Để giữ vững vị thế một DNNN trong vai trò là lực lượng vật chất quantrọng của kinh tế Nhà nước góp phần điều tiết vĩ mô lĩnh vực kinh doanh viễnthông và đảm bảo các DVVT công ích
Trang 1nêu trong luận án là trung thực Các tài liệu được trích dẫn đúng quy định và được ghi đầy
đủ trong danh mục tài liệu tham khảo.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Văn Kỷ
Trang 2công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 26
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DỊCH
VỤ VIỄN THÔNG Ở TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN
2.2 Quan niệm, nội dung, tiêu chí đánh giá và các nhân tố chi
phối sự phát triển bền vững dịch vụ viễn thông ở Tập đoàn
2.3 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển bền vững dịch vụ viễn thông
và bài học rút ra cho Tập đoàn Viễn thông Quân đội 60
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DỊCH VỤ
VIỄN THÔNG Ở TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI 73 3.1 Thành tựu và hạn chế trong phát triển bền vững dịch vụ viễn
3.2 Nguyên nhân thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần
tập trung giải quyết trong phát triển bền vững dịch vụ viễn
Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
DỊCH VỤ VIỄN THÔNG Ở TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG
4.1 Quan điểm phát triển bền vững dịch vụ viễn thông ở Tập
4.3 Giải pháp phát triển bền vững dịch vụ viễn thông ở Tập đoàn
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
10 Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT
11 Tập đoàn Phát triển và Đầu tư công nghệ FPT
12 Tập đoàn Viễn thông Hàn Quốc Korea Telecom
14 Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel
15 Tập đoàn Viễn thông Trung Quốc China Telecom
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
2 Bảng 3.2 Phát triển hạ tầng mạng lưới giai đoạn 2010 - 2017 77
3 Bảng 3.3 Kết quả đo kiểm DVVT di động của Viettel năm 2017 79
4 Bảng 3.4 Tốc độ tăng trưởng thuê bao DVVT của Viettel giai 80
Trang 4đoạn 2010 - 2017
5 Bảng 3.5 Thị phần thuê bao DVVT di động giai đoạn 2010 - 2017 81
6 Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu tài chính của Viettel giai đoạn 2010 - 2017 82
7 Bảng 3.7 Doanh thu và lợi nhuận từ DVVT giai đoạn 2010 - 2017 83
8 Bảng 3.8 So sánh tỷ trọng doanh thu và lợi nhuận từ DVVT với
tổng doanh thu toàn Tập đoàn giai đoạn 2010 - 2017 84
9 Bảng 3.9 Chỉ tiêu nộp ngân sách Nhà nước giai đoạn 2010 - 2017 85
10 Bảng 3.10 Thu nhập bình quân theo tháng giai đoạn 2010 - 2016 90
11 Bảng 3.11 Các khoản trích theo lương năm 2017 92
12 Bảng 3.12 Thống kê thời gian làm thêm giờ của lao động toàn
13 Bảng 3.13 So sánh năng lực cạnh tranh một số đối thủ nước ngoài 117
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Phát triển bền vững là nhu cầu tất yếu và đang là thách thức cho mọiquốc gia, các ngành, các lĩnh vực, nhất là đối với những nước đang phát triểnthực hiện công nghiệp hóa sau như Việt Nam Để đảm bảo sự PTBV đó cần
có sự PTBV ở tất cả các ngành, các lĩnh vực, trong đó viễn thông là một trongnhững lĩnh vực quan trọng
Là một tập đoàn kinh tế quốc phòng 100% vốn nhà nước, theo Quyết địnhsố 2079 ngày 14/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Viettel được phép kinhdoanh trong lĩnh vực DVVT Hơn 8 năm tham gia thị trường viễn thông theo
mô hình tập đoàn, sự phát triển của Viettel đa đạt được những thành tựu rấtquan trọng, góp phần làm thay đổi diện mạo thị trường DVVT Việt Nam, cóđóng góp lớn vào ngân sách Nhà nước, trở thành một tập đoàn viễn thông hàngđầu Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những thành công trong lĩnh vực kinhdoanh DVVT, thời gian gần đây Viettel cũng đang gặp không ít khó khăn, bộc
lộ một số vấn đề phát triển chưa bền vững, như: tốc độ tăng trưởng thuê bao,lợi nhuận đang có xu hướng chậm lại; chất lượng DVVT không đồng đều giữacác vùng trong cả nước, nhất là ở vùng sâu, vùng xa thường có tỷ lệ rớt cuộcgọi cao hơn, Trong khi đó, áp lực cạnh tranh trong ngành ngày càng giatăng; vấn đề bộ máy quản lý điều hành và thực trạng chất lượng đội ngũ laođộng của Tập đoàn hiện nay vẫn còn có những hạn chế, bất cập
Để giữ vững vị thế một DNNN trong vai trò là lực lượng vật chất quantrọng của kinh tế Nhà nước góp phần điều tiết vĩ mô lĩnh vực kinh doanh viễnthông và đảm bảo các DVVT công ích phục vụ quốc kế dân sinh, QPAN;đồng thời, giữ vững hình ảnh của một DNNN trong quan hệ giữa người sửdụng lao động và người lao động trong Tập đoàn, quan hệ giữa doanh nghiệpvới Nhà nước và cộng đồng, Viettel cần có những giải pháp PTBV DVVT,
Trang 6góp phần đảm bảo cho sự phát triển của Tập đoàn Vì vậy, nghiên cứu “Phát
triển bền vững DVVT ở Tập đoàn Viễn thông Quân đội hiện nay” là vấn đề có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn PTBV DVVT ở Viettel; đề xuất mộtsố quan điểm và giải pháp PTBV DVVT ở Viettel trong thời gian tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận về PTBV DVVT ở Viettel; phân tích, làm rõ quanniệm, nội dung, tiêu chí đánh giá và các nhân tố chi phối sự PTBV DVVT ở Viettel
Làm rõ kinh nghiệm PTBV DVVT của một số doanh nghiệp viễn thôngtrên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Viettel
Đánh giá đúng thực trạng PTBV DVVT ở Viettel giai đoạn hiện nay;phân tích thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần tậptrung giải quyết để PTBV DVVT ở Viettel
Đề xuất quan điểm và giải pháp PTBV DVVT ở Viettel trong thời gian tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu PTBV DVVT
Trang 74 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, như: phươngpháp trừu tượng hóa khoa học; tiếp cận hệ thống; kết hợp lý luận với thựctiễn; phân tích, tổng hợp; lịch sử - lô gic; phương pháp chuyên gia Trong đó:
-Sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học xem xét DVVT chỉ
gồm những hoạt động thuần túy mang tính dịch vụ, gạt bỏ những hiện tượng
có tính chất sản xuất gắn liền với hoạt động kinh doanh DVVT ở Viettel.Phương pháp này áp dụng chủ yếu trong xây dựng và phân tích quan niệmtrung tâm của luận án; xác định các nhân tố chi phối, tiêu chí đánh giá sựPTBV DVVT của Viettel Đồng thời, cũng được sử dụng trong khảo sát hoạtđộng của một số doanh nghiệp nước ngoài để tìm ra những kinh nghiệm màViettel có thể học hỏi nhằm PTBV DVVT của mình
Phương pháp tiếp cận hệ thống được sử dụng trong toàn bộ luận án
nhằm trình bày vấn đề PTBV DVVT ở Viettel theo các nội dung phản ánh yêucầu PTBV là: tăng trưởng kinh tế liên tục, ổn định, giải quyết tốt vấn đề vănhóa, xa hội, môi trường và QPAN Đồng thời gắn chặt sự phát triển trình độ
Trang 8kỹ thuật công nghệ của Tập đoàn với xây dựng, bồi đắp, củng cố các yếu tố
có tính chất đặc thù của DNNN về quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối ởTập đoàn Điều đó cho phép kết cấu của luận án được tổ chức theo một bố cụcchặt chẽ, lôgic xuyên suốt các nội dung phản ánh yêu cầu PTBV trong tất cảcác chương của luận án
Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn được sử dụng để phân tích,
lý giải các vấn đề nghiên cứu đặt ra, nhằm khẳng định tính đúng đắn của cácluận điểm mà tác giả luận án nêu lên Phương pháp này được sử dụng trongtất cả các chương của luận án
Phương pháp phân tích và tổng hợp cũng được sử dụng trong tất cả các
chương của luận án khi nghiên cứu các tài liệu, công trình khoa học, các báocáo, các số liệu đa được công bố, để trình bày quan niệm trung tâm của luậnán; những vấn đề có tính quy luật trong PTBV DVVT; thực trạng, nguyênnhân ưu điểm và hạn chế của Viettel trong thực hiện sự PTBV DVVT thờigian qua; các vấn đề cần tập trung giải quyết, đề xuất quan điểm và giải pháp
để PTBV DVVT ở Viettel thời gian tới
Phương pháp lịch sử - lô gic được sử dụng tại chương 1, chương 2 và
chương 3 của luận án nhằm tìm hiểu quá trình hình thành nhận thức vấn đề PTBVnói chung, PTBV DVVT nói riêng; cũng như hoạt động thực tiễn nhằm đảm bảo
sự PTBV DVVT ở Viettel trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Phương pháp nàyđòi hỏi việc phân tích, đánh giá các hoạt động PTBV DVVT của Viettel phải đặttrong những bối cảnh lịch sử cụ thể, nhưng luôn gắn với yêu cầu thực hiện các nộidung hợp thành quan niệm PTBV Phương pháp này cũng được sử dụng khi phântích và đánh giá kinh nghiệm của một số doanh nghiệp viễn thông trên thế giới
Phương pháp chuyên gia được sử dụng trong tất cả các chương của
luận án, qua đó tác giả tham khảo được ý kiến của các chuyên gia giỏi về lĩnhvực nghiên cứu làm cơ sở cho việc hoàn thành luận án
Trang 95 Những đóng góp mới của luận án
Xây dựng quan niệm, nội dung, xác định tiêu chí đánh giá PTBVDVVT ở Viettel dưới góc độ kinh tế chính trị
Đánh giá đúng thực trạng PTBV DVVT ở Viettel và chỉ ra một số vấn
đề cần tập trung giải quyết để PTBV DVVT ở Viettel hiện nay
Đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm PTBV DVVT ở Viettelthời gian tới
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo chocác doanh nghiệp viễn thông nói chung, Viettel nói riêng trong quá trình hoànthiện chiến lược PTBV DVVT Đồng thời, luận án có thể dùng làm tài liệutham khảo phục vụ công tác học tập, nghiên cứu và giảng dạy một số vấn đềliên quan đến PTBV DVVT ở trong và ngoài quân đội
7 Kết cấu của luận án
Kết cấu của luận án gồm: phần mở đầu; 4 chương (10 tiết); kết luận;danh mục các công trình của tác giả đa công bố có liên quan đến đề tài luậnán; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài
Phát triển bền vững là mục tiêu hướng đến của hầu hết các quốc giatrên thế giới Vì vậy, đa có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu trên nhiềugóc độ khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình của các tác giả nướcngoài nghiên cứu đầy đủ và trực tiếp về PTBV DVVT mà chỉ tập trungchủ yếu về PTBV ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ du lịch; chiếnlược sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp viễn thông Các lĩnhvực nghiên cứu của các tác giả nước ngoài không liên quan trực tiếp, songviệc nghiên cứu, khảo sát các công trình nghiên cứu về PTBV và pháttriển DVVT của tác giả nước ngoài có ý nghĩa quan trọng để NCS thamkhảo xây dựng, hoàn chỉnh luận án
1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển bền vững
Stephen Viederman (1993), “The economics and economy of
sustainability” [103] (Kinh tế học và nền kinh tế PTBV) Trong cuốn sách, tác
giả viết: Bền vững không phải là vấn đề kỹ thuật cần giải quyết mà là một tầmnhìn vào tương lai, đảm bảo cho chúng ta một lộ trình và giúp tập trung chú ývào một tập hợp các giá trị và những nguyên tắc mang tính luân lý và đạo đức đểhướng dẫn hành động của chúng ta với tư cách là những cá nhân, cũng như trongquan hệ với các cơ cấu tổ chức mà ta tiếp xúc như các tổ chức chính phủ, phichính phủ và các công tác khác có liên quan
Wackernagel, M (1994), “Ecological footprint” [107] (Dấu chân sinh thái), Sách tham khảo Tác giả đa xây dựng bộ công cụ đánh giá tính bền
vững dựa vào sinh thái Theo đó, các dịch vụ sinh thái chủ yếu do 02 tiêu chí
đo lường: 1) Dấu chân sinh thái, 2) Năng lực sinh học
Trang 11David A.Munro (1998), “Sustainability and Equity: A pattern is emerging
in Nature Protection and Equality” [91] (Tính bền vững và công bằng: Một mô
hình đang nổi lên trong Bảo vệ Thiên nhiên và bình đẳng) Tác giả cho rằngPTBV là bất kỳ và toàn bộ những loại hoạt động hoặc quá trình làm tăng đượcnăng lực của con người, hoặc môi trường để đáp ứng những nhu cầu của conngười, hoặc nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống Sản phẩm của sự phát triển làmọi người được khỏe mạnh, được nuôi dưỡng tốt, có quần áo mặc, có nhà ở,được tham gia vào công việc sản xuất mà họ đa được đào tạo tốt, có thể hưởngthụ thời gian nhàn rỗi giải trí và những điều mà tất cả chúng ta đều có nhu cầu.Như vậy, phát triển không chỉ bao hàm việc khai thác, chế biến các nguồn tàinguyên, xây dựng cơ sở hạ tầng, mua và bán các sản phẩm mà gồm cả nhữnghoạt động không kém phần quan trọng như chăm sóc sức khỏe, an ninh, xa hội,giáo dục, bảo tồn thiên nhiên và hỗ trợ văn học nghệ thuật
U.S National Research Council, Policy Division, Board on Sustainable
Development (1999), “Our Common Journey: A Transition toward
Sustainability” [106] (Hành trình chung của chúng ta: Một hướng PTBV).
Đây là một Công trình nghiên cứu của Ban Chính sách PTBV thuộc Hội đồngnghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ Công trình đa mô tả PTBV dựa trên sự khácbiệt vốn có giữa cái mà các nhà nghiên cứu tìm kiếm để duy trì (sustain) vàcái mà họ tìm kiếm để phát triển (develop), mối quan hệ của cả hai và phạm
vi thời gian của tương lai nhằm bổ sung thêm cơ sở khoa học cho các nghiêncứu phát triển Ba đối tượng chính cần dược duy trì PTBV là tự nhiên, hệthống hỗ trợ cuộc sống và cộng đồng Đối trọng lại, các đối tượng trên đượcphát triển là con người, kinh tế và xa hội
Robert, Prescott-Allen (2001), “A Country-by-Country Index of Quality
of Life and Environment” [102] (Chỉ số chất lượng của cuộc sống và môi
trường cho một quốc gia) Cuốn sách đa công bố bộ chỉ số thịnh vượng (Well
Trang 12Being Index - WI) Theo đó, chỉ số thịnh vượng là một tập hợp gồm 88 chỉthị, bao gồm 2 nhóm là chỉ thị thịnh vượng nhân văn (HWI) và phúc lợi sinhthái (EWI) WI là thước đo sinh học biểu diễn tính bền vững ở điểm mà HWIvà EWI giao nhau, cho thấy cách thức để kết hợp tốt giữa cuộc sống của conngười với hệ sinh thái, tạo nên một xa hội PTBV Ngoài ra, trong ấn phẩmnày, tác giả cũng giới thiệu thêm bộ chỉ số áp lực mà sự thịnh vượng của conngười gây ra đối với hệ sinh thái (WSI) WSI mô tả các mức độ tổn hại khácnhau do sự phát triển của xa hội tác động vào môi trường (chỉ số này ngượcvới chỉ số thịnh vượng sinh thái)
Thomas M Parris và Robert W Kates (2003), “Characterizing and
measuring Sustainable Development, the Annual Review of Environment and Resources” [105] (Đặc trưng và thước đo PTBV, các đánh giá hàng năm về Môi
trường và Tài nguyên) Công trình đa liệt kê được hơn 500 tiêu chí đánh giáPTBV, trong đó có 67 tiêu chí quy mô toàn cầu, 103 tiêu chí quy mô quốc gia,
72 tiêu chí quy mô bang/tỉnh và 289 tiêu chí quy mô địa phương/thành phố
Michael Von Hauff (2009), “Sustainable development - Theoretical
basis and implementation” [100] (PTBV - Cơ sở lý luận và thực hiện cơ bản).
Trong cuốn sách, tác giả đa đưa ra mô hình tam giác PTBV Theo đó, tam giác
này có 3 đỉnh là xa hội, kinh tế và môi trường sinh thái Cả 3 yếu tố vừa vậnđộng theo các xu hướng phát triển khác nhau, hướng về các mục tiêu riêngbiệt khác nhau, có lúc mâu thuẫn, có lúc hài hòa, vừa có thể tích hợp, lồngghép với nhau tạo thành một thực thể hoàn chỉnh Bất kỳ xu hướng nào thoát
ly xa tâm của tam giác, nơi hội tụ các yếu tố PTBV, trung tâm của các chínhsách là “con người” và “chất lượng cuộc sống” đều là phiến diện và khôngbền vững
Frans Crul (2013), “China and South Africa on their way to
Sustainable trade relations” [92] (Trung Quốc và Nam Phi trên con đường
Trang 13hướng tới quan hệ thương mại bền vững) Tác phẩm này đa nêu bật sự cầnthiết hợp tác trong quan hệ thương mại bền vững giữa Trung Quốc vàNam phi Trong thập kỷ qua Trung Quốc đa trở thành đối tác thương mạilớn nhất của Nam Phi, nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc vào NamPhi ngày càng tăng, giá trị kim ngạch nhập khẩu nguyên vật liệu vàoTrung Quốc và hàng hóa nhập khẩu vào Nam Phi ngày càng lớn, mang lạilợi ích kinh tế cho hai bên Tuy nhiên, khi hàng hóa chủ yếu nhập khẩu từTrung Quốc khiến cho Nam Phi đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp ngày cànggia tăng Như vậy, làm thế nào để Nam Phi vừa phát triển bền vững quan
hệ thương mại với Trung Quốc vừa giải quyết vấn đề lao động thất nghiệpnhư hiện nay? Phần cuối tác phẩm cho rằng, Nam Phi cần nâng cao nănglực cạnh tranh, đẩy mạnh PTBV, nhất là thị trường nội địa và phát triểnsản xuất trong nước, các chính sách thương mại cần được xây dựng trongthời gian ngắn hạn và cả dài hạn
Sven hibig (2014), “Yes to a sustainable trade policy - No to the
Transatlantic trade and Invesment partnership” [104] (Nói có với chính
sách thương mại bền vững - Nói không với đối tác thương mại và đầu tưxuyên Đại Tây Dương) Bài báo đa đề cập để hướng tới chính sách thươngmại bền vững và công bằng thì chính sách thương mại phải được dân chủhơn, công bằng hơn, các chính sách thương mại phải được đề cao, phạm viquản lý của Chính phủ cũng phải được mở rộng, nền sản xuất nông nghiệpphải có tính bền vững và công bằng
Như vậy, mặc dù còn tồn tại nhiều định nghĩa, nhiều bộ tiêu chí đánhgiá khác nhau về PTBV trên thế giới, nhưng tất cả đều đi tới một sự thống
nhất có tính tương đối về khía cạnh và bản chất của PTBV Theo đó, PTBV là
sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu hiện tại nhưng không gây trở ngạicho việc đáp ứng nhu cầu trong tương lai
Trang 141.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển dịch vụ viễn thông
Freeman R L (1999), “Fundamentals of Telecommunications” [93]
(Những nguyên tắc cơ bản của viễn thông) Cuốn sách đề cập đến chất lượngdịch vụ và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ Theo đó, chất lượngdịch vụ phụ thuộc vào tính kết hợp của nhiều yếu tố: các thành phần mạng, cơchế xử lý ở hai điểm đầu cuối, cơ chế điều khiển trong mạng Đối với cácthành phần mạng (cơ sở hạ tầng vật lý) thông thường có 3 phần quan trọng:Thiết bị đầu cuối, phương tiện truyền dẫn và thiết bị chuyển mạch (các thiết
bị trung chuyển trên mạng) Chất lượng dịch vụ được người dùng ở hai đầucuối truyền thông quyết định Nhà cung cấp dịch vụ sẽ nắm bắt được đánh giáchất lượng dịch vụ thông qua ý kiến khách hàng
Yan Ling Yu (2004), “The competitiveness of Chinese
Telecommunication Industry: Comparision Before and After China’s Accession
to the WTO” [108] (Năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp viễn thông
Trung Quốc: So sánh trước và sau khi Trung Quốc gia nhập WTO) Trong cuốnsách, tác giả đa vận dụng mô hình kim cương của Porter để đánh giá các nhântố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông Trung Quốc giaiđoạn trước khi Trung Quốc gia nhập WTO (trước 2001) và sau khi gia nhậpWTO Qua đây cho thấy, việc vận dụng mô hình kim cương của Porter vàophân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành viễn thông làrất thiết thực và quan trọng
Li, W & Xu, L C (2004), “The impact of privatization and competition
in the telecommunications sector around the world” [98] (Tác động của tư
nhân hóa và cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông trên toàn thế giới) Trên cơ
sở sử dụng một cách toàn diện dữ liệu bảng điều khiển ở cấp quốc gia thiếtlập cho giai đoạn 1990 - 2001, bài báo đa điều tra ảnh hưởng của tư nhân hóavà cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông trên toàn thế giới Theo tác giả, tư
Trang 15nhân hóa một phần, trong đó nhà nước giữ lại quyền kiểm soát, cho thấykhông có tác động đáng kể Sự gia tăng áp lực cạnh tranh góp phần đáng kểvào tăng trưởng trong lĩnh vực này bằng cách tăng cả hai yếu tố đầu vào vàtổng năng suất nhân tố Tác giả cũng chứng minh về sự bổ sung giữa tư nhânhóa và cạnh tranh trong thâm nhập mạng và trong kiềm chế sự gia tăng củagiá cả dịch vụ giữa các nhà khai thác tư nhân.
Loo, B.P.Y (2004), “Telecommunications reforrtls in China: towards an
analytical Framework” [97] (Cải cách viễn thông ở Trung Quốc, hướng tới
khung phân tích) Tác giả bài báo đa làm rõ quá trình đổi mới ngành viễn thôngTrung Quốc thông qua việc đổi mới bộ máy điều hành cơ quan chính phủ về viễnthông có hiệu quả hơn, chuyển đổi cổ phần hóa các doanh nghiệp viễn thôngTrung Quốc theo hướng tư nhân hóa, giảm bớt cổ phần khu vực quốc doanh
Mattos, C & Coutinho, P (2005), “The Brazilian model of
telecommunications reform” [99] (Các mô hình cải cách viễn thông của
Brazin) Trong nghiên cứu, tác giả bài báo đa làm rõ mô hình cải cách ngànhviễn thông của Brazil gắn với quá trình tự do hóa thị trường và cho phép tưnhân tham gia mạnh mẽ vào ngành viễn thông
Abeysinghe, D & Paul, H (2005), “Privatization and technological
capability development in the telecommunications sector: a case study of Sri Lanka Telecom” [89] (Tư nhân hóa và năng lực phát triển công nghệ trong lĩnh
vực viễn thông: nghiên cứu trường hợp của Sri Lanka Telecom) Tác giả bài báo
đa phân tích sự ảnh hưởng quan trọng của năng lực công nghệ và tư nhân hóađối với ngành viễn thông Ngành viễn thông muốn nâng cao sức cạnh tranh cần
có năng lực công nghệ tốt và môi trường kinh doanh tự do và minh bạch
Kang, C.C (2009), “Privatization and production efficiency in Taiwan’s
telecommunications industry” [95] (Tư nhân hóa và hiệu quả sản xuất trong
ngành công nghiệp viễn thông của Đài Loan) Trong nghiên cứu, tác giả bài
Trang 16báo đa phân tích điều tra chính sách để tư nhân hóa ngành công nghiệp viễnthông của Đài Loan bằng cách so sánh những thay đổi của Công ty ChunghwaTelecom trước và sau khi tư nhân hóa Các phân tích dữ liệu mô hình được sửdụng để đánh giá hiệu suất hoạt động của họ cả trước và sau khi tư nhân hóa.Những phát hiện của nghiên cứu này cho rằng hiệu quả sản xuất của Công tyChunghwa Telecom, cả trước và sau khi tư nhân hóa là không hiệu quả vì tấtcả các hiệu quả kỹ thuật là nhỏ hơn.
Bagdadioglu, N & Cetinkaya, M (2010), “Sequencing in
telecommunications reform: A review of the Turkish case” [90] (Tiến trình trong
cải cách viễn thông: đánh giá trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ) Tác giả bài báo đa đưa rabài học kinh nghiệm từ sự đổi mới ngành viễn thông Thổ Nhĩ Kỳ thông qua việcđổi mới mạnh mẽ cơ cấu sở hữu trong các doanh nghiệp viễn thông, cho phép tưnhân tham gia mua hơn 50% cổ phần tại các doanh nghiệp viễn thông quốcdoanh
Nimako, S G., (2012), “Linking Quality, satisfaction and
behaviour intention in Ghana’s mobile telecommunication industry” [101]
(Chất lượng kết nối, sự hài lòng và ý định hành vi trong ngành công nghiệpviễn thông di động của Ghana) Nghiên cứu đa thực nghiệm kiểm tra mức độchất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng và ý định hành
vi trong ngành công nghiệp viễn thông di động; phân tích bằng phương pháp
mô hình hóa kết cấu (Structual Equation Modeling - SEM) Các kết quả chothấy chất lượng của quan hệ khách hàng, của mạng và chất lượng dịch vụ ảnhhưởng tích cực đến sự hài lòng của khách hàng, do đó ảnh hưởng đến ý địnhhành vi trong ngành công nghiệp viễn thông di động của Ghana Bài báo có ýnghĩa quan trọng cho các nhà quản lý trong việc nâng cao chất lượng DVVTbảo đảm sự hài lòng của khách hàng
Trang 17Như vậy, mặc dù chưa có một công trình nghiên cứu đầy đủ về PTBVDVVT, song đa có nhiều công trình nghiên cứu về chiến lược phát triển kinhdoanh DVVT, ngành viễn thông, kinh nghiệm phát triển ngành viễn thông củamột số tác giả nước ngoài Đây là những lý thuyết quan trọng được vận dụngvào luận án để làm rõ lý luận về các nhân tố chi phối ảnh hưởng đến PTBVDVVT, quan điểm, giải pháp PTBV DVVT ở Viettel trong thời gian tới
1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài
Hiện nay theo NCS được biết, tiếp cận nghiên cứu từ góc độ kinh tếchính trị, chưa có công trình nghiên cứu trực tiếp và đầy đủ về PTBV DVVT
ở Viettel Tuy nhiên, để xây dựng khung lý luận, thực tiễn và định hướng giảipháp cho PTBV DVVT ở Viettel thì việc nghiên cứu các công trình có liênquan đến PTBV, phát triển DVVT, chiến lược sản xuất kinh doanh của các tậpđoàn viễn thông nói chung, Viettel nói riêng hiện nay là vấn đề rất cần thiếtđối với tác giả luận án
1.2.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quan niệm, nội dung và tiêu chí đánh giá phát triển bền vững
Trương Quang Học (2006), “Phát triển bền vững: Lý thuyết và khái
niệm” [36] Cuốn sách đa khái lược về sự phát triển và trình độ phát triển
của các quốc gia; các thách thức về môi trường, xa hội và sự phát triển; tiếntrình, khái niệm, nội dung, mô hình và các nguyên tắc PTBV, đặc biệt là cáctiêu chí đánh giá tính bền vững; PTBV ở Việt Nam (Agenda 21 của ViệtNam); 5 năm PTBV - thành tựu và thách thức; định hướng PTBV giai đoạn2011-2020 và các tiêu chí đánh giá
Nguyễn Quang Thái, Ngô Thắng Lợi (2007), “Phát triển bền vững của
Việt Nam: Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng” [61] Trong cuốn
sách, các tác giả đa nghiên cứu, phân tích thực trạng phát triển kinh tế - xa hộicủa Việt Nam trong thời gian đổi mới; phân tích những yếu tố hay điều kiện
Trang 18có thể giúp Việt Nam đạt được những tiến bộ khả quan để thực hiện PTBV,trong đó có đề cập đến những nội dung của vấn đề tăng trưởng với chất lượngcao thể hiện ở những tiêu chí như xác định cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng tiến bộ
Bạch Thị Lan Anh (2010), “Phát triển bền vững làng nghề truyền
thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ”, Luận án tiến sĩ kinh tế [1] Luận án
đa có những phân tích về khái niệm, nội dung các tiêu chí đánh giá PTBV,xây dựng khái niệm và các tiêu chí đánh giá PTBV làng nghề truyền thốngvùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ dưới góc độ kinh tế theo 3 trụ cột là kinh tế,
xa hội và môi trường
Nguyễn Minh Thu (2013), “Nghiên cứu thống kê đánh giá PTBV ở Việt
Nam” [64], Luận án tiến sĩ kinh tế Luận án đa xây dựng phương pháp tính
chỉ số tổng hợp đánh giá PTBV ở Việt Nam Trong đó, tác giả phân loại cácchỉ tiêu theo đặc điểm riêng có, sau đó nêu rõ cách thức tính từ chỉ số riêngbiệt (xác định rõ các giới hạn trên, giới hạn dưới của từng chỉ số và áp dụngđối với từng loại chỉ tiêu), chỉ số thành phần cho tới chỉ số tổng hợp
Dương Thị Tình (2015), "Phát triển thương mại bền vững trên địa bàn
Tỉnh Thái Nguyên" [80], Luận án tiến sĩ kinh tế Tác giả đa hệ thống hóa và phát
triển lý thuyết PTBV, ứng dụng vào lĩnh vực thương mại hàng hóa Luận án đađưa ra quan niệm “Phát triển thương mại bền vững là sự phát triển ổn định, hợp
lý, lâu dài về quy mô, chất lượng, cơ cấu và mức độ thân thiện với môi trườngcủa thương mại” Đồng thời, phân tích, nội dung và tiêu chí đánh giá phát triểnthương mại bền vững trên địa bàn tỉnh theo các trụ cột về kinh tế (quy mô, chấtlượng tăng trưởng), về xa hội (lao động và thu nhập của thương mại), về môitrường (mức độ thân thiện môi trường của hoạt động thương mại)
Lê Bá Tâm (2016), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hướng PTBV ở tỉnh Nghệ An” [60], Luận án tiến sĩ kinh tế Tác giả đa hệ
Trang 19thống hoá, bổ sung và phát triển cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp theo hướng PTBV trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng củaViệt Nam dưới góc độ kinh tế chính trị Làm rõ thực trạng chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp theo hướng PTBV ở tỉnh Nghệ An giai đoạn 2008-2015,chỉ ra nguyên nhân của thực trạng đó Đề xuất phương hướng và giải phápthúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng PTBV ở tỉnhNghệ An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Phí Văn Hạnh (2016), “Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở
vùng Đồng bằng sông Hồng” [35], Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị Tác giả
luận án đa có những khái quát vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nôngnghiệp theo hướng bền vững ở một vùng lanh thổ Đặc biệt luận án đa đềxuất được quan niệm trung tâm về phát triển nông nghiệp theo hướng bềnvững, chỉ rõ nội dung phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững là sựphát triển dựa trên 3 trụ cột: về kinh tế (chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp theo hướng bền vững, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quảsản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững), về xa hội (tăng trưởng nôngnghiệp toàn diện gắn với bảo đảm công bằng xa hội, xóa đói, giảm nghèonâng cao đời sống nhân dân), về môi trường (tăng trưởng nông nghiệp gắnvới bảo vệ môi trường bền vững) Đây là những vấn đề có ý nghĩa sâu sắc
để NCS tham khảo hoàn chỉnh luận án
Phí Thị Kim Thư (2017), “Phát triển bền vững Tập đoàn Công nghiệp
than - Khoáng sản Việt Nam” [79], Luận án tiến sĩ kinh tế Tác giả đa xây
dựng hệ thống cơ sở lý luận đầy đủ về PTBV Tập đoàn kinh tế, bao gồm:khái niệm, nội dung PTBV Tập đoàn kinh tế; hệ thống chỉ tiêu đánh giá sựPTBV của Tập đoàn kinh tế theo ba nội dung cơ bản là PTBV về kinh tế,PTBV xa hội và PTBV môi trường; đồng thời làm rõ các nhân tố ảnhhưởng đến PTBV Tập đoàn kinh tế Đánh giá thực trạng các hoạt động sản
Trang 20xuất kinh doanh chủ yếu và thực trạng PTBV của Tập đoàn Công nghiệpThan - Khoáng sản Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008 - 2015 Luận án
đa đề xuất hệ thống các giải pháp để Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoángsản Việt Nam thực hiện chiến lược PTBV
Nguyễn Việt Thiên (2017) “Nghiên cứu PTBV sâm Ngọc Linh ở tỉnh
Quảng Nam” [63], Luận án tiến sĩ kinh tế Tác giả đa hệ thống hóa và bổ sung
những vấn đề lý luận và thực tiễn về PTBV sâm Ngọc Linh Phân tích thựctrạng PTBV sâm Ngọc Linh ở Quảng Nam trên các khía cạnh kinh tế: diệntích, năng suất, sản lượng, hiệu quả sản xuất Trên cơ sở đó đề xuất hệ thốnggiải pháp PTBV sâm Ngọc Linh ở huyện Nam Trà My tỉnh Quảng Nam
Các công trình khoa học trên đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó đa
có khái quát khái niệm, nội dung, tiêu chí, các nhân tố tác động đến PTBVnói chung cũng như gắn với một lĩnh vực cụ thể về ngành, vùng kinh tếnói riêng Đây là những nội dung rất cần thiết để NCS nghiên cứu, thamkhảo xây dựng quan niệm, nội dung, các tiêu chí đánh giá sự PTBVDVVT ở Viettel hiện nay
1.2.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến phát triển dịch vụ viễn thông
Bùi Xuân Phong (2006), “Quản trị kinh doanh Viễn thông theo hướng
hội nhập kinh tế quốc tế” [47] Trong cuốn sách, tác giả đa trình bày các vấn
đề: quản trị kinh doanh Viễn thông với hội nhập kinh tế; cơ sở khoa học củaquản trị kinh doanh Viễn thông; chiến lược và kế hoạch kinh doanh Viễnthông; quản trị chất lượng sản phẩm DVVT; quản trị tài sản doanh nghiệpViễn thông; quản trị nhân lực doanh nghiệp Viễn thông; quản trị doanh thu,chi phí và lợi nhuận kinh doanh Viễn thông; quản trị dự án đầu tư trong Viễnthông; hiệu quả hoạt động kinh doanh Viễn thông; nâng cao năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp Viễn thông trong quá trình hội nhập kinh tế
Trang 21Trần Văn Thịnh (2007),“Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực
viễn thông Việt Nam” [62], Luận án tiến sĩ kinh tế Luận án đa hệ thống hoá
những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực viễn thông; thựctrạng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực viễn thông Việt Nam; một số vấn đề
cơ bản hoàn thiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực viễn thông Việt Nam.Luận án tập trung đề xuất một số biện pháp lớn để nâng cao sức cạnh tranhcủa ngành viễn thông Việt Nam, đó là: hoàn thiện về cơ chế, chính sách quản
lý nhà nước đối với lĩnh vực viễn thông
Trần Đăng Khoa (2007), “Phát triển ngành viễn thông Việt Nam đến
năm 2020” [39], Luận án tiến sĩ kinh tế Luận án đa nghiên cứu những kinh
nghiệm phát triển ngành viễn thông của một số nước trên thế giới, đánh giáthực trạng phát triển ngành viễn thông từ năm 2006 trở về trước, là giai đoạnngành viễn thông mới bắt đầu có sự tăng tốc Đồng thời, chỉ ra những quanđiểm, định hướng phát triển ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2020
Lê Ngọc Minh (2008), “Phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam” [45], Luận án tiến sĩ kinh
tế Tác giả đa nghiên cứu và hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản vềphát triển kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thông tin diđộng tại Việt Nam Phân tích thực trạng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụthông tin di động Việt Nam hiện nay; trong đó, lấy 3 doanh nghiệp chiếm95% thị trường viễn thông là Viettel, MobiFone, Vinaphone làm đối tượngnghiên cứu chủ yếu Qua phân tích thực trạng, tác giả đa đưa ra cơ hội, tháchthức, mục tiêu phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin di động tại Việt Namthời gian tới NCS có thể tham khảo kết quả nghiên cứu của luận án để xácđịnh các nhân tố chi phối đến PTBV DVVT của Viettel
Trần Thị Anh Thư (2012), “Tăng cường năng lực cạnh tranh của Tập
đoàn BCVT Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là thành viên của Tổ chức
Trang 22Thương mại thế giới” [78], Luận án tiến sĩ kinh tế Trong luận án, tác giả đa
hệ thống hoá các vấn đề lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và sự cầnthiết phải tăng cường năng lực cạnh tranh của VNPT trong điều kiện ViệtNam là thành viên của WTO Đặc biệt luận án đa đề cập đến các nhân tố năngcao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực DVVT hiện nay NCS có thể kế thừakết quả nghiên cứu của tác giả để xây dựng các nhân tố chi phối đến PTBVDVVT ở Viettel
Nguyễn Mạnh Hùng (2013), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành
viễn thông Việt Nam” [38], Luận án tiến sĩ kinh tế Trong luận án, tác giả đa
nghiên cứu cơ sở lý luận về cạnh tranh và về năng lực cạnh tranh cấp ngành,các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh cấp ngành, các yếu tố ảnh hưởng đếnnăng lực cạnh tranh ngành viễn thông; đánh giá thực trạng và đề xuất giải phápnâng cao năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông Việt Nam
Các công trình khoa học nói trên đa đề cập đến nhiều khía cạnh khácnhau về chiến lược kinh doanh DVVT như: năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp nói chung, doanh nghiệp kinh doanh DVVT nói riêng; chủ trương,chính sách của Đảng, Nhà nước; môi trường pháp lý; điều kiện kinh tế xa hội;năng lực quản lý điều hành; khả năng tài chính; trình độ công nghệ; nguồnnhân lực Đây là những nội dung có ý nghĩa rất quan trọng để NCS kế thừanghiên cứu xây dựng quan niệm, các nhân tố chi phối và đề xuất những quanđiểm, giải pháp nhằm PTBV DVVT ở Viettel hiện nay
1.2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ viễn thông của Tập đoàn Viễn thông Quân đội
Hoàng Anh Xuân (2011), “Tập đoàn Viễn thông Quân đội tập trung
xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao” [87] Bài báo dựa trên cơ sở phân
tích vai trò quan trọng của nguồn nhân lực và thực trạng nguồn nhân lực của Tậpđoàn, đa nhấn mạnh: (1) Cấp uỷ, chỉ huy các cấp và mọi cán bộ, nhân viên Tập
Trang 23đoàn cần tăng cường quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm đối với côngtác xây dựng, phát triển nguồn nhân lực; (2) Tiếp tục đổi mới quy trình, nâng caohơn nữa chất lượng và tính chuyên nghiệp trong công tác tuyển dụng lao động;(3) Đẩy mạnh công tác đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao chất lượng toàndiện nguồn nhân lực; (4) Chú trọng thực hiện các giải pháp về quy hoạch, sắpxếp, sử dụng, đổi mới công tác quản lý nhân sự và các chính sách đai ngộ, để thu hút, giữ gìn, phát triển nguồn nhân lực
Hoàng Anh Xuân (2012), “Tập đoàn Viễn thông Quân đội gắn chiến
lược kinh doanh với an sinh xã hội và quốc phòng - an ninh” [88] Đây là một
bài báo khoa học phân tích thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh củaViettel Trong bài báo, tác giả cho biết: năm 2011, Viettel đứng thứ 80 vềdoanh thu, đứng thứ 30 về lợi nhuận, là một trong 15 doanh nghiệp viễn thôngphát triển nhanh nhất thế giới Tác giả cho rằng: sở dĩ có bước phát triển nhanhnhư thế, Viettel không có bí quyết nào khác ngoài việc xác định và thực hiệnđúng chiến lược kinh doanh; đồng thời, gắn chặt việc thực hiện chiến lược kinhdoanh với đảm bảo an sinh xa hội và thực hiện nhiệm vụ QPAN
Lê Công Cẩn (2013), “Tập đoàn Viễn thông Quân đội gắn sản xuất,
kinh doanh với giúp dân xóa đói giảm nghèo” [22] Trong bài báo, tác giả cho
rằng: là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Quốc phòng, Viettel có nhiệm
vụ sản xuất, kinh doanh và bảo đảm mạng lưới thông tin phục vụ cho nhiệm
vụ QPAN Với chức năng, nhiệm vụ được giao, Tập đoàn đa tích cực tham giaphát triển kinh tế - xa hội; góp phần giữ vững và phát triển tiềm lực quốcphòng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội Tác giả cũng nhấn mạnh,trong thời gian tới Viettel cần tiếp tục phát huy khả năng, thế mạnh của mình,đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh gắn với tham gia xóa đói, giảm nghèo, chungsức xây dựng nông thôn mới; giúp các địa phương phát triển kinh tế, văn hóa,
Trang 24xa hội theo mục tiêu giảm nghèo nhanh, bền vững, góp phần xây dựng địa bàngiàu về kinh tế, vững mạnh về QPAN.
Lê Đức (2013), “Tập đoàn Viễn thông Quân đội với Đề án tái cơ cấu
đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020” [34] Đây là một bài báo khoa học
về Đề án tái cơ cấu của Viettel Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và dự báo cáckhả năng trong Đề án nhằm tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh phát triển sảnxuất, kinh doanh và thực hiện các mục tiêu chiến lược vừa phục vụ phát triểnkinh tế đất nước, vừa thực hiện nhiệm vụ QPAN, tác giả đề xuất phải điềuchỉnh tăng vốn điều lệ Về chủ trương cổ phần hóa, hiện tại, Viettel đa thựchiện cổ phần hóa Tổng Công ty cổ phần Bưu chính, Công ty cổ phần Đầu tưquốc tế, Công ty cổ phần Công trình và Công ty cổ phần Tư vấn thiết kế
Dương Văn Tính (2013), “Tập đoàn Viễn thông Quân đội vững
vàng hội nhập và phát triển” [81] Bài báo đa phân tích trong bối cảnh
toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Viettel phải đối mặt với sự cạnh tranhgay gắt của các mạng viễn thông trong nước và quốc tế cùng những tháchthức nội sinh, như: công tác quản lý tài sản, vật tư, hàng hóa, chất lượngphục vụ, thái độ giao tiếp với khách hàng, đối phó với tội phạm công nghệngày càng nhiều và tinh vi, v.v Đây là những thách thức không nhỏ đốivới sự phát triển, đòi hỏi Tập đoàn phải sớm tìm ra giải pháp khắc phục
Để vững vàng hội nhập và phát triển, hiện thực hóa mục tiêu xây dựngViettel trở thành một trong những nhà cung cấp DVVT lớn, Tập đoàn đavà đang triển khai thực hiện đồng bộ một số giải pháp: (1) Ưu tiên đầu tưphát triển hạ tầng mạng lưới, tạo lợi thế để phát triển và hội nhập; (2) Tậptrung đột phá xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; (3) Tích cực, chủđộng hội nhập quốc tế
Nguyễn Đình Toàn (2014), “Hiệu quả hoạt động quan hệ công chúng,
nhìn từ thực hiện chương trình “Trái tim cho em” của Viettel” [82] Bài báo đa
Trang 25tổng quát những nguyên tắc trong việc đo lường hiệu quả chương trình quan hệcông chúng, từ đó đo lường hiệu quả hoạt động chương trình “Trái tim cho em”của Viettel, đưa ra những khuyến nghị đối với các doanh nghiệp Việt Nam trongquá trình thực hiện các hoạt động quan hệ công chúng.
Bùi Quang Tuyến (2015), “Nhận diện năng lực động của Tập đoàn
Viễn thông Quân đội” [84] Trong bài báo, tác giả cho rằng: Viettel là tập
đoàn viễn thông lớn nhất Việt Nam Mạng di động của doanh nghiệp này cótốc độ phát triển nhanh thuộc top 30 nhà khai thác có lượng thuê bao di độngnhiều nhất trên thế giới Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thành công củaViettel, trong đó năng lực lanh đạo và quản lý đóng vai trò quyết định thể hiện
ở việc nhận diện và phát huy năng lực động của doanh nghiệp
Nguyễn Văn Đợi, Lê Thị Ngọc Diệp (2015), “Kinh nghiệm của Viettel
trong đầu tư ra nước ngoài với các doanh nghiệp viễn thông” [33] Trong bài
báo, các tác giả khẳng định, không chỉ phục vụ thị trường gần 100 triệu dântại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp viễn thông đa nhận ra tầm quan trọng củaviệc đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm và mở rộng thị trường mới Trong số 5doanh nghiệp viễn thông, 3 đơn vị đa “vươn cánh tay” ra khỏi phạm vi trongnước, là Viettel, VNPT và MobiFone Trong đó, Viettel là doanh nghiệp viễnthông đầu tư ra thị trường nước ngoài khá sớm từ năm 2006 Sau hơn 10 năm đầu
tư ra nước ngoài, doanh nghiệp viễn thông này đa có mặt tại 3 châu lục Á, Phi,
Mỹ, với quy mô dân số gần 320 triệu người, gấp 3 lần dân số Việt Nam Đồngthời, để thúc đẩy hiệu quả hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực viễnthông, tác giả đa đề cập một số kinh nghiệm cơ bản: (1) Tăng cường tìm hiểu môitrường kinh doanh viễn thông của nước sở tại; (2) Hoàn thiện năng lực quản lý dựán; (3) Tăng cường năng lực tài chính và KH-CN; (4) Xây dựng quan hệ hợp tácgiữa các doanh nghiệp Việt Nam tại nước sở tại
Các công trình khoa học trên đây đa đề cập đến nhiều lĩnh vực, đặc biệtlà chiến lược sản xuất, kinh doanh của Viettel Mặc dù chưa có công trình nào
Trang 26nghiên cứu trực tiếp vào sự PTBV DVVT của Tập đoàn, song các công trìnhkhoa học này có ý nghĩa rất lớn để NCS nghiên cứu, tham khảo và vận dụngvào đánh giá thực trạng cũng như đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm PTBVDVVT cho Viettel trong thời gian tới.
1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đa công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học
đã công bố
Thông qua tổng quan các công trình khoa học có liên quan đến đề tàiluận án, có thể nhận thấy những thành công mà các công trình mang lại khátoàn diện, cho dù góc độ tiếp cận khác nhau, cách đánh giá không giống nhau.Các công trình này đa làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn về PTBV, vềphát triển DVVT, về chiến lược sản xuất kinh doanh của Viettel Có thể kháiquát trên một số nội dung như sau:
Một là, các công trình nói trên đa đạt được những kết quả quan trọng trong
việc xây dựng khái niệm, nội dung và các tiêu chí đánh giá PTBV; khái niệm, đặcđiểm, quản trị chiến lược, các phương pháp đánh giá chất lượng DVVT
Hai là, các công trình khoa học tiêu biểu xuất hiện trong tổng quan đa
phân tích các nhân tố chi phối sự PTBV, các yếu tố tác động đến tăng cườngnăng lực cạnh tranh ngành viễn thông nói chung, trong các doanh nghiệp kinh
doanh DVVT nói riêng Một số công trình nghiên cứu kinh nghiệm phát triển
DVVT của một số doanh nghiệp viễn thông thế giới, chiến lược phát triểnngành thông qua “Mô hình kim cương của Porter” Đây là những vấn đề có ýnghĩa rất quan trọng để NCS tham khảo phân tích các nhân tố chi phối và rút
ra bài học kinh nghiệm để PTBV DVVT ở Viettel
Ba là, các công trình khoa học trên đây đa có những đánh giá, phân tích
tình hình phát triển DVVT trong các doanh nghiệp sản kinh kinh doanh viễnthông nói chung, Viettel nói riêng trong những năm qua Trên cơ sở đó đề xuất
Trang 27định hướng, quan điểm giải pháp để PTBV gắn với một lĩnh vực, một ngành cụthể Một số công trình đề cập đến quan điểm, chiến lược và giải pháp phát triểnngành viễn thông, lĩnh vực DVVT Đây là những tư liệu có ích để NCS thamkhảo, vận dụng xây dựng quan điểm, định hướng và giải pháp của luận án.
1.3.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Trên cơ sở khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu đa công bố,
NCS nhận thấy, chưa có công trình nào nghiên cứu về “PTBV DVVT ở Tập
đoàn Viễn thông Quân đội hiện nay” dưới góc độ kinh tế chính trị Vì thế, NCS
lựa chọn vấn đề này làm luận án tiến sĩ là vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận và thựctiễn sâu sắc, đồng thời không có sự trùng lắp với các công trình đa được côngbố
Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, NCSxác định các câu hỏi nghiên cứu cần làm rõ như sau:
Một là, nội dung PTBV DVVT ở Viettel là gì; đâu là tiêu chí để đánh
giá sự PTBV DVVT ở Tập đoàn này?
Hai là, những nhân tố nào chi phối sự PTBV DVVT ở Viettel; để
PTBV DVVT, Viettel cần tham khảo kinh nghiệm gì của các Tập đoàn viễnthông trên thế giới?
Ba là, thực trạng PTBV DVVT ở Viettel ra sao; những vấn đề nào cần tập
trung giải quyết để PTBV DVVT ở Viettel thời gian tới?
Bốn là, để PTBV DVVT thời gian tới, Viettel cần thực hiện những quan
điểm và giải pháp nào?
Để trả lời các câu hỏi đó, luận án cần tập trung luận giải các vấn đề sau đây:
Thứ nhất, xây dựng quan niệm, xác định nội dung, tiêu chí đánh giá và những nhân tố chi phối đến PTBV DVVT ở Tập đoàn Viễn thông Quân đội.
Đây là vấn đề hết sức quan trọng, vì nó là khung lý luận để đảm bảothực hiện được mục đích, nhiệm vụ của luận án Thực hiện vấn đề này, trướchết, NCS cần kế thừa các quan niệm về DVVT, về PTBV của một số tác giả ở
Trang 28các công trình khoa học đa công bố để xây dựng quan niệm PTBV DVVT ởViettel dưới góc độ kinh tế chính trị Đặc biệt, luận án cần làm rõ nội dung vàcác tiêu chí đánh giá sự PTBV DVVT ở Viettel; để làm cơ sở lý luận khảo sátthực trạng và đề xuất các giải pháp.
Một trong những nội dung của khung lý thuyết là NCS phải chỉ ra đượcnhững nhân tố chủ yếu chi phối đến PTBV DVVT ở Viettel Những nhân tố đó phảibao gồm những nhân tố khách quan và chủ quan; trong đó, những nhân tố kháchquan là: chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; môi trường pháp lý; điều kiệnkinh tế xa hội (kinh tế, địa lý, dân số); quá trình hội nhập lĩnh vực viễn thông.Những nhân tố chủ quan là: năng lực lanh đạo, quản lý điều hành; khả năng tàichính; trình độ công nghệ; lực lượng lao động; hoạt động marketting, v.v
Thứ hai, nghiên cứu tình hình PTBV DVVT ở một số Tập đoàn viễn thông trên thế giới nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho Viettel
Trên cơ sở phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung khảo sát kinh nghiệmPTBV DVVT ở những nước có điều kiện tương đồng với Việt Nam; cụ thể là:Tập đoàn viễn thông Trung Quốc, Tập đoàn viễn thông Hàn Quốc, Tập đoànviễn thông Nhật Bản Đó là những tập đoàn có sự tương đồng về nhiều mặt vớiViettel Trên cơ sở đó, luận án rút ra những bài học kinh nghiệm làm cơ sở đềxuất các quan điểm, giải pháp PTBV DVVT ở Viettel
Thứ ba, khảo sát đánh giá thực trạng PTBV DVVT ở Viettel hiện nay, chỉ
rõ những vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết để PTBV DVVT thời gian tới.
Nghiên cứu sinh dựa vào nội dung và các tiêu chí đánh giá PTBVDVVT xác định ở chương lý luận để khảo sát, đánh giá thực trạng PTBVDVVT ở Viettel; chỉ rõ những thành công, hạn chế, nguyên nhân của thựctrạng nói trên và khái quát những vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết đểPTBV DVVT ở Viettel trong thời gian tới
Thứ tư, từ cơ sở lý luận và thực tiễn đã chỉ ra, luận án tập trung đề xuất một số quan điểm và giải pháp để PTBV DVVT ở Viettel giai đoạn tiếp theo
Trang 29Hệ thống các quan điểm, giải pháp được đề xuất trong luận án nhằm bảođảm cho Viettel thực hiện được đồng thời các mục tiêu về tăng trưởng kinh tếliên tục, ổn định, giải quyết tốt các vấn đề văn hóa, xa hội, QPAN và bảo vệ môitrường; tiếp tục củng cố vị thế của Viettel với tư cách một DNNN trong lĩnh vựcviễn thông ở Việt Nam Những giải pháp được đề xuất trong luận án sẽ là nhữnggiải pháp chủ yếu, đáp ứng được yêu cầu hiện thực hóa những quan điểm đa xácđịnh; đồng thời giải quyết được những vấn đề đặt ra từ thực trạng hạn chế.
Kết luận chương 1
Liên quan đến đề tài luận án đa có nhiều tác giả trong và ngoài nướcquan tâm nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, chưa có côngtrình nào nghiên cứu trực tiếp và đầy đủ về PTBV DVVT ở Viettel mà chỉtập trung chủ yếu về PTBV ngành, vùng, lĩnh vực dịch vụ; chiến lược sảnxuất kinh doanh của một số doanh nghiệp viễn thông Các lĩnh vực nghiêncứu của các tác giả trong nước và nước ngoài không liên quan trực tiếp, songviệc nghiên cứu, khảo sát các công trình nghiên cứu về PTBV và phát triểnDVVT của tác giả trong nước và nước ngoài có ý nghĩa quan trọng để NCStham khảo xây dựng, hoàn chỉnh luận án Vì vậy, tác giả đa tổng quan 18công trình của các tác giả nước ngoài; 23 công trình của các tác giả trongnước dưới nhiều loại hình khác nhau, như sách chuyên khảo, luận án tiến sĩvà các bài báo khoa học Trên cơ sở đó, tác giả đa khái quát được nhữngthành công và hạn chế của các công trình, từ đó đặt ra những vấn đề luận áncần tập trung giải quyết
Trang 30Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DỊCH VỤ
VIỄN THÔNG Ở TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI VÀ
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 2.1 Dịch vụ viễn thông và phát triển bền vững
2.1.1 Dịch vụ viễn thông
2.1.1.1 Quan niệm về dịch vụ viễn thông
Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động traođổi được gọi chung là dịch vụ; đồng thời, dịch vụ lại bao gồm rất nhiều loạihình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khácnhau Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọngvà dịch vụ đa trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau, từkinh tế học đến văn hóa học, luật học, từ hành chính học đến khoa học quản
lý Do vậy mà có nhiều khái niệm về dịch vụ theo cách hiểu khác nhau
C Mác khi nghiên cứu về tư bản thương nghiệp, đa chỉ rõ: “Tư bảnthương nhân chỉ là tư bản đang hoạt động trong lĩnh vực lưu thông” [42,tr.437], “tư bản thương nhân chỉ phục vụ việc trao đổi hàng hóa mà thôi” [42,tr.496] Như vậy, C Mác đa chỉ ra nguồn gốc ra đời và phát triển của dịch vụlà từ sự phát triển của kinh tế hàng hóa; dịch vụ thực chất là những hoạt độngphục vụ quá trình thực hiện giá trị hàng hóa, không phải lĩnh vực sản xuất
Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp chonhững nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [86, tr256]
Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương
tự như hàng hoá nhưng phi vật chất; bản chất của dịch vụ là sự cung ứng đểđáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ…vàmang lại lợi nhuận
Kotler, Philip trong cuốn sách Quản trị Marketting cho rằng: “Dịch vụlà mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ
Trang 31yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó Sản phẩm của
nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” [96, tr 522]
Kế thừa những quan niệm đa có, NCS quan niệm: dịch vụ là những
hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.
Trong phạm vi đề tài luận án, dịch vụ được xem là một lĩnh vực hoạtđộng của nền kinh tế quốc dân bao hàm tất cả những hoạt động phục vụ sảnxuất và đời sống dân cư, trong đó có DVVT
Thuật ngữ “viễn thông” xuất phát từ thuật ngữ “tele” trong tiếng HyLạp có nghĩa là xa và từ “communicare” của tiếng La tinh có nghĩa là thôngbáo, miêu tả một cách tổng quát tất cả các hình thức trao đổi thông tin quamột khoảng cách nhất định mà không phải chuyên chở những thông tin này đimột cách cụ thể Theo nghĩa hẹp hơn, viễn thông được hiểu là cách thức traođổi thông tin, dữ liệu thông qua kỹ thuật điện, điện tử và các công nghệ hiệnđại khác Các DVVT đầu tiên theo nghĩa này là điện báo và điện thoại, saudần phát triển thêm các hình thức truyền đưa số liệu, hình ảnh, v.v
Điều 3 Luật Viễn thông của Việt Nam [53], chỉ rõ: DVVT là dịch vụ gửi,truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng DVVT
Như vậy, DVVT nói chung là một tập hợp các hoạt động bao gồm cácnhân tố không hiện hữu, tạo ra chuỗi giá trị và mang lại lợi ích tổng hợp Khinói đến DVVT là nói đến một hệ thống cung cấp DVVT, bao gồm các yếu tốcấu thành nên mạng lưới cung cấp: khách hàng, nhà cung ứng, môi trườngtrao đổi thông tin và các DVVT do nhà cung ứng cung cấp Trong đó, kháchhàng là người có nhu cầu trao đổi thông tin và là người sử dụng DVVT đó
Họ có thể là những cá nhân, tập thể, các tổ chức doanh nghiệp hay Chính phủ.Nhà cung ứng là các doanh nghiệp cung cấp một số hay phần lớn DVVT Môi
Trang 32trường vật chất cần thiết cho việc cung ứng DVVT bao gồm hệ thống tổngđài, thiết bị chuyển mạch, truyền dẫn, hệ thống mạng cáp, hệ thống nhà trạm,quầy giao dịch… và con người trong doanh nghiệp
Dịch vụ viễn thông bao gồm rất nhiều lĩnh vực, xuất phát từ góc độnghiên cứu khác nhau sẽ có những phạm vi nghiên cứu khác nhau Luận ánnghiên cứu DVVT dưới góc độ kinh tế chính trị Theo đó, luận án tập trungnghiên cứu ba loại hình sản phẩm dịch vụ chủ yếu, cơ bản của ngành viễnthông là: viễn thông cố định, viễn thông di động và internet
Dịch vụ viễn thông cố định là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu,
chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểmkết nối của mạng cố định
Dịch vụ viễn thông di động là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu,
chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểmkết nối của mạng di động
Dịch vụ internet là một loại hình DVVT, bao gồm dịch vụ truy nhập
internet, dịch vụ kết nối internet và dịch vụ ứng dụng internet trong viễn thông
Cả ba DVVT cố định, di động và internet đều giống nhau là dịch vụtruyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạngkhác của thông tin Tuy nhiên, cơ chế, cách thức thực hiện, đặc trưng, sự tiệních, giá cả, sự thỏa man khách hàng giữa 3 loại hình dịch vụ này là khác nhaunên có kết quả kinh doanh và sự cạnh tranh mang đặc trưng khác nhau
Trên cơ sở những định nghĩa và phân loại DVVT nói trên, tiếp cận
dưới góc độ kinh tế chính trị, NCS cho rằng: DVVT là những quan hệ kinh
tế giữa người cung ứng và người tiêu dùng sản phẩm viễn thông Trong đó,
người cung ứng DVVT là các doanh nghiệp kinh doanh viễn thông; ngườitiêu dùng DVVT là khách hàng sử dụng DVVT Quan hệ kinh tế giữa ngườicung ứng và tiêu dùng DVVT được thực hiện thông qua thị trường; thể hiện
Trang 33đằng sau các phạm trù: thuê bao, doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, cũng như các phạm trù: mua - bán,cung - cầu, giả cả DVVT giữa bên cung ứng và bên mua dịch vụ Thị trườngDVVT được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các khách hàng sử dụng, các nhàcung cấp, mối quan hệ cung cầu giữa họ tác động qua lại để xác định giá cả,số lượng và chất lượng sản phẩm DVVT
2.1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ viễn thông
Một là, sản phẩm DVVT không phải là một sản phẩm vật chất chế tạo
mới, không phải là hàng hoá cụ thể, mà là kết quả có ích cuối cùng của quátrình truyền đưa tin tức dưới dạng dịch vụ
Hai là, sản phẩm DVVT không dự trữ được trong kho Hiệu quả có íchcủa quá trình truyền đưa tin tức được tiêu dùng ngay trong quá trình cung ứng.Vì vậy, DVVT không thể cất giữ được ở trong kho, không dự trữ được, khôngthể thu hồi sản phẩm cho vào quay vòng, tái sản xuất mà chỉ có thể dự trữ ởdạng năng lực cung ứng Đặc điểm này yêu cầu về chất lượng DVVT phải rấttốt, nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp ngay đến tiêu dùng Hơn nữa, để sử dụngDVVT, người sử dụng phải có mặt ở những vị trí, địa điểm xác định của nhàcung cấp dịch vụ hoặc nơi có thiết bị của nhà cung cấp dịch vụ
Ba là, xuất hiện không đồng đều về không gian và thời gian Thông
thường, nhu cầu truyền đưa tin tức phụ thuộc vào nhịp độ sinh hoạt của xa hội.Vào những giờ ban ngày, giờ làm việc của các cơ quan, doanh nghiệp, vào các
kỳ hội, lễ tết thì lượng nhu cầu rất lớn Trong điều kiện yêu cầu phục vụ khôngđồng đều, để thoả man tốt nhu cầu của khách hàng, các doanh nghiệp cung cấpDVVT phải dự trữ đáng kể năng lực cung ứng và các nguồn lực
Bốn là, đối tượng lao động chỉ chịu tác động dời chỗ trong không gian.
Sự khác biệt so với ngành sản xuất công nghiệp, nơi mà đối tượng chịu sựthay đổi vật chất (về mặt vật lý, hoá học, ), còn trong cung ứng DVVT,
Trang 34thông tin là đối tượng lao động chỉ chịu tác động dời chỗ trong không gian.Thậm chí, nếu thông tin trong quá trình truyền tải nhờ các thiết bị viễnthông được biến đổi thành các tín hiệu thông tin điện, thì ở các nơi nhận tínhiệu phải được khôi phục trở lại trạng thái ban đầu của nó Mọi sự thay đổithông tin, đều có nghĩa là sự méo mó, mất đi giá trị sử dụng và dẫn đến tổnthất lợi ích của khách hàng.
Năm là, quá trình truyền đưa tin tức luôn mang tính hai chiều giữa
người gửi và người nhận thông tin Nhu cầu truyền đưa tin tức có thể phátsinh ở mọi điểm dân cư, điều đó đòi hỏi phải hình thành một mạng lưới cungcấp dịch vụ có độ tin cậy, rộng khắp
2.1.2 Phát triển bền vững
2.1.2.1 Quan niệm về phát triển bền vững
Phát triển là một quá trình tăng trưởng quy mô về số lượng và chấtlượng Mục tiêu phát triển của các quốc gia là nâng cao điều kiện và chất lượngcuộc sống của con người, như: nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo, đápứng tốt hơn nhu cầu sử dụng hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng, làm chocon người ít phụ thuộc vào thiên nhiên, tạo lập nên cuộc sống công bằng vàbình đẳng giữa các thành viên Tuy nhiên, phát triển kinh tế cũng phải coi trọngvấn đề xa hội và bảo vệ môi trường, vì cần phải tính đến lợi ích chung của cộngđồng xa hội và của các thế hệ tương lai Tất cả những yêu cầu trên dẫn đến sự
ra đời một quan niệm mới “PTBV”
Phát triển bền vững được con người biết đến từ rất sớm Trong tác phẩmBiện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen đa cảnh báo: “Không nên quá tự hào vềnhững thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt đượcmột thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta” [41, tr.654] Tuynhiên, phải đến Hội nghị của Liên hợp quốc về Môi trường con người (năm
1972 tại Stockholm), tầm quan trọng của vấn đề PTBV mới chính thức đượcthừa nhận Đầu năm 1980, thuật ngữ "PTBV" được xuất hiện trong ấn phẩm
Trang 35Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên vàTài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự pháttriển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phảitôn trọng những nhu cầu tất yếu của xa hội và sự tác động đến môi trườngsinh thái học” [94] Chiến lược này chỉ nhấn mạnh PTBV ở góc độ bền vững
về sinh thái với ba mục tiêu: duy trì hệ sinh thái cơ bản và những hệ hỗ trợ sựsống; bảo tồn tính đa dạng di truyền; bảo đảm sử dụng bền vững các loài vàcác hệ sinh thái Đến năm 1987, khái niệm “PTBV” được công bố chính thứcvà phổ biến rộng rai qua Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Tương laichung của chúng ta) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED)thuộc Liên hợp quốc Báo cáo này ghi rõ “PTBV là sự phát triển có thể đápứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khảnăng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Mục tiêu của PTBV màWCED đưa ra là làm thế nào để đạt được phát triển ở hiện tại mà không ảnhhưởng đến cuộc sống và sự phát triển sau này
Như vậy, các khái niệm về PTBV đa thay đổi từ nghĩa hẹp liên quan chủyếu đến vấn đề môi trường sang nghĩa rộng liên quan đến sự PTBV về kinh tế,
xa hội, môi trường
Ở Việt Nam, PTBV được biết đến vào khoảng cuối thập niên 80 đầuthập niên 90 của thế kỷ XX Trên cơ sở những khái niệm đa có và từ sự pháttriển thực tế của đất nước, Đảng ta đa đưa ra quan điểm về PTBV làm cơ sở
để thực hiện những mục tiêu phát triển của đất nước Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ IX của Đảng đa nêu rõ trong Chiến lược Phát triển kinh tế - xahội 2001 - 2010: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh
tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xa hội và bảo vệ môi trường” [25,tr.162]; “Phát triển kinh tế - xa hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môitrường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiênnhiên, giữ gìn đa dạng sinh học” [25, tr.163-164] Với giai đoạn 10 năm tiếp
Trang 36theo, từ 2011 - 2020, PTBV là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược Phát triểnkinh tế - xa hội mà Đại hội lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam đa xác định:
“PTBV là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho pháttriển bền vững Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trongquy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xa hội” [27, tr.99] Đại hộilần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Bảo đảm phát triển nhanh, bền vữngtrên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô và không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng,hiệu quả và sức cạnh tranh” [28, tr.270] Quan điểm của Đảng và Nhà nước vềPTBV được khẳng định và phản ánh đầy đủ trong Chương trình Nghị sự 21 củaViệt Nam (Việt Nam AGENDA-21): “Mục tiêu tổng quát của PTBV là đạt được
sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hoá, sự bình đẳng của cáccông dân và sự đồng thuận của xa hội, sự hài hoà giữa con người và tự nhiên; pháttriển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế,phát triển xa hội và bảo vệ môi trường” [66] Quan niệm trên là cơ sở pháp lý chocác tổ chức, cá nhân có liên quan triển khai thực hiện và phối hợp hành độngnhằm bảo đảm PTBV đất nước trong thế kỷ XXI
Theo nghiên cứu của Viện chiến lược phát triển: “PTBV bao trùm cácmặt của đời sống xa hội, nghĩa là phải gắn kết sự phát triển kinh tế với thựchiện tiến bộ và công bằng xa hội, gìn giữ và cải thiện môi trường, giữ vững
ổn định chính trị - xa hội, đảm bảo QPAN” [85, tr.122] Theo đó nội hàm củaPTBV không chỉ bao gồm các vấn đề về kinh tế, xa hội, môi trường mà còncả vấn đề về bảo đảm QPAN
Kế thừa quan niệm đó, luận án đề xuất quan niệm: PTBV là một
phương thức phát triển kinh tế- xã hội cho phép thực hiện được đồng thời các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề văn hóa, xã hội, QPAN và bảo vệ môi trường, đáp ứng tốt các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không gây trở ngại cho đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Hay nói cách khác, đó là
Trang 37sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xa hội, QPAN và môi trường ở cácthế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người Ở đây dotầm quan trọng của vấn đề văn hóa và QPAN mà trụ cột xa hội của các quanniệm trước cũng được mở rộng, cụ thể hơn là: văn hóa, xa hội và QPAN.
2.1.2.2 Nội dung phát triển bền vững
Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển (Rio de
Janero 6/1992) đề cập đến mối quan hệ giữa môi trường với phát triển, trong đócoi môi trường là yếu tố ưu tiên hàng đầu Hội nghị thống nhất những nguyêntắc cơ bản, phát động một chương trình hành động vì sự PTBV có tên Chươngtrình nghị sự 21 (AGENDA-21) [23] Từ đó, Chương trình Nghị sự 21 vềPTBV và Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đa trở thành chiến luợc phát triểncủa toàn cầu và được tập trung thực hiện Theo đó, nội dung của PTBV đượcbiểu hiện qua ba lĩnh vực: kinh tế và xa hội; bảo tồn, quản lý môi trường cùngcác nguồn tài nguyên; vai trò của các nhóm xa hội chính (thể chế)
Nội hàm PTBV được tái khẳng định tại Hội nghị thượng đỉnh Thế giới
về PTBV ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 Theo đó, PTBV
được khái quát hóa theo ba mặt, gồm phát triển kinh tế, phát triển xa hội vàbảo vệ môi trường Ba mặt này kết hợp chặt chẽ, hài hoà với nhau trong quátrình phát triển
Diễn đàn thanh niên Á - Âu (ASEM) cũng đa chỉ rõ nội dung PTBV
được biểu hiện qua bốn lĩnh vực: kinh tế, xa hội, môi trường và thể chế
Như vậy, Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển(Rio de Janero 6/1992) xác định nội dung PTBV gồm 3 nhân tố: kinh tế và xahội; bảo tồn, quản lý môi trường cùng các nguồn tài nguyên; thể chế; Diễn đànthanh niên ASEM lại xác định nội dung PTBV gồm có 4 nhân tố: kinh tế, xahội, môi trường và thể chế Hai tổ chức này đa đưa thể chế là một nội dungngang hàng với các yếu tố chính tạo nên PTBV, bởi vì thể chế của mỗi quốcgia là cơ sở lập các kế hoạch, chính sách, đề ra các mục tiêu hướng tới cũng
Trang 38như phổ biến hành động cho toàn dân Tuy nhiên, nếu như Diễn đàn thanhniên ASEM tách rời hai lĩnh vực kinh tế và xa hội thành hai nội dung củaPTBV thì Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển lại gộphai lĩnh vực này thành một nội dung Qua đây có thể thấy sự thay đổi trongcách nhìn nhận của thế giới về nội dung PTBV, song tựu chung lại vẫn gồm 3vấn đề cơ bản là kinh tế, xa hội và môi trường.
Trong những năm gần đây Việt Nam đang ngày càng đạt được nhữngthành tựu mới về phát triển kinh tế - xa hội và tích cực tham gia hội nhập vớithế giới về nhiều mặt, nhiều lĩnh vực; trong đó, PTBV được đặt ra như mộtvấn đề cấp thiết Năm 2004, Việt Nam đa xây dựng được một chương trìnhPTBV riêng, mang tên VIỆT NAM AGENDA-21, xác định rõ nội dungPTBV gồm ba nhân tố cụ thể: kinh tế, xa hội và môi trường
Kế thừa quan điểm của Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường vàphát triển, Chương trình PTBV của Việt Nam, luận án xác định nội dungPTBV gồm 5 trụ cột: kinh tế, văn hóa, xa hội, QPAN và môi trường Việc xácđịnh thêm 2 trụ cột là văn hóa và QPAN được dựa trên cơ sở lý luận của chủnghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, xa hội với văn hóavà QPAN Theo đó, văn hóa là nền tảng tinh thần của xa hội; QPAN là yếu tốbảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho kinh tế phát triển và trật tự xa hộiđược giữ vững Cả văn hóa và QPAN không chỉ phụ thuộc vào sự phát triểnkinh tế mà còn có tác động trở lại đối với phát triển kinh tế Khi giải thích rõvai trò của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở kinh tế, Ph.Ăngghen đa nóirằng: “Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học,nghệ thuật v.v đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế Nhưng tất cả chúngcũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế Vấn đề hoàn toànkhông phải là chỉ có hoàn cảnh kinh tế mới là nguyên nhân, chỉ có nó là tíchcực, còn tất cả những cái còn lại đều chỉ là hậu quả thụ động” [44, tr.271] Còn
Trang 39nói đến vai trò của quân đội - lực lượng nòng cốt của quốc phòng, C.Mác
đa khẳng định: “Nói chung quân đội đóng vai trò quan trọng trong sự pháttriển kinh tế” [43, tr.246]
Nhận thức đúng mối quan hệ tác động lẫn nhau của kinh tế, văn hóa, xahội và QPAN, Đảng ta luôn coi trọng kết hợp kinh tế với văn hóa, xa hội vàQPAN trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đại hội XII của Đảng đanhấn mạnh: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xa hội với QPAN và QPAN vớikinh tế, văn hóa, xa hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triểnkinh tế - xa hội” [28, tr.149] Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XII) cũng đa chỉrõ: “Gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng
xa hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường, bảo đảm QPAN” [29, tr 27]
Vì thế, nói đến nội dung PTBV hiện nay cần đề cập đến 5 trụ cột làkinh tế, văn hóa, xa hội, QPAN và môi trường Việc bổ sung thêm trụ cột vềvăn hóa và QPAN vào nội hàm của phạm trù PTBV không làm mất đi nộidung cơ bản của phạm trù này, mà ngược lại, góp phần làm sáng rõ hơn yêucầu PTBV trong tình hình hiện nay ở Việt Nam Trong đó:
Phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi phải theo đuổi con đường phát
triển tạo ra sự tăng thu nhập thực sự, gia tăng sản xuất xa hội, xoá bỏ nghèođói, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng nhanh, ổn định, hiệu quả Mức độ bềnvững về kinh tế bị chi phối bởi tính hữu ích, chi phí đầu vào, chi phí khaithác, chế biến và nhu cầu đối với sản phẩm Để bảo đảm sự tăng trưởngkinh tế nhanh, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên với cường độ lớn hơnvẫn là phương thức mà nhiều quốc gia lựa chọn Tuy nhiên, nếu quá phụthuộc vào tài nguyên thiên nhiên thì dễ rơi vào khủng hoảng khi tài nguyên
bị cạn kiệt và có những tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo được Việckhai thác tài nguyên như vậy sẽ vượt quá sức chịu đựng của các hệ sinhthái, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường và tạo ra những nguy cơ tiềm ẩnmà con người có thể còn chưa biết đến, hoặc chưa lường hết được Vì vậy,
Trang 40đây không phải là phương thức PTBV Những vấn đề khác như vay nợ, đầu
tư kém hiệu quả, thất thoát các nguồn vốn, cũng sẽ ảnh hưởng đến mức
độ bền vững về kinh tế
Phát triển bền vững về văn hóa gắn liền với PTBV về kinh tế, xa hội,
QPAN và môi trường; đó là sự phát triển góp phần bảo đảm xây dựng nềnvăn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện -
mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóathực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xa hội, là sức mạnh nội sinhquan trọng bảo đảm sự phát triển kinh tế, xa hội, môi trường và bảo vệ vữngchắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Phát triển bền vững về xã hội gắn chặt và có quan hệ biện chứng
với PTBV về kinh tế, văn hóa, QPAN và môi trường; đó là sự phát triểnkết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với ổn định xa hội, không có xung đột,xáo trộn, rối loạn; huy động tối đa, hiệu quả các nguồn lực cho quá trìnhphát triển; bảo đảm giải quyết tốt các vấn đề về việc làm, giáo dục, y tế,công bằng về thu nhập, phúc lợi xa hội giữa các tầng lớp dân cư, giữa cácvùng lanh thổ; xây dựng, bảo vệ, phát huy những giá trị văn hóa truyềnthống, phong tục, tập quán, bản sắc dân tộc, đạo đức, luật pháp và gắn vớibảo vệ môi trường
Phát triển bền vững về QPAN có quan hệ biện chứng với PTBV về kinh tế,
văn hóa, xa hội và môi trường; đó là là sự phát triển góp phần tăng cường QPAN,bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lanh thổ của Tổ quốc;bảo vệ Ðảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xa hội chủ nghĩa; giữ vững ổn địnhchính trị, trật tự, an toàn xa hội Đồng thời, chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi
âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó vớicác mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động,bất ngờ trong mọi tình huống Trong xây dựng, củng cố QPAN phải tính đến phục
vụ phát triển kinh tế - xa hội, phát triển văn hoá và môi trường