BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ --- PHẠM THẾ CƯỜNG NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA CÁC LOÀI ẾCH NHÁI AMPH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-
PHẠM THẾ CƯỜNG
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA CÁC LOÀI ẾCH NHÁI (AMPHIBIA) Ở MỘT SỐ KHU VỰC NÚI ĐÁ VÔI THUỘC MIỀN BẮC VIỆT NAM VÀ
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-
PHẠM THẾ CƯỜNG
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA CÁC LOÀI ẾCH NHÁI (AMPHIBIA) Ở MỘT SỐ KHU VỰC
NÚI ĐÁ VÔI THUỘC MIỀN BẮC VIỆT NAM VÀ
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN
Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 62.42.01.03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 TS Nguyễn Quảng Trường
2 TS Lê Đức Minh
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực, các số liệu tham khảo đều có nguồn trích dẫn rõ ràng Luận án này chưa từng được bảo vệ để nhận học vị trước bất kỳ hội đồng nào trước đây
Tác giả
Phạm Thế Cường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin dành lời cảm ơn đặc biệt tới TS Nguyễn Quảng Trường và TS
Lê Đức Minh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát thực địa, phân tích số liệu, công bố công trình khoa học và hoàn thiện luận án
Xin trân trọng cảm ơn GS TS Thomas Ziegler, Anna Rauhaus (Vườn thú Cologne, Đức), TS Nguyễn Thiên Tạo, ThS Ngô Ngọc Hải (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam), CN Nguyễn Văn Tân (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật), CN Ngô Thị Hạnh (Trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội), TS Lê Trung Dũng (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), TS Phạm Văn Anh (Đại học Tây Bắc) cùng nhiều bạn bè đồng nghiệp đã
hỗ trợ trong quá trình khảo sát thực địa và phân tích số liệu của luận án
Xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Phòng Sinh học phân tử và Di truyền bảo tồn, Học viện Khoa học và Công nghệ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm các tỉnh Hòa Bình, Hà Giang và Cao Bằng; Vườn Quốc gia Cát Bà, các Khu Bảo tồn thiên nhiên Hang Kia-Pà Cò, Ngọc Sơn Ngổ Luông, Bắc Mê và Hạt Kiểm lâm huyện Hạ Lang cùng các cán bộ kiểm lâm đã cung cấp thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình khảo sát thực địa
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và những người thân đã hết lòng giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận án
Đề tài nghiên cứu được hỗ trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số FWO.106-NN.2015.02, Quỹ National Geographic Society (Hoa Kỳ, Mã số 9492-14), Vườn thú Cologne (CHLB Đức), Quỹ môi trường thiên nhiên Nagao (Nhật Bản), Quỹ Rufford (Anh), Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) trong đề tài mã số VAST.CTG.03/16-17, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (IEBR) trong đề tài mã số IEBR.ĐT 03/15-16
Hà Nội, tháng 2 năm 2018
Phạm Thế Cường
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
5 Những đóng góp mới của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Lược sử nghiên cứu về ếch nhái ở các nước trong khu vực 5
1.2 Lược sử nghiên cứu về ếch nhái ở Việt Nam 7
1.2.1 Các nghiên cứu về khu hệ và phát hiện mới 7
1.2.2 Hướng nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái 11
1.2.3 Hướng nghiên cứu về nòng nọc và âm sinh học 12
1.2.4 Hướng nghiên cứu quan hệ di truyền 13
1.2.5 Hướng nghiên cứu về bệnh học 14
1.2.6 Lược sử nghiên cứu ếch nhái ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam 15
1.2.7 Sơ lược về các nghiên cứu có liên quan đến hai giống Limnonectes và Odorrana ở Việt Nam 17
1.3 Khái quát về điều kiện tự nhiên ở khu vực nghiên cứu 19
1.3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam 19
1.3.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên ở các địa điểm nghiên cứu 22
CHƯƠNG 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU 25
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Khảo sát thực địa 31
2.2.2 Phân tích mẫu vật 32
2.2.3 Đặc điểm phân bố của các loài ếch nhái 36
2.2.4 Đánh giá loài có giá trị bảo tồn 36
Trang 72.2.5 So sánh mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các khu vực 36
2.2.6 Các vấn đề có liên quan đến bảo tồn 37
2.3 Tư liệu nghiên cứu 37
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Thành phần loài ếch nhái 38
3.1.1 Danh sách các loài ếch nhái 38
3.1.2 Phát hiện mới 42
3.1.3 Đặc điểm hình thái các loài ếch nhái 44
3.2 Đánh giá mức độ tương đồng thành phần loài ếch nhái 71
3.2.1 Giữa các địa điểm nghiên cứu 71
3.2.2 Giữa đất liền và đảo 72
3.2.3 Giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc 72
3.2.4 Giữa giữa các hệ sinh thái rừng trong vùng Tây Bắc và Đông Bắc 74
3.3 Đặc điểm phân bố của các loài ếch nhái 77
3.3.1 Phân bố theo độ cao 77
3.3.2 Phân bố theo sinh cảnh 78
3.3.3 Phân bố theo nơi ở 79
3.4 Thành phần loài và quan hệ di truyền của hai giống Ếch nhẽo và Ếch suối ở Việt Nam 80
3.4.1 Thành phần loài và quan hệ di truyền của giống Ếch nhẽo 80
3.4.2 Thành phần loài và quan hệ di truyền giống Ếch suối ở Việt Nam 96
3.5 Các vấn đề liên quan đến bảo tồn các loài ếch nhái ở khu vực nghiên cứu 126
3.5.1 Các loài quý, hiếm 126
3.5.2 Các nhân tố đe dọa lên khu hệ ếch nhái 127
3.5.3 Một số đề xuất đối với công tác bảo tồn 129
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 134
CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 137
TÀI LIỆU THAM KHẢO 139
Trang 8DANH LỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
Bảng 2.2 Các mồi sử dụng trong nghiên cứu quan hệ di truyền của giống Ếch nhẽo 34
Bảng 2.3 Các mồi sử dụng trong nghiên cứu quan hệ di truyền của giống Ếch suối 34
Bảng 3.1 Danh sách các loài ếch nhái ghi nhận ở KVNC 39
Bảng 3.2 Chỉ số tương đồng (Sorensen-Dice) về thành phần loài ếch nhái giữa các địa điểm nghiên cứu 71
Bảng 3.3 Chỉ số tương đồng (Sorensen-Dice) về thành phần loài ếch nhái giữa các KBT ở vùng Tây Bắc 74
Bảng 3.4 Chỉ số tương đồng (Sorensen-Dice) về thành phần loài ếch nhái giữa các KBT ở vùng Đông Bắc 76
Bảng 3.5 Danh sách các loài thuộc giống Ếch nhẽo ghi nhận ở Việt Nam 80
Bảng 3.6 Thông tin các trình tự gen sử dụng trong nghiên cứu 89
Bảng 3.7 Khoảng cách di truyền giữa các loài trong nhóm I 92
Bảng 3.8 Khoảng cách di truyền giữa các loài trong nhóm I (tiếp) 92
Bảng 3.9 Khoảng cách di truyền giữa các loài trong nhóm II 92
Bảng 3.10 Khoảng cách di truyền giữa các loài trong nhóm V 93
Bảng 3.11 Khoảng cách di truyền giữa các loài trong nhóm V (tiếp) 94
Bảng 3.12 Danh sách các loài thuộc giống Ếch suối ghi nhận ở Việt Nam 97
Bảng 3.13 Thông tin các trình tự gen sử dụng trong nghiên cứu 120
Bảng 3.14 Khoảng cách di truyền giữa các mẫu O cf tiannanensis, O tiannanensis, O nasica, O nasuta, O yentuensis, O trankieni 123
Bảng 3.15 Khoảng cách di truyền giữa các mẫu O hainanensis, O bacboensis,
O fengkaiensis 124
Bảng 3.16 Các loài ếch nhái có giá trị bảo tồn ở KVNC 126
Bảng 3.17 Đánh giá thang điểm các địa điểm cần ưu tiên bảo tồn ở KVNC 130
Trang 9
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sự đa dạng các loài ếch nhái ở Việt Nam 8
Hình 2.1 Vị trí các điểm khảo sát ở VQG Cát Bà, Hải Phòng 26
Hình 2.2 Vị trí các điểm khảo sát ở huyện Hạ Lang, Cao Bằng 26
Hình 2.3 Vị trí các điểm khảo sát ở KBTTN Bắc Mê, Hà Giang 27
Hình 2.4 Vị trí các điểm khảo sát ở KBTTN Hang Kia-Pà Cò, Hòa Bình 27
Hình 2.5 Vị trí các điểm khảo sát ở KBTTN Ngọc Sơn-Ngổ Luông, Hòa Bình 28
Hình 2.6 Địa điểm thu thập mẫu vật các loài Ếch nhẽo 29
Hình 2.7 Địa điểm thu thập mẫu vật các loài Ếch suối 30
Hình 2.8 Sơ đồ đo mẫu ếch nhái không đuôi 33
Hình 3.1 Số lượng giống và loài trong các họ ếch nhái ở KVNC 39
Hình 3.2 Phân tích tập hợp nhóm về tương đồng thành phần loài ếch nhái giữa các địa điểm nghiên cứu 71
Hình 3.3 Mức độ tương đồng về thành phần loài ếch nhái ở các KBT ở vùng Tây Bắc 75
Hình 3.4 Mức độ tương đồng về thành phần loài ếch nhái ở giữa KBT ở vùng Đông Bắc 76
Hình 3.5 Số lượng loài và họ ếch nhái theo độ cao ở KVNC 77
Hình 3.6 Cây quan hệ di truyền giống Ếch nhẽo (Limnonectes) ở Việt Nam bằng phương pháp Bayesian Các số hiệu phía sau mẫu là số hiệu thực địa 95
Hình 3.7 Cây quan hệ di truyền giống Ếch suối (Odorrana) ở Việt Nam bằng phương pháp Bayesian Các số hiệu phía trước mẫu là số hiệu thực địa 125
Hình 3.8 Vị trí các điểm cần ưu tiên bảo tồn ở KVNC 130
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những nước có tiềm năng đa dạng sinh học cao trên thế
giới [1] Riêng về lớp Ếch nhái (Amphibia), số lượng loài ghi nhận ở Việt Nam tăng
nhanh trong các thập kỷ gần đây: từ 82 loài vào năm 1996 lên 162 loài vào năm 2005
và 176 loài vào năm 2009 [2], [3], [4] Tuy nhiên, các loài mới và ghi nhận mới vẫn
liên tục được phát hiện trong 5 năm trở lại đây, với khoảng 230 loài ếch nhái hiện đã
ghi nhận ở nước ta [5] Điều này chứng tỏ sự đa dạng khu hệ ếch nhái của Việt Nam
vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu, đặc biệt là ở các nhóm loài sống trên núi cao hoặc
các loài có đặc điểm hình thái giống nhau
Hệ sinh thái núi đá vôi được coi là phòng thí nghiệm thiên nhiên lý tưởng cho
các nghiên cứu về phân loại học, sinh thái học, tiến hóa và địa lý động vật học [6] Các
khu rừng trên núi đá vôi chứa đựng nhiều dạng tiểu sinh cảnh khác nhau và được xem
là các “đảo biệt lập trên cạn”, do vậy khu hệ động vật thường mang tính đặc hữu cao
[6] Ở Việt Nam, phần lớn diện tích núi đá vôi phân bố ở vùng Đông Bắc, vùng Tây
Bắc và vùng Bắc Trường Sơn [7]
Tuy nhiên, rừng trên núi đá vôi cũng là hệ sinh thái rất nhạy cảm trước tác động
của con người và một khi đã bị tác động thì rất khó phục hồi [6] Các dải núi đá vôi ở
Việt Nam đã và đang được khai thác và sử dụng thiếu bền vững cho mục đích phát
triển cơ sở hạ tầng và kinh tế: khai thác đá làm đường, xây dựng và công nghiệp xi
măng Bên cạnh đó các hoạt động khai thác lâm sản, phát triển du lịch thiếu kiểm soát
và biến đổi khí hậu đã có nhiều tác động tiêu cực đến các loài động vật sinh sống trong
rừng trên núi đá vôi, đặc biệt là các loài động vật có thân nhiệt phụ thuộc vào môi
trường sống như các loài ếch nhái
Đề tài: “Nghiên cứu đa dạng và đặc điểm phân bố của các loài ếch nhái
(Amphibia) ở một số khu vực núi đá vôi thuộc miền Bắc Việt Nam và đề xuất các giải
pháp bảo tồn” nhằm đánh giá sự đa dạng của các loài ếch nhái ở một số khu vực rừng
trên núi đá vôi ở miền Bắc Việt Nam, chú trọng đến các khu vực còn ít được nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu tập trung ở một số khu vực rừng trên núi đá vôi ở vùng Đông Bắc
và Tây Bắc có giới hạn phía Nam đến sông Cả (Nghệ An) theo quan điểm
Trang 11phân vùng địa lý động vật của Bain & Hurley (2011) [8] Địa điểm nghiên cứu trải đều
cả ở hai phía của sông Hồng và một số đảo ở Vịnh Bắc Bộ Kết quả khảo sát thực địa, nghiên cứu này cung cấp thông tin về đặc điểm phân bố của các loài ếch nhái theo đai độ cao từ 0 đến 1300 m so với mực nước biển, đồng thời, đánh giá mối quan hệ tương đồng
về thành phần loài giữa các địa điểm nghiên cứu, giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam, giữa đất liền và đảo trên Vịnh Bắc Bộ Bên cạnh đó, đề tài cũng chú ý nghiên cứu
về phân loại và quan hệ di truyền của hai giống ếch nhái có nhiều vấn đề chưa rõ ràng:
Ếch suối Odorrana và Ếch nhẽo Limnonectes ở Việt Nam
2 Mục tiêu
- Xác định được mức độ đa dạng và đặc điểm phân bố của các loài ếch nhái ở
một số khu vực núi đá vôi thuộc miền Bắc Việt Nam;
- Xác định được thành phần loài và quan hệ di truyền của hai giống ếch nhái
Limnonectes và Odorrana ở Việt Nam;
- Đánh giá được giá trị bảo tồn và các nhân tố đe dọa đến các loài ếch nhái ở khu vực nghiên cứu và đề xuất các kiến nghị đối với công tác bảo tồn
3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Đánh giá đa dạng loài
- Điều tra về sự đa dạng loài ếch nhái ở các địa điểm đại diện cho dạng sinh cảnh rừng trên núi đá vôi ở miền Bắc Việt Nam: Tây Bắc, Đông Bắc và đảo thuộc Vịnh Bắc
Bộ Đặc biệt chú ý khám phá các loài mới cho khoa học và ghi nhận phân bố mới
Nội dung 2: So sánh mức độ tương đồng về thành phần loài ếch nhái
- Giữa các địa điểm nghiên cứu trên đất liền và đảo;
- Giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc để kiểm chứng giả thuyết sông Hồng là ranh giới cách ly trong quá trình tiến hóa của các loài ếch nhái
Nội dung 3: Đánh giá đặc điểm phân bố của các loài theo đai độ cao, theo dạng sinh cảnh, theo nơi ở (vị trí ghi nhận: trên cây, trên mặt đất và gắn liền với môi trường nước)
Nội dung 4: Thành phần loài và đánh giá mối quan hệ di truyền giữa các loài và
các quần thể của hai giống ếch nhái Limnonectes và Odorrana ở Việt Nam:
Trang 12- Đã cung cấp thông tin về đặc điểm hình thái và đánh giá quan hệ di truyền của
các loài thuộc 2 giống ếch nhái Limnonectes và Odorrana ở miền Bắc và so sánh với các quần thể khác ở Việt Nam
- Đã cung cấp số liệu để chứng minh giả thuyết sông Hồng là ranh giới cách ly tiến hóa của các loài ếch nhái giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn:
- Đề tài đã cung cấp các thông tin làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch và quản lý bảo tồn đa dạng sinh học ở miền Bắc Việt Nam thông qua: 1) Xác định các địa điểm cần ưu tiên bảo tồn; 2) Xác định các đối tượng ếch nhái cần ưu tiên bảo tồn; 3) Xác định các hoạt động cần ưu tiên bảo tồn
5 Những đóng góp mới của đề tài
- Ghi nhận 65 loài ếch nhái ở 5 khu vực núi đá vôi thuộc miền Bắc Việt Nam, trong đó có 44 loài ở KBTTN Ngọc Sơn-Ngổ Luông (Hòa Bình), 32 loài ở KBTTN Hang Kia-Pà Cò (Hòa Bình), 33 loài ở KBTTN Bắc Mê (Hà Giang), 21 loài ở huyện
Hạ Lang (Cao Bằng) và 23 loài ở VQG Cát Bà (Hải Phòng)
- Mô tả 3 loài mới cho khoa học, ghi nhận bổ sung 3 loài cho khu hệ ếch nhái Việt Nam, ghi nhận mới 1 loài cho tỉnh Cao Bằng, 2 loài cho tỉnh Hà Giang, 3 loài cho thành phố Hải Phòng và 5 loài cho tỉnh Hòa Bình
- Mô tả đặc điểm nhận dạng của 40 loài ếch nhái dựa trên bộ mẫu vật mới thu thập được và bổ sung dẫn liệu khoa học về phân bố của các loài ở KVNC
Trang 13- Đánh giá được mức độ tương đồng về thành phần loài ếch nhái giữa các KBT
ở KVNC, giữa KVNC với các KBT lân cận, giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc, giữa đất liền và đảo
- Đánh giá được đặc điểm phân bố của các loài ếch nhái ở KVNC theo đai độ cao, theo sinh cảnh và theo vị trí ghi nhận
- Đã ghi nhận 8 loài thuộc giống Ếch nhẽo Limnonectes ở Việt Nam Mô tả 1
loài mới cho khoa học, ghi nhận vùng phân bố mới cho 5 loài Mô tả và bổ sung các dẫn liệu hình thái 7 loài Phân tích mối quan hệ di truyền các loài phân bố ở Việt Nam
và so sánh với một số loài phân bố ở các nước lân cận
- Đã ghi nhận 25 loài thuộc giống Ếch suối Odorrana ở Việt Nam Mô tả 1 loài
mới cho khoa học, ghi nhận bổ sung 3 loài cho khu hệ ếch nhái của Việt Nam, ghi nhận vùng phân bố mới cho 8 loài Mô tả và bổ sung dẫn liệu hình thái của 18 loài Phân tích mối quan hệ di truyền các loài phân bố ở Việt Nam và so sánh với một số loài phân bố
ở các nước lân cận
- Đánh giá được hiện trạng, mối đe dọa và đề xuất giải pháp bảo tồn ếch nhái ở KVNC
Trang 145
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Lược sử nghiên cứu về ếch nhái ở các nước trong khu vực
Theo Frost (2017) tổng số loài ếch nhái trên thế giới ghi nhận đến thời điểm hiện nay là 7.697 loài [5] Số lượng các loài ếch nhái được định danh tăng lên đáng kể
từ 6.300 năm 2010 lên đến 7.480 loài năm 2015 và gần 7.700 loài vào thời điểm hiện tại [9], [10], [5] Mức độ đa dạng sinh học cao nhất được ghi nhận ở các khu vực rừng mưa nhiệt đới với khoảng 50% tổng số loài đã được định danh và còn có số lượng rất lớn các loài chưa được mô tả [11] Ếch nhái là nhóm động vật có xương sống biến nhiệt, vì vậy, những nghiên cứu về mức độ đa dạng của các loài lưỡng cư thường được tiến hành ở các vùng nhiệt đới như Châu Phi, Nam Mỹ và Châu Á Trên thế giới có rất nhiều công trình công bố có liên quan đến phân loại, sinh thái và quan hệ di truyền của các loài ếch nhái, tuy nhiên, ở phần này chúng tôi chỉ nêu sơ lược tình hình nghiên cứu theo hướng của đề tài ở các nước giáp ranh với Việt Nam:
Ở Trung Quốc: Zhao & Adler (1993) ghi nhận có 274 loài ếch nhái [12] Yang
& Rao (2008) công bố cuốn sách ếch nhái tỉnh Vân Nam trong đó mô tả 115 loài [13]
Số lượng loài ếch nhái đã tăng lên đến 370 loài trong công bố của Fei et al (2009, 2010) [14], [15] và hiện nay đã ghi nhận 432 loài [5] Từ năm 2010 đến nay có một số loài mới được mô tả với mẫu vật thu ở hai tỉnh Quảng Tây và Vân Nam, Trung Quốc
giáp ranh với Việt Nam như: Odorrana lipuensis Mo, Chen, Wu, Zhang & Zhou, O
fengkaiensis Wang, Lau, Yang, Chen, Liu, Pang & Liu, Limnonectes longchuanensis
Suwnnapoom, Yuan, Chen, Hou, Zhao, Wang, Nguyen, Murphy, Sullivan, McLeod &
Che, Rhacophorus pinglongensis Mo, Chen, Liao & Zhou, Amolops xinduquiao Fei,
Ye, Wang & Jiang, Liuixalus feii Yang, Rao & Wang [5].
Ở Lào: Số lượng loài ếch nhái tăng từ 58 loài trong công bố của Stuart (1999) lên khoảng 153 loài vào thời điểm hiện tại [16], [5] Trong đó có nhiều loài mới và ghi
nhận mới được phát hiện trong thời gian gần đây như Rhacophorus spelaeus Orlov, Gnophanxay, Phimminith & Phomphoumy, 2010 [17], Theloderma lacustrium
Sivongxay, Niane, Davankham, Phimmachak, Phoumixay & Stuart, 2016 [18]; cùng
Trang 15một số ghi nhận mới ở vùng biên giới giáp với Việt Nam như Gracixalus
supercornutus, G quyeti, Rhacophorus maximus [19], [20]
Ở Cam-pu-chia: Có một số nghiên cứu tập trung ở dãy núi Cardamom ở miền Nam Cam-pu-chia như: Ohler et al (2002) ghi nhận 34 loài ếch nhái [21], Grismer et
al (2008) ghi nhận 41 loài ếch nhái [22] Stuart et al (2006) ghi nhận 30 loài ếch nhái
ở khu vực miền núi thuộc Đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới Việt Nam [22] Hartmann et al (2013) ghi nhận 22 loài ếch nhái ở khu vực Tây Bắc Cam-pu-chia [24] Hiện nay, ở Cam-pu-chia ghi nhận khoảng 79 loài [5]
Ở Thái Lan: Công trình nghiên cứu tổng hợp nhất về khu hệ ếch nhái ở Thái Lan của Taylor (1962) đã ghi nhận 125 loài [25] Khonsue & Thirakhupta (2001) xác định có
130 loài ở Thái Lan [26] Hiện nay, ở Thái Lan ghi nhận khoảng 182 loài [5] Trong đó
có nhiều loài mới được mô tả trong thời gian gần đây như loài Tylototriton pahai Nishikawa, Khonsue, Pomchote, Matsui, 2013 và T uyenoi Nishikawa, Khonsue, Pomchote & Matsui, 2013 [27], Limnonectes lauhachindai Aowphol, Rujirawan, Taksintum, Chuaynkern & Stuart, 2015 [28], Fejervarya chiangmaiensis Suwannapoom, Yuan, Poyarkov, Yan, Kamtaeja, Murphy & Che, 2016 [29], hay loài Tylototriton
anguliceps Le, Nguyen, Nishikawa, Nguyen, Pham, Matsui, Bernardes & Nguyen, 2015
được phát hiện và mô tả năm 2015 có phân bố ở Thái Lan và Việt Nam [30]
Số lượng loài ếch nhái trên thế giới rất đa dạng với nhiều khám phá mới trong thời gian gần đây, tuy nhiên có tới gần một phần ba số lượng các loài đang bị đe dọa ở cấp độ khác nhau trên quy mô toàn cầu [31], [5] Trong hai thập kỉ qua đã có tới gần
168 loài được cho là đã tuyệt chủng và ít nhất khoảng 2.500 loài có quần thể bị đe dọa suy giảm [31] Riêng vùng Đông Phương (Oriental) đã có khoảng 41 loài bị tuyệt chủng hoàn toàn (EX), bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên (EW) hoặc cực kỳ nguy cấp (CR)
và 266 loài nguy cấp (EN) hoặc sẽ nguy cấp (VU) [31] Rowley et al (2010a) đã chỉ rõ các loài ếch nhái ở khu vực Đông Nam Á đang đứng trước nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng do tỉ lệ mất rừng ở khu vực này cao nhất trên hành tinh và các quần thể đang chịu áp lực khai thác cạn kiệt [32] Rowley et al (2016a) đã đánh giá tác động của việc buôn bán các loài ếch nhái từ Châu Á (trong đó có Việt Nam) sang thị trường Châu Âu
Trang 161.2 Lƣợc sử nghiên cứu về ếch nhái ở Việt Nam
1.2.1 Các nghiên cứu về khu hệ và phát hiện mới
Theo Nguyễn Văn Sáng và cs (2009), nghiên cứu về ếch nhái ở Việt Nam có lịch sử khá lâu đời nhưng bắt đầu phát triển mạnh vào các giai đoạn cuối thế kỷ 19, giữa và cuối thế kỷ 20 và đặc biệt là những năm đầu thế kỷ 21, đã có hàng loạt công trình công bố về loài mới vào nửa đầu thế kỷ 20 nhưng đáng chú ý có công trình của
Bourret (1942) mang tựa đề Les Batraciens de l’Indochine [34], [35] Cuốn sách đã mô
tả 171 loài và phân loài ếch nhái ở vùng Đông Dương (Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia),
đây có thể coi là tài liệu đầy đủ nhất về ếch nhái trong khu vực vào giữa thế kỷ XX
Năm 1977, Đào Văn Tiến đã công bố khóa định loại 87 loài ếch nhái trong bài
báo “Về định loại ếch nhái Việt Nam” [36] Năm 1981, Trần Kiên và cộng sự đã thống
kê thành phần loài động vật Miền Bắc Việt Nam (1955-1976) trong đó có 69 loài ếch
nhái [37] Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc xuất bản chuyên khảo Danh
lục bò sát và ếch nhái Việt Nam ghi nhận 82 loài ếch nhái [2] Nguyễn Văn Sáng và cs
(2005) thống kê trong cuốn Danh lục ếch nhái và bò sát Việt Nam có 162 loài ếch nhái
[3] Cuốn danh lục gần đây nhất của Nguyen et al (2009) đã ghi nhận tổng số 176 loài ếch nhái ở Việt Nam [4]
Trang 17
Hình 1.1 Sự đa dạng các loài ếch nhái ở Việt Nam
Từ năm 2010 trở lại đây đã có 40 loài ếch nhái mới ghi nhận và mô tả như:
Leptolalax croceus Rowley, Hoang, Le, Dau & Cao, 2010 [38]; Rhacophorus vampyrus
Rowley, Le, Thi, Stuart & Hoang, 2010 [39]; Gracixalus quangi Rowley, Dau, Nguyen, Cao & Nguyen, 201 [40]; Theloderma palliatum Rowley, Le, Hoang, Dau & Cao, 2011
và T nebulsum Rowley, Le, Hoang, Dau & Cao, 2011 [41]; Leptolalax bidoupensis Rowley, Le, Tran & Hoang, 2011 [42]; Leptobrachium leucops Stuart, Rowley, Tran, Le
& Hoang, 201 [43]; Ichthyophis nguyenorum Nishikawa, Matsui & Orlov, 2012;
Leptolalax firthi Rowley, Hoang, Dau, Le & Cao, 2012 [45]; Rhacophorus helenae
Rowley, Tran, Hoang & Le, 2012 [46]; Theloderma chuyangsinense, T bambusicolum
và Rhacophorus robertigeri Orlov, Poyarkov, Vassilieva, Ananjeva, Nguyen, Nguyen & Geissler, 2012 [47]; Gracixalus waza Nguyen, Le, Pham, Nguyen, Bonkowski & Ziegler, 2013 [48]; Tylototriton ziegleri Nishikawa, Matsui & Nguyen, 2013 [49];
Koloula indochinensis Chan, Blackburn, Murphy, Stuart, Emmett, Ho & Brown, 2013
[50]; Leptolalax botsfordi Rowley, Dau & Nguyen, 2013 [51]; Oreolalax sterlingae Nguyen, Phung, Le, Ziegler & Böhme, 2013 [52]; Rhacophorus larissae và R
viridimaculatus Ostroshabov, Orlov & Nguyen, 2013 [53]; Liuixalus calcarius và
Trang 189
Philautus catbaensis Milto, Poyarkov, Orlov & Nguyen, 2013 [54]; Gracixalus lumarius Rowley, Le, Dau, Hoang & Cao, 2014 [55]; Kolophrynus cryptophonus và K honbaensis Vassilieva, Galoyan, Gogoleva & Poyarkov, 2014 [56]; Microhyla pineticola, M pulchella, M arboricola, M minita và M davevskii Poyarkov, Vassilieva,
Orlov, Galoyan, Tran, Le, Kretova & Geissler, 2014 [57]; Kurixalus motokawai Nguyen, Matsui & Eto, 2014 [58]; K viridescens Nguyen, Matsui & Hoang, 2014 [59];
Leptolalax isos Rowley, Stuart, Neang, Hoang, Dau, Nguyen & Emmett, 2015 [60]; Limnonectes nguyenorum McLeod, Kurlbaum & Hoang, 2015 [61]; Leptolalax ardens,
L kalonenesis, L pallidus, L maculosus, L tadungensis Rowley, Tran, Le, Dau, Peloso,
Nguyen, Hoang, Nguyen & Ziegler, 2016 [62]; Ophryophryne elfina Poyarkov, Duong,
Orlov, Gogoleva, Vassilieva, Nguyen, Nguyen, Nguyen, Che & Mahony, 2017 [63];
Leptolalax puhoatensis Rowley, Dau & Cao, 2017 [64]; Leptolalax petrops Rowley,
Dau, Hoang, Le, Cutajar & Nguyen, 2017 [65]; Gracixalus sapaensis Matsui, Ohler, Eto
& Nguyen, 2017 [66]
Các giống có nhiều loài mới được phát hiện ở Việt Nam như Microhyla, Leptolalax,
Theloderma, Rhacophorus, Đáng chú ý, giống Leptolalax chỉ ghi nhận 6 loài vào năm
2009 nhưng hiện tại đã tăng lên 24 loài Giống Rhacophorus chỉ ghi nhận 16 loài vào năm
2009 nhưng hiện nay đã tăng lên 25 loài [4], [5]
Một số nghiên cứu về khu hệ ếch nhái đã được công bố trong thập kỷ gần đây như: Ohler et al (2000) ghi nhận 42 loài ếch nhái ở VQG Hoàng Liên Sơn, tỉnh Lào
Cai [67] Bain & Nguyen (2004a) đã thống kê được 36 loài và mô tả hai loài mới Rana
iriodes và Rana tabaca ở Khu BTTN Tây Côn Lĩnh, tỉnh Hà Giang [68] Nguyễn Văn
Sáng và cs (2009) điều tra đa dạng ếch nhái bò sát tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
đã ghi nhận 29 loài thuộc 8 họ, 3 bộ [69] Nguyễn Thiên Tạo (2009) điều tra ở khu vực rừng núi Phia Oắc, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng đã ghi nhận cho khu hệ 29 loài thuộc 7 họ, 3 bộ [70] Hecht et al (2013) ghi nhận 36 loài ở Khu BTTN Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang [71] Lê Nguyên Ngật và cs (2011) ghi nhận 59 loài thuộc 9 họ, 3 bộ ở
4 tỉnh thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam (Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Hòa Bình) [72] Luu et al (2014b) ghi nhận 33 loài ở Khu BTTN Thượng Tiến, tỉnh Hòa Bình [73] Phạm Thế Cường và cs (2012) ghi nhận 36 loài ở Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh
Trang 19Hóa và Pham et al (2016) đã ghi nhận thêm 7 loài cho tỉnh Thanh Hóa và cập nhật danh sách các loài ghi nhận ở đây lên 50 loài [74], [75] Lê Vũ Khôi và cs (2011) đã thống kê được 25 loài thuộc 7 họ, 1 bộ ở KBTTN Pù Huống, tỉnh Nghệ An [76] Luu et
al (2013) ghi nhận 50 loài ở VQG Phong Nha-Kẻ Bàng, Quảng Bình [77] Hoàng Xuân Quang và cs (2012) điều tra khu hệ ếch nhái, bò sát ở VQG Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã thống kê được 44 loài ếch nhái thuộc 6 họ, 1 bộ [78] Jestrzemski et al (2013) ghi nhận 25 loài ở VQG Chư Mom Ray, tỉnh Kon Tum [79] Hoàng Văn Chung
và cs (2013) ghi nhận 52 loài ở VQG Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai [80] Hồ Thu Cúc và Nguyễn Thiên Tạo (2009) điều tra tại KBTTN Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai năm 2008-
2009 và thống kê được 31 loài thuộc 5 họ, 1 bộ [81] Goodall & Faithfull (2010) ghi
nhận 8 loài ở VQG U Minh Thượng [82]
Một vài nghiên cứu về khu hệ ếch nhái ở các đảo như: Gawor et al (2016) tiến hành khảo sát tại VQG Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh đã ghi nhận được 8 loài [83] Poyarkov & Vassilieva (2011) đã thống kê được 11 loài thuộc 6 họ, 2 bộ ở VQG Côn Đảo, Bà Rịa - Vũng Tàu [84]
Về phân vùng địa lý sinh vật trong thời gian gần đây cũng đã có một số công bố
ở khu vực Đông Dương và ở Việt Nam Bain & Hurley (2011) đã chia khu vực Đông Dương thành 19 vùng địa lý khác nhau bao gồm 14 vùng trên đất liền và 5 vùng ven biển, đồng thời khẳng định sông Hồng là ranh giới cách ly trong quá trình tiến hóa của các loài ếch nhái [8] Kết quả nghiên cứu của Geissler et al (2015) cho thấy có sự khác biệt về thành phần loài ếch nhái ở vùng núi Cadamom của Cam-pu-chia và vùng phía Nam Trường Sơn của Việt Nam, chứng tỏ phần hạ lưu sông Mê Kông là ranh giới cách
ly trong quá trình tiến hóa của các loài ếch nhái [85] Hoàng Xuân Quang và cs (2017) tổng hợp các tài liệu có liên quan và kết luận Việt Nam thuộc miền địa lý động vật Ấn Độ-Mã Lai hay còn gọi là miền Đông Phương (Oriental region) và cho rằng đèo Hải Vân là ranh giới cách ly trong quá trình tiến hóa của các loài động vật trong đó có các loài bò sát và ếch nhái [86]
Nhận xét: Số loài mới cho khoa học và ghi nhận cho Việt Nam mới tăng lên rõ rệt trong thời gian qua, số loài ghi nhận vào năm 2009 là 176 loài đến nay đã tăng lên khoảng 230 loài Các khu vực nghiên cứu cũng được mở rộng khắp cả nước, tuy nhiên
Trang 2011
một số khu vực núi cao giáp biên giới và các khu vực núi đá vôi do địa hình dốc, tiếp
cận khó khăn nên còn ít được nghiên cứu
1.2.2 Hướng nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái
Song song với nghiên cứu về khu hệ, đã có một số nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học của một số loài ếch nhái có giá trị kinh tế hoặc giá trị dược liệu như:
Nghiên cứu về thức ăn của Ếch đồng (Hoplobatrachus rugulosus) của Nguyễn Văn Sáng
năm (1988) [34] Từ năm 1989 đến nay, đã có một số nghiên cứu về sinh thái học của
một số loài trong điều kiện nuôi như Cóc nhà (Duttaphrynus melanostictus) của Ngô Đắc Chứng (1981), Ếch đồng (H rugulosus) của Nguyễn Kim Tiến (1999) Nghiên cứu đặc điểm sinh sản của Cá cóc tam đảo (Paramesotriton deloustali) trong điều kiện nuôi
của Hồ Thu Cúc và cs (2002) [34] Năm 2003, Lê Nguyên Ngật, Đoàn Thị Phương Lý nghiên cứu về dinh dưỡng của Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi [34]
Nghiên cứu về thành phần thức ăn của các loài ếch nhái trong tự nhiên đã có một số công trình như: Đào Văn Tiến và Lê Vũ Khôi (1965) hay Đào Văn Tiến (1967)
nghiên cứu về thức ăn của loài Ếch đồng H rugulosus [87], [88] Trần Kiên và cs
(1978) xuất bản cuốn sách “Đời sống ếch nhái” và đã đề cập khái quát về thức ăn của
một số loài trong tự nhiên (Cóc nhà Duttaphrynus melanostictus, Ngóe Fejervarya
limnocharis, Ếch vạch Quasipaa delacouri, Ếch gai sần Q verrucospinosa, Chàng hiu Hylarana macrodactyla, Ếch suối Sylvirana nigrovittata, Ếch mõm dài Odorrana nasica, Ếch cây mi-an-ma Polypedates mutus, Cá cóc tam đảo Paramesotriton deloustali, Ếch giun ban-na Ichthyophis bananicus,…) [89] Ngô Văn Bình và cs
(2009) nghiên cứu thức ăn của ba loài Ếch gai sần Q verrucospinosa, Ếch nhẽo ban-na
L bannaensis, Chẫu S Guentheri [90] Cao Tiến Trung và cs (2012) nghiên cứu về
đặc điểm dinh dưỡng của ba loài trên đồng ruộng (Ngóe F limnocharis, Ếch đồng H
rugulosus và Chẫu S guentheri) [91] Phạm Văn Anh và Lê Nguyên Ngật (2012) khi
nghiên cứu về thức ăn của 5 loài Ếch gai sần Q verrucospinosa, Ếch nhẽo ban-na L
bannaensis, Chàng mẫu sơn S maosonensis, Ếch mõm dài O nasica và Ếch suối S nigrovittata ở KBTTN Xuân Liên đã thống kê có 20 loại thức ăn được các loài này sử
dụng [92] Ngo et al (2014) nghiên cứu về sinh thái dinh dưỡng của loài Q
verrucospinosa ở miền Trung Việt Nam [93] Gần đây nhất Lê Trung Dũng (2016)
Trang 21nghiên cứu thành phần thức ăn của 6 loài và Phạm Văn Anh (2016) nghiên cứu thành phần thức ăn của 8 loài phân bố ở các sinh cảnh khác nhau [94], [95]
Nhận xét: Các nghiên cứu về đặc điểm sinh thái dinh dưỡng trong điều kiện nuôi nhốt ở Việt Nam đã được tiến hành từ những năm 1980 đối với các loài phổ biến,
có giá trị kinh tế Những nghiên cứu về thức ăn trong tự nhiên mới chỉ tập trung ở một
vài loài F limnocharis, H rugulosus, S guentheri, Q verrucospinosa, L bannaensis,
S maosonensis, S nigrovittata, O nasica Việc nghiên cứu sinh học sinh thái các loài
ếch nhái rất có ý nghĩa đối với các loài có giá trị bảo tồn vì nó sẽ là thông tin hữu ích cho việc nhân nuôi sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt
1.2.3 Hướng nghiên cứu về nòng nọc và âm sinh học
Gosner (1960) đã đưa ra những đặc điểm nhận biết cơ bản về các giai đoạn phát triển của nòng nọc của các loài ếch nhái [96] Một số nghiên cứu về nòng nọc đã được các nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến ở Việt Nam như: Ếch cây trung bộ Rhacophorus
annamensis [97], Ếch suối Sylvirana nigrovittata [98], Ếch cây lớn Rhacophorus maximu
[99], Ếch cây sần bắc bộ Thelorderma corticale [100], Ếch bám đá lào Amolops
cremnobatus [101], Oreolalax sterlingae [102]; Lê Thị Quý (2015) đã mô tả đặc điểm hình
thái của 21 loài nòng nọc ghi nhận ở VQG Bạch Mã, Thừa Thiên Huế [103]
Bên cạnh đó việc phân tích âm sinh học dựa vào tiếng kêu của các loài ếch nhái cũng cung cấp thông tin phục vụ nghiên cứu sinh học và phân loại của các loài [104], [105] Tiếng kêu của ếch nhái được chia thành 4 loại: tiếng kêu gọi bạn (advertisement call), tiếng kêu đáp lại (reciprocation call), tiếng kêu giải thoát (release call) và tiếng kêu gặp nạn (distress call) [106], [105] Trong đó, tiếng kêu gọi bạn có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của ếch nhái, phần lớn được phát ra từ con đực để thu hút con cái và phân định lãnh thổ với con đực của loài khác [106] Trên thế giới, số lượng các loài mới được công bố trên cơ sở kết hợp các dữ liệu về tiếng kêu, hình thái và sinh học phân tử ngày càng phổ biến trong ba thập kỷ qua [107] Tại Việt Nam, đã có thông tin về đặc điểm âm
thanh của một số loài như: Kalophrynus interlineatus [108], Leptolalax applebyi [109],
L bidoupensis [42], [51], L pyrrhops [110], Hylarana guentheri [111], Rhacophorus orlovi [112] và R rhodopus [113], Duttaphrynus melanostictus [114] Gần đây nhất Lê
Trung Dũng (2016) đã mô tả âm học của 11 loài ếch nhái [94]
Trang 2213
Nhận xét: Hướng nghiên cứu về nòng nọc và tiếng kêu mới được tiến hành trên một số ít đối tượng ở Việt Nam trong thời gian gần đây Những hướng nghiên cứu này cần được đẩy mạnh nhằm hỗ trợ cho nghiên cứu phân loại các loài ếch nhái, đặc biệt là các nhóm loài có đặc điểm hình thái giống nhau Ngoài ra nghiên cứu về nòng nọc còn cung
cấp thông tin làm cơ sở cho công tác nhân nuôi sinh sản và bảo tồn các loài ếch nhái
1.2.4 Hướng nghiên cứu quan hệ di truyền
Ứng dụng kỹ thuật của sinh học phân tử đã giúp các nghiên cứu hệ thống và tu chỉnh
vị trí phân loại của các họ, các giống hoặc chia tách các loài phức tạp một cách chính xác hơn Frost et al (2006) đã xây dựng cây quan hệ di truyền của hầu hết các họ ếch nhái trên toàn thế giới, công trình này đã tu chỉnh vị trí phân loại của rất nhiều họ và giống lưỡng cư,
trong đó có một số giống phân bố ở Việt Nam như các loài thuộc giống Paa chuyển sang giống Nanorana, các loài thuộc giống Chirixalus chuyển sang giống Chiromantis, các loài thuộc giống Rana chuyển sang giống Huia, Hylarana và Sylvirana [115].
Li et al (2008, 2009) dựa vào kết quả phân tích phân tử đã tu chỉnh phân loại
một giống nhái cây như chuyển một số loài của các giống Aquixalus và Philautus sang các giống Kurixalus và Gracixalus [116], [117] Ngoài ra, hàng loạt các loài thuộc giống Philautus được chuyển sang giống Theloderma (Rowley et al 2011b, Orlov et
al 2012) [41], [47] Kuraishi et al (2012) phân tích quan hệ di truyền của giống
Polypedates và kết luận loài Polypedates leucomystax không có ở Việt Nam, thay vào
đó hai loài ếch cây ghi nhận ở Việt Nam là Polypedates mutus và P megacephalus [118] Li et al (2012) dựa trên kết quả phân tích quan hệ di truyền nhóm loài
Rhacophorus dugritei và kết luận những ghi nhận của loài R dugritei ở phía Bắc Việt
Nam và Nam Trung Quốc cũng như của loài Rhacophorus hungfuensis ở việt Nam thực chất là loài Rhacophorus puerensis [119] Orlov et al (2012) đã đưa ra đánh giá
về hiện trạng phân loại và phân bố của ếch cây thu được trong hệ thống núi bị cô lập ở phía Nam dãy Trường Sơn và khu vực phụ cận, trong đó công bố 3 loài ếch cây mới là
Theloderma chuyangsinensis, T bambusicola và Rhacophorus robertingeri (trước đây
được định loại là R calcaneus) đồng thời chuyển loài Philautus laevis sang giống
Theloderma [47] Yu et al (2010, 2013) phân tích mối quan hệ di truyền của giống
Trang 23Kurixalus và Gracixalus ở một số nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam đã xác
định loài Kurixalus verrucosus ghi nhận ở Tam Đảo là loài K bisacculus [120], [121]
Nguyen et al (2015) đã phân tích mối quan hệ di truyền của giống Theloderma
ở Việt Nam cho thấy các loài có quan hệ gần gũi về mặt di truyền không phụ thuộc vào các đặc điểm hình thái như kích thước, có hay không có răng lá mía và có hay không
có túi kêu ngoài [122] Poyarkov et al (2015) phân tích đặc điểm di truyền của giống
này ở khu vực Đông Dương đã khẳng định loài T chuyangsinensis (Orlov et al 2012)
là tên đồng vật của loài T palliatum (Rowley et al 2011), loài T stellatum trước đây ghi nhận ở Việt Nam được mô tả là một loài mới T vietnamensis (loài T stellatum chỉ phân bố ở Thái Lan và phía Nam Campuchia), loài T asperum không phân bố ở Việt Nam, các quần thể ở Việt Nam được định loại lại là loài T albopunctatum, một loài
phân bố ở Trung Quốc [123] Chen et al (2016) phân tích quan hệ di truyền của nhóm
Megophrys ở Trung Quốc, Đông Dương, Mi-an-ma, Thái Lan và Ma-lai-xi-a cho thấy
đây là một nhóm rất phức tạp với nhiều quần thể trong đó có ở Việt Nam vẫn chưa được định danh [124]
Nhận xét: Các phân tích về sinh học phân tử đã giúp định danh một cách chính xác hơn các loài hoặc xác định rõ các quần thể của các loài có vùng phân bố rộng là các loài khác nhau Các nghiên cứu này cũng đang được đẩy mạnh ở nhiều nhóm loài khác nhau như các giống thuộc họ Ếch cây Rhacophoridae, họ Cóc bùn Megophryidae Tuy nhiên, do việc khó khăn trong thu thập mẫu vật, các nghiên cứu vẫn chỉ hạn chế ở một số loài nhất định ít nghiên cứu thu thập và phân tích quan hệ di truyền của tất cả các loài trong giống
1.2.5 Hướng nghiên cứu về bệnh học
Ở Việt Nam, Rowley et al (2013b) đã nghiên cứu về tỷ lệ nghiễm nấm
Batrachochytrium dendrobatidis trên ếch nhái và xác định một số quần thể ở Ngọc
Linh (Kon Tum) bị nhiễm nấm [125] Các nghiên cứu của Nguyen et al (2013), Martel
et al (2014) và Laking et al (2017) đã phát hiện một số quần thể của các loài thuộc
giống Cá cóc sần Tylototriton ở Việt Nam bị nhiễm bệnh nấm Batrachochytrium
dendrobatidis và B salamandrivorans [126], [127], [128] Việc phát hiện chủng nấm
mới có nguồn gốc ở Châu Á đã làm tăng khả năng quan ngại về ảnh hưởng của các
Trang 2415
chủng nấm đến sự tồn tại của các loài ếch nhái trên thế giới Nguyen et al (2017) ghi
nhận bệnh nấm B salamandrivorans trên các cá thể của loài Cóc tía Bombina
microdeladigitora được buôn bán từ Việt Nam sang Châu Âu làm sinh vật cảnh [129]
Nhận xét: Nghiên cứu về bệnh học mới được bắt đầu trên một số ít loài ếch nhái
ở Việt Nam trong thời gian gần đây Tuy nhiên, những phát hiện này đã chứng tỏ nguy
cơ lây nhiễm nấm từ các quần thể ở các khu vực địa lý khác nhau Cần thực hiện các nghiên cứu tiếp theo để tìm hiểu cơ chế phát tán cũng như đánh giá ảnh hưởng của các chủng nấm đến quần thể các loài ếch nhái ở Việt Nam cũng như nước ngoài, từ đó có các biện pháp phòng tránh hiệu quả
1.2.6 Lược sử nghiên cứu ếch nhái ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam
Ở tỉnh Bắc Giang: Hồ Thu Cúc và cs (2005) thống kê thành phần loài ếch nhái
ở một số khu vực thuộc vùng núi Đông Bắc Việt Nam bao gồm 82 loài thuộc 9 họ, 3
bộ, trong đó ghi nhận ở khu vực núi Yên Tử có 18 loài [130] Böhme et al (2005) mô
tả loài Cá cóc sần việt nam Tylototriton vietnamennsis với mẫu chuẩn thu được ở vùng núi Yên Tử [131] Tran et al (2008) mô tả loài Ếch suối yên tử Odorrana yentuensis
với bộ mẫu vật thu ở KBTTN Tây Yên Tử [132] Trần Thanh Tùng và cs (2008) điều tra sự đa dạng và hiện trạng ếch nhái, bò sát ở vùng núi Yên Tử trong thời gian 2004 đến năm 2008 đã thống kê được 50 loài ếch nhái [133] Hecht et al (2013) đã ghi nhận
và mô tả đặc điểm hình thái của 36 loài ếch nhái phân bố ở KBTTN Tây Yên Tử [71]
Ở tỉnh Cao Bằng: Có một số nghiên cứu về ếch nhái ở đây nhưng chủ yếu tập trung vào dãy núi Phia Oắc nay là KBTTN Phia Oắc-Phia Đén Hồ Thu Cúc và cs (2005) ghi nhận 33 loài [130] Nguyễn Thiên Tạo (2009) ghi nhận 29 loài và
Nishikawa et al (2013) đã mô tả loài mới Cá cóc zig-lơ Tylotriton ziegleri [70], [27]
Ở tỉnh Hà Giang: Bain & Nguyen (2004) ghi nhận 36 loài và mô tả 2 loài mới
cho khoa học (Rana iriodes và Rana tabaca) ở KBTTN Tây Côn Lĩnh [68]; Ziegler et
al (2014) cập nhật danh lục các loài ếch nhái ghi nhận ở Hà Giang với 50 loài và 8 ghi nhận mới [134]
Ở thành phố Hải Phòng: Các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở VQG Cát Bà với một
số nghiên cứu như Nguyen & Shim (1997), Darevsky (1999), Furey et al (2002) đã ghi
Trang 25nhận được 17 loài ếch nhái [135], [136], [137] Milto et al (2013) đã mô tả 2 loài mới
Ếch cây nhỏ đá vôi Liuixalus calcarius và Nhái cây nhỏ cát bà Philautus catbaensis [54]
Ở tỉnh Tuyên Quang: Lathrop et al (1998) mô tả loài mới Cóc mày na hang
Leptolalax nahangensis ở KBTTN Na Hang [138] Lê Nguyên Ngật và cs (2007) khảo
sát ở 3 huyện miền núi Chiêm Hóa, Na Hang, Sơn Dương ghi nhận 43 loài [139] Rowley
et al (2017b) mô tả loài mới Leptolalax petrops ở KBTTN Chạm Chu [65]
Ở tỉnh Bắc Kạn: Dự án PARC (2004) ghi nhận ở VQG Ba Bể và khu vực lân cận
có 28 loài [140] Nguyen et al (2009) ghi nhận có 27 loài phân bố ở tỉnh Bắc Kạn [4] Phạm Kim Dung và cs (2015) ghi nhận bổ sung 6 loài cho tỉnh này [141]
Ở tỉnh Lào Cai: Về thành phần loài ếch nhái ở vùng núi Sa Pa (Lào Cai), Bourret (1934) đã lập danh sách gồm 25 loài [142] Ohler et al (2000) ghi nhận ở VQG Hoàng Liên có 42 loài trong đó có 6 loài đặc hữu [67] Lê Nguyên Ngật và cs (2001) ghi nhận 44 loài ở vùng núi Sa Pa [143] Năm 2001, Orlov et al (2001) ghi nhận 8 loài mới thuộc họ Rhacophoridae và nâng tổng số loài ếch cây ghi nhận ở Việt Nam từ 32 loài (năm 2000) lên đến 40 loài vào năm 2001 [144] Tordoff et al (2002) khảo sát tại KBTTN Văn Bàn đã ghi nhận 22 loài [145] Nguyen et al (2009) đã
thống kê được 78 loài, gần đây tiếp tục có một số phát hiện mới như Leptolalax
botsfordi, Oreolalax sterlingae, Gracixalus sapaensis [4], [51], [52], [66]
Ở tỉnh Lai Châu: Orlov & Ho (2007) mô tả 2 loài mới ở huyện Tam Đường:
Amolops splendissimus và A minutus [146], Nguyen et al (2009) đã thống kê được 24
loài [4], Rowley et al (2017b) mô tả loài mới Leptolalax petrops với các mẫu chuẩn thu
được ở tỉnh này [65]
Ở tỉnh Điện Biên: Nguyễn Văn Sáng (1991) nghiên cứu ở KBTTN Mường Nhé ghi nhận 9 loài [147] Đỗ Thành Trung và Lê Nguyên Ngật (2009) đã nghiên cứu khu hệ ếch nhái ở huyện Tủa Chùa thống kê được 16 loài [148] Lê Trung Dũng (2016) nghiên cứu ở
KBTTN Mường Nhé đã ghi nhận 48 loài trong đó mô tả 1 loài mới Tylototriton
anguliceps và bổ sung 11 loài cho khu hệ ếch nhái Việt Nam [94]
Ở tỉnh Sơn La: Năm 1991, nghiên cứu của Viện Điều tra và Quy hoạch rừng phối hợp với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I đã ghi nhận 27 loài [149] Thống kê của Chi Cục kiểm lâm tỉnh Sơn La (2002) xác định được 11 loài ở KBTTN Copia
Trang 2617
[150] Nghiên cứu của Viện Điều tra và Quy hoạch rừng trong xây dựng dự án đầu tư thành lập KBTTN Sốp Cộp đã ghi nhận 14 loài (Chi cục kiểm lâm tỉnh Sơn La 2003) [151] Lê Nguyên Ngật và cs (2008) đã thống kê ở KBTTN Xuân Nha có 25 loài [152] Nguyễn Văn Sáng và cs (2010) thống kê ở KBTTN Xuân Nha có 28 loài [153] Theo kết quả khảo sát của Nguyễn Văn Sáng trong tài liệu của Lê Trần Chấn và cs (2012) đã ghi nhận 27 loài ở KBTTN Tà Xùa [154] Theo kết quả khảo sát sơ bộ của
Lê Nguyên Ngật thực hiện trong khuôn khổ đề tài “Điều tra đánh giá đa dạng sinh học của KBTTN Copia (Sơn La) và đề xuất các giải pháp để quản lý bảo tồn”, đã ghi nhận được ở Copia có 22 loài [155] Phạm Văn Anh nghiên cứu ở KBTTN Copia và Sốp Cộp
đã ghi nhận 57 loài [95]
Ở tỉnh Hòa Bình: Nguyễn Xuân Đặng và cs (2000) ghi nhận 24 loài ở KBTTN Hang Kia-Pà Cò [156] Le et al (2008) đã ghi nhận 34 loài ở KBTTN Ngọc Sơn-Ngổ Luông [157] Hoàng Thị Tươi và Lưu Quang Vinh (2009) ghi nhận 27 loài ở KBTTN Thượng Tiến và Luu et al (2014) đã ghi nhận bổ sung thêm 6 loài cho KBTTN Thượng Tiến [158], [73]
Ở tỉnh Ninh Bình: Nguyễn Văn Sáng và cs (2003) ghi nhận 42 loài ở VQG Cúc Phương [159] Lê Trung Dũng và cs (2016) ghi nhận 17 loài ở KBTTN Vân Long [160]
Nhận xét: Ở miền Bắc Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về ếch nhái nhưng chủ yếu tập trung ở các dãy núi cao trên hệ sinh thái núi đất, các VQG và các KBTTN như Tây Yên Tử, Phia Oắc-Phia Đén, Hoàng Liên, Mường Nhé, Sốp Cộp và Copia Các nghiên cứu về lưỡng cư ở hệ sinh thái núi đá vôi vẫn còn khá hạn chế hoặc mới chỉ là những công bố rải rác về các loài mới cho khoa học hoặc ghi nhận mới
1.2.7 Sơ lược về các nghiên cứu có liên quan đến hai giống Limnonectes và Odorrana ở Việt Nam
Giống Ếch nhẽo Limnonectes
Giống Ếch nhẽo (Limnonectes) có phân bố rộng ở châu Á, từ miền Đông và
miền Nam Trung Quốc, về phía Đông tới Nhật Bản, khu vực Đông Dương và phía
Nam Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin và New Guinea [5] Ếch nhẽo Limnonectes
là một trong những giống có thành phần loài đa dạng nhất của lớp ếch nhái với 68 loài
được ghi nhận và cùng với 16 loài được mô tả trong mười năm qua (L cintalubang
Trang 27Matsui, Nishikawa & Eto, L deinodon Dehlinh, L fernery Siler, McVay, Diesmos &
Brown, L hikidai Matsui & Nishikawa, L isanensis McLeod, Kelly & Barley,
L jarujini Matsui, Panha, Khonsue & Kuraishi, L larvaepartus Iskandar, Evans &
McGuire, L lauhachindai Aowphol, Rujirawan, Taksinum, Chuaynkem & Stuart,
L longchuanensis Suwannapoom, Yuan, Sullivan & McLeod, L megastomias LcLeod,
L nguyenorum McLeod, Kurlbaum & Hoang, L selatan Matsui, Belabut & Ahmad,
L sinuatodorsalis Matsui, L sisikdagu McLeod, Horner, Husted, Barley & Iskandar,
L taylori Matsui, Panha, Khonsue & Kuraishi, L utara Matsui, Belabut & Ahmad) [5]
Theo Nguyen et al (2009) giống Limnonectes ở Việt Nam có 5 loài L dabanus
(Smith, 1922), L hascheanus (Stoliczka, 1870), L khammonensis (Smith, 1929),
L kuhlii (Tschudi, 1838) và L poilani (Bourret,1942) [4] Tuy nhiên, có một số thay
đổi về phân loại của nhóm này được công bố trong những năm gần đây: ghi nhận của
L hascheanus ở Việt Nam được định loại lại là loài L limborgi [161] Matsui et al
(2010) và Mcleod (2010) phân tích mối quan hệ di truyền của giống Limnonectes ở
Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Lào, Thái Lan, Ma-lai-xi-a và khẳng định
loài Limnonectes kuhlii không phân bố ở Lào và Việt Nam, ghi nhận trước đây của loài
này ở khu vực Đông Dương tạm thời được định danh là loài L bananensis, một loài
phân bố ở Nam Trung Quốc [162], [163] Luu et al (2013) ghi nhận thêm loài
L gyldenstolpei ở VQG Phong Nha Kẻ Bàng, Quảng Bình [77]
Như vậy, sự đa dạng và phân loại của giống Limnonectes ở Việt Nam vẫn có
nhiều vấn đề chưa rõ ràng Cần tiếp tục có những nghiên cứu về hình thái kết hợp với
quan hệ di truyền để định loại chính xác các loài thuộc giống này ở Việt Nam
Giống Ếch suối (Odorrana)
Giống Ếch suối (Odorrana) có vùng phân bố khá rộng ở châu Á, từ Đông Bắc
Ấn Độ qua miền Nam Trung Quốc, về phía Đông đến Nhật Bản, về phía Nam qua các
nước thuộc khu vực Đông Nam Á tới đảo Su-ma-tra của In-đô-nê-xi-a [5] Giống Ếch
suối cũng là một trong những giống đa dạng nhất của lớp Ếch nhái (Amphibia) với 58
loài được ghi nhận, trong đó ở Việt Nam đã ghi nhận 21 loài [5], [4] Các loài Ếch suối
có kích thước lớn nhưng có hình thái rất giống nhau nên được coi là nhóm phức tạp về
phân loại học Bain et al (2003) đã mô tả 6 loài mới tách biệt thuộc nhóm Ếch suối
Trang 2819
lưng xanh (Rana livida) [164] Tran et al (2008) mô tả loài Ếch suối yên tử Odorrana
yentuensis ở Khu BTTN Tây Yên Tử, Bắc Giang [132] Bain et al (2009) mô tả loài
mới Ếch bám đá hoa Odorrana geminata ở Nam Trung Quốc và Đông Bắc Việt Nam
[165] Đây là loài có đặc điểm hình thái rất giống với loài Ếch bám đá sa pa
O chapaensis (Bourret, 1937) Loài Odorrana junlianensis lần đầu tiên được ghi nhận
ở Việt Nam [166] Đồng thời, cũng có nhiều thay đổi về mặt phân loại của giống này
Ohler (2007) đã so sánh hình thái các mẫu vật thu thập ở Việt Nam, Lào và Nam Trung
Quốc và kết luận Rana daorum (Bain et al 2003) là đồng vật của loài Amolops
mengyangensis (Wu & Tian, 1995), Rana hmongorum (Bain et al 2003) là tên đồng
vật của loài Rana jingdongensis (Fei, Ye & Li, 2001), Rana megatympanum (Bain et
al 2003) và Rana heatwolei (Stuart & Bain, 2005) là tên đồng vật của loài Rana
tiananensis (Yang & Li, 1980), Rana nigrolineata (Datong & Shunqing, 2004) là tên
đồng vật của loài Rana lateralis (Boulenger 1887), Rana nigrotympanica (Dubois,
1992) là tên đồng vật của loài Rana cubitalis (Smith, 1917) Rana bananica (Chen,
Murphy, Lathrop, Ngo, Orlov, Ho & Somorjai, 2005) là tên đồng vật của loài Rana
milleti (Smith, 1921) [167]
Như vậy, các loài thuộc giống này có hình thái rất giống nhau và khó để định
loại chính xác Cần tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn về đặc điểm về hình thái kết hợp với so
sánh quan hệ di truyền để đánh giá sự đa dạng các loài Ếch suối Odorrana ở Việt Nam
1.3 Khái quát về điều kiện tự nhiên ở khu vực nghiên cứu
1.3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam
Miền Bắc Việt Nam có biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc ở phía
Đông Bắc và tỉnh Vân Nam ở phía Tây Bắc và giáp với Lào dọc biên giới phía Tây
Vùng ven biển rộng lớn có ý nghĩa sinh thái quan trọng trải dài dọc theo vịnh Bắc Bộ về
phía Đông Bắc Sông Hồng chảy từ biên giới với Trung Quốc qua vùng trung tâm miền
Bắc Việt Nam vào tạo thành hình giẻ quạt khi chảy vào vùng đồng bằng thấp chủ yếu
làm nông nghiệp và rất đông dân cư trước khi đổ vào vịnh Bắc Bộ [7]
Địa hình núi đá vôi: Theo Sterling et al (2006), phần lớn diện tích núi đá vôi
phân bố ở vùng Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam, một phần phân bố ở tỉnh Quảng Bình
Địa hình đá vôi ở vùng Đông Bắc đa dạng và phức tạp hơn so với vùng Tây Bắc, như
Trang 29dạng tháp lởm chởm, núi dạng khối tròn, dạng nón, dạng lõm có nền phẳng và hang phân bố dọc theo biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Cạn, Tuyên Quang Ở đây, hai cấu trúc địa hình đá vôi lớn là dải núi đá vôi Ngân Sơn và Bắc Sơn, ở độ cao 1.000 m trên mực nước biển với những đỉnh cao từ 100-600 m so với các vùng thung lũng nằm xen kẽ và các vùng lõm phẳng Vùng Tây Bắc Việt Nam có những địa hình đá vôi quan trọng, trong đó có vùng cao nguyên rộng lớn nhưng bị chia cắt thành nhiều phần chạy dọc theo sông Đà từ biên giới Trung Quốc đến bờ biển Những địa hình đá vôi bị xói mòn nhiều cũng phân bố ở các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa và Nghệ An Bên cạnh đó có hàng ngàn đảo đá vôi ở vịnh Hạ Long nằm kế tiếp nhau với Đảo Cát Bà là trung tâm, đây có lẽ
là địa hình đá vôi nổi tiếng nhất và đáng chú ý nhất ở Việt Nam [7]
Khí hậu: Phần lớn miền Bắc Việt Nam có nhiệt độ thay đổi nhiều theo mùa hơn
là các vùng khác trong nước Khí hậu lạnh và thay đổi theo mùa do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc mang không khí lạnh từ cao nguyên Tây Tạng xuống Việt Nam trong mùa đông (tháng 12 đến tháng 2 hoặc tháng 3) Nhiệt độ trung bình hàng ngày ở Hà Nội 16,5-20oC trong những tháng này và tăng lên 27,3-29oC từ tháng 5 đến tháng 8 [7] Miền Bắc Việt Nam có độ ẩm cao trung bình trên 80%, giảm xuống dưới 80% vào các tháng 11 đến tháng 1 năm sau [168] Đến cuối mùa đông (tháng 2 đến tháng 3) mưa phùn kéo dài ở vùng đồng bằng diễn ra trước những tháng mùa hè nóng, ẩm, và mưa nhiều Sự thay đổi thời tiết gây ra do gió mùa Tây Nam nóng thổi vào lục địa từ biển phía Nam [7]
Bên trong điều kiện khí hậu cơ bản này, lượng mưa và chế độ nhiệt độ ở miền Bắc Việt Nam thay đổi rất lớn Ở độ cao trên 2000 m, dãy Hoàng Liên Sơn không có mùa khô và nhiệt độ thường xuống dưới 0oC trong tháng 12 và tháng 1 và đôi khi có tuyết rơi từ 1 đến 3 ngày trong năm Lượng mưa có xu hướng tăng theo hướng Đông Bắc từ Hà Nội đến biên giới Trung Quốc Lượng mưa trung bình hàng năm thay đổi từ mức thấp nhất 1.127 mm ở Nam Định gần vùng ven biển, đến mức cao 4.802 m ở Bắc Quang (Hà Giang) nằm ở chân của khối núi Việt Bắc thuộc tỉnh Hà Giang [7]
Chế độ thủy văn: Sông Hồng và các nhánh sông của nó chi phối địa hình của
miền Bắc Việt Nam Sông Hồng bắt nguồn từ cao nguyên Vân Nam thuộc tỉnh Vân
Trang 3021
Nam Trung Quốc chảy vào Việt Nam theo hướng Đông Nam Hai nhánh sông chính cũng bắt nguồn từ Vân Nam, sông Lô ở phía Đông và sông Đà ở phía Tây, lần lượt sát nhập với sông Hồng ở những điểm cách nhau 10 km và cách Hà Nội gần 55 km về phía Tây Bắc Cả ba con sông này đều chảy xiết, sông Hồng và sông Đà chảy xuống vùng châu thổ qua những khe núi hẹp và sâu Hai con sông khác, sông Mã và sông Cả, chảy song song với sông Hồng ở phía Nam Cả hai con sông này đều chảy xiết ở phía thượng lưu và sông Cả có vùng châu thổ tương tự như châu thổ sông Hồng nhưng nhỏ hơn nhiều [7]
Mặc dù tương đối ngắn (với chiều dài 1.200 km) và có diện tích lưu vực hạn chế rộng 120.000 km2, sông Hồng có lượng nước chảy và lượng phù sa lớn Dòng sông có những thay đổi lớn giữa mùa khô và mùa mưa Lượng mưa trung bình của vùng châu thổ
là 1.600-1.800 m, 80 đến 85% lượng mưa rơi vào khoảng tháng 4 và tháng 10 Kết hợp với sông Đà và sông Lô, sông Hồng mở rộng dòng chảy vào mùa lũ từ tháng 6 đến tháng
10 Trong những tháng này, dòng sông mang theo 73% lượng nước cả năm và lượng nước chảy có thể đạt tới 35.000 m3/giây, lượng nước chảy trung bình cả năm là 3.900
m3/giây Một phần do lượng nước chảy lớn và một phần do sự xói mòn ở thượng lưu do kiến tạo phay nghịch và phá rừng gây ra, sông Hồng mang một lượng lớn phù sa, cao hơn 5 lần so với sông Mê Kông trên một km2 của lưu vực [7]
Thảm thực vật: Rừng ở miền Bắc Việt Nam nằm ở ranh giới phân bố phía Bắc
của thực vật nhiệt đới và ở ranh giới phía Nam của thực vật cận nhiệt đới và ôn đới Những khu vực chuyển tiếp giữa các quần xã thực vật diễn ra ở đây, chúng di chuyển
từ phía Nam lên phía Bắc, từ Đông sang Tây và từ đồng bằng lên miền núi Dạng rừng chiếm ưu thế ở miền Bắc Việt Nam là rừng thường xanh, trong đó có cả thực vật lá rộng và thực vật lá kim kết hợp với những trảng rừng bán thường xanh Các dạng rừng ngập mặn ven biển và rừng mọc trên núi đá vôi cũng là những thành phần quan trọng
trong sự đa dạng sinh cảnh tự nhiên miền Bắc [7]
Một thành phần quan trọng của thực vật miền Bắc Việt Nam là các quần xã thực vật rộng lớn và khá đặc biệt mọc dưới chân và trên địa hình núi đá vôi Ở đây, các khu rừng này phân bố ở độ cao tới 1.700 m, phổ biến là ở độ cao 300-900 m Khi độ cao tăng chúng chuyển từ rừng thường xanh kín tán sang các cấu trúc bán thường xanh
Trang 31thấp hơn, có tán mở hơn và có các dạng thực vật vặn xoắn và uốn cong Những quần thể nằm trên địa hình núi đá vôi ở miền Bắc Việt Nam thường bị chi phối bởi hỗn hợp
đa dạng của cây lá kim có phân bố hẹp ở một vài địa điểm ở phía Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam [7]
Khu hệ động vật: Giống như khu hệ thực vật, các quần xã động vật ở miền Bắc
Việt Nam là hỗn hợp của những loài nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhiều loài trong số này chỉ gặp duy nhất ở một phần ba lãnh thổ phía bắc của đất nước Trong khu vực này sông Hồng có thể là chướng ngại hữu hiệu đối với việc di chuyển (hoặc tương tự như vậy) của một số nhóm, và đối với sự hình thành các loài và các quần xã khác nhau ở vùng Đông Bắc và Tây Bắc [7]
1.3.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên ở các địa điểm nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, chúng tôi tập trung nghiên cứu ở một số khu vực rừng trên núi đá vôi còn ít được nghiên cứu ở miền Bắc Việt Nam (Hình 1.2):
- Vùng Tây Bắc: KBTTN Hang Kia-Pà Cò, KBTTN Ngọc Sơn-Ngổ Luông (tỉnh Hòa Bình);
- Vùng Đông Bắc: Khu rừng thuộc huyện Hạ Lang (tỉnh Cao Bằng) và KBTTN Bắc
Mê (tỉnh Hà Giang), và đại diện cho hệ sinh thái đá vôi trên đảo là VQG Cát Bà (thành phố Hải Phòng)
KBTTN Ngọc Sơn-Ngổ Luông (Hòa Bình): Tổng diện tích là 19.254 ha, thuộc
địa phận huyện Tân Lạc và Lạc Sơn của tỉnh Hòa Bình Trong đó, đất lâm nghiệp là 16.800 ha, chia ra phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 12.700 ha, phân khu phục hồi sinh thái
là 4.100 ha, còn lại là đất nông nghiệp và đất khác Khu BTTN được thành lập nhằm bảo vệ các hệ sinh thái rừng và cảnh quan trên núi đá vôi, bảo vệ các loài động thực vật, nguồn gen, phục vụ nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái, từ đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội trong vùng [169] KBTTN Ngọc Sơn-Ngổ Luông có đặc điểm của vùng núi đá vôi, có địa hình dốc và gồ ghề, giữa các dãy núi đá vôi có một vài thung lũng bằng phẳng chạy theo hướng tây bắc đông nam Độ cao phân bố từ 100-1.065 m,
độ cao trung bình của các đỉnh núi đá vôi vào khoảng 600 m Hệ thống thuỷ văn phức tạp, khu vực được cung cấp nước bởi phụ lưu của sông Bưởi, sau đó đổ vào sông Mã, cuối cùng đổ ra biển Đông ở khu vực gần Thành phố Thanh Hoá [170]
Trang 3223
Hình 1.2 Bản đồ các địa điểm nghiên cứu (Nguồn: E Sterling và K Koy, Hoa Kỳ)
KBTTN Hang Kia-Pà Cò (Hòa Bình): Tổng diện tích 7.091 ha và theo quy
hoạch mới thì diện tích của Khu bảo tồn giảm xuống còn 5.257,77 ha, phần diện tích còn lại được quy hoạch rừng sản xuất [171] KBTTN Hang Kia-Pà Cò thuộc huyện Mai Châu ở phía tây tỉnh Hoà Bình, giáp ranh với tỉnh Sơn La Khu vực này là các khối núi đá vôi kéo dài theo hướng Đông-Nam từ cao nguyên Sơn La tới VQG Cúc Phương Trong phạm vi khu bảo tồn có nhiều khối núi đá vôi cao, nhọn, đỉnh cao nhất tới 1.536 m ở phía tây bắc khu vực, độ cao giảm dần về phía đông và có độ cao trên
500 m Địa chất khu vực đặc trưng bởi đá vôi bị chia cắt bởi những phần nhỏ không phải đá vôi Địa hình vùng đã bị xói mòn tạo nên những quả núi có bề mặt gồ ghề giữa các thung lũng tương đối bằng Các thung lũng bằng nằm ở phía bắc khu bảo tồn là nơi định cư của nhiều hộ dân Các sông suối trong khu bảo tồn chỉ tồn tại theo mùa, thậm chí ngay cả ở các thung lũng có dân sinh sống Nguồn nước cạn kiệt vào mùa khô, nước mưa bị hấp thụ nhanh chóng vào hệ thống suối ngầm dưới lòng đất [170]
KBTTN Bắc Mê (Hà Giang): Tổng diện tích 9042,5 ha, trong đó rừng tự nhiên
8.298,7 ha; rừng trồng là 0,2 ha và khu sinh thái là 743,6 ha KBTTN Bắc Mê nằm trên
Trang 33địa bàn huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang KBTTN Bắc Mê nằm ở vùng lõm của Cánh
cung Sông Gâm về phía Đông Nam tỉnh Hà Giang, địa hình cao dốc, mức độ chia cắt mạnh, có nhiều đỉnh cao trên 1000 m dọc theo các dãy cánh cung Sông Gâm, cao nhất
là đỉnh Thải Giàng Phìn có độ cao 1.465 m Thấp nhất là khu vực hồ thủy điện Tuyên Quang có độ cao 120 m Địa thế khu vực nghiêng dần từ Đông Bắc sang Tây Nam Độ dốc bình quân 30o
, có nơi độ dốc trên 40o [172] Các suối bắt nguồn từ phía Bắc và Tây của khu bảo tồn chảy theo hướng Nam đổ vào sông Gâm Các suối bắt nguồn ở phía Đông
Nam của khu bảo tồn chảy về sông Pao Nam, cũng là một nhánh của sông Gâm [170]
Khu rừng thuộc huyện Hạ Lang (Cao Bằng): Huyện Hạ Lang thuộc tỉnh Cao
Bằng có kiểu địa hình núi đá vôi chiếm phần lớn diện tích Theo quy hoạch của tỉnh Cao Bằng, dự kiến khu vực này sẽ được xây dựng thành KBT loài và sinh cảnh với diện tích khoảng 7.343 ha Khu vực này có hệ thống dãy núi đá vôi phân cắt mạnh với các đỉnh nhọn dạng tai mèo, gồ ghề lởm chởm cao thấp khác nhau, hang hốc tự nhiên nhiều, xen
kẽ các dãy núi là thung lũng hẹp với nhiều dạng khác nhau có độ cao từ 100-750 m so với mực nước biển Khu vực này cũng còn nhiều khu rừng nguyên sinh ít bị tác động trên núi đá vôi như rừng Nghiến ở xã Kim Loan [173]
VQG Cát Bà: Tổng diện tích là 16.196 ha, trong đó diện tích phần đảo là
10 931 ha, diện tích phần biển là 5.265 ha VQG Cát Bà nằm trong vùng quần đảo đá vôi bao gồm hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ, những hòn đảo này kéo dài tạo thành hình cánh cung và song song với cánh cung Đông Triều Các hòn đảo có độ cao phổ biến từ 100-150 m so mặt nước biển, nơi cao nhất thuộc đỉnh Cao Vọng 331 m Các đảo nhỏ
có đầy đủ các dạng địa hình của một miền Karst bị ngập nước Khí hậu vùng Cát Bà thuộc chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa Cát Bà thường có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 5 đến tháng 10) và một mùa đông lạnh, ít mưa (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình trên đảo 25-280C Là đảo ven bờ, khu vực Cát Bà còn chịu ảnh hưởng và chi phối mạnh của biển dưới tác động của chế độ gió đất-biển có tác dụng điều hòa khí hậu, tạo nên mùa đông ấm hơn và mùa hè mát hơn so với đất liền.VQG Cát Bà nằm trong khu vực núi đá vôi với kiểu rừng phổ biến là rừng mưa nhiệt đới thường xanh [174]
Trang 3425
CHƯƠNG 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian khảo sát thực địa được tiến hành từ năm 2014 đến năm 2017 với 15 đợt khảo sát và 119 ngày thực địa (Bảng 2.1)
Địa điểm nghiên cứu: Hệ sinh thái núi đá vôi miền Bắc Việt Nam tập trung vào các địa điểm VQG Cát Bà (Hải Phòng), Huyện Hạ Lang (Cao Bằng), KBTTN Bắc Mê (Hà Giang), KBTTN Hang Kia-Pà Cò và Ngọc Sơn-Ngổ Luông (Hòa Bình) Các điểm, tuyến khảo sát, tọa độ, độ cao được trình bày cụ thể ở Hình 2.1, 2.2, 2.3, 2.4, 2.5 và Phụ lục 2
Bảng 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
khảo sát
Số điểm khảo sát
Số lượt người tham gia
Trang 35Hình 2.1 Vị trí các điểm khảo sát ở VQG Cát Bà, Hải Phòng
(Nguồn: Ban quản lý VQG Cát Bà)
Hình 2.2 Vị trí các điểm khảo sát ở huyện Hạ Lang, Cao Bằng
(Nguồn: Phòng Sinh thái viễn thám, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật)
Trang 3627
Hình 2.3 Vị trí các điểm khảo sát ở KBTTN Bắc Mê, Hà Giang
(Nguồn: Phòng Sinh thái viễn thám, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật)
Hình 2.4 Vị trí các điểm khảo sát ở KBTTN Hang Kia-Pà Cò, Hòa Bình
(Nguồn: Phòng Sinh thái viễn thám, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật)
Trang 37Hình 2.5 Vị trí các điểm khảo sát ở KBTTN Ngọc Sơn-Ngổ Luông, Hòa Bình
(Nguồn: Phòng Sinh thái viễn thám, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật)
Thời gian khảo sát thực địa thu thập mẫu vật các loài thuộc giống Ếch nhẽo
Limnonectes và giống Ếch suối Odorrana tiến hành từ năm 2014 đến năm 2017 với 24
đợt và 250 ngày khảo sát Riêng đối với hai giống này, để so sánh đặc điểm hình thái cũng như quan hệ di truyền giữa các loài và giữa các quần thể chúng tôi sử dụng các mẫu vật thu được ở miền Bắc và cả ở các vùng địa lý khác của Việt Nam
Địa điểm thu thập mẫu vật giống Ếch nhẽo Limnonectes ở 21 tỉnh gồm: Vĩnh
Phúc, Quảng Ninh, Bắc Giang, Cao Bằng, Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai (Hình 2.6)
Địa điểm thu thập mẫu vật giống Ếch suối Odorrana ở 25 tỉnh gồm: Lào Cai,
Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Bắc Giang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa-Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đồng Nai (Hình 2.7)
Trang 3829
Hình 2.6 Địa điểm thu thập mẫu vật các loài Ếch nhẽo (Nguồn: www.diva-gis.org) [175]
Trang 39Hình 2.7 Địa điểm thu thập mẫu vật các loài Ếch suối (Nguồn: www.diva-gis.org) [175]
Trang 40đá Toạ độ các điểm nghiên cứu được xác định bằng máy định vị vệ tinh GPS Garmin Dakota 20
Thời gian thu mẫu: Một số loài ếch nhái có thể thu thập mẫu vật và quan sát vào ban ngày Hầu hết các loài ếch nhái hoạt động vào ban đêm, do đó thường thu mẫu và quan sát ếch nhái từ 18h:00 đến 24h:00
Phương pháp thu mẫu: ếch nhái trưởng thành chủ yếu được thu thập bằng tay, mẫu nòng nọc được thu bằng vợt Xử lý mẫu vật: Mẫu vật thu được thường đựng trong các túi nilon Sau khi chụp ảnh, một số mẫu phổ biến sẽ được thả lại tự nhiên, một số mẫu đại diện sẽ được giữ lại làm tiêu bản nghiên cứu
Làm tiêu bản:
Gây mê: Mẫu vật được gây mê bằng miếng bông thấm etyl a-xe-tat trong lọ kín [176] Mẫu cơ và gan dùng để phân tích sinh học phân tử (DNA) được lưu giữ trong cồn 70%
Ký hiệu mẫu: Sau khi gây mê, mẫu vật được đeo nhãn ký hiệu Nhãn và chỉ buộc không thấm nước; chữ viết trên nhãn không bị tan trong cồn Nhãn được buộc vào chân đối với các loài thuộc bộ Không đuôi (Anura) và bộ Có đuôi (Caudata), với các loài thuộc
bộ Không chân (Gymnophiona) thì khâu chỉ dưới da gần cổ [176]
Cố định mẫu: Sắp xếp mẫu vật theo hình dạng mong muốn, sau đó phủ vải màn hoặc giấy thấm lên trên, ngâm trong cồn 80-90% trong vòng 5-10 tiếng (tùy theo kích thước mẫu vật) Đối với mẫu ếch nhái cỡ lớn, cần tiêm cồn 80% vào bụng và cơ của con vật để tránh thối hỏng mẫu
Bảo quản mẫu vật: Để bảo quản lâu dài, sau khi cố định thì chuyển ngâm cồn 70%