1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ KHU DU LỊCH SINH THÁI BÃI LỮ HUYỆN NGHI LỘC – TỈNH NGHỆ AN LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

86 279 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu, thu thập số liệu thống kê và những thông tin phỏng vấn một cách ngẫu nhiên các du khách trong nước đến với Khu Du lịch Sinh thái biể

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

****************

HOÀNG BẢO TRUNG

XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ KHU DU LỊCH SINH THÁI BÃI LỮ

HUYỆN NGHI LỘC – TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

****************

HOÀNG BẢO TRUNG

XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ KHU DU LỊCH SINH THÁI BÃI LỮ

HUYỆN NGHI LỘC – TỈNH NGHỆ AN

Ngành: Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: TS ĐẶNG MINH PHƯƠNG

Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 06/2012

Trang 3

Hội đồng chấm báo cáo khoá luận tốt nghiệp đại học Khoa Kinh tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận khoá luận “Xác định giá trị khu du lịch sinh thái Bãi Lữ – Huyện Nghi Lộc – Tỉnh Nghệ An” do Hoàng Bảo Trung, sinh viên khoá 2008 – 2012, ngành Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _

TS Đặng Minh Phương Người hướng dẫn

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM, Ban Chủ Nhiệm Khoa Kinh Tế, các Thầy Cô đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức vô cùng quý báu cho em trong suốt quá trình học tập tại trường Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng thành kính, biết ơn đến thầy Đặng Minh Phương – người đã hết lòng quan tâm giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này

Cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Ban Giám Đốc và các Cán Bộ phòng hành chính nhân sự Khu Du Lịch Sinh Thái Bãi Lữ, các phòng ban Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Nghi Lộc – Tỉnh Nghệ An đã rất nhiệt tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và thu thập số liệu cần thiết để hoàn thành khóa luận này

Cuối cùng, cho tôi gởi lời cảm ơn đến những bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.Giờ đây, sắp phải chia tay bạn bè, chia tay thời sinh viên; những ký ức dù vui, dù buồn giờ là lúc khẽ xếp lại và đặt nó vào một góc nào đó trong tim mình Mong sao cho dòng đời vẫn giữ chúng ta mãi bên nhau!

Do thời gian thực hiện đề tài có hạn cộng với trình độ hiểu biết và tầm nhìn chưa rộng Vì thế, luận văn này chắc chắn còn nhiều thiếu sót Rất mong được sự góp

ý của quý thầy cô và các bạn

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 5 năm 2012

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC v DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

CHƯƠNG II.TỔNG QUAN

2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

2.2 Giới thiệu tổng quan về huyện Nghi Lộc 5

2.2.3 Điều kiện kinh tế xã hội 10

2.2.4 Tiềm năng phát triển du lịch 12

Trang 7

3.1.4 Mối quan hệ giữa du lịch và môi trường 22

3.2 Phương pháp nghiên cứu 26

3.2.1 Giới thiệu một số phương pháp xác định giá trị du lịch giải trí 26

CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến cầu du lịch KDLST Bãi Lữ 40

4.1.1 Số lượt khách đến KDLST Bãi Lữ từ năm 2009 – 2011 40

4.1.2 Mô tả đặc điểm kinh tế xã hội của du khách 41

4.2 Xây dựng đường cầu du lịch KDLST Bãi Lữ theo phương pháp ITCM 54

4.2.1 Kết quả ước lượng các tham số và phương trình hàm cầu du lịch KDLST

4.2.3 Kiểm tra sự vi phạm các giả thiết của mô hình 58

4.2.4 Nhận xét và phân tích mô hình đường cầu du lịch 60

4.3.1 Xác định giá trị thặng dư cho mỗi du khách tới KDL 61

CHƯƠNG V.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1 Kết luận 64 5.2 Kiến nghị 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CTCPĐT Công Ty Cổ Phần Đầu Tư

CVM Phương Pháp Đánh Giá Ngẫu Nhiên

ITCM Phương Pháp Chi Phí Du Hành Theo Cá Nhân KDLST Khu Du Lịch Sinh Thái

KT – XH Kinh Tế - Xã Hội

TCM Phương Pháp Chi Phí Du Hành

TNMT Tài Nguyên Môi Trường

UBND Ủy Ban Nhân Dân

ZTCM Phương Pháp Chi Phí Du Hành Theo Vùng

Trang 10

Hình 3.3 Các Bước Cơ Bản Thực Hiện trong Phương Pháp ITCM 30 Hình 4.1 Biểu Đồ Tần Suất về Thu Nhập Của Khách Du Lịch trong Nước 44 Hình 4.2 Tỷ Lệ Khách Du Lịch Xuất Phát Từ Các Vùng 45 Hình 4.3 Khách Du Lịch Phân Theo Hình Thức Đi Du Lịch 47 Hình 4.4 Khách Du Lịch Phân Theo Phương Tiện Di Chuyển 48 Hình 4.5 Thời Gian Lưu Trú Phân Theo Ngày của Du Khách 48 Hình 4.6 Phân Loại Khách Du Lịch Đến Theo Mục Đích Đến Bãi Tắm 49 Hình 4.7 Phân Chia Mức Độ Hài Lòng của Khách Du Lịch 51 Hình 4.8 Phân Chia Khách Du Lịch Theo Các Hoạt Động Thay Thế 52 Hình 4.9 Tỷ Lệ Khách Du Lịch Dự Tính Quay Trở Lại 53 Hình 4.10 Các Địa Phương Hấp Dẫn về Du Lịch 54 Hình 4.11 Đường Cầu Du Lịch Bãi Lữ 60 

Trang 11

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Kết Xuất Mô Hình Hồi Quy Dạng Log – Log Theo ITCM

Phụ lục 2 Mô Hình Kiểm Định PSSSTĐ (White)

Phụ lục 3: Kiểm Tra Hiện Tượng Tương Quan Chuỗi

Phụ lục 4: Kiểm Tra Hiện Tượng Đa Cộng Tuyến bằng Mô Hình Hồi Quy Bổ Sung Phụ lục 5: Hình Ảnh về Khu Du Lịch Sinh Thái Bãi Lữ

Phục lục 6: Bảng Câu Hỏi Phỏng Vấn Khách Du Lịch Đi Du Lịch

Trang 12

Nằm ở khu vực Đông Nam Á, nơi có các hoạt động du lịch sôi nổi Việt Nam

có những lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý, tiềm năng du lịch để phát triển loại hình du lịch sinh thái Đây được xem là con đường hiệu quả nhất để thu ngoại tệ và tăng thu nhập cho đất nước trong tương lai gần Có thể kể đến những khu du lịch tại Việt Nam được du khách nước ngoài đánh giá cao như KDLST hồ Tuyền Lâm (Lâm Đồng), KDLST Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh), khu du lịch sinh thái – lịch sử Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu),v.v… Bên cạnh những địa điểm đã nổi tiếng thì khu du lịch sinh thái biển Bãi Lữ ở huyện Nghi Lộc cũng đang dần trở thành một địa điểm du lịch mũi nhọn của tỉnh Nghệ An nói riêng và của nước ta nói chung Bãi Lữ là nơi biển khơi ăn sâu vào

Trang 13

đất liền, nơi hội tụ cả biển, núi và rừng nên có rất nhiều lợi thế để phát triển du lịch đặc biệt là du lịch sinh thái Nơi đây là một địa danh lý tưởng cho những chuyến nghỉ dưỡng, thư giãn của du khách… Tuy nhiên một vấn đề được đặt ra là làm sao để cân bằng được nhu cầu của con người với khả năng đáp ứng của tự nhiên Chính vì thế việc tiến hành tìm hiểu, xác định và đánh giá giá trị thực sự của tài nguyên thiên nhiên nơi đây để có thể giúp cho các cơ quan hoạch định chính sách, lập kế hoạch, đưa ra những biện pháp nhằm phát huy cao hơn nữa các giá trị cũng như bảo tồn đúng mức là

một việc làm cần thiết Xuất phát từ thực tiễn đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Xác Định Giá Trị Khu Du Lịch Sinh Thái Bãi Lữ - Huyện Nghi Lộc – Tỉnh Nghệ An” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Xác định giá trị Khu Du lịch Sinh thái Bãi Lữ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục tiêu chung trên, cần thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:

- Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cầu du lịch của du khách nội địa đến Khu Du lịch Sinh thái Bãi Lữ

- Xây dựng hàm cầu du lịch đối với Khu Du lịch Sinh thái Bãi Lữ

- Xác định ra giá trị Khu du lịch Bãi Lữ và thặng dư của khách du lịch nội địa

- Đưa ra một số biện pháp nhằm thúc đẩy ngành du lịch nơi đây phát triển mạnh

mẽ trong tương lai

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ ngày 1/3/2012 đến 1/6/2012

Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu, thu thập số liệu thống

kê và những thông tin phỏng vấn một cách ngẫu nhiên các du khách trong nước đến với Khu Du lịch Sinh thái biển Bãi Lữ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

1.4 Cấu trúc của đề tài

Luận văn gồm 5 chương Chương 1 – Mở đầu: giới thiệu, trình bày lý do chọn

đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và trình bày tóm tắt cấu trúc của luận văn Chương 2 – Tổng quan, mô tả tổng quan về về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, dân số,…và các vấn đề nghiên cứu có liên quan của địa bàn nghiên cứu đồng thời trình bày một số nghiên cứu có liên quan đến ứng dụng phương pháp TCM

Trang 14

trong tính toán giá trị khu du lịch Chương 3 – Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu, trình bày các khái niệm, định nghĩa, và phương pháp được sử dụng trong đề tài Chương 4 – Kết quả nghiên cứu và thảo luận, tiến hành phân tích, đánh giá những yếu

tố kinh tế xã hội của khách du lịch Trên cơ sở đó tiến hành xây dựng hàm cầu du lịch theo phương pháp ITCM nhằm xác định giá trị của khu du lịch và thặng dư của du khách Chương 5: Dựa vào kết quả ở chương 4, tác giả kết luận và đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm gia tăng giá trị của khu du lịch cũng như nêu lên những mặt hạn chế của khoá luận

Trang 15

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Hiện nay trong nước và trên thế giới có nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp TCM để xác định giá trị các khu du lịch hoặc các nguồn tài nguyên mà không thể phản ánh bằng giá cả thị trường Để thực hiện đề tài này, tôi đã tham khảo những tài liệu nghiên cứu gần đây là luận văn tốt nghiệp của tác giả Võ Thị Minh Thuý (2008) và Vũ Thị Sen (2010) Bên cạnh đó, các bài giảng của thầy cô trong quá trình học tập tai trường đại học Nông Lâm TP HCM cũng là nguồn tài liệu hữu ích cho đề tài

Theo luận văn của Võ Thị Minh Thuý (2008), với mục tiêu chính của đề tài là xác định giá trị tiềm năng du lịch Bảo tàng Quang Trung – tỉnh Bình Định đối với khách trong nước bằng phương pháp chi phí du hành (TCM-Travel Cost Method) Đây

sẽ là cơ sở để đưa ra những biện pháp, kiến nghị nhằm định hướng phát triển du lịch bền vững trong tương lai Thông qua việc điều tra 100 du khách trong nước đi du lịch đến Bảo tàng Quang Trung về các đặc điểm KT – XH như thu nhập, tuổi, giới tính, nghề nghiệp… bằng phần mềm Excel và Eviews, đề tài đã tiến hành xây dựng hàm cầu du lịch Bảo tàng Quang Trung theo phương pháp chi phí du hành cá nhân (ITCM) dựa theo hàm cầu dạng log – log Từ đó xác định giá trị tiềm năng của Bảo tàng Quang Trung bằng cách dựa vào hàm cầu đã được xây dựng, tiến hành xác định giá trị thặng

dư cho mỗi du khách nội địa tới khu du lịch này (phần diện tích dưới đường cầu và trên đường giá) Nhân nó với số lượng du khách đến trong năm sẽ ước lượng được tổng giá trị của điểm du lịch hàng năm Bên cạnh đó, đề tài cũng dựa vào mức độ gia tăng dân số mỗi năm để tìm ra số lượt khách dự báo đến Bảo tàng trong tương lai nhằm tìm ra giá trị tiềm năng du lịch mà Bảo tàng cần phải khai thác thêm Kết quả đề tài đã xác định được giá trị du lịch của Bảo tàng Quang Trung năm 2007 là

Trang 16

84,742.894.700 tỷ đồng và giá trị tiềm năng cần khai thác thêm là 1,140.015.077 tỷ đồng

Nghiên cứu tiếp theo được thực hiện bởi Vũ Thị Sen (2010) nhằm xác định giá trị du lịch KDLST Bản Đôn cũng có những phần nghiên cứu tương tự đề tài trên Cụ thể đề tài thông qua việc điều tra 90 khách du lịch khi đến Bản Đôn tiến hành xây dựng hàm cầu du lịch theo phương pháp ITCM Dựa trên hàm cầu du lịch cá nhân đã được xây dựng và số lượt khách đến với Bản Đôn trong năm 2009 là 41.522 lượt Đề tài tiến hành xác định đựơc thặng dư của mỗi du khách cho mỗi lần du lịch là 1.785.226 đồng Nhân giá trị này với số lượt khách đến với nơi đây năm 2009 tính được tổng giá trị du lịch sinh thái là 74,13 tỷ đồng Tổng giá trị của DLST Bản Đôn tương ứng với suất chiết khấu 8% là 926,625 tỷ đồng, 10% là 741,13 tỷ đồng và 12%

là 617,15 tỷ đồng

Như đã trình bày ở trên việc sử dụng sử dụng phương pháp TCM để xác định giá trị các khu du lịch hoặc các nguồn tài nguyên mà không thể phản ánh bằng giá cả thị trường hiện nay rất phổ biến Mặt khác phương pháp cũng đơn giản, không tốn nhiều chi phí và dễ thực hiện, kết quả cũng có tính chính xác cao Vì thế trong đề tài này tôi cũng sử dụng phương pháp TCM để tính toán giá trị du lịch của KDLST Bãi

Lữ

2.2 Giới thiệu tổng quan về huyện Nghi Lộc

2.2.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Nghi Lộc là 1 huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, nằm sát phía bắc thành phố Vinh trên toạ độ từ 18041’ đến 18045’ vĩ độ Bắc và 105028’ đến 105045’ kinh độ Đông

+ Phía Bắc giáp: huyện Diễn Châu, huyện Yên Thành

+ Phía Nam giáp: huyện Nam Đàn, huyện Hưng Nguyên và Thành phố Vinh + Phía Đông giáp thị xã Cửa Lò và biển Đông

Địa hình của Huyện đa dạng, có hướng thấp dần từ Tây sang Đông và có thể chia thành 2 vùng lớn:

- Vùng bán sơn địa:

Trang 17

Phía Tây và Tây Bắc của huyện có nhiều đồi núi cao, địa hình chia cắt mạnh,

độ dốc lớn do chia cắt bởi những khe suối; tại khu vực này có những vùng đồng bằng phù sa xen kẽ tương đối rộng, một số hồ đập lớn được xây dựng nên đây cũng là vùng cung cấp lương thực cho huyện, với diện tích đất tự nhiên khoảng 18.083 ha, chiếm 52% so với tổng diện tích của cả huyện Gồm các xã Nghi Lâm, Nghi Công Bắc, Nghi Công Nam, Nghi Mỹ, Nghi Văn, Nghi Kiều, Nghi Phương, Nghi Hưng, Nghi Đồng

- Vùng đồng bằng:

Khu vực trung tâm và phía Đông, Đông Nam của huyện địa hình tương đối bằng phẳng, chỉ có ít đồi núi thấp xen kẽ độc lập, độ cao chênh lệch từ 0,6 – 5,0 m, với diện tích tự nhiên khoảng 16.686 ha, chiếm 48% so với diện tích của cả huyện Do đặc điểm địa hình và thổ nhưỡng có thể phân thành 2 vùng nhỏ:

+ Vùng thấp hoặc trũng: Chủ yếu là đất phù sa của hệ thống sông Cả, có độ cao

từ 0,6 – 3,5 m, địa hình thấp, nguồn nước khá dồi dào, đây là vùng trọng điểm lúa của huyện, gồm các xã Nghi Vạn, Nghi Diên, Nghi Hoa, Nghi Thuận và một phần của Nghi Long, Nghi Tiến, Nghi Yên, Nghi Xá, Nghi Trung

+ Vùng cao: Chủ yếu là đất cát biển, có độ cao từ 1,5 – 5,0 m, là vùng đất màu của huyện, gồm các xã Nghi Trường, Nghi Thịnh, Nghi Thạch, Nghi Long, Nghi Xá, Nghi Khánh, Nghi Yên, Nghi Tiến, Nghi Thiết, Nghi Thái, Phúc Thọ, Nghi Xuân, Nghi Phương, Nghi Trung, Nghi Quang

Hình 2.1 Bản Đồ Huyện Nghi Lộc

Nguồn: UBND huyện Nghi Lộc, 2012

Trang 18

c Khí hậu và thời tiết

Khí hậu huyện Nghi Lộc hàng năm mang tính chất chuyển tiếp giữa khí hậu Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Nhìn chung khí hậu chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới

ẩm gió mùa, có những đặc trưng cơ bản: Biên độ nhiệt độ giữa các mùa trong năm lớn, chế độ mưa tập trung vào mùa mưa bão (tháng 8- tháng 10), mùa nắng nóng có gió Lào khô hanh

- Chế độ nhiệt: Có 2 mùa rõ rệt và biên độ chênh lệch giữa hai mùa khá cao, mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình từ 23,5 – 24,50C, tháng nóng nhất là tháng 7, nhiệt độ có thể lên tới 400C Mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình từ 19,5 – 20,50C, mùa này nhiệt độ có lúc xuống thấp đến 6,20C Số giờ nắng trung bình năm là 1.637 giờ (Số liệu do trạm khí tượng thủy văn Vinh cung cấp)

- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.900 mm, lớn nhất khoảng 2.600 mm, nhỏ nhất 1.100 mm Lượng mưa phân bố không đều mà tập trung chủ yếu vào nửa cuối tháng 8 đến tháng 10, đây là thời điểm thường diễn ra lũ lụt Lượng mưa thấp nhất từ tháng 1 đến tháng 4, chỉ chiếm 10% lượng mưa cả năm

- Chế độ gió: Có 2 hướng gió chính:

+ Gió mùa Đông Bắc nằm sâu trong lục địa lạnh lẽo của vùng Sibia và Mông

Cổ từng đợt thổi qua Trung Quốc và Vịnh Bắc Bộ tràn về, thường xuất hiện vào mùa Đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

+ Gió Đông Nam từ biển Đông thổi vào, gọi là gió Nồm, xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 10

Trang 19

Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn ảnh hưởng bởi luồng gió Tây Nam ở vịnh Băng-gan tràn qua lục địa, luồn qua dãy Trường Sơn, thổi sang, thường gọi là gió Lào

là một loại hình thời tiết đặc trưng cho mùa hạ của vùng Bắc Trung Bộ Ở Nghi Lộc thường xuất hiện vào tháng 6, 7, 8 đã gây ra khô, nóng và hạn hán ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân trên phạm vi toàn huyện

2.2.2 Tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên nước: Nghi Lộc có nguồn nước mặt khá dồi dào dùng để phục vụ sản xuất nông nghiệp bao gồm hệ thống sông Cấm, sông Lam, kênh nhà Lê với 11 hồ chứa nước, 18 đập chứa nước với trữ lượng trên 21 triệu m3 Nguồn nước cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt của người dân và xây dựng công nghiệp, phát triển kinh tế chủ yếu là nguồn nước ngầm với 3 tầng nước: tầng chứa nước lỗ hổng Holocen; tầng chứa nước lỗ hổng Plestocen và tầng chứa nước khe nứt Karst

Tuy có nguồn nước dồi dào nhưng trên địa bàn một số nơi vẫn còn thiếu nước cục bộ cho sinh hoạt và tưới tiêu, chủ yếu là những nơi có địa hình tương đối cao và một số nơi do nguồn nước bị nhiễm mặn

- Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn huyện có rất nhiều tài nguyên khoáng sản, đặc biệt có một số loại có giá trị lớn về kinh tế dùng để sản xuất vật liệu xây dựng như mỏ sét ở Nghi Văn, đá vôi ở Lèn Dơi và cao lanh ở Nghi Lâm…

- Tài nguyên rừng: Diện tích đất lâm nghiệp của huyện có 9.046,46 ha chiếm 25,99% diện tích tự nhiên (trong đó đất rừng sản xuất là 3.680,85 ha; đất rừng phòng

hộ 5.365,61 ha) Rừng tập trung chủ yếu ở các vùng bán sơn địa trồng các loại cây như thông, keo, phi lao, bạch đàn, và trồng rừng ngập mặn ở các xã ven biển để chắn sóng, chắn gió

- Tài nguyên biển: Huyện Nghi Lộc có 14 km bờ biển Tài nguyên biển ở đây

đa dạng phong phú về số loài, trong đó có nhiều đặc sản có giá trị kinh tế cao như mực, tôm, sò Dọc theo bờ biển là các bãi bồi, cồn cát đã được cải tạo trồng phi lao và các làng mạc dân cư sinh sống từ lâu đời Có hàng trăm ha ao, hồ, đầm, nhiều dải rừng ngập mặn như dải rừng ngập mặn Nghi Thái, Phúc Thọ, Nghi Quang, Nghi Thiết Ngoài ra, có các cửa sông: sông Cấm đổ ra cửa biển Nghi Quang, Nghi Thiết, sông Lam đổ ra cửa Hội qua Nghi Xuân và Phúc Thọ Vùng biển Nghi Lộc còn có thế mạnh đặc biệt về du lịch và phát triển tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề Với nhiều bãi biển

Trang 20

đẹp, cảnh quan hấp dẫn, thơ mộng như bãi biển cửa Hiền Nghi Yên, du lịch Bãi Lữ Nghi Yên – Nghi Tiến, du lịch Mũi Rồng Nghi Thiết, bãi Tiền Phong, khu du lịch Hải Thịnh Diện tích vùng ven biển có thể khai thác tiềm năng du lịch tới 1534 ha Vùng biển Nghi Lộc cũng là nơi xuất xứ của nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như làng nghề đóng tàu Trung Kiên (Nghi Thiết), nghề mây tre đan Nghi Thái…

- Tài nguyên du lịch: Huyện Nghi Lộc có nhiều tài nguyên du lịch nổi trội, hội

tụ nhiều điều kiện thuận lợi để trở thành trung tâm du lịch của vùng: nằm sát thị xã biển Cửa Lò, một trong những nơi nghỉ mát nổi tiếng của cả nước; có nhiều bãi tắm đẹp tại Nghi Yên, Nghi Thiết, đặc biệt có khu du lịch Bãi Lữ là khu vực có bãi biển đẹp của miền Trung có thể phát triển thành khu du lịch cấp quốc gia Huyện có nhiều

di tích lịch sử và các danh thắng như: đền thờ Nguyễn Xí, hồ Khe Gỗ (Nghi Lâm), Mũi rồng, biển Hải Thịnh (Nghi Thiết) Đây là một trong những điểm thuận lợi chính cho việc phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái, lịch sử văn hoá và du lịch nghỉ dưỡng

Hình 2.2 Đền Thờ Cương Quốc Công Nguyễn Xí

Nguồn: UBND huyện Nghi Lộc, 2012

Trang 21

2.2.3 Điều kiện kinh tế xã hội

a Thực trạng phát triển kinh tế

Trong những năm qua kinh tế huyện Nghi Lộc đã tạo được những bước chuyển mang tính đột phá, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 5 năm gần đây đạt 12,01%, tổng giá trị sản xuất năm 2010 đạt 1.944 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu người đạt 13,7 triệu đồng, tăng 2,3 lần so với đầu nhiệm kì

Lĩnh vực nông – lâm – ngư vẫn là ngành kinh tế đi đầu góp phần quan trọng trong việc ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân Giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích tăng nhanh, đến năm 2010 bình quân giá trị thu nhập trên đơn vị diện tich toàn huyện đạt 43 triệu/ha, trong đó có 3.710 ha cho thu nhập từ 50 triệu đồng/ha/năm trở lên, chiếm 35,6 % diện tích canh tác Sản lượng lương thực bình quân hàng năm ước đạt 80.000 tấn

Công nghiệp – xây dựng và tiểu thủ công nghiệp được coi là mũi nhọn đột phá trong thời kì 2010 – 2015 góp phần tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa nông thôn Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp xây dựng giai đoạn 2005 – 2010 tăng bình quân 21,29 %/ năm

Ngành thương mại và dịch vụ tăng tương đối nhanh Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ trên các lĩnh vực, phấn đấu đến năm 2015 tổng giá trị sản xuất dịch vụ đạt 1.015 tỷ, giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm đạt 15,5 – 16 %, tỷ trọng dịch vụ đạt 37,5 – 38 % trong cơ cấu kinh tế

b Tình hình xã hội

Giáo dục

Mạng lưới trường, lớp và các cơ sở giáo dục – đào tạo phát triển khá hoàn chỉnh Đội ngũ giáo viên được tăng cường về số lượng và nâng cao về trình độ đào tạo Công tác xã hội hoá giáo dục được chú trọng nhất là hoạt động khuyến học Đến nay, toàn huyện đã có 100% số xã có trường học cao tầng, 100% số xã có trung tâm học tập cộng đồng, 43/95 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia Trung bình hàng năm có

800 học sinh đậu vào các trường đại học, cao đẳng; tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học, tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông đạt cao Trong 5 năm

đã dạy nghề cho 1.948 học sinh trung học phổ thông

Trang 22

Y tế

Toàn Huyện có 25/30 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, hầu hết các xã có bác sỹ, 436/446 xóm có cán bộ y tế (chiếm 97%) Bệnh viện đa khoa huyện được nâng cấp thành bệnh viện hạng 2, cơ bản đáp ứng nhu cầu khám và chữa bệnh cho nhân dân Mạng lưới y tế từ huyện đến cơ sở từng bước được củng cố

Văn hoá – Thể thao

Hệ thống thiết chế văn hoá – thông tin – thể thao từng bước được các ngành, các cấp chăm lo xây dựng, tạo điều kiện cho nhân dân có điều kiện tham gia ngày càng nhiều hơn Đẩy mạnh triển khai thực hiện phong trào “Toàn dân Đoàn kết Xây dựng Đời sống Văn hoá”

Các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, quê hương được quan tâm bảo tồn

và phát huy Củng cố, duy trì tốt việc tổ chức Lễ hội Đền Nguyễn Xí ở xã Nghi Hợp, khôi phục Lễ Hội Nhà thờ Phạm Nguyễn Du ở xã Nghi Xuân…

Quốc phòng – An ninh

Quốc phòng – An ninh được tăng cường, đảm bảo ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Thực hiện xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng cơ sở an toàn làm chủ sẵn sàng chiến đấu Tiếp tục thực hiện có hiệu quả đề án

“3 yên, 3 giảm"

Tuy nhiên, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma tuý, cướp giật, trộm cắp tài sản và

an toàn giao thông còn diễn biến phức tạp Các yếu tố tiềm ẩn về gây mất ổn định trong quốc phòng – an ninh còn lớn

c Cơ sở hạ tầng

Giao thông

Nghi Lộc có mạng lưới giao thông thuận lợi như đường bộ, đường sắt, đường thuỷ Có nhiều tuyến giao thông quan trọng chạy qua địa bàn huyện như: Quốc lộ 1A (dài 16km); Quốc lộ 46 (dài 8km); Đường sắt Bắc – Nam (dài 16km); sân bay Vinh; tỉnh lộ 534 (dài 28km); tỉnh lộ 535 (dài 12km) Với chiều dài 14 km bờ biển, có 2 con sông lớn chảy qua địa bàn là Sông Cấm (dài 15km) và Sông Lam (dài 6km) Cùng với

hệ thống đường liên huyện, liên xã, liên thôn cơ bản đã được nhựa hoá và bê tông hoá tạo thành mạng lưới giao thông của huyện khá hoàn chỉnh Thuận lợi cho việc lưu

Trang 23

thông giữa huyện với Thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò và các huyện trong tỉnh Là huyện có vị trí quan trọng trong công tác đảm bảo an ninh quốc phòng

Thuỷ lợi

Toàn huyện có 11 hồ chứa nước, 18 đập chứa nước với trữ lượng trên 21 triệu

m3, 45 trạm bơm điện, trên 450 km kênh mương các loại và có 33,2 km đê sông và đê biển (đê sông 31,3km, đê biển 1,9km) Nâng cấp xây dựng được 22 trạm bơm, 146 trạm biến áp, 467 km đường dây 0,4 kv và nâng cấp xây dựng 2 chợ nông thôn sạch đẹp

Về cơ bản các công trình hồ đập, trạm bơm đáp ứng yêu cầu sản xuất tối thiểu của sản xuất nông nghiệp Song các tuyến kênh cấp 1, cấp 2 chưa được duy tu, nạo vét, nâng cấp hàng năm, hệ thống tiêu úng vùng màu đầu tư dàn trải nhiều năm, do đó các

xã vùng màu gặp khó khăn trong thoát nước mùa mưa lũ

Hệ thống cấp điện cơ bản đáp ứng được nhu cầu điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt Do nhu cầu sử dụng điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt ngày một tăng, trạm biến áp còn thiếu, mạng lưới điện hạ thế nâng cấp chưa đồng bộ nên dẫn đến mất an toàn, gây tổn thất và làm cho giá điện tăng

2.2.4 Tiềm năng phát triển du lịch

Nghi Lộc có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái, lịch sử văn hoá và du lịch nghỉ dưỡng Bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp và hấp dẫn như bãi Lữ, Bãi Tiền Phong (Nghi Tiến), Cửa Hiền, Núi Rồng (Nghi Thiết) nước và cát sạch, sóng không lớn, độ sâu thoải, độ mặn thích hợp và có vị trí thuận lợi về giao thông, môi trường thiên nhiên trong lành Hiện tại khu du lịch Bãi Lữ đã hoàn thành

Trang 24

đưa vào khai thác và bước đầu phát huy hiệu quả Di tích lịch sử văn hoá như Đền thờ Quốc Công Nguyễn Xí (Nghi Hợp), nhà thờ Phạm Nguyễn Du (Nghi Xuân) và các di tích văn hoá quốc gia khác

Dọc theo sông Cấm và các xã vùng bán sơn địa như Nghi Quang, Nghi Hưng, Nghi Lâm, Nghi Mỹ có cảnh quan thiên nhiên phù hợp cho việc phát triển du lịch sinh

2.3.2 Đặc điểm và quá trình hình thành phát triển

“Bãi Lữ là nơi biển khơi ăn sâu vào đất Việt, là những cánh rừng thông bạt ngàn vươn mình ra biển cả, với cảnh quan thiên nhiên được tạo hoá ban tặng thật hùng

vĩ và đầy cảm hứng thi ca Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh Bãi Lữ (chủ đầu tư) đã chọn nơi đây đầu tư xây dựng dự án khu du lịch sinh thái biển, với mong muốn tạo nên

1 khu du lịch, nghỉ dưỡng văn minh, hiện đại vào loại nhất khu vực, tạo nên những sản phẩm, dịch vụ du lịch sang trọng để phục vụ du khách trong và ngoài nước.” (PTGĐ Trần Chương, 2009)

Bãi Lữ là tên gọi xuất phát từ núi Lữ (Lữ Sơn) Hòn núi đứng sừng sững nơi bãi biển Đứng trên ngọn núi này, ta có thể ngắm trọn vẹn cảnh quan một vùng rộng lớn Phía biển khơi (Đông - Nam) thấy rõ Song Ngư, Đảo Mắt , Lan Châu và gần hơn nữa vào đất liền là Hùng Lĩnh, Lan Châu, Núi Rồng, Núi Lò, Núi Cờ, Núi Kiếm, Chuồng

Gà, Núi Mão, Tượng Sơn (Núi Voi), Quyết Sơn Phía Bắc, dọc theo biển là núi Đầu Rồng (Long Thủ), Hòn Thè, Hòn Câu, Dạ Sơn, Cấm Sơn Phía Tây là Đại Vạc, Thần

Trang 25

Vũ, Lèn Hai Vai, Đại Hải, Đại Bàn, Đại Tứ, Đại Huệ, Thiên Nhẫn, Lam Thành Sơn… Sông Cấm nước xanh nằm trong vòng cung biển Đông Nam Lạch Vạn - Cửa Hiền - Cửa Xá của tỉnh Nghệ An

Khu du lịch sinh thái Bãi Lữ được xây dựng và thiết kế theo mô hình du lịch của các nước phát triển trên bãi biển rất đẹp của miền Trung, nơi hội tụ cả biển, núi và rừng với diện tích quản lý 157 ha Theo quyết định đã được Sở Kế Hoạch và Đầu Tư tỉnh Nghệ An phê duyệt vào ngày 17/03/2005 thì dự án đầu tư xây gồm hai giai đoạn:

- Giai đoạn 1: (2005 - 2008) hoàn thành khu nghỉ dưỡng cao cấp ven biển (Bãi Lữ Resort)

- Giai đoạn 2: (2009 - 2015) theo quy hoạch xây dựng các công trình như khách sạn 5 sao lưng chừng núi, vạn lý trường thành thu nhỏ, sân tập gôn, nhạc nước, quần thể văn hóa thể thao và các dịch vụ vui chơi giải trí khác

Nhưng vì nền kinh tế thế giới và Việt Nam có nhiều biến động Riêng với nền kinh tế Việt Nam, lạm phát tăng cao, kinh tế khó khăn nên khó huy động vốn và kêu gọi đầu tư Vì vậy, giai đoạn 2 của dự án vẫn chưa được xúc tiến xây dựng, cho đến nay công ty đang kinh doanh ở các hạng mục khu nghỉ dưỡng và nhà hàng đã được xây dựng ở giai đoạn 1 Hiện tại, dự án khu du lịch Bãi Lữ gồm có các hạng mục công trình chủ yếu như:

- Hệ thống lưu trú: Có 135 phòng nghỉ sang trọng được chia thành 2 khu vực: Khu biệt thự ven biển 79 phòng, khu biệt thự ven đồi 56 phòng

- Ẩm thực: 3 hệ thống nhà hàng lớn là: Nhà hàng Châu Sa (hòn ngọc sa bên bờ biển Đông), nhà hàng Hoa Biển (bông hoa bên bờ biển), nhà hàng Hương rừng (hương sắc núi rừng) Ngoài các món chủ đạo là đặc sản biển thì mỗi nhà hàng đều có những sản phẩm đặc trưng và mang một phong cách phục vụ riêng

- Hệ thống khuôn viên: Với màu xanh làm gam màu chủ đạo nên tất cả được bài trí trong màu xanh: màu xanh của núi rừng, màu xanh của biển cả, màu xanh của sân vườn, màu xanh của những ngôi biệt thự được kết hợp hài hòa nằm gọn trong hệ thống khuôn viên cây xanh thảm cỏ, với những chiếc xe ngựa, chum sành, gáo dừa, thuyền gỗ,… tạo không gian gần gũi, bình yên, đậm nét chốn quê dân giã Một nét đặc biệt gợi sự tò mò cho du khách là trong hệ thống khuôn viên sân vườn có rất nhiều tiểu cảnh đá, mỗi tiểu cảnh đều mang một điển tích văn hóa riêng

Trang 26

- Hệ thống dịch vụ: Ngoài các dịch vụ ăn uống, phòng nghỉ KDLST Bãi Lữ còn

có hệ thống dịch vụ phong phú: Hội nghị – hội thảo, leo núi, lửa trại, văn hoá văn nghệ, câu lạc bộ thơ, xe điện, làng nướng, câu cá giải trí, câu mực ban đêm, xe đạp tình yêu, tour du lịch khám phá danh lam thắng cảnh và tìm hiểu văn hóa truyền thống

về lịch sử xứ Nghệ quanh Bãi Lữ

- Điểm mạnh của Bãi Lữ là bãi tắm ở đây còn rất sạch, không hề thấy có các loại rác thải trôi nổi như ở nhiều bãi tắm khác; độ mặn của nước vừa phải, thích hợp với mọi người Bên cạnh đó còn có hệ thống bể bơi, tượng Phật Thích Ca cùng tượng

cá Voi (Đông Hải Đại Ngư ông); Bảo tàng Hải dương học, hệ thống sân tập golf, khuôn viên nhạc nước và hàng chục ha rừng phòng hộ mà khu du lịch sinh thái Bãi

Lữ được giao trách nhiệm theo dõi, bảo vệ và chăm sóc

Ngoài ra Bãi Lữ còn nằm trong trung tâm quần thể truyền thuyết huyền thoại lịch sử văn hóa dân tộc như Đền Cuông gắn với huyền thoại Thần kim Quy – An Dương Vương – Mỵ Châu – Trọng Thủy; Đền Nẻ gắn với truyết thuyết Hồ Quý Ly – Công chúa Bạch Y – Dòng Sông Sắt; Đền thờ Thái Sư Cương Quốc Công Nguyễn Xí gắn với sự tích Mồ Hổ Táng Từ Bãi Lữ xuất hành trong vòng bán kính gần 5 km có thể tham quan 3 ngôi đền lớn, mỗi ngôi đền đều gắn với các sự tích, truyền thuyết hấp dẫn li kỳ Đây có thể coi là một vị trí thuận lợi để xây dựng, phát triển các tour du lịch khám phá văn hoá – tâm linh – lich sử

Hình 2.3 Một Góc Bãi Lữ

Nguồn: BQL KDLST Bãi Lữ, 2012

Trang 27

CHƯƠNG 3

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Cơ sở lí luận

3.1.1 Một số khái niệm về du lịch

a Khái niệm về du lịch sinh thái

Khái niệm về du lịch sinh thái có nhiều cách hiểu do được tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau Trên cơ sở kế thừa những thành quả của các nhà khoa học quốc tế, hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam từ ngày

7 – 9/9/1999 tại Hà Nội đã đưa định nghĩa về du lịch sinh thái như sau: “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”

b Khái niệm về phát triển bền vững du lịch sinh thái

Hiện nay thế giới đang đặt ra yêu cầu đảm bảo phát triển du lịch bền vững, vì phát triển du lịch không những nhằm tăng trưởng kinh tế mà phát triển phải dựa vào tính bền vững về hệ sinh thái, kinh tế và xã hội

Phát triển bền vững du lịch sinh thái được định nghĩa theo 2 cách:

“Các hình thức du lịch sinh thái đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách, ngành

du lịch và cộng đồng địa phương mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau”

“Du lịch sinh thái khả thi về kinh tế nhưng không phá hủy tài nguyên mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng”

c Các quan điểm chung về phát triển du lịch sinh thái và phát triển du lịch bền vững

Trang 28

Du lịch bền vững mới xuất hiện gần đây vì nó bắt nguồn từ khái niệm phát triển bền vững Nó cũng là hệ quả từ việc lo lắng cho tương lai của các khu vực dễ bị tổn thương trên trái đất, nhất là các khu rừng nhiệt đới (Blangy, 1995) Như vậy thành tố môi trường đóng vai trò hết sức quan trọng

Theo Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới, Tổ chức du lịch thế giới và Hội đồng trái đất (1999), du lịch bền vững là một loại hình du lịch đáp ứng các nhu cầu của du khách và các vùng đón tiếp mà vẫn bảo vệ và cải thiện được các nguồn tài nguyên cho tương lai Du lịch bền vững nhằm quản lý tất cả các nguồn tài nguyên sao cho có thể đáp ứng được nhu cầu về kinh tế, xã hội và thẩm mỹ mà vẫn bảo toàn các giá trị văn hóa, đa dạng sinh học và môi trường sống

Tổ chức du lịch thế giới đã đưa ra 3 tiêu chuẩn đặc trưng của phát triển du lịch bền vững như sau:

- Các nguồn tài nguyên môi trường phải được bảo vệ

- Các cộng đồng địa phương phải được hưởng lợi về mặt thu nhập kinh tế và chất lượng cuộc sống từ loại hình du lịch này

- Du khách nhận được những kinh nghiệm có chất lượng cao

d Khái niệm về khu du lịch

Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế – xã hội và môi trường

e Khái niệm về khách du lịch

Khách du lịch là một người đi từ quốc gia này tới quốc gia khác với một lý do nào đó, có thể là kinh doanh, thăm viếng hoặc làm một việc gì khác Định nghĩa này còn áp dụng cho khách du lịch trong nước (Theo tổ chức Du Lịch Thế Giới)

Theo cách định nghĩa này khách du lịch được chia thành du khách và khách tham quan:

- Du khách là khách du lịch lưu trú tại quốc gia trên 24 giờ và ngủ qua đêm ở

đó với lý do kinh doanh, thăm viếng hay làm một việc gì khác

- Khách tham quan là khách du lịch đến viếng thăm một nơi nào đó dưới 24 giờ đồng hồ và không ở lại qua đêm

Theo pháp lệnh du lịch ở nước ta quy định:

Trang 29

- Khách du lịch quốc tế là những người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch

- Khách du lịch nội địa là công nhân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại

Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

3.1.2 Cầu du lịch

a Khái niệm cầu du lịch

Cầu du lịch là một bộ phận nhu cầu xã hội có khả năng thanh toán về vật chất

và dịch vụ du lịch đảm bảo sự đi lại lưu trú tạm thời của những người ngoài nơi ở thường xuyên của họ, nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu văn hóa, chữa bệnh, tham gia các chương trình đặc biệt và các mục đích khác

b Phân loại cầu du lịch

Cầu về du lịch bao gồm cầu về dịch vụ du lịch và cầu về hàng hóa vật chất Đối với cầu về dịch vụ du lịch thì có thể chia thành ba loại là cầu về dịch vụ chủ yếu (bao gồm cầu về vận chuyển và cầu về lưu trú, ăn uống); cầu về dịch vụ đặc trưng (là những cầu về dịch vụ và nhu cầu cảm thụ, thưởng thức mà khách mong đợi khi đi du lịch Cầu về dịch vụ đặc trưng này thường là nguyên nhân và mục đích chuyến đi) và cầu về dịch vụ đi kèm (là cầu về những dịch vụ rất đa dạng phát sinh trong chuyến đi của du khách, bao gồm dịch vụ thông tin liên lạc, dịch vụ đặt chỗ, mua

vé, giặt ủi Phần lớn những nhu cầu này phát sinh ngay tại nơi đi du lịch và cần được thỏa mãn trong thời gian ngắn)

Đối với cầu về hàng hóa thì cũng có thể chia thành hai loại cầu về hàng hóa lưu niệm (là việc du khách có nhu cầu tìm mua những vật phẩm đặc trưng của điểm du lịch nhằm gợi nhớ về điểm du lịch Việc đáp ứng tốt cầu về hàng lưu niệm sẽ mang lại một hiệu ứng tốt về quảng cáo cho địa điểm du lịch đó) và cầu về hàng hóa có giá trị kinh tế cao (là việc trong quá trình đi du lịch, du khách có thể kết hợp mua một số hàng hóa có giá trị cao, được bán tại nơi du lịch có giá rẻ hơn nơi họ sinh sống)

c Các yếu tố tác động đến cầu du lịch

Yếu tố tự nhiên

- Đặc điểm các yếu tố tự nhiên ở nơi ở thường xuyên của khách du lịch: những nơi có điều kiện bất lợi như khí hậu lạnh, ẩm, ít nắng, địa hình đơn điệu, động thực vật

Trang 30

không phong phú sẽ làm nảy sinh nhu cầu đi du lịch của người dân sống ở nơi đó Các yếu tố này tác động lên điều kiện sống của dân cư một cách liên tục, làm cho nhu cầu

du lịch đến nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn trở nên cần thiết và ngày càng phát triển

- Đặc điểm các yếu tố tự nhiên của điểm du lịch: bao gồm khí hậu ôn hòa, địa hình đa dạng, phong cảnh thiên nhiên kỳ thú, động thực vật quý hiếm là nơi du khách thường hướng tới

Yếu tố văn hóa, xã hội

- Tình trạng tâm, sinh lý con người: tâm lý thư giãn, sảng khoái, sức khỏe tốt thường nảy sinh nhu cầu du lịch Tuy nhiên có những trường hợp do buồn chán, do tình hình sức khỏe mà khi có lời khuyên của bạn bè, người thân, đặc biệt là của bác sỹ thì người ta cũng dễ chấp nhận một chuyến đi để thư giãn hoặc để chữa bệnh Do đó cả hai trạng thái tâm, sinh lý trên đều tác động đến nhu cầu du lịch

- Độ tuổi và giới tính khách du lịch: Tùy vào từng độ tuổi và giới tính khác nhau của du khách mà tác động đến nhu cầu du lịch cũng khác nhau Tuổi trẻ luôn hiếu kỳ nhưng vì hạn chế về tài chính và việc học hành cho họ là đối tượng tác động đến nhu cầu du lịch của người lớn và là những khách du lịch trong tương lai Còn người già luôn bị hạn chế về sức khỏe nên có xu hướng đi du lịch ở những nơi nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, vì thế cũng tác động đến nhu cầu du lịch

- Thời gian nhàn rỗi: thời gian nhàn rỗi là một trong những yếu tố tác động đến

sự phát triển của du lịch Khi xã hội chưa phát triển con người sử dụng thời gian nhàn rỗi cho nghỉ ngơi theo đúng nghĩa đen của nó Nhưng dần dần con người đã biết sử dụng thời gian nhàn rỗi cho việc nghỉ ngơi theo nghĩa tích cực trong đó có việc đi du lịch Số lượng thời gian nhàn rỗi do nhiều yếu tố quyết định nhưng ba yếu tố quan trọng là năng suất lao động, các thể chế và luật lệ quản lý, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc rút ngắn thời gian cho công việc nội trợ Yếu tố này tác động trực tiếp đến khả năng kéo dài thời gian đi du lịch, nhất là loại hình du lịch cuối tuần

- Dân cư: các yếu tố dân cư như dân số, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, cơ cấu sự phân bố và mật độ dân cư tác động trực tiếp đến việc hình thành cầu

du lịch

Trang 31

- Bản sắc văn hóa và tài nguyên nhân văn khác: sự khác biệt về nền văn hóa giữa các địa phương, các vùng của một quốc gia, giữa các quốc gia do tập tục mỗi vùng, bản sắc văn hóa dân tộc quyết định Chính bản sắc văn hóa dân tộc tạo ra sự kích thích hình thành cầu du lịch Tài nguyên nhân văn như di tích văn hóa, di tích lịch

sử - văn hóa, v.v… tác động đến cầu du lịch qua bốn giai đoạn từ thông tin, tiếp xúc, nhận thức đến đánh giá nhận xét có tác dụng thúc đẩy việc hình thành cầu du lịch

- Trình độ văn hóa: trình độ văn hóa tác động đến việc hình thành cầu cả về phía người tiêu dùng và người sản xuất du lịch Trình độ văn hóa được nâng cao thì động cơ du lịch tăng lên, thói quen du lịch hình thành ngày một rõ Tại các điểm du lịch trình độ văn hóa và dân trí cao hay thấp quyết định đến cách đối xử với khách trong quá trình giao tiếp, đến chất lượng phục vụ khách tạo nên sự hấp dẫn, thu hút khách Trình độ văn hóa của người du lịch tác động đến sản phẩm du lịch và thông qua

đó tác động đến việc hình thành cầu, đến khối lượng và cầu du lịch

- Nghề nghiệp: Nghề nghiệp cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch của du khách Tùy vào công việc, tùy vào từng loại nghề mà du khách có nhiều hay ít thời gian giành cho việc đi du lịch

- Thị hiếu và kỳ vọng: thị hiếu ảnh hưởng đến cầu, hướng sự ưu tiên tiêu dùng vào hàng hóa, dịch vụ du lịch nào đó Các kỳ vọng hay sự thay đổi của con người về

sự thay đổi thu nhập, giá cả, v.v làm cho cầu du lịch thay đổi

Yếu tố kinh tế

- Thu nhập: Một khi con người ổn định về tài chính, thu nhập có phần dư thì lúc

đó họ mới có nhu cầu về du lịch Có thể kỳ vọng thu nhập càng cao người ta sẽ đi du lịch càng nhiều và ngược lại

- Giá cả hàng hóa: Xét ở phạm vi rộng giá cả của hàng hóa nhất là giá cả hàng hóa phục vụ sinh hoạt, tạo ra sự biến động của cầu du lịch Sự giảm hàng hóa sẽ tạo ra một khoản thu nhập dư ra có thể tích lũy hoặc đi du lịch Ở phạm vi hẹp nếu giá hàng hóa tăng lên dẫn đến khối lượng cầu trong du lịch giảm xuống và ngược lại Tuy nhiên

sự tác động này không phải lúc nào cũng vậy Một số trường hợp đặc biệt mặc dù giá

cả hàng hóa du lịch tăng cao nhưng cầu du lịch vẫn tăng, ví dụ như du lịch chữa bệnh

- Tỷ giá trao đổi ngoại tệ (tỷ giá hối đoái): yếu tố này tác động đến sự hình thành cầu, khối lượng và cơ cấu cầu du lịch quốc tế Trong điều kiện giữ nguyên giá cả

Trang 32

hàng hóa du lịch, khách du lịch sẽ quyết định đi đến những nơi mà tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền nước họ với nơi đến du lịch là cao nhất

- Cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và quá trình đô thị hóa: tác

động sâu sắc đến toàn bộ hoạt động KT – XH trong đó có du lịch Tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin làm thu nhập tăng lên, thời gian nhàn rỗi nhiều hơn, thông tin về các sản phẩm du lịch nhanh hơn và phong phú hơn Mặt khác khi phát triển, các yếu tố này phá vỡ sự cân bằng nhịp sống buộc con người phải nghỉ ngơi để khôi phục lại sức khoẻ và tinh thần Từ đó làm nảy sinh nhu cầu du lịch dưới nhiều dạng khác nhau với tốc độ tăng không ngừng

- Yếu tố chính trị: Yếu tố này tác động mạnh đến cầu du lịch Điều kiện chính trị ổn định, hòa bình sẽ làm tăng lượng khách du lịch, đồng thời chính sách phát triển kinh tế xã hội cũng tác động trực tiếp đến việc hình thành cầu, cơ cấu và khối lượng cầu du lịch

- Giao thông vận tải: Giao thông vận tải là tiền đề cho sự phát triển du lịch Điều kiện giao thông thuận lợi, mạng lưới giao thông đa dạng và phương tiện giao thông phong phú sẽ tạo điều kiện thu hút nhu cầu du lịch của nhiều du khách

3.1.3 Cung du lịch

a Khái niệm cung du lịch

Cung du lịch là khả năng cung cấp dịch vụ du lịch và hàng hoá du lịch (cả hàng hoá vật chất và dịch vụ du lịch) mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở những mức giá khác nhau trong một thời gian và không gian xác định

b Khái niệm loại hình cung du lịch

Loại hình du lịch là tập hợp các sản phẩm du lịch của một vùng và của một quốc gia có liên hệ mật thiết với nhau hoặc vì chúng thỏa mãn cùng một động cơ du lịch, cùng diễn ra ở cùng một điểm đến, được bán cho cùng một giới khách hàng, được hình thành trên cơ sở cùng sử dụng chung một loại hình dịch vụ riêng lẻ hoặc đưa đến khách du lịch theo một nghĩa như nhau

c Các loại hình du lịch

- Du lịch thiên nhiên: hấp dẫn những người thích tận hưởng bầu không khí ngoài trời, thích thưởng thức phong cảnh đẹp, và đời sống thực vật hoang dã

Trang 33

- Du lịch cảnh quan sinh thái: du lịch cảnh quan sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên với mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường, có tác động trực tiếp đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về mặt tài chính, cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn

- Du lịch văn hóa: thu hút những người mà mối quan tâm của họ là truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, nền văn hoá nghệ thuật của nơi đến

- Du lịch xã hội: hấp dẫn những người mà thích tiếp xúc giao lưu với mọi người xung quanh

- Du lịch hoạt động: thu hút khách du lịch bằng một hoạt động được xác định trước

- Du lịch giải trí: thu hút những người đến khu du lịch với mục đích chủ yếu là thư giãn, hưởng thụ và tận hưởng kỳ nghỉ

- Du lịch thể thao: loại hình du lịch này chủ yếu thu hút những người trẻ tuổi, ham mê vận động thể thao

- Du lịch chuyên đề: liên quan đến một ít người đi du lịch cùng với một mục đích chung hoặc mối quan tâm đặc biệt nào đó của riêng họ (Ví dụ: một nhóm sinh viên đi tour du lịch thực tập)

- Du lịch tôn giáo: nhóm người này đi du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng Họ đến nơi có ý nghĩa tâm linh hay vị trí tôn giáo được tôn kính

- Du lịch sức khoẻ: những người này đi du lịch nhằm cải thiện tình trạng sức khoẻ, thư giãn tinh thần Họ thường đến các khu an dưỡng, nghỉ mát ở vùng núi cao hoặc ven biển…

- Du lịch dân tộc học: đặc trưng cho những người quay trở về nơi quê cha đất tổ tìm hiểu lịch sử nguồn gốc quê hương

3.1.4 Mối quan hệ giữa du lịch và môi trường

Tác động của du lịch lên môi trường là những ảnh hưởng (xấu hay tốt) do hoạt động phát triển du lịch gây ra cho môi trường, bao gồm các yếu tố môi trường tự nhiên cũng như các yếu tố môi trường xã hội – nhân văn Tác động của du lịch lên các yếu tố sinh thái tự nhiên có thể là tác động tích cực hoặc tiêu cực

Trang 34

a Tác động tích cực

Bảo tồn thiên nhiên: du lịch góp phần khẳng định giá trị và góp phần vào việc bảo tồn các diện tích tự nhiên quan trọng, phát triển và mở rộng mạng lưới các Khu Bảo Tồn và Vườn Quốc Gia

Tăng cường chất lượng môi trường: du lịch có thể cung cấp những sáng kiến cho việc làm sạch môi trường thông qua kiểm soát chất lượng không khí, nước, đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và các vấn đề môi trường khác thông qua các chương trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng và duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc

Ðề cao môi trường: việc phát triển các cơ sở du lịch được thiết kế tốt có thể đề cao giá trị các cảnh quan

Cải thiện hạ tầng cơ sở: các cơ sở hạ tầng của địa phương như sân bay, đường

sá, hệ thống cấp thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc có thể được cải thiện thông qua hoạt động du lịch

Tăng cường hiểu biết về môi trường của cộng đồng địa phương thông qua việc trao đổi và học tập với du khách Ví dụ Tổng Cục Du Lịch Thái Lan nhấn mạnh sự cần thiết phải giáo dục cho du khách và cư dân địa phương về “Sự hiểu biết và sự cần thiết phải bảo vệ các tài nguyên du lịch”

b Tác động tiêu cực

- Gây ô nhiễm nguồn nước: nếu như không có hệ thống thu gom nước thải cho khách sạn, nhà hàng thì nước thải sẽ ngấm xuống bồn nước ngầm hoặc các thủy vực lân cận (sông, hồ, biển), làm lan truyền nhiều loại dịch bệnh như giun sán, đường ruột, bệnh ngoài da, bệnh mắt hoặc làm ô nhiễm các thủy vực gây hại cho cảnh quan và nuôi trồng thủy sản

Nước phục vụ nhu cầu du lịch chủ yếu là nước ngầm và tập trung chủ yếu ở vùng ven biển, nơi có tới trên 70% các điểm du lịch trong toàn quốc Vì vậy trong điều kiện chưa có khả năng điều tra mở rộng các mô nước ngầm mới, việc tăng nhanh nhu cầu nước sinh hoạt cho hoạt động du lịch sẽ làm tăng mức độ suy thoái và ô nhiễm các nguồn nước ngầm hiện đang khai thác, đặc biệt ở vùng ven biền do khả năng xâm nhập mặn cao, khi áp lực các bể chứa giảm mạnh vì bị khai thác quá mức cho phép

- Gây ô nhiễm không khí: tuy được coi là ngành "công nghiệp không khói", nhưng du lịch có thể gây ô nhiễm khí do chất phát thải do các phương tiện giao thông

Trang 35

và thiết bị Nếu chỉ tính đến tác động của các thiết bị điều hòa nhiệt độ dùng trong hệ thống khách sạn du lịch, thì lượng khí CFCs (loại khí thải chính ảnh hưởng đến tầng ozon của khí quyển) thải ra cũng có tác động không nhỏ đến môi trường khí Vào mùa

du lịch, đặc biệt vào các ngày lễ hội, ngày nghỉ cuối tuần, lượng xe du lịch tập trung chuyên chở khách đến các trung tâm đô thị du lịch đã gây ra tình trạng ách tắc giao thông và làm tăng đáng kể lượng khí thải CO2 vào môi trường khí Hoạt động vận chuyển khách, vui chơi giải trí trên biển bằng các phương tiện động cơ cũng góp phần làm ô nhiễm dầu vùng nước biển ven bờ, tăng khả năng sự cố tràn dầu do va chạm giữa các phương tiện

- Rác thải: vứt rác thải bừa bãi là vấn đề chung của mọi khu du lịch Ðây là nguyên nhân gây mất cảnh quan, mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và nảy sinh xung đột xã hội

- Ô nhiễm tiếng ồn: tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du khách có thể gây phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác kể cả động vật hoang dại

- Ô nhiễm phong cảnh: ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do khách sạn nhà hàng có kiến trúc xấu xí thô kệch, vật liệu ốp lát không phù hợp, bố trí các dịch vụ thiếu khoa học, sử dụng quá nhiều phương tiện quảng cao nhất là dây điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng kém đối với các công trình xây dựng và cảnh quan Phát triển du lịch hỗn độn, pha tạp, lộn xộn là một trong những hoạt động gây suy thoái môi trường

3.1.5 Giá trị của một tài nguyên môi trường

a Giá trị của một tài nguyên du lịch

Theo tạp chí dịch vụ và thương mại thì giá trị thu được do hoạt động du lịch khá cao, cứ đón 1 triệu khách du lịch quốc tế thì ta có thêm 400 triệu USD tương đương xuất khẩu 2 triệu tấn gạo Giá trị của một tài nguyên du lịch là khó xác định

Trang 36

được, chúng ta không thể dựa vào thị trường để xác định giá trị của một tài nguyên du lịch giống như mọi loại hàng hóa khác, mà cách đánh giá giá trị du lịch của một tài nguyên là vô cùng phức tạp

b Khái niệm về định giá tài nguyên môi trường

Định giá tài nguyên môi trường là một hoạt động qui đổi những giá trị không thấy được của tài nguyên môi trường thành những giá trị bằng tiền

Phan Thị Giác Tâm (2010): “Định giá giá trị tài nguyên môi trường là nỗ lực đưa ra những giá trị bằng tiền của các tài nguyên tự nhiên và dịch vụ môi trường vốn không có giá trên thị trường”

Đặng Thanh Hà (2009): “Định giá tài nguyên thiên nhiên môi trường là việc thừa nhận giá trị kinh tế của tài nguyên thiên nhiên môi trường qua các chức năng của nó như cung cấp nguyên liệu thô, hấp thụ chất thải, hỗ trợ cuộc sống con người, nuôi sống các loài Nghĩa là gán một giá trị được lượng hóa bằng tiền tệ cho các hàng hóa và dịch vụ mà tài nguyên thiên nhiên môi trường cung cấp cho các quá trình kinh tế và đây là việc làm có ý nghĩa”

Có thể thấy rằng, khái niệm về định giá tài nguyên môi trường được diễn giải dưới nhiều cách khác nhau, nhưng đều có một đặc điểm chung là định giá trị các lợi ích mà tài nguyên môi trường mang lại cho con người dưới thước đo bằng tiền cho dù

nó có giá trên thị trường hay không

Cơ sở lý thuyết của các phương pháp các định giá tài nguyên dựa trên khái niệm sẵn lòng trả (Willingness To Pay – WTP)

c Ý nghĩa của việc đánh giá

Hầu hết tài nguyên môi trường là tài sản công cộng không có sự mua bán trên thị trường nên không có giá cả nhưng tài nguyên môi trường đều có giá trị Định giá tài nguyên môi trường là nỗ lực đưa ra những giá trị bằng tiền của các tài nguyên tự nhiên và dịch vụ môi trường vốn không có giá trên thị trường

Giá trị tài nguyên môi trường khi đã được xác định được sẽ dùng cho phân tích lợi ích và chi phí để làm các quyết định dự án chính sách liên quan đến môi trường

Trang 37

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Giới thiệu một số phương pháp xác định giá trị du lịch giải trí

Giá trị tài nguyên du lịch không thể xác định thông qua việc trao đổi, mua bán

trên thị trường và cũng không có quan hệ mật thiết nào đối với các loại hàng hóa khác

Vì vậy không thể dựa vào thị trường để xác định giá trị của một tài nguyên du lịch Do

đó chúng ta tiến hành định giá giá trị kinh tế theo phương pháp dựa trên cơ sở bộc lộ

sở thích (các giá trị tài nguyên được suy ra từ thái độ của con người thực tế) Trong

kinh tế học môi trường có hai phương pháp đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới

để xác định giá trị của những loại hàng hóa không có giá thị trường, đó chính là

phương pháp chi phí du hành (TCM) và phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)

a Phương pháp chi phí du hành (TCM-Travel Cost Method)

TCM là một phương pháp lựa chọn ngầm, có thể dùng để ước lượng đường cầu

đối với hàng hoá tài nguyên sinh thái hoặc du lịch, từ đó đánh giá giá trị du lịch hoặc

vui chơi giải trí của khu vực này Giả thiết cơ bản của TCM rất đơn giản đó là thời

gian và chi phí mà một người bỏ ra để tham quan một một địa điểm hay chi phí du

hành phần nào phản ánh giá trị của nơi đó Qua phỏng vấn khách du lịch, chúng ta có

thể tính toán chi phí du hành của họ và liên hệ đến số lần tham quan trong một năm

Dùng kinh tế lượng để ước lượng mối quan hệ giữa chi phí du hành và số lần tham

quan Mối quan hệ này phản ánh một đường cầu dốc xuống thể hiện mối quan hệ tỉ lệ

nghịch giữa chi phí một lần tham quan và số lần tham quan, có nghĩa là những người

sống ở xa khu du lịch này thì sẽ có số lần tham quan ít hơn (chịu phí du hành cao hơn),

những người sống gần khu du lịch sẽ có khuynh hướng đi tham quan thường xuyên

hơn (chi phí du hành thấp) Các yếu tố khác ngoài chi phí du hành cũng có thể ảnh

hưởng đến mức độ thường xuyên khi đến tham quan một địa điểm như trình độ học

vấn, thu nhập, độ tuổi …

Chi phí du hành có thể được tính qua công thức sau:

Chi phí du hành = Chi phí đi lại + Chi phí lưu trú tại chỗ du lịch (ăn uống, ở…) + Chi phí cơ hội thời gian

Trang 38

Hình 3.1 Mối Tương Quan Giữa Số Lần Tham Quan và Chi Phí Tham Quan

D

Nguồn: Phan Thị Giác Tâm, 2010 Đường cầu D biểu diễn toàn bộ tương quan giữa chi phí tham quan và số lần tham quan của các du khách được phỏng vấn Sử dụng những thông tin này chúng ta ước lượng được lượng giá trị giải trí trung bình của du khách đối với địa điểm này Nhân nó với số lượng du khách hàng năm sẽ ước lượng được tổng giá trị giải trí hàng năm của khu du lịch

Ưu và nhược điểm của phương pháp TCM

TCM là một kỹ thuật tương đối đơn giản, dựa trên cơ sở một giả thiết hợp lý là giá trị giải trí phải liên quan đến chi phí du hành Tuy nhiên, có một số vấn đề nảy sinh đối với phương pháp này

- Chi phí thời gian: Phương pháp TCM đơn giản chỉ giả thiết rằng chi phí du hành chỉ liên quan đến phí tổn nhiên liệu, tuy nhiên thời gian cũng có giá trị Do đó chúng ta cần phải tính thêm giá trị thời gian vào chi phí du hành để phản ánh giá trị giải trí thực tế mà một khách du lịch có được khi đi du lịch

- Một hành trình nhiều nơi tham quan: Một khách du lịch có thể tham quan nhiều địa điểm du lịch khác nhau Do đó chỉ có một phần tổng chi phí phản ánh cho địa điểm du lịch được phỏng vấn nên chi phí du hành cần phải được phân chia cho các địa điểm du lịch Điều này không thể tránh khỏi sai sót

Giá của một lần tham quan

Số lần tham quan

Trang 39

- Các cảnh quan thay thế: TCM giả định rằng cùng một chi phí du hành thì các

du khách sẽ có cùng một giá trị giải trí như nhau ở một điểm du lịch, điều này là không đúng Trên thực tế, cùng một chi phí du hành nhưng mức độ ưa thích của họ về khu du lịch là khác nhau

- TCM thường bỏ qua những du khách không tốn chi phí du hành (những người

có nhà tại địa điểm du lịch) Tuy nhiên những người này lại đánh giá rất cao về địa điểm du lịch đó

Tóm lại TCM được xây dựng trên giả thiết khá đơn giản và có căn cứ rằng chi phí du hành phản ánh giá trị Nó cho phép chúng ta ước lượng được đường cầu du lịch

và từ đó tính ra giá trị của một địa điểm Tuy nhiên phương pháp này cần được giải quyết trước khi được áp dụng để ước lượng giá trị của một điểm du lịch

Giới thiệu hai phương pháp cơ bản trong TCM:

- Phương pháp chi phí du hành cá nhân – ITCM (Individual Travel Cost Method):

Phương pháp chi phí du hành cá nhân ITCM là một trong hai phương pháp cơ bản trong TCM, phương pháp này thể hiện mối quan hệ giữa số lần đi du lịch và chi phí cho chuyến tham quan của một cá nhân, được thể hiện qua hàm cầu của cá nhân

Vij = V (TCij, Tij, Si) i = 1…n, j = 1…m Trong đó:

Vij : Số lần đi tham quan của cá nhân i đến điểm du lịch j trong một năm

TCij : Chi phí đi du lịch của cá nhân i đến điểm du lịch j và giá cả du hành tính cho một đơn vị đường đi này

Tij : Chi phí thời gian mà người i phải bỏ ra để đến được điểm du lịch j T phụ thuộc vào lượng thời gian mà người i phải bỏ ra để đến được điểm j và giá của một đơn vị đường đi của người đó

Si : Những yếu tố khác ảnh hưởng đến cầu du lịch của cá nhân i tới điểm du lịch như thu nhập, tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, chi phí đến địa điểm thay thế…

Trang 40

Hình 3.2 Đường Cầu Số Lần Đi Tham Quan

Phương pháp ITCM được thực hiện thông qua các bước cơ bản sau:

Ngày đăng: 05/03/2018, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm