gia nhập Sự xuất hiện đối thủ cạnh tranhtiềm năng làm cho cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, có thể là yếu tố làm thuhẹp thị phần, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp

* Những nhà cung cấp: Đó là những người cung ứng những đầu vào

cho doanh nghiệp Nhà cung ứng có thể áp lực mạnh cho doanh nghiệp vềgiá, khối lượng khiến giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cao do đó có thểlàm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp cầnphải lựa chọn cho mình nhà cung ứng tốt nhất với giá cả và khối lượng ổnđịnh

Trang 17

* Sản phẩm thay thế: Khi giá cả mặt hàng mà doanh nghiệp cung ứng

cao thì khách hàng có xu hướng sử dụng các sản phẩm thay thế Nó có thểlàm giảm thị phần và làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp9

3.4.2 Các nhân tố thuộc môi trường bên trong

Đó là những tiềm lực mà doanh nghiệp sử dụng để tạo ra những lợi thếcạnh tranh so với đối thủ cạnh tranh

* Nguồn nhân lực: Yếu tố con người có ý nghĩa quyết định đến sự

thành bại của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có đội ngũ công nhân viênlành nghề, giàu kinh nghiệm, nhiệt tình với công việc, đoàn kết, trung thànhvới doanh nghiệp thì đó sẽ là cơ sở làm tăng năng suất cho doanh nghiệp,giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Đồng thờidoanh nghiệp có đội ngũ cán bộ quản lý có năng lực, có đức hạnh, nghị lực,nhạy bén với cơ chế thị trường sẽ giúp doanh nghiệp có chiến lược cạnh tranhđúng đắn, dẫn dắt doanh nghiệp đi tới được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặtra

* Nguồn tài chính của doanh nghiệp: Vốn là một nhân tố không thể

thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời nócũng là một nhân tố quyết định tạo dựng năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp

9 9 Tham khaỏ: Chiến lược chính sách và kinh doanh, NXB Thống Kê, 1997, tr 41 - 71.

Trang 18

Nếu doanh nghiệp có quy mô tài chính lớn, khả năng huy động vốn tốt,chi phí huy động vốn thấp, cơ cấu tài chính hợp lý, phân bổ và sử dụng hiệuquả nguồn vốn sẽ cho phép doanh nghiệp theo đuổi những chiến lược lâu dài,thích ứng với những điều kiện biến động và dành thắng lợi trong cạnh tranh.

* Công nghệ - kỹ thuật của doanh nghiệp: Công nghệ - kỹ thuật của

doanh nghiệp là một yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất và chất lượngcủa sản phẩm Do đó, nó có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp Nếu doanh nghiêp có máy móc với công nghệ hiện đại, cập nhật, sẽ

cho phép doanh nghiệp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm

* Cơ cấu tổ chức: Nếu doanh nghiệp có một cơ cấu thích hợp và linh

hoạt sẽ cho phép doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh và có khả năngứng biến với những sự thay đổi của môi trường

* Văn hoá doanh nghiệp: Doanh nghiệp mà có bầu không khí và nề

nếp tổ chức tốt, phát triển được các mối quan hệ phi chính thức tốt đẹp củadoanh nghiệp, ban lãnh đạo có sự quan tâm tới người lao động, các thành viênđoàn kết, cởi mở sẽ khuyến khích các thành viên của doanh nghiệp hoạt độngtích cực, có hiệu quả từ đó làm cho hoạt động của doanh nghiệp tăng lên, gópphần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp10

4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Cạnh tranh đó là một trong những quy luật cơ bản của nền kinh tế thịtrường Bất cứ doanh nghiệp nào khi tham gia thị trường đều phải chấp nhậncạnh tranh Cạnh tranh có hai mặt, một mặt nó đào thải những doanh nghiệpyếu kém, mặt khác nó kích thích các doanh nghiệp không ngừng hoàn thiệnnhằm tạo ra những lợi thế so sánh quan trọng để có thể tồn tại và phát triểntrong môi trường phức tạp và luôn biến động

Hơn nữa, để có thể hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đạihoá, Việt Nam chúng ta chủ trương xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập

10 10 Tham khaỏ: Chiến lược chính sách và kinh doanh, NXB Thống Kê, 1997, tr 79 - 97.

Trang 19

với các nước trên thế giới, khuyến khích xuất khẩu và đồng thời thay thế hànghoá nhập khẩu bằng các sản phẩm hữu hiệu trong nước Với tinh thần đó,nước ta đã gia nhập ASEAN, APEC, cam kết thực hiện AFTA và trong tươnglai sẽ tham gia WTO khi có đủ điều kiện Khi tham gia hội nhập, thì cácdoanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng

sẽ có điều kiện tiếp cận với các thành tựu khoa học - kỹ thuật tiên tiến và tiếpcận, tham nhập thị trường thế giới Nhưng khi Việt Nam tham gia các tổ chứckinh tế thế giới thì đồng nghĩa với việc chúng ta phải thực hiện lộ trình cắtgiảm thuế quan, phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt hơn với hàng nhập khẩu,với các doanh nghiệp nước ngoài ngay trên sân nhà Mặc dù các doanh nghiệpvừa và nhỏ của ta với sự năng động, nhạy bén với cơ chế thị trường đã vàđang khẳng định vai trò to lớn của mình trong công cuộc xây dựng và pháttriển đất nước Nhưng thực tế cho thấy năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp vừa và nhỏ vẫn còn rất yếu Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, với

sự xâm nhập và bành trướng của các công ty đa quốc gia, và sự đòi hỏi đápứng ngày càng cao của thị trường về chất lượng sản phẩm, dịch vụ, giá cả, cácdịch vụ bổ sung thì sức ép phải nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanhnghiệp vừa và nhỏ để có thể thích nghi được với những điều kiện, đòi hỏi mới

là một vấn đề thật sự cấp bách

Trang 20

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM

1 Những đặc trưng cơ bản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

- Việt Nam là một nước kinh tế còn kém phát triển nên sản xuất nhỏ làchủ yếu, do đó, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số

- Về sở hữu, bao gồm sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân (trong đódoanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm khoảng 97%, doanh nghiệp nhà nướcchiếm trên 3%)

- Phân bổ không đồng đều, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn

- Trình độ quản lý, công nghệ, trình độ văn hoá kinh doanh còn thấp

- Xu hướng tập trung vào các ngành có vốn thấp, thu hồi vốn nhanh

- Nhà nước chỉ mới có những định hướng lớn khuyến khích các doanhnghiệp vừa và nhỏ Phần lớn các doanh nghiệp tự lo là chính

- Thiếu sự hỗ trợ của các hội nghề nghiệp, các trung tâm tư vấn và cácdoanh nghiệp lớn

2 Sự đóng góp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm qua 2.1 Những ưu điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

- Dễ thành lập vì đòi hỏi vốn ít (có thể với vốn tự có, vốn vay mượnngười thân, tổ chức tín dụng), diện tích mặt bằng không lớn, các điều kiện sảnxuất đơn giản

- Quy mô nhỏ, năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh

- Nhạy bén với cơ chế thị trường, dễ gia nhập và rút lui

- Dễ đổi mới trang thiết bị, công nghệ, chúng gắn liền với công nghệtrung gian là cầu nối giữa công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại

- Thu hút lao động với chi phí thấp và do đó có thể giảm chi phí, hạ giáthành

- Khai thác được thị trường trong nước

Trang 21

2.2 Thành tích cụ thể của các doanh nghiệp vừa vừa và nhỏ

Đối với Việt Nam thì vị trí, vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ lạicàng quan trọng vì nước ta có trình độ phát triển kinh tế còn thấp so với cácnước trong khu vực và trên thế giới Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ ởViệt Nam khá lớn, cả nước đã có hơn 130.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ đăng

ký kinh doanh chiếm 97% tổng số doanh nghiệp Trong đó, các doanh nghiệpnhà nước chiếm 3,5%, còn lại chủ yếu là doanh nghiệp ngoài quốc doanhchiếm xấp xỉ 97% Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vựccông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm 17%, xây dựng 14%, nông nghiệp

là 14%, còn lại 55% số doanh nghiệp này hoạt động trong lĩnh vực dịch

vụ11.Và trong những năm qua doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đã cónhững đóng góp nhất định vào sự phát triển của đất nước Cụ thể:

- Hàng năm đóng góp khoảng 26% GDP, 31% giá trị tổng sản lượngcông nghiệp, 78% mức bán lẻ, nộp ngân sách nhà nước 14%12

- Đáng chú ý là kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp vừa và nhỏ năm

2003 ước tính chiếm gần 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (khôngtính đến kim ngạch xuất khẩu dầu thô) Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏtham gia xuất khẩu liên tục tăng: theo số liệu thống kê sơ bộ năm 2000 có12.674 DN; năm 2001, 2002 tương ứng là 17.070 DN và 23.330 DN; tính đếntháng 10/2003 có khoảng 29.450 DN tham gia xuất khẩu13 Và chắc chắn rằnghết năm 2004 này thì kim ngạch xuất khẩu cũng như số lượng doanh nghiệpvừa và nhỏ tham gia xuất khẩu sẽ còn tăng cao hơn nữa

- Thu hút được nhiều lao động với chi phí thấp (chi phí cho một chỗviệc làm ở doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ bằng 3 - 10% so với các doanhnghiệp lớn), hàng năm tạo việc làm cho khoảng 25% lực lượng lao động trong

cả nước14

11 11 Tạp chí: Tài chính doanh nghiệp, số 10 - 2004, tr 19

12 12 Tạp chí: Tài chính doanh nghiệp, số 10 - 2004, tr 19.

13 13 Tạp chí: Thông tin tài chính, số 15 – 2004, tr.6.

14 14 Tạp chí: T ài chính doanh nghiệp, số 10 - 2004, tr 19.

Trang 22

- Doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần khai thác tiềm năng phong phútrong dân: Vì hiện nay, còn nhiều tiềm năng trong dân chưa được khai thácnhư tiềm năng về trí tuệ, tay nghề tinh xảo, lao động, đặc biệt là nguồn vốnnhàn rỗi trong nhân dân, bí quyết nghề.

- Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm qua

đã cho phép đào tạo, phát triển nhiều cán bộ quản lý có trình độ, năng động vànhiều lao động có trình độ chuyên môn cho đất nước

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Trong những năm qua nhờ pháttriển các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà đã góp phần phát triển nhiều ngànhnghề phong phú, đa dạng

- Làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn: Do số lượng cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ tăng lên rất lớn, nên làm tăng tính cạnh tranh, giảmbớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế, đồng thời làm tăng số lượng và chủngloại hàng hoá trong nền kinh tế Ngoài ra, doanh nghiệp vừa và nhỏ có thayđổi mặt hàng, công nghệ và chuyển hướng kinh doanh nhanh làm cho nềnkinh tế năng động hơn Sự có mặt các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tác dụng

hỗ trợ các doanh nghiệp lớn kinh doanh có hiệu qủa hơn: làm đại lý, vệ tinhcho các doanh nghiệp lớn, giúp tiêu thụ hàng hoá, cung cấp các đầu vào, cóthể thâm nhập mọi thị trường ngõ ngách mà doanh nghiệp lớn không chú ýtới

3 Khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay

Nhìn chung, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã có nhiều nỗ lực vươn lên,nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, góp phần quan trọng vào sự nghiệpphát triển đất nước Tuy nhiên, so với các nền kinh tế trong khu vực thì con sốdoanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn Ví dụ như ở ĐàiLoan có tới 1triệu doanh nghiệp vừa và nhỏ/23 triệu dân Một nền kinh tế chỉđược coi là phát triển nếu có tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ so với tổng số dân

Ngày đăng: 06/03/2018, 12:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS Chu Văn Cấp: Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002 Khác
2. Nguyễn Cúc: Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002 Khác
3. PGS.TS Nguyễn Thị Liên Diệp: Chiến lược chính sách và kinh doanh, NXB Thống kê, Hà Nội 1997 Khác
4. Lê Đăng Doanh: Nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội 2001 Khác
5. Nguyễn Đình Hương: Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002 Khác
6. Nguyễn Hải Hữu: Đổi mới quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995 Khác
7. Trần Hoàng Kim: Vũ khí cạnh tranh thị trường, NXB Thống kê, Hà Nội 1992 Khác
8. Khoa khoa học quản lý: Giáo trình quản lý học Kinh tế Quốc dân tập 2, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội 2002 Khác
9. Khoa khoa học quản lý: Giáo trình khoa học quản lý tập 1, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội 2001 Khác
10. Khoa kế toán kiểm toán: Giáo trình phân tích kinh doanh, NXB Giáo dục, Hà Nội 2001 Khác
11. GS.PTS. Vũ Thị Ngọc Phùng: Giáo trình chiến lược kinh doanh, NXB Thống kê, Hà Nội 1999.II. Tạp chí tham khảo Khác
1. PTS. Trần Kim Hào: Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí kinh tế và dự báo, số 4/2004 Khác
2. Th.S. Ngô Thị Thu Hồng: Doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, Tạp chí tài chính doanh nghiệp, số 9/2003 Khác
3. PGS.TS. Bạch Thị Minh Huyền: Chính sách tài chính doanh nghiệp vừa và nhỏ, Tạp chí tài chính doanh nghiệp số 8/2003 Khác
4. PGS.TS. Bạch Thị Minh Huyền: Những vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, Tạp chí tài chính doanh nghiệp số 12/2003 Khác
5. Nguyễn Thị Hoài Lê: Nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt Nam, Tạp chí tài chính doanh nghiệp số 9/2004 Khác
6. Nguyễn Thảo: Doanh nghiệp vừa và nhỏ - Thực trạng và giải pháp, Tạp chí tài chính doanh nghiệp số 1/2004 Khác
8. Trần Việt Tuấn: Trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ - Những vấn đề đặt ra, Tạp chí tài chính doanh nghiệp số 10/2004 Khác
9. Phạm Thị Tường Vân: Những thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ VN trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Thông tin tài chính, số 9/2004 Khác
10. Phạm Thị Tường Vân: Cơ hội cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia xuất khẩu, Tạp chí Thông tin tài chính, số 15/ 2004 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w