1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm của Ăng ghen về phân kỳ lịch sử triết học

13 320 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 36,14 KB
File đính kèm quan điểm Anghen.rar (33 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử hình thành, phát triển triết học trải qua nhiều thời kỳ với nhiều trường phái khác nhau. Những trường phái này phản ánh trình độ phát triển về kinh tế xã hội, chính trị và tri thức khoa học tự nhiên của con người ở các thời kỳ. Việc phân kỳ lịch sử triết học nhằm phân chia lịch sử triết học ra thành những giai đoạn, chặng đường phát triển cụ thể khác nhau, trên cơ sở đó các nhà nghiên cứu đi sâu nghiên cứu lịch sử triết học một cách khoa học. Cho đến nay, có rất nhiều cách thức phân kỳ lịch sử triết học khác nhau. Trong đó, Ăng ghen – một trong những nhà triết học lớn của thế giới cũng có đưa ra quan niệm của mình về phân kỳ lịch sử triết học. Vì vậy việc nghiên cứu quan niệm của Ăng ghen về phân kỳ lịch sử triết học là nội dung quan trọng không thể thiếu khi nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của các tư tưởng triết học trong lịch sử. Đó cũng là lý do tôi lựa chọn đề tài: “Quan niệm của Ăng ghen về phân kỳ lịch sử triết học”.

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 0

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Khái lược về lịch sử triết học 1

1 Lịch sử triết học 1

2 Phân kỳ lịch sử triết học 2

II Quan niệm của Ăng ghen về phân kỳ lịch sử triết học 5

1 Vài nét về tiểu sử của Ph.Ăng ghen 5

2 Quan niệm của Ăng-ghen về phân kỳ lịch sử triết học 6

KẾT LUẬN 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 2

MỞ ĐẦU

Lịch sử hình thành, phát triển triết học trải qua nhiều thời kỳ với nhiều trường phái khác nhau Những trường phái này phản ánh trình độ phát triển về kinh

tế - xã hội, chính trị và tri thức khoa học tự nhiên của con người ở các thời kỳ Việc phân kỳ lịch sử triết học nhằm phân chia lịch sử triết học ra thành những giai đoạn, chặng đường phát triển cụ thể khác nhau, trên cơ sở đó các nhà nghiên cứu đi sâu nghiên cứu lịch sử triết học một cách khoa học Cho đến nay, có rất nhiều cách thức phân kỳ lịch sử triết học khác nhau Trong đó, Ăng ghen – một trong những nhà triết học lớn của thế giới cũng có đưa ra quan niệm của mình về phân kỳ lịch

sử triết học Vì vậy việc nghiên cứu quan niệm của Ăng ghen về phân kỳ lịch sử triết học là nội dung quan trọng không thể thiếu khi nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của các tư tưởng triết học trong lịch sử Đó cũng là lý do tôi lựa chọn đề

tài: “Quan niệm của Ăng ghen về phân kỳ lịch sử triết học”.

NỘI DUNG

I Khái lược về lịch sử triết học

1 Lịch sử triết học

Lịch sử triết học là lịch sử hình thành, phát triển tư tưởng triết học qua các giai đoạn phát triển của xã hội; là lịch sử đấu tranh giữa các trường phái triết học,

mà điển hình là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm; giữa phương pháp biện chứng với phương pháp siêu hình; là lịch sử gạt bỏ và kế thừa lẫn nhau của các tư tưởng triết học qua các giai đoạn lịch sử, cũng như giữa các dân tộc và các vùng với nhau

Từ nhu cầu nghiên cứu lịch sử triết học đã ra đời bộ môn khoa học lịch sử triết học Đối tượng của khoa học lịch sử triết học là nghiên cứu làm rõ lịch sử hình thành, phát triển và nội dung tư tưởng của các học thuyết triết học dưới các biểu hiện cụ thể của nó trong từng giai đoạn lịch sử, làm rõ cuộc đấu tranh giữa hai

Trang 3

trường phái triết học (chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm), giữa hai phương pháp triết học (phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình)

Là một ngành khoa học, nhiệm vụ của lịch sử triết học là tìm ra bản chất của các học thuyết triết học và xác định vị trí của nó trong từng nước, từng giai đoạn nói riêng và của thế giới nói chung để từ đó thấy được mối liên hệ giữa các khuynh hướng biểu hiện khác nhau của các học thuyết, các trường phái, các phương pháp triết học trong quá trình phát triển của chúng; thấy được sự đan xen lẫn nhau, thâm nhập vào nhau, kế thừa lẫn nhau và loại bỏ lẫn nhau giữa các trào lưu triết học; thấy được sự gắn bó chặt chẽ giữa các trường phái triết học với toàn bộ hoạt động thực tiễn của con người; phải đánh giá khách quan những đóng góp tích cực, những hạn chế của các học thuyết và phương pháp triết học trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Như vậy, lịch sử triết học với tư cách là khoa học nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển triết học trong lịch sử phải phát hiện ra những quy luật hình thành, phát triển của các học thuyết, trường phái triết học và xác định vai trò của chúng đối với sự phát triển của tư duy lý luận nói riêng và đối với đời sống xã hội nói chung

2 Phân kỳ lịch sử triết học

Phân kỳ lịch sử triết học là cơ sở để đi sâu nghiên cứu lịch sử triết học một cách khoa học Theo quan điểm Macxit, việc phân kỳ lịch sử triết học cần dựa trên những căn cứ cơ bản sau:

Thứ nhất, triết học là một hình thái ý thức xã hội và là một bộ phận cấu

thành của kiến trúc thượng tầng, nó hình thành, phát triển gắn liền với sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội Mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của các hình thái kinh tế - xã hội sẽ hình thành nên các

Trang 4

học thuyết triết học khác nhau Cho nên phân kỳ lịch sử triết học cần phải dựa vào các giai đoạn phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội Đó

là triết học xã hội nô lệ, triết học xã hội phong kiến, triết học thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản,…

Thứ hai, sự phát triển của triết học luôn luôn gắn liền với sự phát triển của

khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Mỗi giai đoạn phát triển của khoa học, nhất

là khoa học tự nhiên, triết học đều có bước phát triển mới Vì vậy, phân kỳ lịch sử triết học còn phải gắn liền với các giai đoạn phát triển của khoa học tự nhiên Như triết học thời kỳ khoa học tự nhiên đi sâu vào khoa học thực nghiệm thế kỷ XVII – XVIII, triết học thời kỳ khoa học tự nhiên đi sâu vào khái quát những quy luật chung của tự nhiên cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, triết học trong những thời

kỳ khoa học tự nhiên bắt đầu vào nghiên cứu thế giới vi mô cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, triết học trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay

Thứ ba, do nhiều yếu tố tác động khác nhau, lịch sử triết học còn có những

bước ngoặt mang tính cách mạng trong quá trình phát triển, Điều đó đòi hỏi phân

kỳ lịch sử triết học cần phải tính đến những bước ngoặt trong sự phát triển của triết học Chẳng hạn, triết học cổ điển Đức vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã nâng phép biện chứng lên thành một hệ thống lý luận luận có tính khái quát cao Đặc biệt phải nói đến sự ra đời của triết học Mác đã tạo ra một bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học

Thứ tư, sự phát triển của triết học không thể tách rời những điều kiện cụ thể

về tự nhiên, về kinh tế - xã hội, về văn hóa,… của từng vùng, từng dân tộc Những điều kiện cụ thể đó tạo nên những nét độc đáo riêng về tư tưởng triết học của từng vùng, từng dân tộc Vì vậy, phân kỳ lịch sử triết học còn phải gắn liền với từng vùng, từng dân tộc Chẳng hạn phân ra triết học phương Đông và triết học phương

Trang 5

Tây, trên cơ sở đó lại chia ra triết học ở các nước khác nhau và các thời kỳ khác nhau

Như vậy, phân kỳ lịch sử triết học dựa trên nhiều căn cứ khác nhau cho nên

có nhiều cách phân kỳ khác nhau Mỗi cách phân kỳ thỏa mãn được tiêu chí này lại hạn chế về tiêu chí kia Để khắc phục điều đó, thông thường trong phân kỳ lịch sử triết học phải kết hợp nhiều tiêu chí Sau đây là hai cách phân kỳ phổ biển nhất:

Cách thứ nhất là sự kết hợp nét đặc thù của từng vùng với các thời kỳ phát triển khác nhau của triết học gắn liền với các hình thái kinh tế - xã hội và với những bước ngoặt trong sự phát triển của triết học, lịch sử triết học được phân kỳ như sau:

- Triết học phương Đông cổ - Trung đại

- Triết học phương Tây cổ, trung – cận và hiện đại

Cách thứ hai là dựa vào học thuyết hình thái kinh tế xã hội là cơ sở quan trọng cho phân kỳ lịch sử triết học; đặc điểm của các vùng, các dân tộc sản sinh ra Triết học; Tính độc lập tương đối của triết học; Bản chất của các học thuyết triết học tạo ra được những cột mốc lớn lao trong sự phát triển của triết học Dựa trên những định hướng này, việc phân kỳ được chia ra các giai đoạn khác nhau:

II Quan niệm của Ăng ghen về phân kỳ lịch sử triết học

1 Vài nét về tiểu sử của Ph.Ăng ghen

Trang 6

Ph Ăng-ghen sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820, trong một gia đình chủ xưởng sợi Lê-nin đã nhận xét, khi còn là học sinh trung học, Ăng-ghen đã căm ghét sự chuyên quyền và độc đoán của bọn quan lại Việc nghiên cứu triết học trong thời gian ở Béc-Lin khi làm nghĩa vụ quân sự đã dẫn ông đi xa hơn Song chính thời gian gần hai năm, từ mùa thu năm 1842, sống ở Anh, việc nghiên cứu đời sống kinh tế và sự phát triển chính trị của nước Anh, nhất là việc trực tiếp tham gia vào phong trào công nhân đã dẫn đến bước chuyển biến căn bản trong thế giới quan của ông sang chủ nghĩa duy vật chủ và chủ nghĩa cộng sản

Cùng với C Mác, Ph Ăng-ghen tham gia lãnh đạo Quốc tế cộng sản I Tháng 9-1870, Ph Ăng-ghen đến Luân Đôn và được đưa vào tổng hội đồng của quốc tế cộng sản I Năm 1871, Ph Ăng- ghen tham gia vào việc tổ chức chiến dịch bảo vệ công xã Pari

Một số tác phẩm nổi tiếng của Ăng-ghen là: “Nguồn gốc gia đình”, “Chế

độ tư hữu Nhà nước” (1884), “Biện chứng tự nhiên”, “Vấn đề nông dân Pháp và

Đức” (1894), đặc biệt là cuốn “Chống Đuy-rinh” (1818) góp phần to lớn cho việc

hoàn thiện lý luận cho chủ nghĩa Mác, đồng thời trong phần “Lời mở đầu” của tác

phẩm này ông cũng đã trình bày quan niệm của mình về phân kỳ lịch sử triết học

2 Quan niệm của Ăng-ghen về phân kỳ lịch sử triết học.

Ăng-ghen đã chứng minh tính tất yếu của sự hình thành chủ nghĩa Mác, tính quy luật của quá trình thay thế các thời kỳ cơ bản của lịch sử triết học hay còn gọi

là phân kỳ lịch sử triết học, bao gồm: Thời kỳ phép biện chứng tự phát thời cổ đại; thời kỳ phép biện chứng siêu hình thời Tây Âu kỷ XVII- XVIII; thời kỳ phép biện chứng duy tâm của triết học cổ điển Đức và thời kỳ phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác.1

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo, “Triết học” dùng cho nghiên cứu sinh và học viên cao học không thuộc chuyên ngành triết học, tập 2, NXB Chính trị quốc gia, tr.127-128.

Trang 7

II.1 Thời kỳ phép biện chứng tự phát thời cổ đại

Những nhà triết học cổ Hy Lạp đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh và Ari-xtốt, Heraclit thời cổ đại đã nghiên cứu những hình thức căn bản nhất của tư duy biện chứng

Khi chúng ta dùng tư duy để xem xét giới tự nhiên, lịch sử loài người hay hoạt động tinh thần của bản thân chúng ta thì trước nhất, chúng ta thấy một bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mối liên hệ và những sự tác động qua lại, trong đó không có cái gì là đứng nguyên, không thay đổi, mà tất cả đều vận động, biến đổi, phát sinh và mất đi

Cái thế giới quan ban đầu, ngây thơ, nhưng xét về thực chất thì đó đúng là thế giới quan của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên đã được Hêraclit

trình bày một cách rõ ràng rằng: “Mọi vật đều tồn tại và đồng thời lại không tồn

tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong” Nhưng Ăng-ghen cho rằng cách nhìn ấy cho dù nó

có nắm đúng tính chất chung của toàn bộ bức tranh về các hiện tượng, vẫn không

đủ để giải thích những chi tiết hợp thành của bức tranh toàn bộ và chừng nào chúng ta chưa hiểu hết được những chi tiết ấy thì chúng ta chưa thể hiểu hết được bức tranh toàn bộ Muốn nhận biết được những chi tiết ấy, chúng ta buộc phải tách chúng ra khỏi mối liên hệ tự nhiên hay lịch sử của chúng

Trong thời kì cổ đại Hy Lạp, khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội chỉ giữ một vai trò thứ yếu vì đối với họ, điều cần thiết trước hết là phải thu thập được đầy

đủ tài liệu Ph Ăng ghen đã đánh giá một cách đúng đắn giá trị triết học của Heraclit và coi ông là đại biểu xuất sắc nhất của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại:

“Quan niệm về thế giới một cách nguyên thủy, ngây thơ nhưng căn bản là đúng ấy,

Trang 8

quan niệm của các nhà Hy Lạp thời cổ và người đầu tiên diễn đạt được rõ ràng quan niệm ấy là Heraclit”.

Phép biện chứng thời kì cổ đại đã thấy được các sự vật trong quá trình sinh

ra, hình thành, tiêu vong và mối liên hệ vô tận giữa các sự vật, hiện tượng Tuy nhiên, những tư tưởng đó dựa trên cơ sở trực quan, trực giác chứ chưa có được những cơ sở khoa học vững chắc và quan trọng nhất là chưa đầy đủ

II.2 Thời kỳ phép biện chứng siêu hình thời Tây Âu kỷ XVII – XVIII

Phép biện chứng trong thời kỳ này phát triển trong thời kỳ thống trị của tư duy siêu hình Hai đại diện tiêu biểu của trường phái tư duy siêu hình này là Bê-cơn và Lốc-cơ

Đối với các nhà siêu hình học thì vật và những khái niệm đều là những đối tượng nghiên cứu riêng biệt, cố định, cứng đờ, vĩnh viễn, phải được xem xét cái này sau cái kia, cái này độc lập với cái kia Sự vật hoặc là tồn tại, hoặc là không tồn tại, một sự vật không thể vừa là bản thân nó vừa là một sự vật khác Cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau, nguyên nhân kết quả cũng đối lập hẳn với nhau Ăng-ghen nhận thấy phương pháp tư duy siêu hình mới nghe thì có vẻ chấp nhận được do nó là kết quả của quá trình nhận thức lành mạnh của con người nhưng nó sẽ gặp phải một ranh giới mà nếu nó vượt quá thì sẽ trở thành phiến diện, hạn chế, trừu tượng và sa vào những mâu thuẫn không thể giải quyết được vì nó chỉ nhìn thấy những sự vật, hiện tượng riêng lẻ mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa chúng, chỉ nhìn thấy sự tồn tại mà không nhìn thấy sự phát sinh tiêu vong cảu sự vật, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh mà quên mất sự vận động của những vật chất ấy

Trang 9

Tất cả những quá trình ấy và tất cả những phương pháp tư duy ấy không nằm trong khuôn khổ của tư duy siêu hình Trái lại, đối với phép biện chứng là phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng thì những quá trình đó chỉ chứng thực cho phương pháp nghiên cứu của bản thân nó mà thôi Giới tự nhiên là hòn đá thử vàng đối với phép biện chứng, và cần phải nói rằng khoa học

tự nhiên đại đã cung cấp cho sự thử nghiệm ấy những vật liệu vô cùng phong phú

và mỗi ngày một tăng thêm và do đó đã chứng minh rằng trong tự nhiên, tựu chung lại, mọi vật đều diễn ra một cách biện chứng chứ không phải siêu hình

Tóm lại, theo quan điểm của Ăng-ghen, tư duy siêu hình là kết quả của quá trình nhận thức lành mạnh của con người nên xét về mặt bản chất, phương pháp tư duy đó không hoàn toàn sai lầm mà nó có một ranh giới nhất định mà nếu vượt qua ranh giới đó thì tư duy siêu hình sẽ trở thành hạn chế, phiến diện Tư duy siêu hình chỉ xem xét mọi sự vật, hiện tượng đứng yên mà không vận động, không tác động qua lại lẫn nhau và ông đã chỉ ra được những điểm hạn chế cơ bản của phương pháp tư duy này

II.3 Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức

Tinh thần của nền triết học Đức ngay từ đầu đã đi theo quan niệm đúng đắn

về vũ trụ, về sự phát triển của vũ trụ và sự phát triển của loài người, cũng như về

sự phản ánh của sự phát triển ấy vào trong đầu óc con người chỉ có thể có được trên con đường biện chứng, với sự chú ý thường xuyên đến những tác động qua lại phổ biến giữa sự phát sinh và sự tiêu vong, giữa sự biến đổi đi lên và sự biến đổi thụt lùi Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ Kant và hoàn

Trang 10

thiện ở hệ tthống triết học của Hegel Tuy nhiên, phép biện chứng của các nhà khoa học thời kì này còn nặng nề về duy tâm và bảo thủ

Trong tác phẩm Chống Duhring, Ăng ghen đã khái quát về nền triết học Đức như sau: “Kant đã mở đầu sự nghiệp khoa học của ông bằng việc biến thái dương

hệ cố định của Newton và sự tồn tại vĩnh cửu của nó - sau khi đã có cái đẩy đầu tiên nổi tiếng - thành một quá trình lịch sử: thành quá trình nẩy sinh của mặt trời và tất cả mọi hành tinh từ khối tinh vân đang xoay Đồng thời, ông đã rút ra được cái kết luận là sự nẩy sinh của thái dương hệ đồng thời cũng giả định sự tiêu vong tất yếu của nó trong tương lai.Nửa thế kỷ sau, quan điểm đó của ông, được Laplace chứng minh bằng toán học và một nửa thế kỷ sau nữa, kính quang phổ biến đã chứng minh rằng trong không gian của vũ trụ có những đám khí đỏ rực giống như thế, ở những mức độ ngưng tụ khác nhau Nền triết học mới của Đức đã đạt tới đỉnh cao của nó là trong hệ thống của Hegel, trong đó lần đầu tiên - và đây là công lao to lớn của ông - toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần được trình bày như là một quá trình - nghĩa là được nhận thức trong sự vận động và sự phát triển ấy.”

Triết học cổ điển Đức đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất của phép biện chứng duy tâm Tính duy tâm trong triết học của Hegel được biểu hiện ở chỗ,

ông coi phép biện chứng là quá trình phát triển khởi đầu của “ý niệm tuyệt đối”, coi biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan Ông cho rằng “ý

niệm tuyệt đối” là điểm khởi đầu của tồn tại, tự “tha hóa” thành giới tự nhiên và

trở về với bản thân nó trong tồn tại tinh thần Tinh thần, tư tưởng, ý niệm tuyệt đối

là cái có trước, thế giới hiện thực chỉ là bản sao chép của ý niệm

Như vậy, Hegel là người xây dựng phép biện chứng tương đối hoàn chỉnh với một hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật Tuy nhiên, phép biện chứng Hegel

là phép biện chứng duy tâm, là phép biện chứng ngược đầu; ông coi biện chứng của ý niệm sinh ra biện chứng của sự vật, chứ không phải ngược lại Ăngghen nhận

xét rằng: “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hegel

Ngày đăng: 06/03/2018, 08:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w