Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động thanh toán này, mặc dù Techcombank nói chung và Techcombank chi nhánh Phú Mỹ Hưng nói riêng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đóng góp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
**********
LÊ THỊ KIM NỮ
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG TÍN DỤNG THƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KĨ THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH
PHÚ MỸ HƯNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
**********
LÊ THỊ KIM NỮ
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG TÍN DỤNG THƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KĨ THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH
PHÚ MỸ HƯNG
Ngành: Quản Trị Kinh Doanh
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TRẦN ĐỨC LUÂN
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 06/2012
Trang 3Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa kinh tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, khóa luận “Tìm Hiểu Hoạt Động Thanh Toán Quốc Tế Bằng Tín Dụng Thư tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Kĩ Thương Việt
Nam Chi Nhánh Phú Mỹ Hưng” do Lê Thị Kim Nữ, sinh viên khóa 34, ngành quản trị
kinh doanh đã bảo vệ thành công trước hội đồng ngày tháng năm 2012
Trần Đức Luân Người hướng dẫn, (Chữ ký)
Trang 4Em xin cám ơn thầy Trần Đức Luân đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho em trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Đạt được kết quả như hôm nay em xin gửi đến thầy lòng tri ân nhiệt thành của em
Tôi xin cám ơn Ban Giám Đốc, các anh chị công tác tại phòng doanh nghiệp và giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần Kĩ Thương Việt Nam Chi Nhánh Phú Mỹ Hưng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được tiếp cận những hoạt động thực tế tại Chi Nhánh Tôi xin kính chúc Chi Nhánh gặt hái nhiều thành công và ngày càng mở rộng hoạt động kinh doanh của mình hơn nữa
Tôi xin cảm ơn tất cả bạn bè, thân hữu đã động viên, chia sẽ những buồn vui trong suốt quãng đời sinh viên của tôi
Cuối cùng, tôi xin chúc toàn thể quý thầy cô trong Khoa Kinh Tế luôn dồi dào sức khỏe và gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp giáo dục và hoạt động nghiên cứu của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Kim Nữ
Trang 5NỘI DUNG TÓM TẮT
LÊ THỊ KIM NỮ Tháng 06 năm 2012 “Phân Tích Hoạt Động Thanh Toán Quốc Tế Bằng Tín Dụng Thư tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kĩ Thương Việt Nam Chi Nhánh Phú Mỹ Hưng”
LE THI KIM NU June 2012 “Analysis on International Payment Activities
by Document Credit at VietNam Technological and Commercial Joint Stock Bank, Phu My Hung Branch”
Thông qua số liệu được thu thập tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kĩ Thương Việt Nam (Techcombank) chi nhánh Phú Mỹ Hưng cùng với việc tổng quan các tài liệu nghiên cứu, khóa luận sử dụng các phương pháp quan sát thực địa, phỏng vấn những đối tượng có kinh nghiệm để so sánh và phân tích Kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình khả quan trong công tác thanh toán bằng tính dụng thư (L/C), doanh số của phương thức này tăng đều theo từng năm Tín dụng thư đóng vai trò rất quan trọng trong công tác thanh toán quốc tế tại Chi Nhánh trong những năm gần đây bởi vì những ưu điểm vượt trội của nó so với các phương thức thanh toán quốc tế khác, nhờ vào đặc tính an toàn cho cả nhà nhập khẩu và xuất khẩu Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu tại đơn vị, phương thức này vẫn còn có những hạn chế nhất định, làm rào cản cho sự phát triển, mở rộng hoạt động thanh toán của Chi Nhánh Thông qua những giải pháp được đề xuất, khóa luận mong muốn góp phần hạn chế những điểm yếu, giúp cho hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và hoạt động thanh toán tín dụng thư nói riêng của Chi Nhánh ngày càng phát triển theo cùng với nhịp phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu ngày nay
Trang 6v
MỤC LỤC
Trang Danh mục các chữ viết tắt vii
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Techcombank 6
2.2.2 Ngân hàng TMCP Techcombank Chi Nhánh Phú Mỹ Hưng 7
CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Tình hình hoạt động của Ngân hàng Techcombank Chi Nhánh Phú Mỹ Hưng 31
Trang 7vi
4.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi Nhánh 32
4.1.3 Các hoạt động TTQT tại Techcombank Chi Nhánh Phú Mỹ Hưng 33
4.2 Qui trình tổ chức thực hiện phương thức tín dụng thư tại Chi Nhánh 37
4.2.2 Qui trình thanh toán L/C xuất khẩu 43 4.2.3 Tình hình hoạt động thanh toán L/C nhập và L/C xuất khẩu 47
4.3 Đánh giá hoạt động TTQT bằng phương thức tín dụng thư tại Chi Nhánh 51
4.3.4 Ưu điểm và nhược điểm của các phương thức TTQT tại Chi nhánh 57
4.4 Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển hoạt động TTQT bằng phương thức tín
dụng thư tại NH TMCP Techcombank chi nhánh Phú Mỹ Hưng 60
4.4.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh của Chi Nhánh 60
4.4.2 Giải pháp mở rộng hoạt động TTQT bằng phương thức tín dụng thư 61
5.2.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 71
Trang 8KSV : Kiểm soát viên
L/C : Tín dung thư (Letter of Credit)
NHNN : Ngân hàng Nhà Nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NK : Nhập khẩu
TMCP : Thương mại cổ phần
TTQT : Thanh toán quốc tế
TTTT : Trung tâm thanh toán
XK : Xuất khẩu
XNK : Xuất nhập khẩu
Trang 9viii
DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 4.1: Doanh Số TTQT của Chi Nhánh Giai Đoạn 2009- 2011 34
Bảng 4.2: Tỷ Trọng Các Phương Thức TTQT tại Chi Nhánh 35
Bảng 4.3: Sơ Đồ Qui Trình Thanh Toán L/C NK 38
Bảng 4.4: Sơ Đồ Qui Trình Thanh Toán L/C XK 43
Bảng 4.5: Doanh Số L/C Nhập và L/C Xuất 47
Bảng 4.5: Số Lượng Các Loại L/C trong Nhập Khẩu và Xuất Khẩu 48
Trang 10ix
DANH MỤC HÌNH
Trang Hình 3.1: Sơ Đồ Quy Trình Thanh Toán Bằng Chuyển Tiền 10
Hình 3.2: Sơ Đồ Quy Trình Nhờ Thu Phiếu Trơn 13
Hình 3.3: Sơ Đồ Quy Trình Nghiệp Vụ Nhờ Thu Kèm Chứng Từ 14
Hình 3.4: Sơ Đồ Quy Trình Nghiệp Vụ Giao Chứng Từ Trả Tiền 16 Hình 3.5: Sơ Đồ Quy Trình Nghiệp Vụ Tín Dụng Thư 25
Hình 4.1: Biểu Đồ Tăng Trưởng Doanh Số TTQT của Chi Nhánh 2009 – 2011 35
Hình 4.2: Biểu Đồ Tỷ Trọng Các Phương Thức TTQT tại Chi Nhánh Năm 2009 36
Hình 4.3: Biểu Đồ Tỷ Trọng Các Phương Thức TTQT tại Chi Nhánh Năm 2010 36
Hình 4.4: Biểu đồ Tỷ Trọng Các Phương Thức TTQT tại Chi Nhánh Năm 2011 36
Hình 4.4: Biểu Đồ Doanh Số Thanh Toán L/C Nhập và Xuất Khẩu 47
Trang 11
x
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Cơ cấu tổ chức Ngân hàng TMCP Techcombank Chi Nhánh Phú Mỹ Hưng Phụ lục 2: Các văn bản pháp lý trong phương thức tín dụng thư
Phụ lục 3: Các mẫu biểu L/C xuất khẩu
Phụ lục 4: Các mẫu biểu L/C nhập khẩu
Trang 12so với các phương thức thanh toán khác, phương thức thanh toán tín dụng thư còn là một hình thức tài trợ thương mại cho các doanh nghiệp cũng như các đơn vị kinh tế tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động thanh toán này, mặc dù Techcombank nói chung và Techcombank chi nhánh Phú Mỹ Hưng nói riêng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đóng góp hiệu quả kinh doanh vào hoạt động kinh doanh đối ngoại của ngân hàng, song do qui mô hoạt động của Chi Nhánh vẫn còn nhỏ, phương thức thanh toán tín dụng thư hiện nay còn ít về số lượng và hạn chế về chất lượng Một mặt, bản thân Chi Nhánh chưa đáp ứng được yêu cầu có tính phức tạp của nghiệp vụ, do các thanh toán viên chưa nắm vững và vận dụng thành thạo các tác nghiệp Mặt khác, về phía khách hàng các doanh nghiệp cũng chưa hiểu biết thấu đáo
về phương thức thanh toán này Dưới góc độ quản lí vĩ mô, còn có nhiều chính sách liên quan đến cơ chế chính sách của nhà nước Do đó hiệu quả phương thức thanh toán này đã bị hạn chế rất nhiều, hơn nữa lại chịu sự cạnh tranh gay gắt từ phía các ngân
Trang 132
hàng trong nước và các ngân hàng nước ngoài Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ Globus trong toàn bộ hệ thống của Techcombank đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển hoạt động TTQT nhằm khai thác có hiệu quả hệ thống này Ngoài ra, việc không ngừng nâng cao chất lượng, đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ chính là lợi thế cạnh tranh mà không chỉ Chi Nhánh nói riêng và hệ thống các ngân hàng thương mại khác cũng đang nhận ra và thực hiện
Chính vì vậy, việc tìm ra những giải pháp phát triển hoạt động TTQT bằng phương thức tín dụng thư của Chi Nhánh là hết sức cần thiết, nó không những góp phần phát triển hoạt động TTQT bằng phương thức này tại Chi Nhánh cũng như tại hội sở Techcombank và các hệ thống ngân hàng thương mại mà còn thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta phát triển Trên cơ sở những lí do trên tôi đã lựa chọn đề tài “Phân tích hoạt động thanh toán quốc tế bằng tín dụng thư tại ngân hàng thương mại cổ phần Kĩ Thương chi nhánh Phú Mỹ Hưng”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu các hình thức TTQT của Techcombank chi nhánh Phú Mỹ Hưng
- Phân tích hoạt động TTQT bằng phương thức tín dụng thư tại Techcombank chi nhánh Phú Mỹ Hưng
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển hoạt động TTQT bằng phương thức tín dụng thư tại Techcombank chi nhánh Phú Mỹ Hưng
1.3 Đối tượng và phạm nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: hoạt động TTQT và thanh toán bằng phương thức tín dụng thư tại ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Chi Nhánh Phú Mỹ Hưng
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ ngày 01 tháng 02 năm 2012 đến ngày 30 tháng 3 năm 2012
1.4 Tầm quan trọng của đề tài
Luận văn dựa trên tình hình hoạt động TTQT bằng phương thức tín dụng thư của ngân hàng Techcombank chi nhánh Phú Mỹ Hưng, đưa ra những vấn đề còn tồn tại, những hạn chế Từ đó có các ý kiến đề xuất phù hợp với thực tế của Chi Nhánh
Qua việc nghiên cứu về phương thức thanh toán tín dụng thư tại Chi nhánh, tôi mong muốn những suy nghĩ và đề xuất của mình được sự quan tâm của Chi Nhánh nhằm
Trang 14và thời gian cùng với cấu trúc luận văn
Chương 2: Tổng quan
Tổng quan tài liệu nghiên cứu và giới thiệu bức tranh chung về tổ chức cũng như hoạt động của ngân hàng Techcombank Chi Nhánh Phú Mỹ Hưng
Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Đưa ra những khái niệm cơ bản của các phương tiện TTQT bao gồm phương thức nhờ thu, chuyển tiền, mở tài khoản (ghi sổ), giao chứng từ trả tiền, tín dụng thư, giúp người đọc có thể đọc hiểu, phân biệt và biết cách sử dụng các phương tiện thanh toán này trong từng trường hợp cụ thể, đặt biệt là đối với phương thức tín dụng thư, nội dung cũng như các hình thức và các nhân tố ảnh hưởng đến phương thức này
Xác định các phương pháp được sử dụng trong khóa luận nhằm giải quyết các mục tiêu đã đặt ra trong chương đầu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Thống kê kết quả kinh doanh hoạt động TTQT của ngân hàng TMCP Kỹ thương Chi Nhánh Phú Mỹ Hưng trong giai đoạn 2009-2011
Dựa vào những số liệu được thu thập, khóa luận tìm hiểu và phân tích thực trạng hoạt động TTQT bằng phương thức tín dụng thư của Chi Nhánh Sử dụng phương pháp
so sánh lợi thế của từng phương thức, đồng thời đưa ra nhận xét, đánh giá những ưu và nhược điểm trong phương thức thanh toán này của Chi Nhánh nhằm phát huy những điểm mạnh và tìm hướng giải quyết cũng như cải thiện những điểm còn yếu kém
Trang 154
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết những kết quả đã nghiên cứu được từ tình hình thực tế của Chi Nhánh
Từ đó, kiến nghị và đề xuất ý kiến nhằm thúc đẩy tình hình hoạt động về phương thức tín dụng thư cũng như toàn bộ hoạt động kinh doanh của Chi Nhánh
Trang 165
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trước năm 1990, thanh toán XNK với các nước xã hội chủ nghĩa chủ yếu là theo phương thức ghi sổ và thanh toán đa biên qua NH hợp tác kinh tế quốc tế (MBES) Moscow, còn hình thức thanh toán tín dụng thư là không đáng kể Bước sang kinh tế thị trường từ năm 1990 các phương thức thanh toán kiểu này không còn tồn tại, phương thức thanh toán không còn bó hẹp trong phạm vi hàng đổi hàng (Barter) mà đã
có nhiều phương thức thanh toán hiện đại khác cho các bên lựa chọn, thỏa thuận Việc
áp dụng và lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp XNK Có nhiều yếu tố quyết định đến việc lựa chọn phương thức thanh toán: uy tín, mức độ tin tưởng giữa người bán với người mua, đặc điểm hàng hóa, mức phí giao dịch của NH Khoảng thời gian sau đó, đã có sự thay đổi về việc lựa chọn các phương thức TTQT tại Việt Nam, tỷ trọng sử dụng phương thức thanh toán nhờ thu và chuyển tiền đang có xu hướng tăng trong khi tỷ trọng sử dụng phương thức L/C vẫn thấp, điều này cho thấy những phương thức thanh toán đơn giản được các doanh nghiệp Việt Nam ưu tiên sử dụng hơn
Tuy nhiên, phương thức thanh toán nhờ thu và chuyển tiền chỉ sử dụng khi các bên tin tưởng lẫn nhau và đã có mối quan hệ làm ăn lâu dài Do đó, tỷ trọng có xu hướng thấp dần qua các năm sau này, phương thức L/C được các NHTM Việt Nam sử dụng nhiều hơn so với các phương thức TTQT khác Trên thực tế, tín dụng thư bắt đầu phát triển từ thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) Các nhà xuất khẩu
ở Bắc Mỹ, do khoảng cách địa lý xa xôi, đã yêu cầu đối tác ở châu Âu mở thư tín dụng
để bảo đảm khả năng thanh toán Khoảng 11-15% giao dịch thương mại quốc tế sử dụng phương thức tín dụng thư, với tổng trị giá hàng năm là một nghìn tỷ đô la Mỹ
Trang 176
Phương thức thanh toán tín dụng thư là hình thức thanh toán linh hoạt, bảo đảm tính an toàn cho các giao dịch thương mại quốc tế Tín dụng thư được nhiều công ty,
NH ưu tiên lựa chọn vì nó đáp ứng được những yêu cầu chủ yếu của thương mại quốc
tế Thứ nhất, do các đối tác ký kết hợp đồng thường có trụ sở ở những quốc gia khác nhau nên giữa các bên vẫn tồn tại sự thiếu tin tưởng lẫn nhau, phương thức tín dụng thư giúp loại bỏ rào cản đó Thứ hai, trong giao dịch tín dụng thư, luôn có sự hiện diện của các NH đại diện của hai bên đối tác, cùng với những yêu cầu khắt khe về bộ chứng
từ, những yếu tố đó sẽ dung hòa lợi ích đối nghịch giữa các bên trong hợp đồng
2.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Techcombank
a Lịch sử hình thành
NH TMCP Kỹ Thương Việt Nam hay còn được gọi là Techcombank là một trong
số những NH TMCP lớn ở Việt Nam Được thành lập ngày 27/9/1993 tại Hà Nộị với số vốn ban đầu là 20 tỷ đồng, trụ sở chính ban đầu đặt tại 24 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm,
Hà Nội Trải qua gần 20 năm hoạt động, đến nay Techcombank đã trở thành một trong những NH TMCP hàng đầu Việt Nam với tổng tài sản đạt trên 183.000 tỷ đồng (tính đến hết tháng 9/2011)
Techcombank có cổ đông chiến lược là NH HSBC với 20% cổ phần Với mạng lưới gần 300 Chi Nhánh, phòng giao dịch trên 44 tỉnh và thành phố trong cả nước, dự kiến đến cuối năm 2012, Techcombank sẽ tiếp tục mở rộng, nâng cao tổng số Chi Nhánh
và phòng giao dịch lên trên 300 điểm trên toàn quốc Techcombank còn là NH đầu tiên
và duy nhất được Financial Insights tặng danh hiệu NH dẫn đầu về giải pháp và ứng dụng công nghệ Hiện tại, với đội ngũ nhân viên lên đến 7.300 người, Techcombank luôn sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu về dịch vụ dành cho khách hàng Techcombank hiện phục
vụ trên 2 triệu khách hàng cá nhân, gần 60.000 khách hàng doanh nghiệp
b Các cột mốc lịch sử
Năm1993: Thành lập dưới hình thức là một NH TMCP theo giấy phép thành lập
và hoạt động 0040/NH-GP do NHNN cấp ngày 6 tháng 8 năm 1993
Năm 1995: Khai trương Chi Nhánh Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm 1997: Tăng vốn điều lệ lên 70 tỷ VND
Trang 187
Năm 1999: Tăng vốn điều lệ lên 80,02 tỷ VND
Năm 2000: Tăng vốn điều lệ lên 102,34 tỷ VND
Năm 2003: Triển khai thành công phần mềm Globus trên toàn hệ thống Tăng vốn điều lệ lên 180 tỷ VND và bắt đầu phát hành thẻ F@st Access, thẻ ghi nợ đầu tiên của Techcombank
Năm 2004: Khai trương biểu trưng mới của Techcombank Tăng vốn điều lệ lên
412 tỷ VND Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000: 20000 được chứng nhân bởi BVQI, là một trong số ít NH áp dụng hệ thống này để nâng cao chất lượng hoạt động
Năm 2005: Tăng vốn điều lệ lên 617 tỷ đồng Nâng cấp hệ thống phần mềm Globus sang phiên bản mới nhất Temenos T2405 Kí kết hợp đồng cổ đông chiến lược với HSBC để HSBC trở thành cổ đông nắm giữ 10% vốn điều lệ của Techcombank Năm 2006: Ra mắt thẻ TTQT Techcombank Visa Tiếp tục phát triển thêm các hệ thống Chi Nhánh với việc giới thiệu hệ thống quản lý thẻ và chuyển đổi thẻ mới sử dụng công nghệ Compass Plus
Năm 2007: Đạt được thỏa thuận với HSBC để tăng tỷ lệ sở hữu cổ phần của HSBC tại Techcombank từ 10% lên 15% Nâng cấp hệ thống NH lên phiên bản T24R06 Năm 2008: Ra mắt thẻ tín dụng Techcombank Visa Credit Nâng cấp hệ thống phần mềm NH lên phiên bản T24R07, kết nối hệ thống ATM với hệ thống của đối tác chiến lược HSBC, triển khai số dịch vụ khách hàng miễn phí Tăng vốn điều lệ lên 3.642
tỷ VND Tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu của đối tác chiến lược HSBC từ 15% lên 20%
Năm 2009: Tăng vốn điều lệ lên 5.400,42 tỷ VND
Năm 2010: Tăng vốn điều lệ lên 6.932 tỷ VND
Năm 2011: Được tạp chí Alpha Southest Asia trao tặng danh hiệu NH tài trợ thương mại tốt nhất năm 2011 tại Việt Nam Tăng vốn điều lệ lên mức 8.788 tỷ VND
2.2.2 NH TMCP Techcombank Chi Nhánh Phú Mỹ Hưng
NH TMCP Techcombank Chi Nhánh Phú Mỹ Hưng được thành lập ngày 26/11/2009 tại tòa nhà Capital Tower số 06 Nguyễn Khắc Viện, Phường Tân Phú, Quận
7, TP HCM thay cho địa chỉ cũ tại số 15 Nguyễn Văn Linh, Phường Tân Phong, Quận
7, TP HCM, với đội ngũ nhân viên lên đến 112 nhân viên
Trang 19Cũng kể từ thời điểm trên, trụ sở cũ của Techcombank Chi Nhánh Phú Mỹ Hưng tại số 15 Nguyễn Văn Linh, Phường Tân Phong, Q7, TP HCM vẫn duy trì hoạt động và trở thành Phòng giao dịch Nguyễn Văn Linh trực thuộc Chi Nhánh Phú Mỹ Hưng
Bộ máy tổ chức điều hành của Chi Nhánh bao gồm: điều hành quản lý Chi Nhánh là Giám đốc và các Phó giám đốc, dưới ban giám đốc là các phòng ban thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh Hiện tại, Chi Nhánh có 5 phòng bao gồm: Phòng tiếp thị khách hàng; Phòng tư vấn và giải pháp tài chính; Phòng đầu tư tài chính cá nhân; Phòng dịch vụ khách hàng; Phòng hỗ trợ và quản lý tín dụng hoạt động thành một khối thống nhất
Trang 209
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lý luận
3.1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế
Với sự phát triển của thương mại, nhu cầu trao đổi không chỉ dừng lại ở một hoạt động mua bán ở một số nước mà đã lan rộng ra khắp các nước các khu vực trên toàn thế giới Vì vậy, một nghiệp vụ mới ra đời đáp ứng được đòi hỏi đó Đó là nghiệp vụ TTQT TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và hưởng quyền lợi về tiền tệ phát sinh trên
cơ sở các hoạt động mậu dịch và phi mậu dịch giữa các tổ chức cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế… thông qua quan
hệ giữa các NH của các nước liên quan Như vậy, TTQT phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế Tuy nhiên, trong thực tế, giữa hai lĩnh vực hoạt động này thường giao thoa với nhau, không có một ranh giới rõ rệt Hơn nữa, do hoạt động TTQT được hình thành trên cơ sở hoạt động ngoại thương và phục vụ chủ yếu cho hoạt động ngoại thương, chính vì vậy trong qui chế về thanh toán tại các ngân hàng, người ta thường phân hoạt động TTQT thành hai lĩnh vực rõ ràng là thanh toán trong ngoại thương (thanh toán mậu dịch) và thanh toán phi ngoại thương (thanh toán phi mậu dịch)
Về cơ bản, TTQT phát sinh trên cơ sở hoạt động thương mại quốc tế, là khâu cuối cùng của quá trình mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các tổ chức và cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau Trong thương mại quốc tế, không phải lúc nào các nhà NK cũng
có thể thanh toán tiền hàng trực tiếp cho nhau, mà phải thông qua NH với mạng lưới chi nhánh và hệ thống NH đại lý rộng khắp toàn cầu Thay mặt khách hàng thực hiện dịch vụ TTQT, các NH trở thành cầu nối trung gian thanh toán giữa bên mua và bên bán Ngày nay, hoạt động thương mại quốc tế luôn cần đến sự tham gia, hỗ trợ về kỹ thuật nghiệp
vụ và tài chính của NH NH cung cấp các phương án lựa chọn phương thức TTQT, tài trợ
Trang 2110
XNK, đảm bảo an toàn quyền lợi của cả hai bên mua bán, thông qua đó thúc đẩy ngoại thương phát triển và mở rộng các quan hệ với các quốc gia trên thế giới
3.1.2 Các phương thức TTQT
a Phương thức chuyển tiền (Remittance)
Chuyển tiền là phương thức TTQT, trong đó một khách hàng của NH (người có yêu cầu chuyển tiền) yêu cầu NH của mình chuyển một số tiền nhất định cho người khác (người thụ hưởng) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu Phương thức thanh toán chuyển tiền có thể được thực hiện bằng hai hình thức chủ yếu sau:
- Chuyển tiền bằng thư (Mail transfer, M/T): là hình thức chuyển tiền trong đó lệnh thanh toán của NH chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức thư mà NH này gửi cho NHthanh toán qua bưu điện
- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic transfer - T/T): là hình thức trong đó lệnh thanh toán của NH chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức điện mà NH này gửi cho NH thanh toán qua fax, telex hoặc thông qua mạng liên lạc viễn thông SWIFT
Hình 3.1: Sơ Đồ Quy Trình Thanh Toán Bằng Chuyển Tiền
Nguồn: Đinh Xuân Trình (2006), Giáo trình TTQT Chú thích
(1) Người XK thực hiện giao hàng theo hợp đồng, lập BCT hàng hoá gửi cho người NK để đi nhận hàng
(2) Người NK sau khi nhận hàng, kiểm tra hàng hoá và BCT hàng hoá, nếu thấy phù hợp với các điều khoản trong hợp đồng đã ký kết, lập giấy đề nghị chuyển tiền gửi đến NH phục vụ mình
(1)
Trang 2211
(3) Sau khi kiểm tra chứng từ và các điều kiện chuyển tiền theo quy định, nếu thấy hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, NH thực hiện trích tài khoản để chuyển tiền và gửi giấy báo nợ cho nhà NK
(4) NH chuyển tiền lập lệnh chuyển tiền gửi qua NH đại lý hoặc chi nhánh của mình đến NH trả tiền
(5) NH trả tiền thực hiện ghi có vào tài khoản của người hưởng lợi đồng thời gửi báo có cho người hưởng lợi
Nhược điểm
Trong thanh toán chuyển tiền, chu chuyển hàng hoá dịch vụ có thể tách rời khỏi chu chuyển tài chính trong thời gian tạo nên rủi ro cho cả hai bên (người chuyển tiền và người thụ hưởng) Khi chuyển tiền trước (down payment), nhà NK lo sợ mất tiền nếu nhà
XK không giao hàng hay giao hàng không đúng yêu cầu về số lượng, chủng loại, chất lượng và thời gian làm vỡ kế hoạch sản xuất kinh doanh của nhà NK Ngược lại, trong trường hợp trả tiền sau nhà XK hoàn toàn bị lệ thuộc vào thiện chí và uy tín thanh toán của nhà NK
Có khi rủi ro lại hoàn toàn khách quan như biến cố chính trị, xã hội, kinh tế hay một tai nạn bất ngờ khiến cho một bên kết ước bất đắc dĩ bội tín làm ảnh hưởng đến đối tác làm ăn
Do việc thanh toán chủ yếu được thực hiện bằng điện nên thời gian thanh toán nhanh, nếu phát hiện ra sai sót (có thể từ phía người chuyển hoặc NH chuyển) sau khi đã chuyển tiền thì sẽ khó khăn trong việc thông báo, điều chỉnh nhất là khi người thụ hưởng
đã nhận tiền
NH chỉ giữ vai trò trung gian thanh toán quá thụ động, chờ khách hàng ra lệnh rồi mới thực hiện
Trang 2312
Chính vì vậy, người ta thường sử dụng phương thức chuyển tiền để thanh toán các khoản chi tiêu phi thương mại và các chi phí liên quan đến XNK hàng hóa trị giá hợp đồng nhỏ; Chuyển vốn ra bên ngoài để đầu tư; Chuyển tiền kiều hối; Thanh toán hàng hoá XNK (khi hai bên mua bán có quan hệ lâu đời và tín nhiệm lẫn nhau hoặc khi trị giá hợp đồng không lớn) vì khâu thanh toán này dễ làm nảy sinh việc chiếm dụng vốn của người bán, nếu bên mua cố tình dây dưa, kéo dài việc thanh toán
b Phương thức thanh toán mở tài khoản (phương thức ghi sổ)
Ghi sổ là phương thức thanh toán trong đó nhà XK mở một tài khoản ghi nợ những khoản tiền hàng hóa và dịch vụ mà họ cung cấp cho nhà NK, nhà NK định kỳ thanh toán số tiền phát sinh trên tài khoản bằng chuyển tiền hay bằng séc
Các bên tham gia: Tham gia phương thức này ban đầu chỉ có nhà NK và nhà
XK Các NH không tham gia với chức năng là người mở tài khoản và thanh toán Chỉ đến định kỳ thanh toán theo thỏa thuận nhà NK mới thông quan NH của mình để thanh
toán tiền ghi nợ phát sinh cho nhà XK Trong nghiệp vụ thanh toán ghi sổ chỉ có nhà XK
mở tài khoản (mở sổ) ghi chéo các khoản tiền hàng
Trình tự thực hiện
(1) Nhà XK giao hàng và gửi chứng từ cho nhà NK nhận hàng
(2) Nhà XK ghi nợ vào tài khoản và báo nợ trực tiếp cho nhà NK
(3) Định kì thanh toán (tháng, quí hoặc nửa năm) nhà NK chuyển tiền qua NHthanh toán cho nhà XK hoặc thanh toán bằng séc
Phương thức thanh toán ghi sổ có lợi cho nhà NK, được áp dụng khi nhà XK muốn cấp tín dụng cho nhà NK (bán hàng trả chậm) và thường được sử dụng trong các trường hợp sau:
- Hai bên có quan hệ mua bán thường xuyên với số lượng lớn và có sự tin cậy lẫn nhau
- Nhà XK gửi hàng cho nhà NK/ đại lý phân phối ở nước ngoài bán
- Thanh toán phí dịch vụ như cước vận tải, bảo hiểm, bưu điện, tiền hoa hồng ủy thác
c Phương thức nhờ thu (Collections)
Nhờ thu là một phương thức thanh toán, trong đó người bán (nhà XK) sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng, uỷ thác cho
Trang 24- Nhờ thu phiếu trơn (Clean collections): Là phương thức thanh toán, trong đó
chứng từ nhờ thu chỉ bao gồm chứng từ tài chính (hối phiếu, kỳ phiếu, séc, giấy nhận nợ hay công cụ thanh toán khác), còn các chứng từ thương mại (chứng từ vận tải, hoá đơn, bảo hiểm ) được gửi trực tiếp cho người NK, không thông qua NH
Hình 3.2: Sơ Đồ Quy Trình Nhờ Thu Phiếu Trơn
Nguồn: Đinh Xuân Trình (2006), Giáo trình TTQT Chú thích
( 0) Ký kết hợp đồng mua bán, trong đó điều khoản thanh toán quy định áp dụng phương thức “Nhờ thu phiếu trơn”
(1) Người XK giao hàng cho người NK theo quy định của hợp đồng
(2) Người XK lập đơn yêu cầu nhờ thu gửi cùng chứng từ tài chính tới NH phục
Người uỷ thác
(Pricipal)
Người trả tiền (Drawee)
(3) (6)
(5) (4) (2)
(1)(0)(7)
Trang 25(3) (7)
(4) (5)
(6)
(1)(0)
(8) (2)
(6) NH thu hộ chuyển giá trị nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận, hoặc kỳ phiếu hay giấy nhận nợ cho NH nhận nhờ thu
(7) NH gửi nhờ thu chuyển trả giá trị nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận, hoặc
kỳ phiếu hay giấy nhận nợ cho người XK
- Nhờ thu kèm chứng từ: Là phương thức thanh toán, trong đó chứng từ gửi đi
nhờ thu bao gồm: (i) hoặc chứng từ thương mại cùng với chứng từ tài chính, hoặc (ii) chỉ chứng từ thương mại mà không có chứng từ tài chính gửi cùng NH thu hộ chỉ trao BCT cho người NK sau khi người này đáp ứng được yêu cầu của lệnh nhờ thu
Hình 3.3: Sơ Đồ Quy Trình Nghiệp Vụ Nhờ Thu Kèm Chứng Từ
Nguồn: Đinh Xuân Trình (2006), Giáo trình TTQT Chú thích
(0) Ký kết hợp đồng mua bán, trong đó điều khoản thanh toán quy định áp dụng phương thức “Nhờ thu kèm chứng từ”
(1) Người XK giao hàng cho người NK theo quy định của hợp đồng
(2) Người XK lập đơn yêu cầu nhờ thu gửi cùng BCT (bao gồm chứng từ thương mại cùng chứng từ tài chính nếu có) tới NH phục vụ mình
(3) NH gửi nhờ thu lập Lệnh nhờ thu và gửi cùng BCT thanh toán đến NH thu hộ
(4) NH thu hộ thông báo Lệnh nhờ thu và xuất trình BCT cho người NK
(5) Người NK lập lệnh thanh toán gửi đến NH thu hộ hoặc gửi hối phiếu chấp nhận thanh toán đến NH thu hộ
Trang 2615
(6) NH thu hộ trao BCT hàng hoá để người NK đi nhận hàng
(7) NH thu hộ chuyển giá trị nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận, hoặc kỳ phiếu hay giấy nhận nợ cho NH nhận nhờ thu
(8) NH gửi nhờ thu chuyển trả giá trị nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận, hoặc kỳ phiếu hay giấy nhận nợ cho người XK
Ưu điểm đối với các bên
- Đối với nhà XK
Nhà XK chắc chắn rằng BCT chỉ được trao cho nhà NK sau khi người này
đã thanh toán hay chấp nhận thanh toán
Nhà XK có quyền đưa nhà NK ra toà nếu người này không trả tiền hối phiếu
đã chấp nhận khi đến hạn thanh toán
Có thể chỉ định người đại diện ở nước nhà NK thay mặt mình để giải quyết trường hợp nhà NK không thanh toán hoặc không chấp nhận thanh toán Thẩm quyền của người đại diện phải được xác định rõ ràng
- Đối với NH nhờ thu và NH xuất trình
Có thu nhập từ phí nhờ thu, từ các giao dịch mua bán ngoại tệ và từ các giao dịch khác có liên quan
Mở rộng được tín dụng tài trợ thương mại
Tăng cường được mối quan hệ với NH đại lý, do đó tạo ra tiềm năng về các giao dịch đối ứng
d Phương thức giao chứng từ trả tiền (CAD: Cash against documents)
CAD là phương thức thanh toán theo đó người NK yêu cầu NH mở một tài khoản để thanh toán tiền hàng cho người XK khi người này hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và xuất trình đầy đủ chứng từ được yêu cầu
Trang 27(1) Người bán, người XK gửi hàng đi cho người mua – người NK
(2) Người bán nộp bộ hồ sơ chứng từ vào NH của mình nhờ chuyển BCT đến
NH bên NK
(3) NH phục vụ nhà XK gửi BCT đến NH của người NK
(4) NH phục vụ người NK kiểm tra BCT, nếu BCT hoàn toàn phù hợp với thư
ủy thác của người NK thì tiến hành trả tiền ngay bằng cách ghi nợ tài khoản tiền gửi của người NK để chuyển trả cho người XK
(5) NH bên NK gửi giấy báo nợ kèm theo BCT hàng hóa cho người NK
(6) NH bên XK ghi có vào tài khoản của người XK sau khi nhận được tiền từ
NH bên NK và gửi giấy báo có cho người XK để kết thúc qui trình thanh toán
Phương thức này được tiến hành rất đơn giản, rất thuận tiện cho nhà XK vì thu được tiền nhanh chóng và được áp dụng khá phổ biến ở Việt Nam trong những năm gần đây, trong những trường hợp sau:
- Người XK bán những mặt hàng khan hiếm hoặc dễ tiêu thụ, có nhu cầu cao trên thị trường
- Người NK có đại diện ở nước nhà XK để giám sát quá trình giao hàng
- Người NK và người XK có quan hệ tốt với nhau
Người mua Nhà nhập khẩu
Ngân hàng bên xuất
(2)
(3) Hợp đồng thương mại
Trang 2817
e Phương thức tín dụng thư
Đây là phương thức thanh toán quan trọng và chủ yếu tại các NH hiện nay Tín dụng thư được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như: Letter of Credit, Credit, Document Credit Ở Việt Nam phương thức này ngoài tên tín dụng thư còn có tên khác như L/C, tín dụng thư… Trước đây, tín dụng thư còn được gọi là tín dụng thương mại nhưng nay thông dụng nhất vẫn là “Tín dụng thư” vì nó thể hiện đúng nhất ý nghĩa tín dụng kèm thư
3.1.3 Phương thức thanh toán tín dụng thư
a Khái niệm
Phương thức tín dụng thư là một sự cam kết thanh toán có điều kiện bằng văn bản của NH, trong đó một NH (NH mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả tiền cho người hưởng lợi hay chấp nhận, mua hối phiếu do người hưởng lợi phát hành hoặc cho phép một NH khác trả tiền, chấp nhận, hay mua hối phiếu đó khi mọi điều kiện đặt ra trong thư tín dụng đều được thực hiện đầy đủ
Phương thức tín dụng thư có đặc trưng là NH và các bên liên quan chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ mà không dựa trên hàng hoá hoặc dịch vụ, nghĩa là NH thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán là hoàn toàn dựa vào việc kiểm tra BCT chứ không phải là trực tiếp kiểm tra hiện trạng hàng hoá
Phương thức tín dụng thư được điều chỉnh bởi “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng thư”, số xuất bản 600 – TTQT của phòng thương mại quốc tế ICC Bản quy tắc này mang tính chất pháp lý tuỳ ý, hoàn toàn do các chuyên gia thuộc khu vực tư nhân soạn thảo, ra đời nhằm làm giảm sự bất đồng giữa các bên thuộc các quốc gia khác nhau trong thương mại quốc tế Điều đó có nghĩa là quy tắc này áp dụng cho bất kỳ tín dụng thư nào có nội dung chỉ ra một cách rõ ràng nó phụ thuộc quy tắc này
Trong phương thức tín dụng thư, thư tín dụng (L/C – Letter of credit) được coi
là một phương tiện thanh toán, một văn bản pháp lý quan trọng trong phương thức thanh toán tín dụng thư Đó là bức thư do một NH lập ra trên cơ sở yêu cầu của khách hàng là người NK, trong đó thể hiện cam kết thanh toán của NH cho người XK nếu họ xuất trình được BCT thanh toán phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C
Trang 2918
Thư tín dụng được lập ra trên cơ sở hợp đồng ngoại thương, tuy nhiên khi L/C
đã được mở thì nó lại hoàn toàn độc lập với các hợp đồng đó Đó là vì khi thanh toán,
NH chỉ căn cứ vào các chứng từ được quy định trong L/C chứ không căn cứ vào hợp đồng Điều 4 của TTQT ghi: “Về bản chất, tín dụng là một giao dịch riêng biệt với hợp đồng mua bán hoặc các hợp đồng khác mà có thể là cơ sở của tín dụng Các NH không liên quan đến hoặc bị ràng buộc bởi các hợp đồng như thế, ngay cả khi tín dụng có dẫn chiếu đến các hợp đồng đó”
Phương thức tín dụng thư đảm bảo quyền lợi cho cả bên mua và bên bán vì trong phương thức này, NH không chỉ là trung gian thu hộ, trả hộ mà còn là chủ thể đứng ra bảo đảm cho bên XK nhận được số tiền tương ứng với hàng hoá mà họ cung cấp Đồng thời, bảo đảm cho bên NK nhận được hàng hoá tương ứng với số tiền mà họ phải chi trả
b Nội dung của thư tín dụng
Số hiệu của L/C: mỗi L/C đều có số hiệu riêng nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho việc trao đổi thông tin giữa các bên liên quan trong quá trình giao dịch Số hiệu
này cũng được ghi vào các chứng từ liên quan trong BCT thanh toán
Địa điểm và ngày mở L/C: địa điểm mở L/C là nơi NH phát hành L/C viết
cam kết cho người XK Địa điểm này rất quan trọng vì nó liên quan đến việc tham
chiếu luật lệ áp dụng để giải quyết những bất đồng, tranh chấp xảy ra Ngày mở L/C là
ngày bắt đầu phát sinh cam kết của NH mở L/C với người XK, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C, và cũng là căn cứ để người XK kiểm tra xem người NK có thực hiện việc mở thư tín dụng đúng thời hạn mà hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng
không
Loại thư tín dụng: mỗi loại thư tín dụng có tính chất, nội dung khác nhau, quy
định quyền lợi, nghĩa vụ của các bên liên quan tới L/C khác nhau Vì vậy khi mở L/C,
người yêu cầu mở phải xác định rõ loại L/C cần mở
Tên, địa chỉ của những người có liên quan: các thương nhân bao gồm người
NK, người yêu cầu mở L/C, người XK, người hưởng lợi L/C Các NH tham gia trong
phương thức tín dụng thư bao gồm NH mở L/C, NH thông báo, NH trả tiền, NH xác
nhận và các NH khác (nếu có)
Trang 3019
Số tiền của thư tín dụng: số tiền trên thư tín dụng phải được ghi vừa bằng số,
vừa bằng chữ và phải thống nhất với nhau Tên đơn vị tiền tệ phải được ghi cụ thể, chính xác Trong thư tín dụng không nên ghi số tiền dưới dạng một số tuyệt đối vì như vậy có thể gây khó khăn cho việc giao hàng và nhận tiền của bên bán Do đó, nên ghi
số tiền theo một giới hạn mà người XK có thể đạt được
Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng: đây là thời hạn mà NH mở L/C cam kết
trả tiền cho người XK, nếu người này xuất trình được BCT thanh toán trong thời hạn
đó và phù hợp với những điều quy định trong thư tín dụng Thời hạn hiệu lực của L/C được tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực của L/C Việc xác định thời hạn này
phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một khoảng thời gian hợp lý, được tính tối thiểu bằng tổng số ngày cần có để thông báo L/C, số ngày lưu L/C ở NH thông
báo, số ngày chuẩn bị hàng để giao cho người NK
- Ngày hết hiệu lực của L/C phải sau ngày giao hàng một khoảng thời gian hợp
lý, bao gồm số ngày cần thiết để nhà XK lập BCT và chuyển tới NH thông báo, số ngày NH thông báo kiểm tra chứng từ và số ngày chuyển chứng từ tới NH phát hành
Thời hạn trả tiền của L/C: thời hạn trả tiền được quy định trong L/C là thời
hạn trả tiền ngay hay trả tiền về sau và điều này hoàn toàn tùy thuộc vào quy định của hợp đồng thương mại giữa các bên Nếu là trả tiền ngay thì thời hạn trả tiền phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C Nếu là trả chậm thì thời hạn trả tiền có thể nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C Tuy nhiên, hối phiếu có kỳ hạn phải được xuất trình để chấp
nhận trong thời hạn hiệu lực của L/C
Thời hạn giao hàng: thời hạn giao hàng được ghi trong thư tín dụng cũng do
hợp đồng thương mại quy định Đó là thời hạn quy định bên XK phải chuyển giao
xong hàng hoá cho bên NK kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực
Những nội dung liên quan đến hàng hoá: nội dung này bao gồm tên hàng, số
lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu…
Những nội dung về vận chuyển, giao nhận hàng hoá: nội dung này bao gồm
điều kiện cơ sở giao hàng (FOB, CIF, CFR, …), nơi giữ hàng, nơi giao hàng, cách vận chuyển, cách giao hàng,…
Trang 3120
Các chứng từ mà người XK phải xuất trình: đây là nội dung rất quan trọng
của thư tín dụng, vì BCT thanh toán là căn cứ để NH kiểm tra việc hoàn thành nghĩa
vụ chuyển giao hàng hoá đúng như L/C quy định của người XK, từ đó tiến hành trả tiền hay chấp nhận trả tiền cho người hưởng lợi
Thông thường BCT bao gồm: Hối phiếu thương mại (Commercial Bill of Exchange); Hoá đơn thương mại (Commercial Invoice); Vận đơn (Bill of Lading); Chứng nhận bảo hiểm (Insurance Policy); Chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin); Chứng nhận chất lượng (Certificate of Quality); Danh sách đóng gói (Packing List); Chứng nhận kiểm nghiệm (Inspection Certificate) Trong thư tín dụng còn quy định số lượng bản chứng từ thuộc mỗi loại và có thể có yêu cầu về việc ký phát từng loại chứng từ
Cam kết của NH mở L/C: đây là nội dung ràng buộc trách nhiệm mang tính
pháp lý của NH mở L/C đối với khách hàng của mình, là cam kết trả tiền bằng uy tín của chính NH Cam kết này là một cam kết có điều kiện, nghĩa là NH chỉ thực hiện
cam kết với điều kiện các quy định trong L/C được người XK thực hiện đầy đủ
Chữ kí của NH mở L/C: Nếu L/C được mở bằng thư thì cuối L/C phải có chữ
ký của người đại diện có thẩm quyền của NH phát hành Chữ ký này phải đúng với chữ ký đã được thông báo cho NH thông báo L/C trong thoả thuận đại lý giữa hai NH
Còn nếu L/C được mở bằng điện thì chữ ký sẽ được thay bằng Testkey
c Phân loại L/C
Thư tín dụng bao gồm nhiều loại, mỗi loại đều có tính chất, nội dung khác nhau, quy định quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan khác nhau Do đó, tùy từng tình huống cụ thể mà lựa chọn loại thư tín dụng phù hợp
Các loại L/C cơ bản: căn cứ vào công dụng của thư tín dụng, người ta phân
thành các loại như sau:
- Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C): đây là loại L/C mà người
yêu cầu mở có toàn quyền đề nghị NH mở L/C sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ nó mà không cần báo trước cho người hưởng lợi biết Việc này đương nhiên phải diễn ra
trước khi thư tín dụng được thanh toán
Thư tín dụng có thể huỷ ngang không đảm bảo quyền lợi cho người XK Trong khi đó, người NK lại có sự thuận lợi, chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình
Trang 32- Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C): thư tín dụng không
thể huỷ ngang là loại thư tín dụng mà sau khi đã được phát hành thì NH phát hành chỉ
có thể sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ nó trên cơ sở sự thoả thuận của các bên có liên quan Điều này có nghĩa là nếu không có sự đồng ý của người XK thì NH phát hành
không được phép chỉnh sửa nội dung của L/C theo yêu cầu đơn phương của người NK
Như vậy, thư tín dụng không thể huỷ ngang thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm pháp lý của NH phát hành đối với cam kết thanh toán của nó với người NK Do đó, loại thư tín dụng này đảm bảo được quyền lợi cho người XK và được áp dụng rất phổ biến trong thương mại quốc tế
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang, có xác nhận (Confirmed Irrevocable L/C): đây là loại L/C không thể huỷ ngang, được một NH khác có uy tín hơn, gọi là
NH xác nhận, đứng ra đảm bảo thanh toán tiền cho người thụ hưởng, theo yêu cầu của
NH phát hành thư tín dụng đó Yêu cầu xác nhận L/C không xuất phát từ mong muốn của người mở L/C mà xuất phát từ yêu cầu của người hưởng lợi khi họ không tin tưởng vào tình hình tài chính và uy tín của NH phát hành hoặc lo lắng về khả năng an toàn ở nước người NK Việc lựa chọn NH xác nhận là tuỳ theo thoả thuận giữa người
XK, người NK và NH phát hành L/C
Với loại thư tín dụng này, có hai NH đứng ra cam kết trả tiền cho người hưởng lợi nên đây là loại thư tín dụng rất đảm bảo quyền lợi cho bên bán Khi NH xác nhận
đã trả tiền cho người hưởng lợi thì NH này có quyền truy đòi số tiền đã thanh toán từ
NH phát hành Do vậy, để đảm bảo an toàn, NH xác nhận thường yêu cầu NH phát hành phải ký quỹ, có khi bằng 100% giá trị L/C, tại NH xác nhận
Việc trả phí xác nhận tùy thuộc vào thoả thuận giữa các bên Về nguyên tắc, người NK phải trả phí xác nhận, nhưng trên thực tế, người XK mới là người phải chịu khoản phí này
Trang 3322
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang, miễn truy đòi (Irrevocable without recourse L/C): đây là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, trong đó quy định sau
khi người thụ hưởng đã được trả tiền thì NH phát hành không có quyền đòi lại số tiền
đó trong bất kỳ trường hợp nào Với loại thư tín dụng này, người XK phải ghi trên hối phiếu miễn truy đòi người ký phát (Without recourse to drawers) và trong thư tín dụng
cũng phải được ghi như vậy
Các loại L/C đặc biệt
- Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C): đây là loại thư tín dụng
không thể huỷ ngang, trong đó quy định NH trả tiền có thể trả toàn bộ hay một phần số tiền của thư tín dụng cho một hoặc nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu
- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C): là loại L/C không thể huỷ ngang
mà sau khi đã sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì sẽ tự động khôi phục lại giá trị như cũ và tiếp tục được sử dụng như vậy cho tới khi hết tổng giá trị L/C L/C tuần hoàn cần chỉ rõ ngày hết hạn hiệu lực cuối cùng, số lần tuần hoàn và giá trị mỗi
lần đó
Có thể phân biệt hai dạng tuần hoàn:
- Tuần hoàn có tích luỹ (Cumulative Revolving L/C): Là loại L/C tuần hoàn cho phép cộng thêm số tiền của L/C trước chưa sử dụng hết vào giá trị của L/C ở vòng tuần hoàn sau
- Tuần hoàn không tích luỹ (Non – cumulative Revolving L/C): Là loại L/C tuần hoàn không cho phép cộng dồn số dư của L/C trước vào giá trị của L/C sau khi L/C trước chưa sử dụng hết
Trang 3423
Về cách thức tuần hoàn, có ba phương pháp tuần hoàn đó là: Tuần hoàn tự động; Tuần hoàn không tự động; Tuần hoàn hạn chế L/C tuần hoàn chỉ được sử dụng trong việc mua bán hàng hoá với số lượng đều đặn và nhiều lần trong năm, do có thể xảy ra những biến động không tốt trên thị trường tiêu thụ mặt hàng đó dẫn đến người
NK vẫn phải tiếp tục nhận hàng trong khi hàng hoá bị ứ đọng Mặt khác, trong một khoảng thời gian dài, tình hình tài chính của người NK có thể bị xấu đi, gây ra rủi ro cho NH phát hành
- Thư tín dụng giáp lưng (Back to Back L/C): Đây là loại L/C được mở ra dựa
trên cơ sở một L/C khác đã được mở trước đó; nghĩa là sau khi nhận được một L/C (L/C gốc) do người NK mở cho mình, người XK dùng L/C này làm căn cứ để mở một
L/C khác (L/C giáp lưng) cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống L/C gốc
Lý do của việc dùng L/C giáp lưng là người hưởng lợi thứ nhất không thể tự mình cung cấp hàng hoá mà chỉ đóng vai trò như một người trung gian để hưởng hoa hồng Tuy nhiên, nó khác với L/C chuyển nhượng ở chỗ L/C gốc và L/C giáp lưng hoàn toàn độc lập với nhau, tức là trách nhiệm thanh toán cho BCT hợp lệ của L/C giáp lưng thuộc về NH phát hành L/C giáp lưng Do đó, quyền lợi của người cung cấp hàng hoá (người hưởng lợi L/C giáp lưng) sẽ được đảm bảo hơn
Như đã nói ở trên, người hưởng lợi thứ nhất đóng vai trò như một người trung gian để hưởng hoa hồng Do đó, giá trị L/C giáp lưng thường nhỏ hơn L/C gốc và phần chênh lệch này để bù đắp chi phí phát sinh và hoa hồng Thời hạn giao hàng của L/C giáp lưng phải sớm hơn L/C gốc Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiểu hơn L/C
gốc
- Thư tín dụng dự phòng (Stand by L/C): Đây là loại thư tín dụng do người
NK yêu cầu người XK, thông qua NH phục vụ họ mở cho người NK hưởng, theo đó
NH phát hành L/C dự phòng cam kết sẽ bồi hoàn cho người NK về những thiệt hại do người XK không thực hiện được nghĩa vụ của họ Như vậy, đối với L/C dự phòng, việc xuất trình chứng từ nhằm mục đích chứng minh việc người XK vi phạm hợp đồng thương mại và gây thiệt hại cho người NK để NH mở L/C dự phòng thanh toán tiền
cho người NK
- Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red clause L/C): Là loại L/C có một điều
khoản đặc biệt, cho phép người thụ hưởng được ứng trước một số tiền nhất định trong
Trang 3524
tổng số tiền của thư tín dụng đã mở để có thể sản xuất hàng hoá và giao hàng theo quy định trong L/C Người hưởng lợi phải xuất trình chứng từ tại NH mà họ đã nhận tiền ứng trước và phải hoàn trả lại số tiền này nếu không xuất trình đủ chứng từ hợp lệ
trong thời gian quy định
d Các bên tham gia quá trình thanh toán
Người yêu cầu mở thư tín dụng (Applicant for L/C): Là người mua, người
NK hàng hoá Người yêu cầu mở thư tín dụng có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của NH cho người bán theo L/C mà họ yêu cầu mở Họ cũng có quyền hoàn trả toàn
bộ hay một phần số tiền của L/C nếu xét thấy BCT không phù hợp với điều kiện, điều khoản của L/C
NH phát hành L/C (Issuing Bank or Opening Bank): Là NH đại diện cho
người NK, phát hành thư tín dụng theo yêu cầu của người NK NH phát hành chịu trách nhiệm kiểm tra BCT do người XK xuất trình và thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho một xuất trình phù hợp
NH thông báo (Avising Bank): Là NH được NH phát hành yêu cầu thông báo
thư tín dụng cho người hưởng lợi một cách trực tiếp hoặc thông báo cho một NH khác
NH này có thể là Chi Nhánh hoặc NH đại lý cho NH phát hành, thường ở tại nước người hưởng lợi
Người hưởng lợi (Beneficiary): Là người được hưởng số tiền thanh toán hoặc
sở hữu hối phiếu đã có chấp nhận thanh toán Người hưởng lợi có thể là người XK, người bán hay bất cứ người nào mà người XK chỉ định
Ngoài các thành phần trên, tuỳ theo điều kiện cụ thể trong thực tế, có thể có một
số NH khác tham gia quá trình thanh toán:
NH xác nhận (Confirming Bank): Là NH đứng ra nhận trách nhiệm sẽ cùng
NH mở thư tín dụng đảm bảo việc trả tiền cho người XK khi nhận được xuất trình phù hợp NH xác nhận thường là một NH lớn, có uy tín
NH được chỉ định (Nominated Bank): Là NH được chỉ định trong thư tín
dụng để thực hiện việc thanh toán, chiết khấu hoặc chấp nhận BCT hợp lệ của người
XK Tuỳ theo nhiệm vụ được chỉ định mà NH này có thể được gọi là NH chỉ định thanh toán (Nominated Paying Bank), NH chỉ định chiết khấu (Nominated negotiating Bank), hay NH chỉ định chấp nhận (Nominated Accepting Bank)
Trang 3625
e Quy trình thanh toán trong phương thức tín dụng thư
Hình 3.5: Sơ Đồ Quy Trình Nghiệp Vụ Tín Dụng Thư
Nguồn: Đinh Xuân Trình (2006), Giáo trình TTQT
(3) NH phát hành lập thư tín dụng căn cứ vào nội dung đơn xin mở L/C, sau
đó thông báo cho người XK thông qua NH đại lý của mình về việc mở thư tín dụng
và chuyển bản chính của thư tín dụng qua NH thông báo
(4) NH thông báo thông báo và chuyển giao L/C cho người XK
(5) Người XK kiểm tra L/C, nếu chấp nhận nội dung L/C đã mở thì giao hàng, nếu thấy sai sót và không chấp nhận thì đề nghị NH phát hành tu chỉnh lại cho phù hợp với nội dung hợp đồng rồi giao hàng
(6a), (6b) Sau khi giao hàng, người XK lập BCT theo quy định của thư tín dụng, sau đó thông qua NH thông báo xuất trình cho NH phát hành để yêu cầu được thanh toán tiền hàng
(7a), (7b) NH phát hành kiểm tra BCT thanh toán, nếu thấy phù hợp với quy định trong L/C thì trả tiền, chấp nhận hoặc chiết khấu BCT Nếu thấy không phù
Người yêu cầu mở thư
(1) (5)
(2) (8)
(3)
(7a)
(4) (6a) (7b) (9)
Trang 37f Ưu thế của phương thức tín dụng thư
Phương thức tín dụng thư được sử dụng rộng rãi nhất trong TTQT, chiếm khoảng 70% tổng giá trị thanh toán Sở dĩ như vậy là vì phương thức này ưu việt hơn hẳn các phương thức TTQT khác, đảm bảo được quyền lợi một cách tương đối cho cả nhà XK và nhà NK
Đối với người NK
Chỉ phải thanh toán khi nhận được BCT phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C Các chứng từ này phản ánh phần nào thực trạng hàng hoá (Danh sách đóng gói, Chứng nhận chất lượng, Chứng nhận xuất xứ…) nên người NK ít gặp phải rủi ro nhập về hàng hoá không đúng với hợp đồng thương mại đã ký Người NK được NH tài trợ vốn khi họ chỉ phải ký quỹ dưới 100% giá trị của L/C, nhờ đó mà có thể tận dụng được vốn của mình vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Đối với người XK
Được đảm bảo thanh toán khi tuân thủ các điều kiện và điều khoản của L/C
và nhận được thanh toán nhanh nhất do có được sự cam kết thanh toán của NH Được NH giúp đỡ, tư vấn (như tìm ra các điều kiện, điều khoản trong L/C bất lợi cho người XK), do đó giảm thiểu được các rủi ro Có thể sử dụng L/C như một phương thức tài trợ cho XK như chiết khấu BCT, bán BCT cho NH hay vay vốn NH bằng thế chấp BCT
Đối với ngân hàng
Thực hiện nghiệp vụ này, NH thu được phí dịch vụ, nhờ đó thu nhập của NH tăng, tạo điều kiện mở rộng tín dụng, bảo lãnh quốc tế, kinh doanh ngoại tệ
Tuy là phương thức thanh toán ưu việt hơn cả trong TTQT, nhưng phương thức tín dụng thư vẫn có những hạn chế nhất định Ở phương thức này, NH chỉ giao
Trang 3827
dịch trên cơ sở chứng từ, do đó người NK vẫn phải thanh toán nếu BCT xuất trình hợp lệ, mặc dù thực trạng hàng hoá nhập về không đúng với những điều được phản ánh trong chứng từ Người XK cũng có thể gặp phải bất lợi khi họ không đáp ứng được những quy định trong L/C, dẫn đến việc thanh toán có thể bị trì hoãn, thậm chí
bị từ chối thanh toán NH cũng phải đối mặt với rủi ro khi người NK gặp khó khăn
về tài chính, không có khả năng hoàn trả tiền cho NH
g Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình thanh toán
Hiệu quả của dịch vụ thanh toán được thể hiện thông qua nhiều chỉ tiêu như: tốc độ thanh toán, tính an toàn trong quá trình thanh toán, thu nhập từ việc cung cấp dịch vụ thanh toán Rủi ro tiềm ẩn cao có thể làm giảm hiệu quả của dịch vụ thanh toán mà NH cung cấp Việc thanh toán tiền hàng giữa các đối tác ở các quốc gia khác nhau luôn chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với thanh toán trong nước Đó là khả năng xảy ra những điều không mong muốn và khi xảy ra thì sẽ mang lại tổn thất cho các bên Sở dĩ như vậy là vì các quốc gia khác nhau có hệ thống pháp luật, tập quán thương mại và thanh toán khác nhau Việc tìm hiểu thông tin về các đối tác nước ngoài cũng gặp nhiều khó khăn hơn so với đối tác trong nước Rủi ro trong TTQT
có thể xảy ra với bất cứ bên nào, có thể do nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan Dưới đây sẽ trình bày các nhân tố tác động tới quá trình thanh toán
Nhân tố chủ quan
- Các quy định và chính sách của NH đối với nghiệp vụ thanh toán
Các quy định và chính sách của NH có thể ví như kim chỉ nam định hướng cho hoạt động của nhân viên ngân hàng Nếu NH đưa ra được chính sách hợp lý, vừa đem lại lợi ích cho khách hàng, vừa đảm bảo lợi ích của NH thì sẽ có thể thu hút được khách hàng, mở rộng hoạt động của ngân hàng Ngược lại, một chính sách không dung hoà được lợi ích của khách hàng và NH sẽ chứa đựng nhiều rủi ro cho ngân hàng, làm giảm tính cạnh tranh của NH và làm mất lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng
Trong các quy định của NH về nghiệp vụ thanh toán có tác động tới quá trình thanh toán phải kể đến quy trình thanh toán được xây dựng chung cho hệ thống NH Đó là một trình tự các bước được quy định chi tiết, cụ thể, có sự phân công công việc rõ ràng để thực hiện một thương vụ thanh toán cho khách hàng theo
Trang 3928
một phương thức thanh toán nhất định Để hoạt động thanh toán có hiệu quả, quy trình thanh toán phải hợp lý, chặt chẽ, được áp dụng thống nhất trong NH nhưng vẫn đảm bảo tính linh hoạt trong quá trình thực hiện Nhìn chung, quy trình thanh toán của các NH đều tuân theo thông lệ quốc tế Tuy vậy, giữa quy định của các NH vẫn có sự khác biệt nhất định về mức độ chặt chẽ và tính hợp lý Một quy trình trong đó các hồ sơ khách hàng hay BCT xuất trình phải qua quá nhiều khâu kiểm tra, kiểm soát có thể đảm bảo an toàn hơn nhưng sẽ làm giảm tốc độ thanh toán Ngược lại, một quy trình mà việc kiểm tra, kiểm soát sơ sài lại tiềm ẩn nhiều rủi ro
Do đó, tính chặt chẽ và hợp lý là rất quan trọng trong việc xây dựng quy trình thanh toán
Bên cạnh đó, sự khác biệt giữa các NH còn được thể hiện ở chính sách của
NH đối với việc phát triển nghiệp vụ thanh toán Các NH có thể có chính sách khác nhau dành cho từng đối tượng khách hàng, từng chủng loại hàng hoá Chẳng hạn, đối với những khách hàng có tình hình tài chính tốt, có uy tín thì NH có thể áp dụng những chính sách hỗ trợ như: cho vay để ký quỹ mở L/C, chiết khấu BCT…giúp khách hàng có được sự thuận lợi trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ Qua
đó khách hàng có thể tin cậy và lựa chọn NH làm trung gian thanh toán
- Trình độ nghiệp vụ của các cán bộ nhân viên ngân hàng
Nhân viên NH là những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng và cũng là những người tham gia thực hiện việc thanh toán cho khách hàng Do đó, trình độ nghiệp vụ của nhân viên NH có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của dịch vụ thanh toán Đặc biệt, phương thức tín dụng thư là phương thức thanh toán khá phức tạp, vừa đòi hỏi sự làm việc tỉ mỉ, chính xác, vừa cần có tính linh hoạt trong từng tình huống cụ thể của các nhân viên NH Hiệu quả của việc cung cấp dịch vụ thanh toán phụ thuộc rất lớn vào khả năng của đội ngũ nhân viên NH trong việc tìm hiểu tình hình hoạt động của khách hàng để có thể đưa ra những tư vấn, hỗ trợ cho khách hàng, nhanh chóng tìm ra sai sót trong chứng từ thanh toán để sửa chữa kịp thời phát hiện được các chứng từ giả mạo hay không hợp lý để tránh tổn thất cho khách hàng và NH Để làm được như vậy, nhân viên NH cần phải am hiểu về kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán, hiểu biết về lĩnh vực kinh doanh của các khách hàng mà mình đang phục vụ và hướng tới phục vụ, linh hoạt trong xử lý tình huống Bên cạnh
Trang 40Nhân tố khách quan
- Những tác động từ phía khách hàng
Các nhà XNK là những chủ thể quan trọng tham gia vào quá trình thanh toán, do đó có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả của quá trình thanh toán Yếu tố quan trọng đầu tiên phải kể tới là năng lực kinh doanh của khách hàng Năng lực kinh doanh sẽ quyết định khả năng tài chính và uy tín của khách hàng Người NK kinh doanh có hiệu quả thường sẽ có tình hình tài chính lành mạnh, có khả năng hoàn trả tiền cho NH Ngược lại, người NK có thể mất khả năng thanh toán, bị phá sản dẫn đến không có khả năng trả tiền cho NH trong trường hợp ký quỹ dưới 100%, trong khi NH vẫn phải thanh toán cho người XK khi họ xuất trình được BCT hợp lệ Một yếu tố không kém phần quan trọng là đạo đức, uy tín của khách hàng
NH có thể gặp phải rủi ro đạo đức khi người NK cố ý không hoàn trả tiền cho NH
Về phía người XK, có thể giả mạo chứng từ để đòi tiền NH Nếu NH không phát hiện được thì sẽ khó tránh khỏi tổn thất Ngoài ra, khách hàng có những hiểu biết nhất định về các bước cần thực hiện trong quy trình thanh toán cũng góp phần giúp quá trình thanh toán được nhanh chóng, suôn sẻ
- Nhân tố thuộc về NH đại lý: Mỗi NHTM đều có hệ thống NH đại lý đặt ở
nhiều nước trên thế giới để thuận lợi cho việc giao dịch, giảm được thời gian và chi phí do phải thanh toán qua nhiều NH trung gian Các NHTM thường chọn NH đại