Tiếng Anh AAA Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ AICPA Hiệp hội kiểm toán viên công chứng Hoa Kỳ COBIT Control Objectives for Information and Ralated Technology Các mục tiêu kiểm soát công nghệ thô
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
CÁP LÊ HOÀI TRINH
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG
NĂNG LƯỢNG XANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng – Năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
CÁP LÊ HOÀI TRINH
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của luận văn 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP 11
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 11
1.1.1 Giai đoạn sơ khai 11
1.1.2 Giai đoạn hình thành 11
1.1.2 Giai đoạn phát triển 13
1.1.3 Giai đoạn hiện đại 14
1.2 KHÁI NIỆM KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 15
1.2.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ 15
1.2.2 Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ 17
1.3 CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 20
1.3.1 Môi trường kiểm soát 20
1.3.2 Đánh giá rủi ro 23
1.3.3 Hoạt động kiểm soát 25
1.3.4 Thông tin và truyền thông 27
1.3.5 Giám sát 28
Trang 51.3.6 Mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội
bộ 29
1.4 LỢI ÍCH VÀ HẠN CHẾ TIỀM TÀNG CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 30 1.4.1 Lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ 30 1.4.2 Hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ 30
1.5 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH XÂY DỰNG CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 31
1.5.1 Khái quát về hoạt động của ngành xây dựng 31 1.5.2 Đặc điểm của ngành xây dựng có ảnh hưởng đến hoạt động kiểm soát nội bộ 32 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG NĂNG LƯỢNG XANH 35
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG NĂNG LƯỢNG XANH 35 2.1.1 Thông tin chung về Công ty 35 2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 36 2.1.3 Tình hình tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Năng Lượng Xanh 39 2.1.4 Sơ đồ tổ chức công trường 42 2.1.5 Tổ chức bộ máy kế toán 46
2.2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG NĂNG LƯỢNG XANH ẢNH HƯỞNG ĐẾN
HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 48
2.2.1 Thuận lợi 48 2.2.2 Khó khăn 49
Trang 62.3 MÔ TẢ QUÁ TRÌNH TÌM HIỂU HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 49
2.3.1 Mục đích khảo sát 49
2.3.2 Đối tượng và phạm vi khảo sát 50
2.3.3 Mô hình nghiên cứu 50
2.3.4 Phương pháp khảo sát 51
2.4 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG NĂNG LƯỢNG XANH 52
2.4.1 Môi trường kiểm soát 52
2.4.2 Đánh giá rủi ro 58
2.4.3 Hoạt động kiểm soát 66
2.4.5 Giám sát 71
2.5 ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG NĂNG LƯỢNG XANH 72
2.5.1 Ưu điểm 72
2.5.2 Nhược điểm 76
KẾT THÚC CHƯƠNG 2 82
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG NĂNG LƯỢNG XANH 83
3.1 QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 83
3.1.1 Tiếp cận và từng bước tạo nên sự phù hợp COSO 2013 83
3.1.2 Phù hợp với hoạt động xây dựng 84
3.1.3 Phù hợp với trình độ và yêu cầu quản lý tại Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Năng Lượng Xanh 85
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG NĂNG LƯỢNG XANH 85
Trang 73.2.1 Môi trường kiểm soát 85
3.2.2 Đánh giá rủi ro 86
3.2.3 Hoạt động kiểm soát 86
3.2.4 Thông tin và truyền thông 90
3.2.5 Giám sát 90
3.3 KIẾN NGHỊ 92
3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 92
3.3.2 Kiến nghị đối với Ban giám đốc 92
3.3.3 Kiến nghị đối với các phòng ban 93
KẾT THÚC CHƯƠNG 3 95
KẾT LUẬN 96 PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 8II Tiếng Anh
AAA Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ
AICPA Hiệp hội kiểm toán viên công chứng Hoa Kỳ
COBIT Control Objectives for Information and Ralated
Technology Các mục tiêu kiểm soát công nghệ thông tin và các lĩnh vực liên quan
Committee of Sponsoring Organizations
Ủy ban hỗ trợ tổ chức của Mỹ Kiểm toán viên
Hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp Hiệp hội quản trị viên tài chính
Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ Hiệp hội kế toán quản trị
Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
Trang 91.1 Các bước của quy trình đánh giá rủi ro 23 2.1 Sơ đồ tổ chức Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng 39 2.2 Sơ đồ tổ chức công trường Công ty cổ phần tư vấn và
xây dựng Năng Lượng Xanh
43
2.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán Công ty cổ phần tư vấn
và xây dựng Năng Lượng Xanh
46
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tình hình kinh tế của đất nước hiện tại đang trong quá trình hội nhập và tăng trưởng ổn định với mức lạm phát được kiểm soát an toàn, kết hợp với thu nhập người dân đang cải thiện và thêm vào đó Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ đô thị hóa ở mức cao đòi hỏi đầu tư lớn về mặt cơ sở hạ tầng Đây chính là những yếu tố cơ bản để giúp ngành xây dựng khởi sắc Đặc biệt là việc hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã giúp cho các doanh nghiệp xây dựng có nhiều cơ hội kỹ thuật công nghệ tiên tiến, máy móc thiết bị hiện đại và vật liệu chất lượng cao Ngoài ra, các doanh nghiệp còn được tiếp cận các nguồn vốn từ nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong nước cũng đối mặt với vô số thách thức về sự cạnh tranh các yếu tố đầu vào, công nghệ
kỹ thuật, năng suất lao động và phương thức quản lý xây dựng còn khá lạc hậu chưa bắt kịp với thế giới… Điều này tạo cơ hội cho các doanh nghiệp xây dựng nước ngoài nhảy vào chiếm thị trường nội địa Với tốc độ phát triển nhanh chóng, môi trường kinh doanh luôn thay đổi đòi hỏi các doanh nghiệp phải mở rộng theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu nếu muốn tồn tại một cách ổn định và bền vững trên thị trường Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có thể quản lý cũng như kiểm soát tốt tình hình hoạt động, tính tuân thủ theo các quy định và báo cáo tài chính của mình Do đó cần có một giải pháp hữu hiệu để giúp cho các doanh nghiệp đứng vững trên thị trường Kiểm soát nội bộ chính là “bức tường thành” vững chắc giúp cho một tổ chức đối phó hữu hiệu với rủi ro
Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Năng Lượng Xanh với ngành nghề kinh doanh chính là tư vấn xây dựng và thi công công trình, ngành nghề này
Trang 11được đánh giá là tiềm ẩn nhiều rủi ro nhưng cũng mang lại nhiều cơ hội cho sự phát triển của doanh nghiệp Xuất phát từ lý do trên cho thấy rằng hoàn thiện
hệ thống Kiểm soát nội bộ tại Công ty xây dựng trở thành vấn đề có tính cấp bách trong quản lý, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả đã chọn lựa đề tài
“Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty tư vấn và xây dựng Năng Lượng Xanh” để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm các mục đích chủ yếu sau:
- Phân tích đặc điểm và đánh giá thực trạng của hệ thống KSNB tại Công
ty cổ phần tư vấn và xây dựng Năng Lượng Xanh, từ đó nhận xét những ưu điểm và hạn chế trong việc thiết lập và vận hành hệ thống KSNB của Công ty
- Nghiên cứu và đề ra các phương hướng, giải pháp để hoàn thiện hệ thống KSNB của Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Năng Lượng Xanh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty cổ phần
tư vấn và xây dựng Năng Lượng Xanh
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ khảo sát thực trạng hệ thống KSNB
thông qua các bộ phận cấu thành nó tại Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Năng Lượng Xanh
Giới hạn của đề tài:
Đề tài tiếp cận hệ thống KSNB theo 5 bộ phận cấu thành, chứ không tiếp cận theo từng chu trình nghiệp vụ nên chỉ thể hiện hệ thống KSNB dưới
góc nhìn chung nhất
Đề tài tiếp cận theo hướng “Có” hoặc “Không” để xác định một số yếu
tố trong bộ phận cấu thành hệ thống KSNB chưa định lượng được chất lượng của toàn bộ hệ thống KSNB
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp định tính Thông qua việc thu thập dữ liệu cùng với việc khảo sát, quan sát, phỏng vấn thực tế tại Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Năng Lượng Xanh kết hợp lý luận, tác giả phân tích
so sánh, đánh giá và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB tại Công ty Các phương pháp nghiên cứu cụ thể là:
- Phương pháp thu thập dữ liệu
+ Thu thập thông tin thứ cấp:
Các luận văn, chuyên đề, nghiên cứu về đề tài hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp đã được nghiên cứu
Sách báo thu thập về kiểm soát nội bộ, hệ thống kiểm soát nội bộ
Tìm kiếm thông tin trên Internet về kiểm soát nội bộ, hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng, quy trình quản lý hệ thống nội bộ trong các doanh nghiệp, đặc biệt là trang web http://naluxa.com/ của Công ty
Thu thập xử lý thông tin từ Công ty, phòng Hành chính nhân sự và phòng Kế toán, phòng Kỹ thuật như: bảng mô tả công việc, hồ sơ năng lực, các báo cáo tài chính, các thông báo, quyết định, …
+ Thu thập thông tin sơ cấp:
Sử dụng bảng hỏi được thiết kế dựa trên năm yếu tố cấu thành nên hệ thống KSNB để khảo sát trên đối tượng là những người nắm giữ chức vụ quan trọng trong Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Năng Lượng Xanh để thu thập thông tin
Trang 135 Bố cục của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty cổ phần
tư vấn và xây dựng Năng Lượng Xanh
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty
cổ phần tư vấn và xây dựng Năng Lượng Xanh
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
6.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài
Từ rất lâu tầm quan trọng của kiểm soát đối với quản lý luôn được coi là
đề tài thu hút sự quan tâm, chú ý kể cả trong thực tiễn lẫn lý luận Qua quá trình tra cứu và tham khảo nhiều tài liệu khác nhau đối với các mảng vấn đề liên quan đến luận văn mà tác giả dự định nghiên cứu Tác giả nhận thấy đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống KSNB, tác động của hệ thống KSNB đến các đối tượng đã được các tác giả khác nhau thực hiện trong thời gian qua Nghiên cứu của các tác giả được chia làm 4 hướng, bao gồm:
- Theo hướng quản trị
- Theo hướng kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ
- Hướng tới giá trị của doanh nghiệp
- Mối liên hệ giữa hệ giữa hệ thống KSNB và chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết
Nghiên cứu hệ thống KSNB theo hướng quản trị
Trên cơ sở báo cáo COSO 1992, tổ chức COSO đã tiến hành nghiên cứu
về hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM) Trong nghiên cứu này ERM được xây dựng gồm 8 bộ phận bao gồm: môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm
Trang 14soát, thông tin truyền thông và giám sát Vào năm 2004, COSO chính thức ban hành ERM làm nền tảng trong việc quản trị rủi ro doanh nghiệp
Nghiên cứu hệ thống KSNB theo hướng kiểm toán độc lập và kiểm
toán nội bộ
Trong lĩnh vực kiểm toán độc lập, các chuẩn mực kiểm toán Hoa kỳ và chuẩn mực kiểm toán Quốc tế cũng chuyển sang sử dụng Báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá hệ thống KSNB, bao gồm:
- Chuẩn mực SAS 78 (1995): Xem xét KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính Các định nghĩa, nhân tố của KSNB trong báo cáo COSO (1992) đã được trình bày vào chuẩn mực này
- Chuẩn mực SAS 94 (2001): Ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét KSNB trong kiểm toán BCTC
- Chuẩn mực ISA 315 “Hiểu biết về tình hình kinh doanh, môi trường hoạt động đơn vị và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu” đã yêu cầu kiểm toán viên cần có hiểu biết đầy đủ về KSNB và định nghĩa: “Hệ thống KSNB là một quá trình do bộ máy quản lý, Ban giám đốc và các nhân viên của đơn vị chi phối, được thiết lập để cung cấp sự đảm bảo nhằm thực hiện ba mục tiêu:
“BCTC đáng tin cậy, pháp luật và các quy định được tuân thủ, hoạt động hữu hiệu và hiệu quả Hệ thống KSNB được thiết kế nhằm giảm thiểu những rủi ro kinh doanh có khả năng đe doạ đến việc đạt được những mục tiêu trên”
- Chuẩn mực ISA 265 “Thông báo về những khiếm khuyết của KSNB yêu cầu kiểm toán viên của KSNB do kiểm toán viên phát hiện được cho những người có trách nhiệm trong đơn vị”
Nghiên cứu tác động của hệ thống KSNB tới giá trị của doanh nghiệp
Các tác giả Ge & McVay (2005) khi thực hiện các nghiên cứu về hệ thống KSNB theo yêu cầu của đạo luật SOX đã chỉ ra rằng những điểm yếu trong hệ thống KSNB có ảnh hưởng đến giá trị của các công ty niêm yết trên
Trang 15thị trường chứng khoán Các tác giả Shenkir & Walker (2006) trong nghiên cứu của mình cho rằng có thể thực hiện hiệu quả đạo luật SOX, hệ thống KSNB của doanh nghiệp phải bao gồm đầy đủ các yếu tố, dựa trên phân tích toàn diện các rủi của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu này còn cho thấy rằng các công ty sẽ thu được ít lợi nhuận hơn các công ty khác khi công ty đó có nhiều nhược điểm về KSNB
Tác giả Doyle (2005) trong nghiên cứu của mình cũng đã chứng minh rằng các doanh nghiệp sẽ có doanh thu thấp hơn nếu có yếu kém về KSNB Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cho rằng khi hệ thống KSNB yếu kém thì nó
sẽ có tác động tiêu cực đến hoạt động đầu tư vào doanh nghiệp khi BCTC của doanh nghiệp được công bố thông qua phản ứng của thị trường
Nghiên cứu mối liên hệ giữa hệ thống KSNB và chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết
KSNB là công cụ hữu ích trong việc tạo ra BCTC chất lượng và các công ty sử dụng KSNB tự nguyện cho mục đích công bố thông tin tài chính Nghiên cứu của tác giả J.Altamuro (2010) khi điều tra ảnh hưởng của các thủ tục KSNB đối với việc lập BCTC của FDICIA trong thập niên 1990 cho rằng chất lượng BCTC trong lĩnh vực ngân hàng được gia tăng khi các đơn vị được tăng cường công tác KSNB để giám sát việc lập BCTC
Bên cạnh đó, tác giả Angella.A (2009) cho rằng những gian lận trong việc lập BCTC và những vụ bê bối kế toán ở tất cả các quốc gia thường liên quan đến tổ chức KSNB
Năm 1987, trong kết quả nghiên cứu của Uỷ ban tài trợ tại Mỹ đã chỉ ra rằng nguyên nhân hàng đầu dẫn đến những gian lận về thông tin tài chính của các công ty đó là sự vắng bóng hoặc yếu kém trong tổ chức KSNB
Theo tác giả DeFond (1991) cho rằng có mối liên hệ giữa chất lượng thông tin BCTC và bộ phận kiểm toán nội bộ của các công ty niêm yết, một
Trang 16trong những yếu tố quan trọng của hệ thống KSNB Mặt khác tác giả còn cho rằng những công ty có BCTC phải công bố thường lại hiếm có bộ phận kiểm toán nội bộ
6.2 Các nghiên cứu công bố ở Việt Nam
Cuối những năm 1980, khi nền kinh tế nước ta chuyển từ bao cấp sang thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa Lúc này bắt đầu có sự xuất hiện của các nhà đầu tư nước ngoài, họ đòi hỏi các doanh nghiệp của nước ta cần phải
có sự minh bạch về thông tin Từ đây, nhà quản lý trong nước mới bắt đầu quan tâm đến hoạt động KSNB và nhu cầu về kiểm toán độc lập BTCT mới bắt đầu xuất hiện Để đáp ứng nhu cầu bức thiết này, tháng 05 năm 1991, Công ty kiểm toán đầu tiên của Việt Nam đã ra đời, đánh dấu một bước ngoặc lớn của ngành kiểm toán Việt Nam Từ đó nhiều công ty kiểm toán được thành lập tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho Kiểm toán Việt Nam phát triển và hội nhập
Nắm bắt tình hình và nhu cầu cấp thiết của nền kinh tế, tháng 01 năm
1994, chính phủ đã xây dựng ban hành quy chế về kiểm toán độc lập Tiếp sau đó, vào tháng 07 năm 1994, chính phủ tiếp tục thành lập bộ máy kiểm toán nhà nước trực thuộc chính phủ Vào tháng 10 năm 1997, Bộ tài chính đã xây dựng và ban hành quy chế kiểm toán nội bộ được áp dụng cho các Tổng công ty, tập đoàn và các doanh nghiệp nhà nước
Các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cũng được xây dựng và ban hành ngay sau đó Theo đó, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 “Đánh giá rủi
Trang 17đơn vị” Trong Luật kiểm toán nhà nước năm 2005 cũng đã xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước đối phải xây dựng, duy trì hoạt động hệ thống KSNB thích hợp và có hiệu quả
Nhìn chung, ở Việt Nam các nghiên cứu lý luận về KSNB vẫn chưa được quan tâm đầy đủ, các nghiên cứu mới dừng lại xem KSNB như là công
cụ quan trọng trong việc hỗ trợ kiểm toán viên độc lập thực hiện cuộc kiểm toán BCTC Chức năng KSNB chưa thực sự tách rời hoàn toàn khỏi kiểm toán nội bộ và KSNB chưa được xem là công cụ hữu hiệu giúp ích cho quá trình quản lý hoạt động của doanh nghiệp
KSNB cũng là vấn đề được rất nhiều tác giả trên cả nước quan tâm, đã
có nhiều bài báo, đề tài nghiên cứu về vấn đề này Qua quá trình tham khảo
và tìm hiểu của mình, tác giả xin nêu một số bài báo và đề tài nghiên cứu cụ thể sau:
Bài báo “Hệ thống KSNB trong các trường đại học công lập Việt Nam
hiện nay” của 3 tác giả: Đinh Thế Hùng, Nguyễn Thị Hồng Thuý, Hàn Thị
Lan Thư đăng trên Tạp chí Kinh tế & Phát triển Các tác giả nghiên cứu bài viết trên nhiều quan điểm khác nhau, từ đó đưa ra quan điểm về hệ thống KSNB trong trường đại học công lập và các yếu tố cơ bản cần thiết trong hệ thống KSNB tại các trường công lập gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi
ro, hệ thống thông tin kế toán, các thủ tục kiểm soát và giám sát Từ đó rút ra kết luận, một hệ thống KSNB hiệu quả và có hiệu lực khi và chỉ khi các yếu cấu thành nên nó hoạt động hữu hiệu và đồng bộ
Bài báo “Hệ thống KSNB và kiểm toán nội bộ theo luật kế toán Việt Nam
năm 2015” của PGS.TS Thịnh Văn Vinh đăng trên Tạp chí Tài chính Bài viết
phân biệt rõ khái niệm, mục tiêu của KSNB và hệ thống KSNB, nhấn mạnh các yếu tố cấu thành nên hệ thống KSNB theo COSO
Trang 18Luận án “Hoàn thiện hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp may mặc
Việt Nam” - Bùi Thị Minh Hải, tác giả đã khái quát được lý luận chung về hệ
thống KSNB và cũng tìm được một số kinh nghiệm cuả các nước quốc tế về
tổ chức hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp may mặc Ở phần thực trạng, tác giả đã đánh giá được thực trạng hệ thống KSNB các doanh nghiệp may mặc Việt Nam Ở phần giải pháp, tác giả đã đưa ra được sự cần thiết và các giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB tại đơn vị Tuy nhiên trong phần lý luận,
đề tài chưa phân biệt được kiểm soát, KSNB, hệ thống KSNB
Luận án“Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp
trong tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị” – Đinh Hoài Nam Luận
án đã hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống KSNB, đặc biệt phân biệt rõ khái niệm kiểm soát và kiểm soát nội bộ mà hầu hết các luận án khác không chỉ ra được Luận án nhấn mạnh về việc thiết lập, vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp theo mô hình công ty mẹ - công ty con Bên cạnh đó, luận án đã chỉ ra rõ những rủi ro đặc thù và trọng yếu mà doanh nghiệp đang gặp phải
Luận văn “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại Công ty cổ phần cấp nước
Đồng Nai”- Nguyễn Thị Thu Hoài, đề tài phân tích đặc điểm và đánh giá thực
trạng KSNB tại Công ty cấp nước Trên cơ sở và thực trạng đã nghiên cứu, tác giả đã đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB của công ty nói chung
và hoàn thiện hoạt động kiểm soát đối với 2 chu trình chính của công ty là chu trình bán hàng – thu tiền và chu trình mua hàng tồn trữ trả tiền nói riêng Luận văn được tiến hành nghiên cứu dựa trên nền tảng lý thuyết của COSO 2013 với 5 bộ phận cấu thành và 17 nguyên tắc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Ngoài ra, tác giả còn tìm hiểu thêm một số luận văn khác của trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng liên quan đến ngành xây dựng: “Tăng cường kiểm soát nội bộ quy trình mua hàng và thanh toán tại Công ty cổ phần xây dựng công
Trang 19trình 525 Đà Nẵng”- Trần Thị Diễm Kiều, “Kiểm soát nội bộ chi phí xây lắp tại Công ty cổ phần xây lắp điện Đà Nẵng”- Ngô Thị Ngọc, “Kiểm soát nội
bộ chi phí xây lắp tại Công ty cổ phần xây lắp công nghiệp Bình Định” - Trần Thị Lệ Thu Tác giả nhận thấy hầu như các luận văn thạc sỹ này chỉ tập trung nghiên cứu vào một chu trình hay một mảng hoạt động của đơn vị Về phần giải pháp thì còn mang tính kế thừa, chưa chú trọng vào các rủi ro đặc thù mà đơn vị cần đối phó
Nhìn chung, đến nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về hệ thống KSNB của các ngành khác nhau Tuy nhiên qua quá trình tìm hiểu của mình tác giả nhận thấy còn có khoảng trống sau là: Về phạm vi nghiên cứu còn giới hạn, đa số những đề tài làm về ngành xây dựng thường chỉ tập trung vào một chu trình hoặc một mảng Hiện tại, theo tác giả nhận thấy chưa có một đề tài nào nghiên cứu tổng thể về hệ thống KSNB trong một công ty xây dựng
Từ nhận xét trên, tác giả cho rằng khoảng trống để tác giả nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Năng Lượng Xanh” là hoàn toàn phù hợp và cần thiết
Trang 20CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.1.1 Giai đoạn sơ khai
Khái niệm về KSNB được định nghĩa lần đầu tiên trong công bố của Cục
Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin) vào năm 1929, lúc đó KSNB được xem là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động và là cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên
Năm 1936, khái niệm này được tiếp tục mở rộng trong báo cáo có tựa đề
“Kiểm tra báo cáo tài chính” của Hiệp hội kiểm toán viên công chứng Mỹ (AICPA), đã định nghĩa KSNB là “là các biện pháp và cách thức được chấp nhận thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong việc ghi chép sổ sách” Cho thấy, mục tiêu của KSNB không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ tiền vào tài sản khác mà còn phải bảo đảm số liệu chính xác trong ghi chép của sổ sách
Sau công bố này, việc nghiên cứu về KSNB ngày càng được chú trọng hơn Các tổ chức kế toán và kiểm toán nội bộ đã xuất bản khá nhiều các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu KSNB trong các cuộc kiểm toán
1.1.2 Giai đoạn hình thành
Năm 1949, AICPA đã phát triển khái niệm về KSNB trong công trình nghiên cứu đầu tiên với nhan đề “KSNB, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập” AICPA đã bổ sung thêm mục tiêu thúc đẩy hoạt động có hiệu quả và khuyến
Trang 21khích sự tuân thủ khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của nhà quản lý trong định nghĩa về KSNB
Năm 1958, Uỷ ban thủ tục kiểm soát (SAP 29 – Committee on Auditing Procedure 29) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo thủ tục kiểm soát về “Phạm
vi xem xét kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên độc lập” Trong báo cáo này đã phân biệt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán, cụ thể:
“KSNB về kế toán bao gồm kế hoạch tổ chức, các phương pháp và thủ tục liên hệ trực tiếp đến việc bảo vệ tài sản và tính đáng tin cậy của số liệu kế toán KSNB về quản lý bao gồm kế hoạch tổ chức, các phương pháp và thủ tục liên quan chủ yếu đến tính hữu hiệu trong hoạt động và sự tuân thủ chính sách quản trị”
Đến năm 1962, CAP ban hành SAP 33 làm rõ hơn KSNB Dựa trên khái niệm về kiểm soát kế toán và kiểm soát quản lý, CAP đã yêu cầu các kiểm toán viên nên giới hạn nghiên cứu KSNB về kế toán
Năm 1972, CAP tiếp tục ban hành SAP 54 “Tìm hiểu và đánh giá kiểm soát nội bộ” với nội dung chính là đưa ra bốn thủ tục kiểm soát gồm: Bảo đảm nghiệp vụ chỉ được thực hiện khi phê chuẩn, ghi nhận đúng đắn mọi nghiệp vụ
để lập báo cáo, hạn chế sự tiếp cạnh tài sản và kiểm kê
Sau đó, AICPA ban hành chuẩn mực kiểm toán SAS thay thế các thủ tục kiểm toán Năm 1973, chuẩn mực kiểm toán SAS 1 định nghĩa kiểm soát quản lý
và kiểm soát kế toán như sau:
“Kiểm soát quản lý, không chỉ hạn chế ở kế hoạch tổ chức và các thủ tục, mà còn bao gồm quá trình ra quyết định cho phép thực hiện nghiệp vụ của nhà quản lý
Kiểm soát kế toán bao gồm các thủ tục và cách thức tổ chức ghi nhận vào
sổ sách để bảo vệ tài sản, tính đáng tin cậy của số liệu”
Trong suốt thời kỳ hình thành, khái niệm KSNB đã không ngừng được mở
Trang 22rộng ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán Tuy nhiên, những khái niệm trên chỉ mới dừng lại ở góc độ là phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán BCTC
1.1.3 Giai đoạn phát triển
Trong giai đoạn thập niên 1970-1980, nền kinh tế Thế giới phát triển mạnh
mẽ, quy mô và số lượng các công ty tăng nhanh kèm theo đó các vụ gian lận cũng ngày càng tăng gây tổn thất đáng kể cho nền kinh tế
Nổi trội là vụ bê bối Watergate vào năm 1977 đã vận động tranh cử trái phép và rửa tiền có liên quan đến nước ngoài Sau đó vụ bê bối với các khoản thanh toán bất hợp pháp cho Chính phủ nước ngoài, Quốc hội Mỹ đã thông qua Luật về chống hối lộ nước ngoài Lúc này khái niệm KSNB lần đầu tiên được xuất hiện trong văn bản pháp luật Năm 1979 SEC đưa ra bắt buộc các công ty báo cáo về KSNB đối với công tác kế toán của đơn vị mình
Lúc này yêu cầu về báo cáo KSNB của công ty cho công chúng đang là một chủ đề gây nhiều tranh cải Sau nhiều luồng ý kiến, tranh luận cuối cùng đã đưa đến thành lập Uỷ ban COSO vào năm 1985 COSO là Uỷ ban thuộc Hội đồng Hoa Kỳ về chống gian lận trên BCTC, được thành lập dưới sự bảo trợ của
5 tổ chức nghề nghiệp: Hiệp hội kế toán công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội
kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội quản trị viên tài chính (FEI), Hiệp hội kế toán quản trị (IMA), Hiệp hội kiếm toán viên nội bộ (IIA) COSO đã sử dụng chính thức từ KSNB thay cho KSNB về kế toán và AICPA đã xoá bỏ hẳn khái niệm về kiểm soát kế toán và kiểm soát quản lý
Sau một thời gian dài đến năm 1992 COSO mới phát hành báo cáo COSO
1992, đây là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và định nghĩa về KSNB một cách đầy đủ, có hệ thống Báo cáo mang đến một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, KSNB không còn là một vấn đề nhỏ liên quan đến BCTC chính mà còn được mở rộng cho cả phương diện hoạt động và tuân thủ KSNB được cấu
Trang 23thành từ 5 bộ phận có mối quan hệ chặt chẽ với nhau gồm: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Giám sát
1.1.4 Giai đoạn hiện đại
Báo cáo COSO 1992 tuy chưa hoàn chỉnh nhưng cũng đã làm nền tảng cơ
sở về lý thuyết KSNB Dựa vào báo cáo này mà hàng loạt nghiên cứu về KSNB
đã được ra đời trên nhiều lĩnh vực khác nhau như:
- Nghiên cứu phát triển theo hướng quản trị
Trên cơ sở báo cáo COSO 1992, tổ chức COSO đã tiến hành nghiên cứu
về hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM) Vào năm 2004, COSO chính thức ban hành ERM làm nền tảng trong việc quản trị rủi ro doanh nghiệp
- Nghiên cứu phát triển theo hướng công nghệ thông tin
Năm 1996, bản tiêu chuẩn “các mục tiêu kiểm soát công nghệ thông tin
và các lĩnh vực liên quan” (COBIT – Control Objectives for Information and Ralated Technology) do Hiệp hội về kiểm soát nội bộ và kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA – Information System Audit and Control Association) ban hành Bản tiêu chuẩn này nhấn mạnh đến hệ thống KSNB trong môi trường tin học nhằm hoạch định và tổ chức, mua và phát triển, phân phối và hỗ trợ, giám sát
- Nghiên cứu phát triển theo hướng kiểm toán độc lập
Tại Hoa Kỳ các chuẩn mực kiểm toán SAS 78 (1995), SAS 94 (2001) cũng lựa chọn Báo cáo COSO làm nền tảng để đánh giá hệ thống KSNB
Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế IAS 315, IAS 265 cũng sử dụng Báo cáo COSO khi yêu cầu xem xét hệ thống KSNB
- Nghiên cứu phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ
Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) định nghĩa các mục tiêu của KSNB bao gồm: Độ tin cậy và trung thực của thông tin, tuân thủ các chính sách, kế
Trang 24hoạch, thủ tục, phát luật và quy định; bảo vệ tài sản; sử dụng hiệu quả và kinh
tế các nguồn lực, hoàn thành mục tiêu cho các hoạt động
- Nghiên cứu phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề
1.2.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ
Có rất nhiều tổ chức đã nghiên cứu về kiểm soát nội bộ và đưa ra nhiều
quan điểm khác nhau Tuy nhiên, hiện nay định nghĩa được chấp nhận rộng rãi và vận dụng ở nhiều nước trên thế giới là định nghĩa theo khuôn khổ COSO Khuôn khổ COSO được ghi nhận là khuôn khổ hàng đầu dùng cho việc thiết kế, vận hành và đánh giá tính hiệu quả của kiểm soát nội bộ của tổ chức
COSO – The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission là một uỷ ban được thành lập năm 1985 để hỗ trợ Uỷ ban quốc gia về chống gian lận trên báo cáo tài chính của Mỹ COSO được thành lập nhằm nghiên cứu về KSNB và đưa ra các bộ phận cấu thành để giúp đơn vị có thể xây dựng một hệ thống KSNB hữu hiệu
Năm 1992, COSO ban hành khuôn khổ Kiểm soát nội bộ, thường được gọi là khuôn khổ COSO Khuôn khổ COSO được sửa đổi và ban hành lại năm
2013 Theo khuôn khổ COSO, kiểm soát nội bộ được định nghĩa như sau:
“Kiểm soát nội bộ là một tiến trình được thiết kế và vận hành bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các nhân sự khác, được thiết lập để đem lại sự bảo đảm hợp lý đối với việc đạt được các mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo,
và sự tuân thủ với các luật và quy định liên quan”
Trang 25Trong định nghĩa trên, có năm khái niệm quan trọng cần lưu ý, đó là: quá trình, con người, đảm bảo hợp lý, mục tiêu và tính thích ứng
- Kiểm soát nội bộ là một quá trình: KSNB không phải là một sự kiện
hay tình huống mà là chuỗi các hoạt động hiện diện trong mọi bộ phận, quyện chặt vào hoạt động của tổ chức và là nội dung cơ bản trong hoạt động của tổ chức KSNB sẽ hữu hiệu khi nó được xây dựng như một bộ phận tách rời chứ
không phải là chức năng bổ sung cho các hoạt động của tổ chức
- Con người: KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người, đó là
HĐQT, Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị KSNB là một công cụ được nhà quản lý sử dụng chứ không thay thế được cho nhà quản lý Tuy nhiên, không phải lúc nào con người cũng hiểu rõ, trao đổi và hành động một cách nhất quán Mỗi thành viên tham gia vào tổ chức với khả năng, kiến thức, kinh nghiệm và nhu cầu khác nhau Một hệ thống KSNB chỉ có thể hữu hiệu khi từng thành viên trong tổ chức hiểu rõ về trách nhiệm
và quyền hạn của mình Do vậy, để KSNB hữu hiệu cần phải xác định mối liên hệ, nhiệm vụ và cách thức thực hiện chúng của từng thành viên
để đạt được các mục tiêu của tổ chức
- Đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý
cho nhà quản lý trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức chứ không thể đảm bảo tuyệt đối Điều này xuất phát từ những hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống KSNB như: Sai lầm của con người khi đưa ra các quyết định, sự thông đồng của các cá nhân, sự lạm quyền của nhà quản lý và do mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí của việc thiết lập nên
hệ thống KSNB
- Các mục tiêu: Mỗi đơn vị thường có các mục tiêu kiểm soát cần đạt
được để từ đó xác định các chiến lược cần thực hiện Đó có thể là mục tiêu chung của toàn đơn vị hay mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ
Trang 26phận trong đơn vị Có thể chia các mục tiêu kiểm soát đơn vị ra thành ba nhóm:
+ Nhóm mục tiêu về hoạt động: Nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực
+ Nhóm mục tiêu về BCTC: Đơn vị phải đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy của BCTC mà mình cung cấp
+ Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: Đơn vị phải tuân thủ pháp luật và các quy định
- Tính thích ứng: Tuỳ vào từng loại hình, quy mô của doanh nghiệp
mà cơ cấu tổ chức sẽ khác nhau Tuy nhiên, dù bất kỳ cơ cấu tổ chức nào KSNB đều có thể được thiết lập đầy đủ và phù hợp với đặc điểm cấu trúc
của tổ chức
1.2.2 Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ
Dưới góc độ quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu kiểm soát nội
bộ đã dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa khác nhau:
Tại Mỹ, tổ chức AICPA đã đưa ra được khái niệm đầu tiên về KSBN trên
cơ sở đánh giá cao tầm nhìn của mối quan hệ giữa hệ thống KSNB ảnh hưởng đến công việc của các kiểm toán viên (CPA – Certified Public Accountants)
Trong khái niệm này, hệ thống KSNB được định nghĩa là: “Hệ thống các kế
hoạch tổ chức và tất cả các phương pháp phối hợp được thừa nhận dùng trong kinh doanh để bảo vệ tài sản của tổ chức kiểm tra sự chính xác và độ tin cậy của thông tin kế toán, thúc đẩy hiệu quả hoạt động và khích lệ, bám sát chủ trương quản lý đã đề ra”
Theo Hội kế toán Anh quốc (Englanld Association of Accountants –
EAA) định nghĩa về hệ thống KSNB được đưa ra như sau: “Một hệ thống
kiểm soát toàn diện có kinh nghiệm tài chính và các lĩnh vực khác được thành lập bởi Ban quản lý nhằm tiến hành hoạt động kinh doanh của đơn vị trong
Trang 27trật tự có hiệu quả, đảm bảo tuân thủ tuyệt đối đường lối kinh doanh của Ban quan trị, giữ gìn an toàn tài sản, đảm bảo tính toàn diện và chính xác của số liệu hạch toán”
Tại Việt Nam trên quan điểm của kiểm toán viên, theo mục 10 chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ (VSA
400), hệ thống KSNB được định nghĩa như sau:“Hệ thống kiểm soát nội bộ là
các quy định và các thủ tục kiểm soát đơn vị của kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót, để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý, nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm toán”
Theo giáo trình Kiểm soát nội bộ, Đường Nguyễn Hưng (2016), định
nghĩa: “Một hệ thống kiểm soát nội bộ là một tập hợp các thành phần khác
nhau, có chức năng khác nhau, liên kết chặt chẽ với nhau, cùng thực hiện mục tiêu đối phó với các rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu của tổ chức nhằm hỗ trợ các tổ chức đạt được mục tiêu của mình” (Đường
Nguyễn Hưng, 2016)
Theo COSO 2013, một hệ thống KSNB sẽ được xây dựng dựa trên 17 nguyên tắc theo mô hình kết cấu bởi 5 thành phần cấu thành kiểm soát nội bộ theo COSO 1992, cụ thể như sau:
Môi trường kiểm soát
Nguyên tắc 1: Đơn vị thể hiện được tính chính trực và các giá trị đạo đức Nguyên tắc 2: HĐQT chứng minh được sự độc lập với nhà quản lý và đảm nhiệm chức năng giám sát việc thiết kế và vận hành hệ thống KSNB Nguyên tắc 3: Nhà quản lý dưới sự giám sát của HĐQT cần thiết lập cơ cấu tổ chức, các loại báo cáo, phân định trách nhiệm và quyền hạn nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị
Trang 28Nguyên tắc 4: Đơn vị phải chứng tỏ sự cam kết về việc sử dụng nhân viên có năng lực thông qua tuyển dụng, duy trì và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với mục tiêu của đơn vị
Nguyên tắc 5: Đơn vị cần phải yêu cầu các cá nhân chịu trách nhiệm báo cáo về trách nhiệm của họ trong việc đáp ứng mục tiêu của tổ chức
Đánh giá rủi ro
Nguyên tắc 6: Đơn vị phải thiết lập mục tiêu rõ ràng và đầy đủ để nhận diện và đánh giá rủi ro phát sinh trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị Nguyên tắc 7: Đơn vị phải nhận diện rủi ro trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị, tiến hành phân tích để xác định rủi ro cần được quản trị
Nguyên tắc 8: Đơn vị cần xem xét các loại gian lận tiềm tàng khi đánh giá rủi ro đối với mục tiêu của đơn vị
Nguyên tắc 9: Đơn vị cần xác định những thay đổi của môi trường ảnh hưởng đến KSNB
Hoạt động kiểm soát
Nguyên tắc 10: Đơn vị phải lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát để góp phần hạn chế các rủi ro giúp đạt được mục tiêu trong giới hạn Nguyên tắc 11: Đơn vị lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát chung với công nghệ hiện đại để hỗ trợ cho việc đạt được các mục tiêu
Nguyên tắc 12: Đơn vị tổ chức triển khai hoạt động kiểm soát thông qua các nội dung chính sách đã được thiết lập và triển khai chính sách thành các hành động cụ thể
Thông tin và trao đổi thông tin
Nguyên tắc 13: Đơn vị thu thập, truyền đạt, và sử dụng thông tin thích hợp, có chất lượng để hỗ trợ những bộ phận khác nhau của KSNB
Nguyên tắc 14: Đơn vị cần truyền đạt trong nội bộ, những thông tin cần thiết, bao gồm cả mục tiêu và trách nhiệm đối với KSNB nhằm hỗ trợ chức năng kiểm soát
Trang 29Nguyên tắc 15: Đơn vị cần truyền đạt những thông tin bên ngoài về các vấn đề ảnh hưởng đến KSNB
Hoạt động giám sát
Nguyên tắc 16: Đơn vị phải lựa chọn, triển khai và thực hiện việc đánh giá liên tục hoặc định kỳ để biết chắc rằng liệu những bộ phận của hệ thống KSNB có hiện hữu và đang vận hành đúng
Nguyên tắc 17: Đơn vị phải đánh giá và thông báo những yếu kém của hệ thống KSNB kịp thời cho các đối tượng có trách nhiệm bao gồm nhà quản lý
Các yếu tố của môi trường kiểm soát bao gồm:
Đặc điểm nhà quản lý
Đặc điểm nhà quản lý được thể hiện qua triết lý và phong cách điều hành của nhà quản lý Nhà quản lý là người lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, quyết định và điều hành mọi hoạt động của một đơn vị Vì vậy, phong cách điều hành, quan điểm, thái độ, hành vi quản trị ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng một hệ thống KSNB hữu hiệu Đặc điểm quản lý khác nhau thể hiện qua thái độ đối với rủi ro, mức chính xác của thông tin kế toán và việc đạt được các chỉ tiêu kế hoạch trong từng thời kỳ
Trách nhiệm giám sát của Hội đồng quản trị
HĐQT với tư cách là những người đại diện và thay mặt cho chủ sở hữu quản lý và điều hành tổ chức Vì vậy, HĐQT phải chịu trách nhiệm hoàn toàn
Trang 30về tất cả các hoạt động của đơn vị, trong đó có việc thiết lập và vận hành hệ thống KSNB của đơn vị HĐQT không trực tiếp đứng ra quản lý và điều hành
mà sẽ uỷ quyền cho ban quản lý Tuy nhiên, HĐQT phải thực hiện chức năng giám sát của mình đối với quá trình quản lý và điều hành tổ chức hàng ngày
do ban quản lý thực hiện Quá trình thực hiện chức năng giám sát đối với nhà quản lý đòi hỏi HĐQT phải có sự độc lập thực sự và đầy đủ năng lực
Cơ cấu tổ chức, quyền hạn và trách nhiệm
Cơ cấu tổ chức thực chất là sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ phận trong đơn vị, nó góp phần rất lớn trong việc đạt được các mục tiêu Tuỳ vào quy mô và đặc điểm của đơn vị mà cơ cấu tổ chức được thiết
kế khác nhau, điều này sẽ cung cấp các góc độ đánh giá hệ thống KSNB khác nhau
Cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý sẽ góp phần tạo môi trường kiểm soát tốt, ngăn ngừa có hiệu quả các hành vi gian lận và sai sót có thể xảy ra, đảm bảo một hệ thống xuyên suốt từ trên xuống dưới trong việc ban hành và thực hiện các quyết định, tạo hiệu quả quản lý tốt cho các nhà lãnh đạo trong việc xử lý, truyền đạt và sử dụng thông tin
Cùng với việc hình thành cơ cấu tổ chức, đơn vị thực hiện việc phân quyền hạn và trách nhiệm cho các cấp quản lý trong cơ cấu tổ chức Phân định quyền hạn và trách nhiệm là việc xác định mức độ tự chủ, quyền hạn của từng cá nhân hay từng nhóm trong việc đề xuất và giải quyết vấn đề, trách nhiệm báo cáo đối với các cấp có liên quan
Ý thức về trách nhiệm của mỗi cá nhân trong đơn vị quyết định tính chất của môi trường kiểm soát Do đó, cần phải xác lập quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, xác lập các mối quan hệ báo cáo và xây dựng các phương pháp uỷ quyền thông qua các văn bản và triển khai cho toàn đơn vị nhằm giúp từng thành viên hiểu rõ mục tiêu của tổ chức và từng hành động, mức độ đóng góp của họ sẽ ảnh hưởng thế nào đến người khác cũng như mục tiêu chung của đơn vị
Trang 31 Cam kết đối với tính chính trực và các giá trị đạo đức
Sự hữu hiệu của hệ thống KSNB phụ thuộc vào tính chính trực và việc tôn trọng các giá trị đạo đức của những người liên quan đến quá trình kiểm soát Để đáp ứng yêu cầu này, các nhà quản lý cao cấp phải xây dựng những chuẩn mực về đạo đức trong đơn vị và cư xử đúng đắn có thể ngăn chặn không cho các thành viên có hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm pháp Muốn vậy, những nhà quản lý cần phải làm gương cho cấp dưới về việc tuân thủ các chuẩn mực và cần phải phổ biến những quy định đến mọi thành viên bằng các thể thức thích hợp Ngoài ra, nhà quản lý cần phải loại trừ hoặc giảm thiểu những sức ép, những điều kiện có thể dẫn đến nhân viên có những hành vi thiếu trung thực nhằm nâng cao tính chính trực và tôn trọng các giá trị đạo đức
Cam kết đối với năng lực
Nhà quản lý cần xác định rõ yêu cầu về năng lực cho một công việc nhất định và cụ thể hoá nó thành các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng Nhà quản lý chỉ nên tuyển dụng các nhân viên có kiến thức và kinh nghiệm phù hợp với nhiệm vụ được giao Bên cạnh đó người quản lý cũng cần cân nhắc giữa việc giám sát và yêu cầu năng lực của các nhân viên, đồng thời cân nhắc giữa năng lực và chi phí để đảm bảo tốt nhất lợi ích cho đơn vị
Thúc đẩy sự chịu trách nhiệm đối với kiểm soát nội bộ
Tổ chức cần phải bảo đảm mọi thành viên của tổ chức chịu trách nhiệm
về việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức Những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đối với kiểm soát nội bộ là việc giao trách nhiệm hoàn thành các chỉ tiêu, đánh giá thành tích và khen thưởng, kỷ luật Các chỉ tiêu được giao phải phù hợp với từng cá nhân, bộ phận Việc thiết lập các chỉ tiêu thường tạo áp lực cho người thực hiện Các chỉ tiêu ở mức độ hợp lý thì có thể tạo ra động lực cho người thực hiện trong việc hoàn thành các chỉ tiêu và có những hành vi đúng đắn Còn nếu giao chỉ tiêu ở mức độ bất hợp lý có thể tạo ra áp lực hơn
Trang 32gây ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi của người thực hiện Các quy định về đánh giá thành tích, khen thưởng và kỷ luật phải phù hợp để đem lại hiệu quả cao nhất trong quản lý và tạo động lực làm việc cho các thành viên trong tổ chức
1.3.2 Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là một tiến trình linh hoạt, lặp đi lặp lại nhận diện và phân tích rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu của tổ chức (Đường Nguyễn Hưng, 2016) Các nhà quản lý khi thực hiện đánh giá rủi ro thì phải thực hiện theo các bước thể hiện qua hình sau:
Sơ đồ 1.1 Các bước của quy trình đánh giá rủi ro
(Nguồn:ketoankiengiang.com)
Nhà quản lý phải thường xuyên đánh giá rủi ro và phân tích các rủi ro hiện hữu và rủi ro tiềm ẩn Các hoạt động của doanh nghiệp và môi trường xung quanh nó luôn thay đổi nên các phương pháp đánh giá rủi ro phải được nhà quản lý phải thay đổi tương ứng để có thể đáp ứng yêu cầu
a Xác định mục tiêu của đơn vị
Có rất nhiều mục tiêu của tổ chức nhưng chúng ta có thể chia thành 3 mục tiêu sau đây:
Trang 33lực và tình hình hoạt động của đơn vị đồng thời phù hợp với từng bộ phận trong đơn vị
b Rủi ro
Căn cứ vào mục tiêu đã được xây dựng, nhà quản lý cần nhận dạng và phân tích rủi ro, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp để quản trị rủi ro Hai hoạt động này được tiến hành liên tục và lặp đi lặp lại
Nhận diện rủi ro: Các mức độ rủi ro cần đươc nhận dạng bao gồm:
- Rủi ro ở mức độ tổng thể tổ chức: Đây có thể là những rủi ro bên trong
và bên ngoài tổ chức Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến rủi cấp độ tổng thể tổ chức là then chốt để nhận diện và đánh giá rủi ro một cách toàn diện
- Rủi ro ở mức độ hoạt động: Đây là rủi ro ở các hoạt động kinh doanh hay chức năng của đơn vị Khi nhận dạng rủi ro ở mức độ hoạt động tốt đóng góp vào việc nhận dạng rủi ro ở mức độ toàn doanh nghiệp một cách thích hợp
Phân tích và đánh giá rủi ro: Việc phân tích và đánh giá rủi ro đòi hỏi
nhà quản lý được tầm quan trọng của các rủi ro Tầm quan trọng của các rủi
ro được đánh giá thông qua các tiêu chí (Đường Nguyễn Hưng, 2016)
- Khả năng phát sinh của rủi ro và mức độ tác động của rủi ro
- Tốc độ tác động của rủi ro khi phát sinh
- Thời gian tác động của rủi ro sau khi phát sinh
Đây là công việc khá phức tạp vì rủi ro rất khó định lượng và có nhiều phương pháp khác nhau Một quy trình bao gồm: Ước lượng tầm cỡ của các rủi ro có thể ảnh hưởng đến mục tiêu, xem xét khả năng xảy ra rủi ro và những biện pháp có thể sử dụng để đối phó với rủi ro
Biện pháp đối phó với rủi ro
Dựa trên cơ sở nhận diện, đánh giá rủi ro, các biện pháp đối phó được thiết lập nhằm đối phó với những rủi ro đã được xác định Cách thức tiếp cận với rủi ro được phân thành các loại:
Trang 34- Chấp nhận rủi ro: Doanh nghiệp hoàn toàn không có phản ứng hay không hành động gì trước sự xuất hiện của rủi ro đến hoạt động tại bộ phận đơn vị
- Tránh rủi ro: Với những hoạt động mang tính rủi ro cao thì không nên mạo hiểm
- Làm giảm rủi ro: Với những hoạt động giảm thiểu khản năng xuất hiện hoặc mức độ rủi ro trong quá trình điều hành hoạt động hàng ngày tại đơn vị
- Chia sẻ rủi ro: Làm giảm mức độ tác động của rủi ro và khả năng xuất hiện bằng cách chia sẻ một phần rủi ro hoặc chuyển giao một phần rủi ro Ví
dụ như: Mua bảo hiểm tổn thất, sử dụng công cụ về mặt tài chính để dự phòng tổn thất hay hoạt động thuê ngoài
1.3.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là các hành động được thiết lập thông qua các chính sách và thủ tục được ban hành nhằm bảo đảm các chỉ thị của ban quản lý về đối phó rủi ro đối với việc đạt các mục tiêu, được thực hiện (Đường Nguyễn Hưng, 2016)
Hoạt động kiểm soát là hoạt động trực tiếp để đối phó với các rủi ro và
nó diễn ra trong toàn bộ tổ chức ở mọi cấp độ và mọi hoạt động để đơn vị thực hiện được ba nhóm mục tiêu:
- Hoạt động kiểm soát các mục tiêu hoạt động
- Hoạt động kiểm soát mục tiêu thông tin
- Hoạt động kiểm soát cho các mục tiêu tuân thủ
Phân loại hoạt động kiểm soát
Xét về mục đích, người ta chia hoạt động kiểm soát thành ba loại:
- Kiểm soát phòng ngừa: Là hoạt động kiểm soát nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu khả năng xảy ra sai sót và gian lận ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp
Trang 35- Kiểm soát phát hiện: Là hoạt động kiểm soát nhằm phát hiện kịp thời hành vi sai sót hoặc gian lận nào đó đã thực hiện Thông thường, người
ta có thể kết hợp giữa kiểm soát phòng ngừa và kiểm soát phát hiện nhằm nâng cao tính hiệu quả của kiểm soát
- Kiểm soát khắc phục: Mang tính khắc phục hoặc làm giảm các tác động
do rủi ro đã phát sinh ra
Lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát
Tổ chức cần phải lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát phù hợp
để đối phó các rủi ro đối với việc đạt các mục tiêu được thực hiện Thực hiện được điều này, tổ chức cần bảo đảm dựa trên các yếu tố sau:
- Sự gắn kết với đánh giá rủi ro
- Phù hợp với đặc thù của tổ chức
- Bối cảnh kiểm soát nội bộ hiện tại
- Nguồn lực tổ chức
Các loại hoạt động kiểm soát cơ bản
Xét duyệt và phê chuẩn: nhà quản lý quyết định cho phép một nghiệp vụ được thực hiện
- Soát xét nhà quản lý
- Phân chia trách nhiêm hợp lý
- Kiểm soát vật chất
- Phân tích rà soát
Hoạt động kiểm soát đối với hệ thống thông tin
Nhiều hoạt động kiểm soát cần được thực hiện nhằm đảm bảo tính chính xác, tính đầy đủ và phê chuẩn đúng đắn cho các nghiệp vụ diễn ra trong doanh nghiệp Kiểm soát quá trình xử lý thông tin đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động kiểm soát nói chung Các hệ thống thông tin ngày nay được xử lý phần lớn bằng các chương trình máy tính kết hợp với một số
Trang 36thủ tục được xử lý thủ công bằng con người Vì vậy, kiểm soát quá trình xử
lý thông tin có thể chia ra làm hai loại chính đó là kiểm soát chung và kiểm soát ứng dụng
- Kiểm soát chung: Là hoạt động kiểm soát áp dụng cho tất cả các hệ thống ứng dụng để đảm bảo cho hệ thống này hoạt động liên tục và ổn định Cụ thể, kiểm soát chung bao gồm kiểm soát hoạt động của trung tâm
dữ liệu, các phần mềm hệ thống, kiểm soát truy cập và kiểm soát các hệ thống ứng dụng
- Kiểm soát ứng dụng: Là hoạt động kiểm soát áp dụng cho từng hệ thống cụ thể Kiểm soát ứng dụng phải đảm bảo dữ liệu được nhập và xử lý một cách chính xác, đầy đủ cũng như phát hiện các dữ liệu không hợp lý hay chưa được sự xét duyệt của nhà quản lý Cụ thể kiểm soát ứng dụng
sẽ tập trung vào kiểm soát dữ liệu đầu vào, kiểm soát quá trình xử lý và cuối cùng là kiểm soát dữ liệu đầu ra
Kiểm soát chung và kiểm soát ứng dụng có sự liên quan mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau Kiểm soát chung rất cần để đảm bảo cho sự vận hành của kiểm soát ứng dụng Ngược lại kiểm soát ứng dụng giúp phát hiện vấn đề, đưa ra các đề xuất để sửa đổi và hoàn thiện hệ thống, từ đó làm cho kiểm soát chung đầy đủ hơn và hữu hiệu hơn
1.3.4 Thông tin và truyền thông
Thông tin là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập, duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin Thông tin cần phải đảm bảo kịp thời và chính xác khi xác định, thu thập và truyền tới những các nhân, bộ phận có liên quan trong tổ chức Nhiệm vụ của đơn vị là tạo ra các báo cáo chứa đựng những thông tin đảm bảo cho việc điều hành và kiểm soát đơn vị của nhà quản lý
Truyền thông là một tiến trình lặp đi lặp lại cuả việc cung cấp, chia sẻ và
Trang 37thu thập các thông tin cần thiết (Đường Nguyễn Hưng, 2016) Sự trao đổi thông tin hữu hiệu đòi hỏi phải diễn ra theo nhiều hướng: Từ cấp trên xuống cấp dưới, từ cấp dưới lên cấp trên và các cấp ngang hàng với nhau Mỗi cá nhân cần phải hiểu rõ vai trò trách nhiệm của mình, cách thực hiện công việc
và nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hệ thống kiểm soát nội bộ Đồng thời hiểu rõ sự liên quan giữa công việc cá nhân với bộ phận khác để có thể điều chỉnh thích hợp
Thông tin và truyền thông phải đảm bảo rằng mọi cá nhân, bộ phận trong đơn vị và các đối tượng liên quan bên ngoài phải được kết nối và đảm bảo thông suốt thông tin để có thể thực hiện nhiệm vụ của từng đối tượng đó Ngày nay, thông tin và truyền thông đóng một vai trò quan trọng, giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu của mình đề ra
1.3.5 Giám sát
Giám sát là quá trình đánh giá chất lượng hoạt động của KSNB trong từng giai đoạn và là bộ phận cuối cùng KSNB Mục đích của việc giám sát là xem xét hệ thống KSNB có được vận hành và điều chỉnh hợp lý hay không,
và có cần thiết phải sửa đổi cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đơn
vị hay không Quá trình giám sát được thực hiện bởi những người có trách nhiệm nhằm đánh giá việc thiết lập và thực hiện các thủ tục kiểm soát Để đạt hiệu quả tốt, nhà quản lý cần thực hiện giám sát thường xuyên và giám sát định kỳ
Giám sát thường xuyên
Đạt được thông qua việc tiếp nhận các ý kiến góp ý của khách hàng, nhà cung cấp,…hoặc xem xét các báo cáo hoạt động và phát hiện các biến động bất thường Một số ví dụ về hoạt động giám sát thường xuyên:
- Cách giám sát tốt nhất cho hệ thống KSNB và giúp xác định các khiếm khuyết của hệ thống là tạo ra bộ máy tổ chức hợp lý song hành với công tác giám sát thường xuyên
Trang 38- Thông tin từ các đối tác bên ngoài sẽ làm rõ thêm các thông tin thu thập bên trong
- Báo cáo hoạt động và BCTC: Dựa trên báo cáo này, những khác biệt hay chênh lệch đáng kể so với dự toán hay kế hoạch sẽ được phát hiện một các nhanh chóng
- Việc đối chiếu giữa số liệu ghi chép về tài sản trên sổ sách với số liệu tài sản thực tế cũng là thủ tục giám sát thường xuyên
Giám sát định kỳ
Được thực hiện thông qua các cuộc kiểm toán định kỳ do các kiểm toán viên nội bộ hoặc do các kiển toán viên độc lập thực hiện Khi thực hiện hoạt động giám sát định kỳ, cần lưu ý các nội dung sau:
- Quy mô và và mật độ của các hoạt động giám sát định kỳ
- Người thực hiện các hoạt động giám sát định kỳ
- Quy trình đánh giá trong giám sát định kỳ
- Tài liệu hoá
1.3.6 Mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ
Các bộ phận trên có quan hệ chặt chẽ với nhau Nhà quản lý cần đánh giá các rủi ro có thể đe doạ đến việc đạt được mục tiêu Hoạt động kiểm soát được tiến hành nhằm đảm bảo rằng chỉ thị của nhà quản lý nhằm xử lý rủi ro được thực hiện trong thực tế Trong khi đó, các thông tin thích hợp cần phải được thu thập và trao đổi diễn ra thông suốt trong toàn bộ tổ chức Quá trình trên cần được giám sát để điều chỉnh lại hệ thống KSNB khi cần thiết
Các bộ phận hợp thành hệ thống KSNB cần có tính linh hoạt cao Vì vậy, KSNB không đơn giản chỉ là một quá trình - ở đó mỗi bộ phận hợp thành không chỉ ảnh hưởng đến bộ phận kế tiếp mà thực sự là một quá trình tương tác đa chiều – trong đó hầu như bộ phận nào cũng có thể ảnh hưởng đến bộ phận khác Do đó, mặc dù mọi tổ chức đều cần có các bộ phận nói trên,
Trang 39nhƣng hệ thống KSNB của họ lại khác nhau tuỳ theo ngành nghề, quy mô, văn hoá và phong cách quản lý…
1.4 LỢI ÍCH VÀ HẠN CHẾ TIỀM TÀNG CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.4.1 Lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ
Một hệ thống KSNB vững mạnh và hữu hiệu sẽ đem lại cho tổ chức các lợi ích nhƣ:
- Ngăn chặn những rủi ro tiềm tàng làm chậm kế hoạch, tăng chi phí Hạn chế tình trạng tài sản bị hƣ hỏng, mất mát bởi hao hụt, gian lận, lừa gạt, trộm cắp
- Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt động của tổ chức cũng nhƣ các quy định của pháp luật
- Đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ƣu các nguồn lực và đạt đƣợc mục tiêu đặt ra là bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tƣ, cổ đông và gây dựng lòng tin đối với họ đặc biệt là với những công ty đại chúng
- Đảm bảo tính liên hoàn, chính xác số liệu tài chính, kế toán, thống kê cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Tạo ra cơ chế vận hành trơn tru, minh bạch và hiệu quả trong công tác quản lý điều hành
- Là nền tảng, cho việc vận hành, cải tiến hệ thống quản lý và tác nghiệp khi doanh nghiệp mở rộng quy mô
Nhƣ vậy, một hệ thống KSNB vững mạnh là một nhân tố của hệ thống quản trị doanh nghiệp vững mạnh và điều này rất quan trọng đối với doanh nghiệp khi thu hút các nhà đầu tƣ bên ngoài
1.4.2 Hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống KSNB chỉ giúp hạn chế tối đa các sai phạm chứ không thể đảm bảo rủi ro, gian lận và sai sót không xảy ra Những hạn chế vốn có của KSNB bao gồm:
Trang 40- Chi phí hợp lý: Đa số những nhà quản lý sẽ không muốn thực hiện thủ tục kiểm soát mà chi phí lớn hơn lợi ích nó mang lại Vì vậy họ có khuynh hướng triển khai một hệ thống kiểm soát cung cấp sự đảm bảo hợp lý hơn là sự đảm bảo tuyệt đối
- Sự giới hạn cố hữu: Cho dù hệ thống do con người thiết kế ra là lý tưởng nó vẫn phụ thuộc vào khả năng và tính độc lập của người sử dụng nó
Cụ thể nêu ra những giới hạn sau:
Sự thông đồng: Vì những chính sách, thủ tục nâng cao hiệu quả KSNB dựa trên sự phân chia trách nhiệm và bất kiêm nhiệm nên kiểm soát sẽ
bị phá vỡ nếu xảy ra sự thông đồng giữa các nhân viên với nhau
Lạm dụng quyền quản lý: Hệ thống KSNB do nhà quản lý thiết lập và điều hành nên nó chỉ có tác dụng kiểm soát ở cấp thấp thường không có hiệu quả ở cấp cao nếu nhà quản lý có ý định gian lận
Đây là một trong những lý do chính được nhấn mạnh trong định nghĩa COSO 2013 rằng, KSNB chỉ đem lại sự đảm bảo hợp lý để đạt được mục tiêu cho đơn vị chứ không cung cấp sự đảm bảo chắc chắn
1.5 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH XÂY DỰNG CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.5.1 Khái quát về hoạt động của ngành xây dựng
Xây dựng là một quy trình thiết kế và thi công nên các cơ sở hạ tầng hoặc công trình, nhà ở Hoạt động xây dựng khác hoạt động sản xuất khác ở chỗ tạo ra những sản phẩm tại những điểm dành cho từng đối tượng khách hàng riêng biệt Tại những nước phát triển ngành công nghiệp xây dựng đóng góp 6-9% Tổng sản phẩm nội địa
"Công trình xây dựng" là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công