Đề tài được thực hiện nhằm phân tích tình hình sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nho tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, phân tích tác động của việc sử dụng thuốc BVTV đối với năng su
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
******************
KIỀU THỊ HUYỀN TRANG
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT CỦA NGƯỜI DÂN TRỒNG NHO Ở HUYỆN NINH
PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 06/2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
******************
KIỀU THỊ HUYỀN TRANG
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT CỦA NGƯỜI DÂN TRỒNG NHO Ở HUYỆN NINH
PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN
Ngành: Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS ĐẶNG THANH HÀ
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 06/2012
Trang 3Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, Trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Phân Tích Hiệu Quả
Sử Dụng Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Của Người Dân Trồng Nho Ở Huyện Ninh Phước Tỉnh Ninh Thuận” do Kiều Thị Huyền Trang sinh viên khóa 34 ngành Kinh
Tế Tài Nguyên Và Môi Trường thực hiện, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _
TS ĐẶNG THANH HÀ Người hướng dẫn,
Ngày Tháng Năm
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư kí hội đồng chấm báo cáo
Ngày Tháng Năm Ngày Tháng Năm
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên, Con thành kính cảm ơn ba mẹ đã nuôi nấng và dạy dỗ con thành người, trở thành người có ích cho xã hội Em xin chân thành cảm ơn tất cả các anh chị
đã động viên và giúp đỡ em vượt qua những lúc khó khăn
Xin cảm ơn các quý Thầy, Cô trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu làm hành trang để em bước vào đời
Em xin trân trọng tỏ lòng biết ơn đến các Thầy, Cô trong khoa Kinh Tế Đặc biệt là Thầy Đặng Thanh Hà, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài
Xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến Trung tâm khuyến nông thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước và những người dân sinh sống tại đây, đã rất nhiệt tình và hỗ trợ em rất nhiều tr4ong việc điều tra và thu thập số liệu, giúp em hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các bạn lớp DH08KM đã động viên khích lệ và giúp đỡ rất nhiều
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2012
Sinh viên thực hiện
Kiều Thị Huyền Trang
Trang 5NỘI DUNG TÓM TẮT
KIỀU THỊ HUYỀN TRANG Tháng.Tháng 06 năm 2012.“Phân tích hiệu quả
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người dân trồng nho ở huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận”
KIEU THI HUYEN TRANG June 2012.“Analyzing the efficiency of using pesticides in grape production in Ninh Phuoc district, Ninh Thuan province”
Đề tài đã tiến hành thu thập số liệu thứ cấp và điều tra 111 hộ nông dân thuộc địa bàn 2 xã Phước Dân huyện ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Đề tài được thực hiện nhằm phân tích tình hình sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nho tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, phân tích tác động của việc sử dụng thuốc BVTV đối với năng suất nho, đánh giá mức độ lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật của nông dân trồng nho, xác định những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng quá mức thuốc BVTV
Nghiên cứu sử dụng hàm năng suất và hàm logistic để xác định nhân tố chính ảnh hưởng đến năng suất cây nho và các nhân tố ảnh hưởng đến việc lạm dụng thuốc BVTV của nông dân Qua nghiên cứu trên cây nho tại huyện Ninh Phước thông qua hàm năng suất đề tài cho thấy các nhân tố chính ảnh hưởng đến doanh thu cây nho của người dân là số lần tham gia tập huấn, số công lao động và kinh nghiệm sản xuất, lượng phân bón, lượng thuốc bảo vệ thực vật Việc tính mức tối ưu của thuốc BVTV cho kết quả là có 12 hộ không lạm dụng thuốc BVTV và có 99 hộ lạm dụng thuốc BVTV Các nhân tố ảnh hưởng đến xác suất lạm dụng thuốc BVTV là mật độ, trình độ học vấn, tuổi của nông hộ
Trang 6MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
DANH MỤC PHỤ LỤC x
CHƯƠNG 1MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận 3
1.3.1 Phạm vi thời gian 3
1.3.2 Phạm vi không gian 3
1.4 Cấu trúc của khóa luận 3
CHƯƠNG 2TỔNG QUAN 5
2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 5
2.2 Sơ lược tình hình sản xuất nho ở Việt Nam và trên thế giới 6
2.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 10
2.3.1 Lịch sử hình thànhtỉnh Ninh Thuận 10
2.3.2 Điều kiện tự nhiên tỉnh Ninh Thuận 11
2.4 Xu hướng phát triển cây nho tại Ninh Thuận 12
2.4.1 Định hướng phát triển 12
2.4.2 Chuyển giao tiến bộ khoa học cho nông dân 13
2.4.3 Xây dựng chương trình nghiên cứu 13
CHƯƠNG 3CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Cơ sở lí luận 14
3.1.1 Khái niệm nông nghiệp bền vững 14
3.1.2 Khái niệm thuốc BVTV 14
3.1.3 Tác dụng của thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp 18
3.1.4 Những ảnh hưởng của thuốc BVTV 18
Trang 73.2 Phương pháp nghiên cứu 23
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 23
3.2.2.Phương pháp thống kê mô tả 23
3.2.3 Phương pháp phân tích hồi quy 24
3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 28
CHƯƠNG 4KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nho tại tỉnh Ninh Thuận 29
4.1.1 Tình hình sản xuất nho ở Ninh Thuận 29
4.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của các hộ trồng nho 33
4.3 Đặc điểm sản xuất của các hộ điều tra 35
4.4 Phân tích ảnh hưởng của thuốc BVTV đến năng suất nho 38
4.4.1 Mô hình ước lượng hàm năng suất nho 38
4.4.2 Đánh giá mức độ làm dụng thuốc BVTV của nông dân 44
4.4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc lạm dụng thuốc của nông dân 45
CHƯƠNG 5KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HTX Hợp tác xã
BVTV Bảo vệ thực vật
T.p HCM Thành Phố Hồ Chí Minh
WTO Tổ chức Thương Mại Thế Giới (World Trade Organization)
NN và PTNN Nông nghiệp và phát triển nông thôn
THPT Trung học phổ thông
TCCN/CĐ/ĐH Trung cấp chuyên nghiệp/Cao đẳng/Đại học
CSVC Cơ sở vật chất
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Kỳ Vọng Dấu Các Hệ Số của Mô Hình Hàm Năng Suất 25
Bảng 3.2 Dấu Kì Vọng Cho Hệ Số Của Mô Hình Ước Lượng 27
Bảng 4.1: Sản Lượng Và Diện Tích Nho của Ninh Thuận từ 2005 – 2010 31
Bảng 4.2 Cơ cấu trình độ học vấn của các chủ hộ 32
Bảng 4.3 Một Số Đặc Điểm kinh Tế Xã Hội của Người Được Phỏng Vấn 34
Bảng 4.4 Đặc Điểm Sản Xuất Và Chi Phí Đầu Vào Của Các Hộ Trồng Nho 35
Bảng 4.5 Năng Suất Và Giá Bán Sản Phẩm Của Các Hộ Điều Tra Năm 2010 36
Bảng 4.6 Nguồn Thông Tin Về Kỹ Thuật Canh Tác Nho Của Các Hộ Điều Tra 37
Bảng 4.7 Đánh Giá Của Nông Dân Về Giống, Yếu Tố Sản Xuất Và Xu Hướng Thay Đổi Sản Lượng Nho 37
Bảng 4.8 Các Thông Số Ước Lượng của Mô Hình Năng Suất Cây Nho 39
Bảng 4.9Kết Quả Dấu Ước Lượng Và Kết Quả Kiểm Định P-Value Với Mức Ý Nghĩa 10% 40
Bảng 4.10 Kết Quả Kiểm Định Đa Cộng Tuyến Bằng Hồi Qui Bổ Sung 43
Bảng 4.11 Kiểm Tra Về Dấu Kì Vọng của Mô Hình 44
Bảng 4.12 Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Logistic 45
Bảng4.13 Kết quả Dấu Ước lượng và kết quả kiểm định Pvalue với = 10% 46
Bảng 4.14 Bảng Dự Đoán Đúng của Mô Hình 47
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 4.1 Tình Hình Sử Dụng Thuốc Bảo Vệ Thực Vật của Mẫu Điều Tra 33 Hình 4.2 Tỷ Lệ Thu nhập của Người Được Phỏng Vấn 35
Trang 11DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Mô hình hàm năng suất
Phụ lục 2 Mô hình hồi quy phụ (kiểm định phương sai sai số thay đổi Phụ lục 3 Mô hình kiểm định tự tương quan
Phụ lục 4 Mô hình kiểm tra đa cộng tuyến
Phụ lục 5 Mô hình logistic
Phụ lục 6 Bảng dự đoán đúng của mô hình
Phụ lục 7 Bảng giá trị trung bình của các biến
Phụ lục 8 Bảng Câu Hỏi Phỏng Vấn Nông Hộ
Trang 12Trong bối cảnh hội nhập WTO, nông nghiệp nước ta có thể có thêm nhiều cơ hội phát triển, nhưng cũng có không ít những tác động ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của nông nghiệp, ảnh hưởng đến an ninh lương thực cho người nông dân, đặc biệt
là người nông dân nghèo Do đó, bên cạnh mục tiêu đẩy mạnh phát triển công nghiệp
và dịch vụ để hiện đại hoá đất nước, thì việc phát triển nông nghiệp, nông thôn cũng là một yếu tố then chốt để phát triển kinh tế, ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân
Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp, với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm rất thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng.Khi nền nông nghiệp càng phát triển,
đi vào thâm canh, sản xuất hàng hoá thì vai trò của công tác bảo vệ thực vật, đặc biệt
là việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngày càng quan trọng đối với sản xuất.Do vậy việc sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, giữ vững
an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu Thuốc bảo
vệ thực vật đã góp phần hạn chế sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, ngăn chặn và dập tắt các đợt dịch bệnh trên phạm vi lớn, bảo đảm được năng suất cây trồng, giảm thiểu thiệt hại cho nông dân Cùng với phân bón hóa học, thuốc BVTV là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm an ninh lương thực cho loài người
Ninh Thuận là quê hương của Nho, một đặc sản nổi tiếng trong nước Diện tích trồng nho của tỉnh khoảng 2.500 ha, tập trung chủ yếu ở huyện Ninh Phước, Ninh Hải
Trang 13và thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, với nhiều loại giống nho mới năng suất chất lượng cao, sản lượng ổn định.Điều kiện khí hậu ở Ninh Thuận khá thuận lợi để phát triển một
số cây đặc thù, đặc biệt cây nho rất phù hợp với điều kiện khí hậu kể trên so với các nơi khác
Những năm trước đây, cây nho đã đem lại nguồn lợi kinh tế cho hàng ngàn người nông dân, từ đó từng bước vượt qua nghèo khó, cải thiện đời sống đáng kể Phong trào trồng nho lan rộng đến nhiều vùng nông thôn của tỉnh Ninh Thuận Nhưng
từ đầu năm 2000, nguồn lợi kinh tế do cây nho mang lại cho nông dân sụt giảm, giá nho tụt xuống quá thấp Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Hội thảo sản xuất và tiêu thụ nho lần 1 do Phân Viện tổ chức cho biết từ năm 1997 trở lại đây, diện tích và năng suất nho có chiều hướng giảm, năm 2000 diện tích chỉ còn 1.809 ha, đồng thời năng suất bình quân chỉ đạt 13,9 tấn/ha; năm 2006 diện tích giảm còn 1.143 ha, cuối năm 2010 diện tích còn lại là 773 ha
Ngành sản xuất nho hiện nay đã và đang gặp nhiều khó khăn, trong đó khó khăn nổi bật là tình trạng giống nho bị thoái hóa nặng, khả năng chống chịu với điều kiện môi trường kém, năng suất thấp và chất lượng chưa cao, dịch hại phát triển mạnh
và những năm gần đây khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong thâm canh sản xuất, đặc biệt trong sản xuất nho có
xu hướng gia tăng cả về chất lượng lẫn chủng loại Người trồng nho sử dụng một lượng thuốc BVTV lớn,có nhiều hộ trồng nho sử dụng thuốc BVTV không đúng theo khuyến cáo nên bị thiệt hại dẫn đến giảm giá trị sử dụng của sản phẩm và ảnh hưởng tới sức khỏe người nông dân
Do đó, đề tài nghiên cứu: “Phân tích hiệu quả sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người dân trồng nho ở huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận” được thực hiện
nhằm tìm hiểu tình hình sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nho của nông dân tại huyện Ninh Phước, phân tích hiệu quả của việc sử dụng thuốc BVTV đối với năng suất nho và mức độ lạm dụng thuốc BVTV của nông dân trồng nho tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
Trang 141.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của đề tài là nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của nông dân trồng nho tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
1.2.1 Mục tiêu cụ thể
Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài bao gồm:
- Phân tích tình hình sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nho tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
- Phân tích tác động của việc sử dụng thuốc BVTV đối với năng suất nho
- Đánh giá mức độ lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật của nông dân trồng nho
- Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng quá mức thuốc BVTV
1.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận
1.3.1 Phạm vi thời gian
Thời gian nghiên cứu từ 20/03/2012 đến 20/06/2012
1.3.2 Phạm vi không gian
Đề tài tiến hành trên địa bàn huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
1.4 Cấu trúc của khóa luận
Đề tài nghiên cứu gồm 5 chương
Chương 1: Đặt vấn đề
Trình bày sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và cấu trúc của luận văn
Chương 2: Tổng quan
Giới thiệu tổng quan về tài liệu tham khảo, trình bày về điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội của huyện Ninh Phước
Chương 3: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Trình bày một số khái niệm về lĩnh vực nghiên cứu, các chỉ tiêu sử dụng và phương pháp để tiến hành nghiên cứu Những cơ sở này giúp người đọc hiểu rõ hơn những vấn đề trình bày trong khóa luận
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này trình bày chi tiết những kết quả nghiên cứu chính bao gồm: tổng quan về thị trường thuốc BVTV ở Việt Nam và địa bàn nghiên cứu; đặc điểm mẫu
Trang 15nghiên cứu; tình hình sản xuất, sử dụng phân bón, thuốc BVTV của nông dân trồng nho tại huyện Ninh Phước; đánh giá tác động của thuốc BVTV đến năng suất và sức khỏe của nông dân
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Chương cuối cùng tóm lược lại các kết quả chính của nghiên cứu, đánh giá các kết quả đó và rút ra kết quả đó có ý nghĩa như thế nào đối với người dân trồng nho Từ
đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả các chương trình khuyến nông và cải thiện thói quen canh tác hiện tại
Trang 16CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của một loại cây trồng và tính mức tối ưu của các yếu tố đầu vào như thuốc BVTV, phân bón luôn là đề tài mà các nhà kinh tế học quan tâm và đang cố gắng tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc sử dụng các yếu tố đầu vào một cách hợp lý và hiệu quả
Viện Nghiên Cứu Bông Và Phát Triển Nông Nghiệp Nha Hố - 2008: Quy hoạch phát triển cây nho Ninh Thuận năm 2015 trên cơ sở dự báo về cơ cấu giống phục vụ sản xuất, điều kiện đất đai, thủy lợi, thị trường tiêu thụ và công tác nghiên cứu nhằm nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm Chú trọng công tác bảo quản chế biến sản phẫm sau thu hoạch và mở rộng thị trường tiêu thụ nhằm ổn định giá cả sản phẫm Từng bước mở rộng và xây dựng mới các thương hiệu của nho ninh thuận để mở rộng khả năng cạnh tranh của nho Ninh Thuận trên thị trường trong nước và thế giới, xây dụng chính sách ưu đãi để thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất và chế
biến nho tại Ninh Thuận
Nghiên cứu “Kết quả kinh tế và sức khỏe của sử dụng thuốc trừ sâu trong sản xuất lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long” của Nguyen Huu Dung và Tran Thi Thanh Dung được thực hiện năm 1999 Các tác giả đã tập trung đánh giá tác động của việc sử dụng thuốc BVTV lên sức khỏe và năng suất lúa ở ĐBSCL Thông qua việc ước lượng hàm hồi quy, nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa thuốc BVTV và năng suất lúa Các tác giả đã thấy rằng trung bình nông dân lạm dụng 274,4 gram thành phần hoạt chất thuốc trừ sâu, gây thiệt hại khoảng 105,644 đồng (6,25 USD)/ha
Nghiên cứu “Đánh giá tác động của việc sử dụng thuốc BVTV trên năng suất lúa, sức khỏe nông dân và chất lượng môi trường tại xã an phú, thành phố pleiku, tỉnh
Gia Lai” của Hà Thanh Trí 07/2010 Tác giả đã tập trung đánh giá tác động của việc
Trang 17sử dụng thuốc BVTV lên sức khỏe và năng suất lúa ở tỉnh Gia Lai Thông qua việc ước lượng hàm hồi quy, nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa thuốc BVTV và năng suất lúa Tác giả đã thấy rằng trung bình nông dân lạm dụng 0,162 kg/sào thành phần hoạt chất thuốc trừ sâu, gây thiệt hại khoảng 52,377 VNĐ/sào
2.2 Sơ lược tình hình sản xuất nho ở Việt Nam và trên thế giới
2.2.1 Lịch sử cây nho và nghề trồng nho
Nho là một trong số những cây trồng có nguồn gốc sớm nhất trên trái đất Qua những mẫu hóa thạch của cây và lá nho trong các trầm tích đá phấn, các nhà khoa học
đã đi đến kết luận rằng cây nho có cùng tuổi phát sinh với loài người Cây nho dại có nguồn gốc ở vùng bắc bán cầu, đặc biệt là vùng khí hậu ôn đới thuộc Châu Âu, Bắc
Mỹ, Trung Mỹ và Tây Bắc của Nam Mỹ Nho là một cây trồng chủ yếu vào thế kỷ 11 – 12 sau công nguyên Những giống nho ưu việt ở vùng Trung Đông và nam Châu Âu được chọn ra từ nho dại và dần được địa phương hóa Cho tới hiện nay, cây nho đã được trồng trên cả năm châu lục Đối với vùng khí hậu ôn đới, cây nho chỉ cho thu hoạch mỗi năm một vụ, trong khi ở các khi vực nhiệt đới và bán nhiệt đới cây nho có khả năng sinh trưởng liên tục và cho thu hoạch 2,5 – 3 vụ mỗi năm
Tại Việt Nam, thông qua Trung tâm khảo cứu Nông nghiệp Ninh Thuận, cây nho đã được du nhập vào từ Thái Lan, Nam Triều Tiên và Mỹ năm 1971 với trên 70 giống có nguồn gốc nhiệt đới và ôn đới Sau năm 1975, do chưa có định hướng phát triển cây nho nên vườn tập đoàn giống cây nho đã bị phá bỏ Cho đến những năm 1980 – 1990, chỉ còn tồn tại bốn giống nho là giống Cardinal, Ribier, Muscat de St vallier
và Alden trong vườn cây ăn quả của Trung Tâm Nghiên cứu Cây bông Nha Hố Những năm gần đây chỉ còn lại giống nho đỏ Cardinal được trồng rộng rãi chiếm 99% tổng diện tích trồng nho của Ninh Thuận và Bắc Bình Thuận
Hiện nay, thông qua nhiều nguồn khác nhau, nhiều giống nho mới hơn đã được
du nhập thêm vào Việt Nam với khoảng trên 60 giống Những giống này chủ yếu tập trung ở vườn tập đoàn của Trung tâm Nghiên Cứu Cây bông Nha Hố và Trung tâm Khuyến khích Phát triển Kinh tế Xã hội Duyên hải Miền trung (Bình Thuận) Tập đoàn các giống nho này bao gồm cả các giống nho ăn tươi, nho dùng làm rượu và nho
để sấy khô
Trang 18Nguồn: Niên giám tống kê Ninh Thuận Tại vùng Ninh Thuận, cây nho có tiềm năng năng suất rất cao với mức năng suất có thể đạt tới 30 – 40 tấn/ha/năm Mức năng suất này có thể cho ổn định qua các năm nếu có kỹ thuật chăm sóc khoa học Theo số liệu điều tra của trung tâm nghiên cứu cây bông (TTNCCB) Nha Hố, cây nho ở vùng Ninh Thuận có năng suất dao động
từ 20 – 60 tấn/ha/năm Mức năng suất này có thể so sánh với các nước như Ấn Độ và ngay cả Hà Lan Nho ở nước ta chủ yếu được sử dụng để ăn tươi, một số ít cũng được
sử dụng đề làm rượu và nước ngọt
2.2.3 Điều kiện khí hậu và đất đai đối với cây nho
Thực tế trồng nho trên thế giới cho thấy, cây nho có thể chịu đựng được nhiệt
độ khắc nghiệt từ - 200C Cây nho cần nhiệt độ cao vừa phải cho sự nở hoa và thụ phấn Những vùng trồng nho yêu cầu khí hậu khô, nhiều nắng và ít mưa Những vùng mưa nhiều, ẩm ướt quanh năm không thích hợp trồng nho
Vùng Ninh Thuận với những đặc điểm khí hậu như nhiệt độ cao quanh năm, không có mùa đông lạnh, ẩm độ không khí thấp nên khá thích hợp cho cây nho sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao
2.2.4 Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng giúp cây sinh trưởng sinh dưỡng cũng như sinh thực Nhiệt độ cao vừa phải xúc tiến quá trình ra hoa, đậu quả Cụ thể là nhiệt độ cao thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các bộ phận của hoa nho, ảnh hưởng tới sự nảy mầm của hạt phấn Nhưng nhiệt độ quá cao làm cho hạt phấn bị khô và không thụ tinh được Nhiệt độ cao trong giai đoạn chín làm cho trái chín không có màu và có chất lượng thấp
Trang 19Tỉnh Ninh Thuận nằm trong vùng khô hạn nhất nước ta, có nền khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với các đặc trưng là khô nóng, gió nhiều và lượng bốc hơi lớn Lượng bức xạ dồi dào đem lại một nền nhiệt độ cao, phân bố đồng đều giữa các tháng Đây là điều kiện thuận lợi để canh tác nhiều vụ cây trồng trong năm
Ninh Thuận nằm ở vĩ độ thấp, quanh năm có thời gian chiếu sáng dài Mùa khô kéo dài tới 8 – 9 tháng, trời thường ít hoặc quang mây nên ở Ninh Thuận trung bình năm có tới 2.800 – 2900 giờ nắng Số ngày nắng và giờ nắng nhiều là điều kiện thích hợp cho trồng trọt nhiều vụ trong một năm với năng suất và chất lượng cao
Nhiệt độ trung bình năm trên 26oC và tổng nhiệt năm trên 9.400oC, điều này cho phép canh tác nhiều vụ/năm Ninh Thuận có nền nhiệt độ cao quanh năm và ít biến động, không có mùa đông lạnh, trừ vùng núi cao trên 1000m Đây là điều kiện thuận lợi cho cây trồng phát triển nhanh và điều kiện đảm bảo để tăng vụ
Ninh thuận được coi là một trong những tỉnh ít mưa nhất ở nước ta Phần lớn các vùng ở ninh thuận có lượng mưa hằng năm khoảng 1.300 – 1400 mm và số ngày mưa từ 45 đến 90 ngày Độ ẩm tương đối trung bình năm ở ninh thuận từ 75 – 80% Khu vực Phan Rang có độ ẩm tương đối trung bình năm dưới 75% (tại Phan Rang 71%) Thấp nhất trong tỉnh và cả nước
2.2.7 Lượng mưa
Cây nho cũng giống cây bông vải là cây thích điều kiện “đầu khô chân ướt” Do
đó, mưa nhiều sẽ làm cho việc phòng trừ sâu bệnh gặp nhiều khó khăn hơn Mưa nhiều làm cho người trồng nho khó chủ động trong việc điều khiển cây để cắt cành Mưa
Trang 20nhiều trong thời gian ra hoa làm cho hạt phấn nảy mầm kém, làm cho chùm quả phát triển không bình thường Mưa nhiều trong giai đoạn chín xấu đến cây nho hơn là vùng
có lượng mưa phân bố đều Do vậy, điều kiện mưa thấp ở các tỉnh Ninh Thuận, Bắc Bình Thuận và một số nơi khác như An Giang và Khánh Hòa khá phù hợp để trồng nho
2.2.8 Đất trồng nho
Cây nho phù hợp với nhiều loại đất Ở các vùng nho thương mại trên thế giới, nho được trồng trên hầu hết các loại đất từ đất cát thô, đất sỏi đá cho đến đất thịt nặng với các độ sâu tầng đất và độ phì thay đổi khác nhau Tránh trồng nho trên các loại đất sét nặng, tầng canh tác nông, thoát nước kém, đất mặn và đất quá chua không cải tạo được Đất lý tưởng để trồng nho là đất có độ phì cao, sa cấu nhẹ, tầng đất sâu trên 2 mét và thoát nước tốt Đất không thoát nước thì phải lập hệ thống thoát nước trước khi trồng nho
Bảng 2.2: Tính Chất Hóa Học của Hai Loại Đất Có Diện Tích Lớn ở Ninh Thuận
P2O5 dễ tiêu(mg/100 g đất)
K2O dễ tiêu (mg/100 g đất) Mùn tổng số (%)
Đạm tổng số (%)
Tỷ lệ sét (%)
6,24 4,98 1,81 0,56 8,36 4,50 22,80 0,83 0,04 19,25
5,48 4,29 1,54 0,63 9,30 17,28 14,03 0,87 0,05 20,67 Nguồn: Lê Công Nông, 1985 Hiện nay, nho ở vùng Ninh Thuận đang được trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất cát thô ven biển đến đất thịt đỏ.Trên đất cát thô nhờ thoáng khí nho có khả năng ra rễ nhanh, sinh trưởng nhanh trong ba năm đầu Nhưng sinh trưởng yếu đi
Trang 21trong các năm tiếp theo nếu không được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ Đất thịt pha cát cho năng suất cao nhất
Những nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy, cây nho có thể chịu được độ pH khác nhau từ 5,5 – 9,5 tùy từng giống, nhưng pH tối thích cho các giống nho nằm gần điểm trung tính từ 6,5 – 7,5 Đất nhiễm mặn làm cho cây nho hút nước chậm không đáp ứng được nhu cầu của cây, cây mau tàn, cây sinh trưởng yếu và cho năng suất thấp Muốn trồng nho trên đất nhiễm mặn phải cải tạo đất
Tóm lại, đất tốt cho trồng nho là đất có sa cấu 35 – 40 cát, 35 – 40% thịt, và 10 – 25% sét Các loại đất thịt pha cát có kết cấu tốt, thoát nước tốt, và không chưa nhiều tác nhân gây bệnh đều thích hợp cho cây nho
2.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu
2.3.1 Lịch sử hình thànhtỉnh Ninh Thuận
Ngày 20 tháng 5 năm 1901, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Phan Rang, tỉnh lị cũng là Phan Rang Năm 1913, tỉnh Phan Rang bị xóa bỏ, phần phía bắc nhập vào tỉnh Khánh Hòa, còn phần phía nam gọi là đại lý hành chính, thuộc tỉnh Bình Thuận
Ngày 5 tháng 7 năm 1922, tỉnh Phan Rang, còn gọi là tỉnh Ninh Thuận, được tái lập Tỉnh gồm phủ Ninh Thuận và huyện An Phước (nơi người Chăm cư trú), do một Công sứ Pháp cai trị Dưới Công sứ còn có một Quản đạo Năm 1958, tỉnh Ninh Thuận gồm có 3 quận (24 xã): Thanh Hải (quận lị Khánh Hải), An Phước (quận lị Hậu Phước), Bửu Sơn (quận lị An Sơn) Ngày 6 tháng 4 năm 1960, thành lập quận Du Long, do tách một phần đất quận Bửu Sơn và một phần đất của quận Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa Quận lị đặt tại Karom, xã Cam Ly
Trước ngày 16 tháng 4 năm 1975, tỉnh Ninh Thuận gồm có 5 quận: Thanh Hải,
An Phước, Bửu Sơn, Du Long và Sông Pha Sau 30 tháng 4 năm 1975, Ninh Thuận được sáp nhập với Bình Thuận, Tuyên Đức, Lâm Đồng thành tỉnh Thuận Lâm
Tháng 2 năm 1976, thực hiện chủ trương giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam, ba tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy hợp nhất thành tỉnh Thuận Hải Trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận cũ có một thị xã (Phan Rang) và 3 huyện (Ninh Sơn, Ninh Hải, An Phước)
Trang 22Từ 1977 đến 1981, địa bàn tỉnh Ninh Thuận từ một thị xã và ba huyện hợp nhất thành hai huyện là huyện An Sơn với thị trấn huyện lỵ Tháp Chàm và huyện Ninh Hải (mới) với thị trấn huyện lỵ Phan Rang
Từ 1981 lại quay lại các đơn vị hành chính cũ là 1 thị xã và 3 huyện Ngày 26 tháng 12 năm 1991, Theo nghị quyết của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 10, tỉnh Thuận Hải được chia tách thành hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận
Ngày 1 tháng 4 năm 1992, tỉnh Ninh Thuận chính thức đi vào hoạt động Khi
đó, tỉnh Ninh Thuận có diện tích 3.530,4 km², dân số 406.732 người và gồm có 1 thị
xã (Phan Rang) và 3 huyện (Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước) Ngày 6 tháng 11 năm 2000, huyện Bác Ái được thành lập Ngày 1 tháng 10 năm 2005, huyện Thuận Bắc được thành lập Ngày 10 tháng 6 năm 2009, huyện Thuận Nam được thành lập
2.3.2 Điều kiện tự nhiên tỉnh Ninh Thuận
a) Vị trí địa lý
Tỉnh Ninh Thuận thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hoà, Phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía đông giáp biển Đông Diện tích tự nhiên 3.360 km2, có 7 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố và 6 huyện Thành phố Phan Rang Tháp Chàm là thành phố thuộc tỉnh, trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của tỉnh, cách thành phố Hồ Chí Minh 350km, cách sân bay quốc tế Cam Ranh 60 km, cách thành phố Nha Trang 105 km và cách thành phố Đà Lạt 110 km, thuận tiện cho việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội
từ 75-77% Năng lượng bức xạ lớn 160 Kcl/cm2 Tổng lượng nhiệt 9.500– 10.0000C
Trang 23g) Điều kiện kinh tế xã hội
Tính đến ngày 31/12/2009 dân số toàn tỉnh là 571.230 người, trong đó có 228.792 nữ và 282.438 nam Mật độ dân số là 168 người/km2 Phân bố dân cư có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn Ở thành thị chiếm 32,27% và ở nông thôn chiếm 67,73% Lao động toàn tỉnh là 341.140 người Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm dần từ 17,12 0/00 năm 2002 xuống 12,94 0/00 năm 2006 số lao động đang làm trong ngành nghề nông nghiệp và lâm nghiệp có xu hướng giảm dần Tính đến ngày 1 tháng
7 năm 2006, số lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp là 133.447 người
Lực lượng lao động dồi dào, trong đó hầu hết là lao động ngành nông lâm nghiệp, tuy nhiên chất lượng lao động trong tỉnh hiện nay khá thấp, lao động chuyên môn chỉ chiếm 8%, lao động đang làm việc và 92% còn lại là lao động phổ thông chưa qua đào tạo Riêng lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy sản thì chất lượng lao động còn thấp hơn so với bình quân chung của tỉnh, lao động có chuyên môn chỉ chiếm 4% lao động có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên rất ít (chiếm khoảng 2,6% – 2,7% ), riêng ngành nông lâm nghiệp chỉ có 1,1% – 1,2%
2.4 Xu hướng phát triển cây nho tại Ninh Thuận
2.4.1 Định hướng phát triển
Xác định nho là cây trồng chủ lực trong cơ cấu cây trồng của tỉnh, là cây đặc thù, có giá trị kinh tế cao, phải tập trung phát triển Tỉnh Ninh Thuận định hướng mở rộng cơ cấu giống nho (cả ăn trái – nho rượu) đến 2015 diện tích nho đạt 2.500ha,
Trang 24trong đó gống mới 1000 ha và 100 ha nho rượu; tập trung đầu tư theo hướng công nghệ cao; sản xuất theo hướng nho an toàn – thị trường chấp nhận.
2.4.2 Chuyển giao tiến bộ khoa học cho nông dân
Tăng cường công tác Hội thảo khoa học, chuyển giao nhanh tiến bộ khoa học đầy đủ cho nông dân, xây dựng “chương trình khuyến nông đặc biệt” Chương trình
tuyên truyền, các hỗ trợ phòng chống dịch bệnh cho giống nho NH 01
2.4.3 Xây dựng chương trình nghiên cứu
Triển khai chương trình nghiên cứu, cụ thể gồm đa dạng hoá các giống nho ăn tươi, giống nho làm rượu, phát triển giống nho kháng bệnh, mở rộng diện tích phục tráng giống nho đỏ
Hoàn thiện quy trình sản xuất nho an toàn theo hướng hữu cơ sinh học phổ biến cho nông dân Sử dụng phân bón hợp lý theo nhu cầu dinh dưỡng của cây nho theo từng mùa vụ/năm
Hoàn thiện quy trình phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) trên nho, kết hợp biện pháp hoá học và sinh học một cách hợp lý nhằm giảm dư lượng thuốc BVTV trên quả nho
Trang 25CHƯƠNG 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lí luận
3.1.1 Khái niệm nông nghiệp bền vững
Nông nghiệp bền vững trước hết năng suất cây trồng, vật nuôi trên cùng một mảnh đất phải ổn định và có xu hướng ngày càng được nâng cao, hiệu quả kinh tế thu được cũng phải được nâng cao, nuôi sống được nhiều người và mức thu nhập cũng ngày càng được cải thiện mà không làm hủy hoại môi trường của tự nhiên và của cộng đồng
3.1.2 Khái niệm thuốc BVTV
Thuốc BVTV là một vật tư kỹ thuật cần thiết để góp phần hạn chế dịch hại, bảo
vệ cây trồng, giữ vững và nâng cao sản lượng, chất lượng nông sản Hiện nay sử dụng thuốc BVTV cũng là một biện pháp quan trọng trong hệ thống các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM – Integrated Pest Managernent)
Thuốc BVTV có nhiều cách phân loại:
- Phân loại theo đối tượng phòng trừ: sâu, bệnh, cỏ, chuột, nhện, ốc sên, điều tiết sinh trưởng cây trồng (kích thích sinh trưởng)
- Phân loại theo gốc hóa học
Trang 26Chất điều hòa sinh trưởng cây trồng gồm các chất có tác dụng kích thích sinh trưởng (Auxin, Gibberelin, Cytokinin) và các chất ức chế sinh trưởng
(Paclobutatrazole), các chất này có thể là chất tổng hợp hóa học, chất có nguồn gốc sinh học (Gibberellin) hoặc chất chiết suất từ sinh vật (chất Oligo saccarit từ rong biển)
Để bảo vệ sức khoẻ người lao động và môi trường sống, nhà nước ta đã ban hành chính sách, quy định pháp luật về việc quản lý sử dụng thuốc BVTV
Điển hình có thể kể đến Thông tư Số 36/2011/TT-BNNPTNT, ngày 25/10/2011 Về việc ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam Thông tư đã nêu rõ từng loại thuốc được
sử dụng hiện nay ( dùng trong nông nghiệp, diệt trừ mối, bảo quản lâm sản, bảo quản khử trùng kho, thuốc dùng cho sân golf); quy định rõ ràng danh mục và số lượng tất cả các loại thuốc hạn chế, cấm sử dụng ở Việt Nam
Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài Trong đó
có quy định về “Việc xuất khẩu, nhập khẩu các loại thuốc bảo vệ thực vật”
Thuốc BVTV là những hợp chất hóa học (vô cơ, hữu cơ), những chế phẩm sinh học (chất kháng sinh, vi khuẩn, siêu vi trùng, tuyến trùng ), những chất có nguồn gốc thực vật, động vật được sử dụng để bảo vệ cây trồng, nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại ( côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, cỏ dại, rong rêu, vi khuẩn )
Thuốc BVTV còn có tên gọi là thuốc trừ dịch hại (Pesticide) và khái niệm này hàm chứa thuốc trừ mối mọt, các loại ve, bọ chét, rệp hại vật nuôi, thuốc trừ côn trùng
y tế, thuốc làm rụng lá cây, thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng
b) Các nhóm thuốc BVTV
Thuốc BVTV được chia thành từng nhóm theo công dụng của chúng: thuốc trừ sâu, thuốc trừ nhện hại cây, thuốc trừ tuyến trùng, thuốc trừ ốc sên, thuốc trừ chuột, thuốc trừ chim hại mùa màng, thuốc trừ động vật hoang dại mùa màng, thuốc trừ sâu bệnh hại nông sản trong kho, thuốc trừ nấm (còn gọi thuốc trừ sâu bệnh), thuốc trừ cỏ
Trang 27dại, thuốc trừ thân cây mộc, thuốc làm rụng lá cây, thuốc làm khô cây, thuốc điều hòa sinh trưởng
Được sử dụng phổ biến nhất trong những nhóm thuốc BVTV trên là các nhóm thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh và thuốc trừ cỏ dại Tuy nhiên mỗi loại thuốc BVTV chỉ diệt trừ một số loại dịch hại nhất định, chỉ thích hợp với những điều kiện nhất định như thời tiết, đất đai, cây trồng, kỹ thuật canh tác
Thuốc trừ sâu: Dùng để phòng trừ các loại côn trùng gây hại cây trồng trên
đồng ruộng, côn trùng gây hại nông sản trong kho Một số ít thuốc trừ sâu có tác dụng phòng trừ đối với nhện đỏ hại cây
Thuốc trừ nấm: Còn gọi là thuốc trừ bệnh cây được dùng để phòng trừ nhiều
loại vi sinh vật gây bệnh cho cây trồng và nông sản Tuy tên gọi là thuốc trừ nấm nhưng nhóm thuốc này không những có hiệu lực phòng trừ nấm ký sinh, mà còn có tác dụng phòng trừ vi khuẩn gây hại cho cây trồng và nông sản
Thuốc trừ cỏ dại: Dùng để diệt trừ các loại thực vật hoang dại (cỏ dại, cây dại)
mọc lẫn với cây trồng, tranh chấp nước, chất dinh dưỡng, ánh sáng với cây trồng, khiến cây sinh trưởng và phát triển kém, ảnh hưởng xấu đến năng suất cây trồng và phẩm chất nông sản
c) Các phương pháp sử dụng thuốc BVTV
Có thể sử dụng thuốc BVTV theo nhiều phương pháp, tùy theo dạng thuốc Các dạng thuốc nước (dung dịch, nhũ dầu, huyền phù nước), các dạng thuốc bột (hoặc thuốc hạt) thấm nước hoặc hòa tan dùng hòa với nước để phun lên cây, dạng hạt khô dùng rải xuống đất, có dạng thuốc bột chỉ dùng phun bột
Có nhiều phương pháp phun thuốc:
Phun mưa: Cỡ giọt mưa có đường kính từ 150-300 µ (Micron=1/1000mm)
Bơm tay và tất cả các kiểu phun thuốc nước đều có thể dùng để phun mưa Do giọt nước thuốc phun ra tương đối lớn nên lượng thuốc cần phun cho một đơn vị diện tích phải nhiều, trung bình khoảng 400-600 lít/ha với lúa và rau màu và từ 800-1000 lít/ha đối với cây lâu năm đã lớn
Phun sương: Cỡ giọt nước thuốc phun ra từ 50-150 µ, lượng nước phun thuốc
trung bình 100-200 lít/ha với lúa với lúa, rau màu, từ 300-600 lít/ha với cây lâu năm đã lớn Chỉ có các loại bơm có động cơ mới có thể phun sương
Trang 28Phun mù: Cỡ giọt nước thuốc khoảng 50-60 (dưới 50 gọi là soi khí), lượng
thuốc phun từ 5-15 lít/ha và chỉ có thể bơm động cơ có cấu kiện phun mù mới phun được
Phun lượng cực nhỏ (Ultra Low volume = UTL): Đây là chác phun ko dùng
nước mà phun trực tiếp bằng thuốc với lượng cực ít dưới 5 lít/ha Người ta phải chế những loại thuốc và máy bơm chuyên dùng để phun lượng cực nhỏ Do hạt thuốc rất nhỏ nên phương pháp này có ưu điểm là thuốc phân bố đều ở khắp tán lá cây, thuận tiện cho việc phun thuốc với các cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm, giá thành thấp (chỉ bằng 50-70% so với phun sương hay phun mưa)
Phun và rải thuốc bột, thuốc hạt: Tương đối đơn giản và tốn ít công hơn
nhưng lượng thuốc dùng thường cao hơn 1,5-3 lần so với phun nước Vì vậy hiện nay người ta có xu hướng chế tạo các dạng thuốc phun nước thay cho phun bột Phương pháp rải thuốc xuống đất vẫn cần thiết để phòng trừ các loại sâu hại sống gần mặt đất
và một số cỏ dại
Phương pháp trộn hoặc ngâm giống, hom giống (xử lý giống): Chủ yếu để
phòng trừ các nguồn bệnh tồn tại lan truyền qua hạt và hom giống
Ngoài ra nhiều loại thuốc BVTV còn dùng xử lý kho để trừ sâu, mọt bằng phun nước và xông hơi, tẩm vào nhà gỗ trừ mối, mọt, dùng ống tiêm xuống lớp đất sâu quanh gốc cây để trừ tuyến trùng và nấm hại rễ
d) Bảo quản thuốc BVTV
Thuốc BVTV mua về chưa dùng hoặc sử dụng không hết phải được cất ở nhà kho cao ráo thoáng mát, cần có sự chú ý về điều kiện nhiệt độ, độ ẩm Đặc biệt, không xếp bao thuốc xuống sát nên nhà, Sử dụng thuốc BVTV đúng theo nguyên tắc: dùng đúng thuốc, dùng đúng lúc, dùng đúng liều lượng và dùng đúng phương pháp Phải sử dụng công cụ riêng khi phun thuốc, không cho trẻ em đến gần chỗ pha chế Không ăn, uống, hút thuốc khi đang sử dụng thuốc Không sử dụng các nông sản đã sử dụng thuốc (hạt, củ giống ) làm thức ăn
Nên sử dụng các bình bơm hoàn chỉnh, không phun thuốc ngược chiều gió, lúc trời nắng gắt hay gió lớn và phải rửa ngay sau khi phun thuốc Không huy động người già trẻ, trẻ em, phụ nữ có thai đi phun thuốc, rải thuốc Nghiêm cấm người và gia súc qua lại những khu vực vừa mới phun thuốc Thu hồi bao bì và các thuốc còn thừa,
Trang 29không rửa bình bơm tại nguồn nước sinh hoạt và nuôi cá Sau khi phun phải thay quần
áo tắm rửa sạch sẽ Chỉ thu hoạch nông sản sau khi đã hết thời gian cách ly
3.1.3 Tác dụng của thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp
Thuốc BVTV đóng vai trò rất lớn trong hệ thống canh tác nông nghiệp Nó giúp bảo vệ mùa màng, tăng năng suất làm tăng hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, một nền sản xuất hiệu quả đòi hỏi phải đảm bảo các yếu tố cả về kinh tế, xã hội và môi trường
a) Ưu điểm
Tiêu diệt dịch hại nhanh chóng và triệt để, nhất là khi chúng phát sinh mạnh, đe dọa nghiêm trọng năng suất cây trồng mà các biện pháp khác không thể ngăn chặn nổi Dùng thuốc có thể tiêu diệt hàng loạt cá thể dịch hại trong một thời gian ngắn, hiệu quả thể hiện rất rõ
Trong một thời gian ngắn có thể sử dụng trên diện tích rộng, nhất là với các phương tiện phun rải hiện đại (máy phun có động cơ, máy bay phun rải thuốc) Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật có thể sáng chế ra những loại thuốc ít độc hại với con người và môi trường
3.1.4 Những ảnh hưởng của thuốc BVTV
Các loại hóa chất BVTV thường là những hóa chất độc, khả năng tồn lưu lâu trong đất, tác động vào môi trường đất, sau đó đến sản phẩm nông nghiệp, đến động vật và người, theo kiểu tích tụ, ăn sâu và bào mòn Do việc sử dụng, bảo quản chưa đúng quy định nên đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và nông sản gây nhiều hậu quả nghiêm trọng
a) Ảnh hưởng của thuốc đối với môi trường và hệ sinh thái
Do thuốc BVTV mang tính độc đối với sinh vật và có khả năng vận chuyển, tồn
dư nên có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và hệ sinh thái Khi phun thuốc cho cây trồng, có tới 50% lượng thuốc bị rơi xuống đất Đó là chưa kể đến biện pháp bón thuốc
Trang 30trực tiếp vào đất ở trong đất, thuốc BVTV được keo đất và các chất hữu cơ giữ lại Sau đó sẽ phân tán và biến đổi theo nhiều con đường khác nhau qua các hoạt động sinh học của đất và tác động của các yếu tố hóa lý
Thuốc bị rửa trôi vào nước gây nhiễm độc nước mặt nước ngầm, sông, biển Nhiều loại thuốc có khả năng bay hơi vào không khí nhất là trong điều kiện thời tiết nóng, ẩm Qua nước và không khí, thuốc có thể chuyển đến những vùng rất xa, đóng góp vào việc gây ô nhiễm toàn cầu Người ta cũng ước tính có tới 90% thuốc sử dụng không tham gia diệt sâu bệnh mà gây nhiễm độc cho đất, nước, không khí và nông sản
b) Ô nhiễm môi trường đất
Thuốc BVTV hóa học khi hấp thụ vào đất sẽ chuyển hóa hóa học, được thực vật hấp thụ, bị phân hủy quang học, rửa trôi trên bề mặt, phân hủy sinh học và một phần sẽ bay hơi Tùy từng loại thuốc khác nhau mà quá trình này diễn ra theo những bước và những tỷ lệ khác nhau Tuy nhiên, khi được sử dụng thuốc BVTV hóa học sẽ
có những thành phần độc chất được giữ lại trong đất và cây trồng hấp thu và các chất độc này sẽ tồn tại trong nông sản và gây hại cho người sử dụng
Theo các kết quả nghiên cứu, hiện nay, mặc dù khối lượng thuốc BVTV được
sử dụng ở Việt Nam còn ít, trung bình từ 0,5-1,0 kg ai/ha/năm Tuy nhiên, ở nhiều nơi
đã phát hiện dư lượng thuốc BVTV trong đất
c) Ô nhiễm môi trường nước
Xét về góc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.Thuốc bị rửa trôi vào nước gây nhiễm độc nước bề mặt, nước ngầm, nước sông Người ta đã phát hiện thuốc BVTV trong các khu nước ngọt ở nhiều nơi trên thế giới nối chung và ở Việt Nam nói riêng, nếu lượng thuốc mà nông dân sử dụng quá lớn đã tồn đọng trong các ruộng lúa mà ít bị phân hủy sẽ gây ô nhiễm môi trường nước Sau mỗi mùa lũ tràn về, nước ở các nguồn sông lớn tràn về mang theo một lượng thuốc còn tồn dư trong các ruộng lúa của các hộ nông dân, đến một lúc nào đó lượng này sẽ đủ lớn gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng
Ở nước ta hiện nay, hiện trạng ô nhiễm môi trường và nông sản do thuốc BVTV gây ra đã được phát hiện và trở thành vấn đề cần quan tâm Theo ước tính của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, những năm gần đây trung bình cả nước môi năm sử dụng khoảng 40.000-50.000 tấn thuốc BVTV
Trang 31d) Ảnh hưởng đối với người và động vật máu nóng
Do khả năng hòa tan cao trong lipit của thuốc BVTV nên đã phát hiện thuốc trong mô mỡ của động vật và như vậy chúng đã được lôi cuốn vào chuỗi thức ăn trong các hệ sinh thái Khi phun thuốc lên cây, trước hết các loại động vật ăn cỏ đã bị nhiễm độc Sau đó những động vật này lại là con mồi của những động vật ăn thịt khác, tiếp theo đó những động vật ăn thịt này lại là con mồi của những động vật ăn thịt khác cứ như vậy chất độc được truyền đi trong chuỗi thức ăn và qua mỗi mắt xích của chuỗi thức ăn này, chất độc lại được tích lũy thêm một mức cao hơn
Các loại thuốc BVTV đều độc với người và động vật máu nóng ở mức độ khác nhau Người ta chia thuốc BVTV làm hai nhóm: chất độc nồng độ và chất độc tích lũy Mức độ gây độc của nhóm chất độc nồng độ phù thuộc vào lượng thuốc xâm nhập vào
cơ thể Ở dưới liều chí tử, cơ thể không bị tử vong, thuốc được phân giải dần và bài tiết ra ngoài Thuộc nhóm độc này gồm các chất Pyrethroid, nhiều hợp chất lân hữu
cơ, Carbamate, thuốc có nguồn gốc sinh vật
Các loại thuốc thuộc nhóm độc tích lũy gồm nhiều hợp chất Clo hữu cơ, các chất chứa Asen, thủy ngân, chì Các thuốc này có khả năng tích lũy lâu trong cơ thể, gây nên các biến đổi sinh lý có hại, thậm chí có loại gây rối loạn di truyền
Các loại thuốc BVTV có thể xâm nhập vào cơ thể người qua nhiều đường như tiếp xúc da, ăn hoặc hít phải thuốc do tiếp xúc trực tiếp hay qua nông sản, nước uống, không khí bị nhiễm thuốc
Độ độc cấp tính
Thuốc xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm độc tức thời gọi là nhiễm độc cấp tính
Độ độc cấp tính của thuốc được biểu thị qua liều gây chết trung bình, viết tắt là LD50
(Letal dosis), tức là liều thuốc ít nhất có thể gây chết 50% cá thể thí nghiệm (thường là chuột bạch), được tính bằng mg hoạt chất/kg trọng lượng cơ thể Mỗi loại thuốc có thể
có trị số LD50 khác nhau LD50 với chuột đực cũng có thể khác với chuột cái Từ độ độc cấp tính với chuột cũng có thể gây ra cho con người và động vật máu nóng khác
Liều LD50 của thuốc đối với cơ thể còn phụ thuộc vào cách thức xâm nhập của thuốc vào cơ thể Cùng một loại thuốc với cùng một cơ thể, khi xâm nhập qua miệng vào đường ruột tác động khác xâm nhập qua da, vì vậy liều LD50 qua miệng cũng có thể khác liều LD50 qua da Độ độc cấp tính của thuốc qua đường xông hơi được biểu
Trang 32thị bằng nồng độ gây chết trung bình, viết tắt là LC50 (Letal concentration), được tính
mh hoạt chất/m3 không khí Loại thuốc có trị số LD50 hoặc LC50 càng thấp là thuốc độc cấp tính càng cao
Độ độc mãn tính
Nhiều loại thuốc có khả năng tích lũy trong cơ thể người và động vật máu nóng gây đột biến tế bào, kích thích tế bào u ác tính phát triển, ảnh hưởng đến tế bào thai và gây dị dạng đối với các thế hệ sau Các biểu hiện tác hại này phát sinh chậm, do thuốc tích lũy dần trong cơ thể gọi là nhiễm độc mãn tính Biểu hiện nhiễm độc mãn tính lúc đầu có thể nhầm lẫn với các bệnh lý thông thường khác như da xanh, nhức đầu, mệt mỏi, ăn ngủ thất thường, cần phải khám bệnh và điều trị kịp thời
Phân loại nhóm độc
Căn cứ độ độc cấp tính của thuốc, tổ chức y tế thế giới (WHO) phân chia các loại thuốc thành 5 nhóm độc khác nhau là các nhóm: Ia (rất độc), gồm cả nhóm Iaa (rất độc) và Ib (độc cao), II (độc trung bình), III (ít độc), IV (rất ít độc) Ở Mỹ phân chia thành 4 nhóm độc ở nước ta tạm thời theo cách phân chia nhóm độc của WHO và lấy căn cứ chính là liều LD50 qua miệng (chuột), phân chia thành bốn nhóm độc là nhóm I (rất độc gồm cả Ia, Ib), nhóm II (độc trung bình), nhóm III (ít độc) và nhóm IV (rất ít độc)
Thuốc hạn chế sử dụng
Ở nước ta và nhiều nước đã quy định cấm sử dụng hoặc hạn chế sử dụng đối với các loại thuốc có khả năng tích lũy trong cơ thể, gây đột biến tế bào hoặc có độ độc cấp tính cao (nhóm I) Theo quy định của Cục BVTV, việc sử dụng các loại thuốc BVTV hạn chế sử dụng ở Việt Nam phải bảo đảm các nguyên tắc chung là:
Chỉ những người đã được huấn luyện hoặc dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cán
bộ chuyên trách BVTV mới được sử sụng thuốc Khi sử dụng phải tuân thủ nghiêm ngặt sự chỉ dẫn ở nhãn chai
Nhãn thuốc phải ghi thật đầy đủ và rõ ràng về cách sử dụng cho phù hợp với quy định của từng loại thuốc Không tuyên truyền, quảng cáo các loại thuốc BVTV bị hạn chế sử dụng
Trang 33Độ độc dư lượng
Theo quy định của tổ chức Lương Thực Nông Nghiệp Thế Giới (FAO) thì dư lượng thuốc BVTV là những đặc thù tồn lưu trong lương thực và thực phẩm, trong sản phẩm nông nghiệp và trong thức ăn vật nuôi cho sử dụng thuốc BVTV gây nên Những chất đặc thù này bao gồm hoạt chất và các phụ gia ở dạng hợp chất ban đầu các sản phẩm chuyển hóa trung gian và sản phẩm phân giải ở dạng tự do hoặc liên kết với các chất trong thực vật có hại tới sức khỏe con người và động vật máu nóng (gọi chung là chất độc) Những chất này có thể tồn tại ở lớp biểu bì (gọi là dư lượng biểu bì) ở trong lớp biểu bì (dư lượng nội bì) hoặc ở ngoài lớp biểu bì (dư lượng ngoại bì)
Dư lượng này được tính bằng mg hoặc µ (Microgam) trong một kg nông sản Từng loại thuốc đối với từng loại nông sản đều được quy định mức dư lượng tối đa cho phép mà không gây hại đến cơ thể người và vật nuôi khi ăn uống nông sản đó, mức dư lượng tối đa cho phép có thể quy định khác nhau ở mỗi nước, tùy theo đặc điểm sinh lý, sinh thái và đặc điểm dinh dưỡng của người dân nước đó
Thời gian cách ly
Khoảng thời gian ngắn nhất kể từ khi phun lên cây cho đến khi thuốc phân hủy đạt mức dư lượng tối đa cho phép, gọi là thời gian cách ly Trong thực tế, thời gian cách ly được quy định từ ngày phun lần cuối lên cây trồng cho đến ngày thu hoạch nông sản làm thức ăn cho người và vật nuôi, được tính bằng ngày Thời gian cách ly khác nhau đối với từng loại thuốc trên mỗi loại cây trồng và nông sản đó Không đảm bảo thời gian cách ly có thể gây ngộ độc cho người sử dụng nông sản có phun thuốc BVTV
e) Ảnh hưởng của thuốc BVTV tới thiên địch
Thiên địch là danh từ chỉ chung các loài kẻ thù tự nhiên của dịch hại, bao gồm các động vật lý sinh hoặc bắt mồi ăn thịt (côn trùng, nhện, chim) các vi sinh vật gây bệnh cho sâu, các vi sinh vật đối kháng với các vật gây bệnh Trong sản xuất nông nghiệp, thiên địch quan trọng dễ thấy nhất là các loài nhện, côn trùng ký sinh hoặc ăn sâu, các vi sinh vật gây bệnh cho sâu Thiên địch giữ vai trò rất to lớn trong việc khống chế sự phát triển của sâu hại Chúng được coi là những sinh vật có ích, cần được bảo
vệ
Trang 34Sử dụng các loại thuốc BVTV cần chú ý bảo vệ thiên địch bằng các biện pháp như chọn sử dụng thuốc ít hại thiên địch, chỉ nên sử dụng thuốc khi sâu hại phát triển tới mức cần phòng trừ (vượt qua ngưỡng gây hại), không nên phun thuốc sâu khi thiên địch đang tích lũy và phát triển, có khả năng khống chế được sâu hại
f) Ảnh hưởng của thuốc tới cây trồng
Các loại thuốc BVTV nếu sử dụng đúng nồng độ và phương pháp hưỡng dẫn đều không gây hại với cây trồng Khả năng chống chịu của cây trồng đối với thuốc có liên quan đến điều kiện thời tiết và giai đoạn sinh trưởng Khi trời đang nắng nóng quá, khi cây còn nhỏ hoặc đang ra hoa thụ phấn dễ bị ảnh hưởng bởi thuốc, nên tránh phun thuốc vào những lúc đó
Thuốc BVTV chọn lọc, nếu sử dụng quá liều lượng, không đúng thời gian quy định hoặc chế độ nươc không thích hợp cũng có thể gây hại cây trồng
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu sơ cấp: Dùng bảng câu hỏi soạn sẵn tiến hành điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên 111 hộ nông dân sản xuất nho có sử dụng thuốc BVTV tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Số liệu về tình hình sản xuất nho của nông dân được thu thập từ vụ mùa năm 2011
Thu thập số liệu thứ cấp: các số liệu về tổng quan địa bàn nghiên cứu được thu thập tại UBND huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
3.2.2.Phương pháp thống kê mô tả
Đây là một phương pháp mà hoạt động chính là việc thu thập thông tin, dữ liệu
để kiểm chứng các giả thuyết, trả lời các câu hỏi có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu Nghiên cứu mô tả nhằm xác định và tường trình sự việc xảy ra Những nghiên cứu mô tả điển hình thường liên quan đến việc đánh giá thái độ, ý kiến, các thông tin
về xã hội, con người trong các điều kiện và quy trình hoạt động Các số liệu trong nghiên cứu mô tả thông thường được thu thập bằng các cuộc phỏng vấn điều tra qua các bảng câu hỏi, phỏng vấn, quan sát trực tiếp hoặc các phương pháp khác kết hợp
thành những hình thức nêu trên
Cụ thể trong nghiên cứu này, việc xây dựng bảng câu hỏi kết hợp với việc điều tra phỏng vấn từng hộ trồng nho sẽ giúp đề tài thu thập được những thông tin chung về
Trang 35thực trạng sử dụng thuốc BVTV trên cây nho, nhận thức vể liều lượng thuốc BVTV,
sự quan tâm đến vấn đề sức khỏe và một số yếu tố làm cơ sở phân tích hiệu quả sử dụng thuốc BVTV
3.2.3 Phương pháp phân tích hồi quy
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích hồi quy trong đó áo dụng hàm năng suất
để xác định các nhân tố chính ảnh hưởng đến năng suất cây nho và để đánh giá mức độ ảnh hưởng của thuốc BVTV đến năng xuất cây nho
Hồi quy là công cụ cơ bản để đo lường kinh tế Phân tích hồi quy đo lường mối quan hệ phụ thuộc của một biến (gọi là biến phụ thuộc hay biến được giải thích) với một hay nhiều biến khác (được gọi là biến độc lập hay biến giải thích) Phân thích hồi quy được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Xác định và nêu ra các giả thiết về mối quan hệ giữa các biến kinh tế
Kỹ thuật ước lượng hồi quy được sử dụng trong nghiên cứu này là phương pháp bình phương bé nhất (OLS – Ordinary Least Squares) dựa trên ba giả thiết của mô hình như sau:
Mối quan hệ giữa Y và Xi là tuyến tính (theo tham số)
Xi là các biến số ngẫu nhiên và các giá trị của nó là không đổi Ngoài ra không
có sự tương quan hoàn hảo giữa hai hay nhiều hơn các biến độc lập
Số hạng sai số có giá trị kỳ vọng bằng không và phương sai không đổi (là hằng số) cho tất cả các quan sát tức là E(εi)=0 và E(εi²)=0 Các biến số ngẫu nhiên εi là độc lập về mặt thống kê Như vậy, E(εi, εj)=0 với i#j Số hạng sai số phân phối chuẩn
Bước 2: Thiết lập mô hình toán học để mô tả quan hệ giữa các biến số
Phương trình hồi quy được trình bày ở dạng tuyến tính:
Y= α0 + α1X1 + α2X2 + α3X3 + + αnXn + ε
Y: biến phụ thuộc
Xi: biến số độc lập (i=1,2, ,k)
αi: hệ số ước lượng (i=1,2, ,k)
ε: sai số của mô hình
Bước 3: Ước lượng các tham số của mô hình (αi)
Các ước lượng này là các giá trị thực nghiệm của tham số trong mô hình Ngoài
ra, theo lý thuyết kinh tế lượng, nếu các giả thuyết của mô hình đều thỏa, các hàm ước
Trang 36lượng αi là các hàm ước lượng tuyến tính, không thiên lệch, tốt nhất (BLUE – Best Linear Umbiesed Estimation)
Bước 4: Kiểm định các giả thuyết đặt ra
Bước 5: Phân tích mô hình
a) Hàm năng suất được xây dựng là hàm Cobb-Douglas:
Dùng để phân tích tác động của thuốc BVTV đến năng suất nho
Khóa luận sử dụng phương pháp phân tích hồi quy để xây dựng hàm sản xuất nho từ hàm sản xuất dạng Cobb – Douglas như sau:
NS=e0TDO1TAPHUAN2LDONG3LNUOCTUOI4KNGHIEM5 MATDO6BVTV7PHANBON8
Trong đó:
NS: Năng suất nho (kg/sào/năm)
TDO: Trình độ học vấn của người trồng nho (tính theo số năm đi học)
TAPHUAN: Số lần tham gia tập huấn khuyến nông (lần/năm)
LDONG: Tổng số công lao động (ngày công/ sào/năm)
LNUOCTUOI: Lượng nước tưới cho nho (m3/ sào/năm)
KNGHIEM: Số tuổi của nho (năm)
MATDO: Mật độ cây trồng (số cây giống/sào)
BVTV: Chi phí thuốc bảo vệ thực vật (1000đ/sào/năm)
PHANBON : Chi phí phân bón (1000đ/ sào năm)
Bảng 3.1 Kỳ Vọng Dấu Các Hệ Số của Mô Hình Hàm Năng Suất
Tập huấn khuyến nông LN_TAPHUAN + (dương)
Trang 37Hàm Coubb-Douglas được chuyển về dạng tuyến tính như sau:
LN_Y= 0 + 1LN_TDO + 2LN_TAPHUAN + 3LN_LDONG +
4LN_LNUOCTUOI+ 5LN_KNGHIEM + 6LN_MATDO + 7LN_BVTV +
1: Nếu trình độ học vấn của người trồng nho càng cao khả năng tiếp thu phương pháp kĩ thuật và áp dụng cao hơn, năng suất nho cao hơn, kì vọng dấu (+)
2: Kì vọng dấu (+) vì khi tham gia tập huấn khuyến nông nhiều lần thì bà con
sẽ được chỉ dẫn kĩ thuật canh tác nho kĩ lưỡng hơn, đúng phương pháp hơn nên năng suất cao hơn
3: Nếu nông dân sử dụng nhiều công lao động thì vườn nho được chăm sóc kĩ hơn nên năng suất cao hơn, kì vọng dấu (+)
4: Nho là loại cây trồng cần nhiều nước tưới (đặc biệt là vào mùa khô) Vì vậy nếu tưới nhiều thì năng suất cao hơn, kì vọng dấu (+)
5: Tuổi của nho cũng là một biến ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất, thâm niên trồng nho của người nông dân càng cao thì kì vong năng suất nho cao hơn, kì vọng dấu (+)
6: Kì vọng dấu (+) vì khi mật độ trồng hiện tại thưa, chưa đạt đến mức ngưỡng thì sự gia tăng trong mật độ trồng sẽ làm tăng năng suất, trong trường hợp này hệ số mang dấu dương (+)
7, 8: Kì vọng dấu (+) vì các yếu tố đầu vào như phân bón, nông dược (thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu và các hóa chất khác) ta kì vọng có tương quan thuận với năng suất cây, nghĩa là khi tăng các yếu tố này thì năng suất cũng sẽ tăng theo tương ứng