Từ đó cho ra những con số cụ thể để phản ánh một cách chính xác tính hiệu quả kinh tế của cây cà phê và đề xuất những phương án giúp người dân nâng cao năng suất lao động và giảm thiểu r
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
HÀ DUY ĐÀO
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CÂY CÀ PHÊ TẠI ĐỊA BÀN
HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐAKLAK
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH KINH TẾ NÔNG LÂM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
HÀ DUY ĐÀO
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CÂY CÀ PHÊ TẠI ĐỊA BÀN
HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐAKLAK
Nghành: Kinh Tế Nông Lâm
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS TRẦN ĐỘC LẬP
Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 3Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “ Phân Tích Hiệu Quả Kinh Tế Cây Cà Phê Tại Địa Bàn Huyện Eakar, Tỉnh Đaklak ” do Hà Duy Đào, sinh viên khóa 34, ngành Kinh Tế Nông Lâm, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành gửi lời cảm ơn đến cha mẹ, người đã sinh ra và nuôi dưỡng tôi khôn lớn thành người, người đã làm chỗ dựa và động viên tôi mỗi khi tôi vấp ngã, cho tôi niềm tin và nghị lực để thực hiện ước mơ hoài bão của mình
Tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể thầy cô trên giảng đường Đại Học Nông Lâm và đặc biệt là thầy cô của khao kinh tế đã tận tình giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến thức quí báu để tôi có thể tự tin trong công việc cũng như trong cuộc sống sau này
Xin chân thành biết ơn thầy Trần Độc Lập giảng viên Khoa Kinh Tế đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và hướng dẫn tận tình trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài này Xin cảm ơn các co chú và anh chị trong phòng NN và PTNT huyện Eakar tỉnh Đaklak tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận văn này Xin cảm ơn những người bạn thân bên cạnh tôi chia sẻ những khó khăn, ủng hộ
về tinh thần để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn
TP.HCM ngày 5 tháng 5 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Hà Duy Đào
Trang 5NỘI DUNG TÓM TẮT
HÀ DUY ĐÀO Tháng 6 năm 2012 “ Phân Tích Hiệu Quả Kinh Tế Cây Cà
Phê Tại Địa Bàn Huyện Eakar, Tỉnh Đaklak ”
HA DUY DAO June 2006 “ Assay Economic Efficiency Of Coffee At
Eakar District, Daklak Province”
Khóa luận tìm hiểu về hiệu quả kinh tế cây cà phê trên cơ sở phân tích số liệu điều tra 80 hộ trồng cà phê trên địa bàn huyện Eakar, tỉnh Đaklak Từ đó cho ra những con số cụ thể để phản ánh một cách chính xác tính hiệu quả kinh tế của cây cà phê và
đề xuất những phương án giúp người dân nâng cao năng suất lao động và giảm thiểu rủi ro trong sản xuất nông nghiệp
Trang 6
MỤC LỤC
trang Danh mục các chữ viết tắt viii
2.1.3 Thời tiết-khí hậu 9
2.1.4 Các nguồn tài nguyên cơ bản 10
2.2 Tình hình kinh tế 11
2.2.1 Tình hình phát triển chung của vùng 11
2.2.2 Tình hình chung về sản xuất nông nghiệp 12
2.2.2.1 Cơ cấu Nông – Lâm – Thủy 12
2.2.2.2 Tình hình sản xuất cây cà phê tại địa bàn huyện 14
CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1.1 Nguồn gốc cây cà phê 26
3.1.2 Đặc điểm sinh thái của cây cà phê 27
Trang 73.1.3 Đặc điểm sinh học cây cà phê 28
3.1.4 Đặc điểm kỹ thuật cây cà phê 32
3.2 Cơ sở lý luận về kết quả sản xuất 33
3.2.1 Các chỉ tiêu đo lường kết quả kinh tế 33
3.3 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 34
3.3.1 khái niệm 34
3.3.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế 34
3.3.3 Các chỉ tiêu kinh tế quan trọng khác 35
3.4 Phương pháp nghiên cứu 36
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 36
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 37
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
4.1 Hiệu quả kinh tế cây cà phê 38
4.2 Năng suất trung bình của một ha cà phê 38
4.3 Doanh thu trung bình của một ha cà phê trong cả vòng đời 41
4.4 Chi phí trung bình cho một ha cà phê qua các giai đoạn 43
4.4.1 Chi phí trung bình cho một ha cà phê trong GDSXCB 43
4.4.2 khấu hao xây dựng cơ bản cho một ha cà phê 44
4.4.3 Chi phí đầu tư trung bình 1 ha cà phê trong GĐKD 49
4.4.4 Chi phí đầu tư trung bình cho một ha cà phê trong cả
4.5 Phân tích độ nhạy 54
4.5.1 Phân tích độ nhạy một chiều của NPV theo giá cả 54
4.5.2 Phân tích độ nhạy hai chiều của NPV lợi nhuận theo
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
5.1 kết luận 58 5.2 kiến nghị 59
Trang 8GDXDCB Giai Đoạn Xây Dựng Cơ Bản
GDSXKD Giai Đoạn Sản Xuất Kinh Doanh
Trang 9
DANH MỤC CÁC BẢNG
TrangBảng 2.1 Cơ cấu và thành phần đất huyện Eakar 8
Bảng 2.2 Tỷ trọng sản xuất của vùng theo cơ cấu ngành 11
Bảng 2.3 Cơ cấu Nông – Lâm – Thủy sản của huyện (2009-2011) 13
Bảng 2.4 Tỷ trọng các các ngành trong cơ cấu Nông – Lâm – Thủy sản
(2009-2011)
13
Bảng 2.5 Diện tích một số loại cây phổ biến của vùng 15
Bảng 2.6 Giá trung bình của cà phê tại địa bàn huyện Eakar qua các năm 19
Bảng 2.7 Số lượng đàn gia súc gia cầm năm (2009-2011) 22
Bảng 4.1 Năng suất trung bình của một ha cà phê qua các năm 39 Bảng 4.2 Năng suất trung bình trên 1 ha cà phê theo độ tuổi phát triển 39 Bảng 4.3 Doanh thu trung bình của một ha cà phê trong cả vòng đời 42 Bảng 4.4 khấu hao thiếu bị máy móc và công cụ lao động cho một ha cà
Bảng 4.7 Chi phí đầu tư trung bình 1 ha cà phê trong GĐKD 49
Bảng 4.8 Tỷ lệ lao động nhà và lao động đi thuê trong tổng chi phí lao
Trang 10Bảng 4.13 Phân tích độ nhạy hai chiều của NPV lợi nhuận theo giá cả và
lãi suất chiết khấu
56
Trang 11Hình 2.4 Biểu đồ biến động giá cà phê ở thị trấn giai đoạn 1992-2011 20
Hình 3.1 Sự phân bố các loại cành của cây cà phê 29
Trang 12là vị trí số một của cây cà phê đã trở thành những nấc thang để đưa nền kinh tế nước
ta vươn lên những tầm cao mới
Có thể nói không ai có thể phủ nhận những giá trị to lớn mà cây cà phê đem lại cho nền kinh tế nước nhà nói chung và địa bàn huyện Eakar nói riêng ,tuy nhiên nó cũng tiềm ẩn những nguy co rủi ro không nhỏ mà người nông dân cần phải lường trước Cà phê là mặt hàng khá nhạy cảm trên thị trường do cung- cầu và giá cả dễ biến động Ngành cà phê Việt Nam từng phải đối mặt với những đợt giảm giá kéo dài trước năm 2004 và hiện tượng năm nay tăng diện tích ào ạt, năm sau lại chặt phá đã xảy ra ở một số địa phương, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân và kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này Cho tới nay kế hoạch sản xuất chủ yếu vẫn
Trang 13được từng doanh nghiệp xác định riêng lẻ nên rất dễ bị động trong dự phòng nhằm đối phó với thay đổi về giá cả và cung-cầu trên thế giới Sự bất ổn về giá là một đặc trưng cơ bản của thị trường nông sản nói chung và mặt hàng cà phê cũng không ngoại
lệ Giá giao động mạnh khiến người nông dân khó phân bổ nguồn lực sản xuất một cách có hiệu quả, thu nhập không ổn định khiến đời sống bấp bênh
Được thiên nhiên ưa đãi đãi với diện tích đất đỏ bazan màu mỡ rộng khắp, cùng với khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp với đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây
cà phê Đaklak đã trở thành tỉnh thành có diện tích trồng cà phê lớn nhất cả nước, hàng năm xuất khẩu ra thị trường trong nước và thế giới hàng triệu tấn cà phê Đem lại một nguồn ngoại tệ không nhỏ cho quốc gia Eakar là một trong hai huyện có kinh
tế phát triển nhất tại Đaklak với phần lớn diện tích đất nông nghiệp là cà phê Đời sống của người dân nơi đây không ngừng được nâng cao nhờ vào loại cây được trồng
ở trên 50 quốc gia trên thế giới này Tuy nhiên việc phát triển cây cà phê nơi đây cũng không phải là con đường thẳng dẫn đến thành công, khi mà sự biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và sản lượng cà phê, mạch nước ngầm ngày càng suy giảm do người nông dân lạm dụng nguồn nước ngầm để tưới cây vào mùa khô, giá cả không ổn định do phụ thuộc vào giá cả thế giới, việc trồng cà phê một cách ồ ạt không có định hướng khi giá lên cao sẽ khiến cho cung vượt cầu Bắt nguồn từ những câu hỏi về hiệu quả kinh tế cũng như những khó khăn và thuận lợi của việc phát triển cây cà phê tại huyện nhà, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình, tận tâm của thầy Trần Độc Lập em xin được thực hiện đề tài “Phân Tích Hiệu Quả Kinh Tế Và Thuận Lợi ,Khó Khăn Của Mô Hình Phát Triển Cây Cà Phê Tại Địa Bàn Huyện Eakar Tỉnh Đaklak” nhằm đưa ra những nhận định ,đánh giá về thực trạng sản xuất của địa bàn từ đó đề xuất những phương án góp phần làm giảm thiểu rủi do cho người dân
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Đánh giá chung về tình hình sản xuất cà phê tại địa bàn huyện Eakar tỉnh Đaklak Từ quá trình tổng hợp và phân tích số liệu sẽ tính những chỉ tiêu kinh tế để
Trang 14nói lên tính hiệu quả kinh tế của mô hình trồng cà phê trên địa bàn một cách cụ thể hơn
Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá về hiệu quả kinh tế của cây cà phê thông qua các chỉ tiêu kinh tế: NPV, IRR, PP…Đây đều là những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá về tính hiệu quả của một dự án hay nói một cách gần gũi hơn ở đây là mô hình kinh tế của nông hộ
- Phân tích đội nhạy một chiều của NPV theo giá cả
- Phân tích độ nhạy của NPV theo giá cả và suất chiết khấu
- Đưa ra những nhận định, ý kiến thông qua những gì đã phân tích để góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cho người nông dân
- Đề xuất pháp tối ưu để có thể khắc phục những rủi ro có thể xảy ra với người nông dân
1.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài được nguyên cứu trong phạm vi địa bàn huyện
Eakar tỉnh Đaklak Đây là nơi cây cà phê được phát triển mạnh mẽ Với 31.450 hộ thì
có tới 70% hộ có trồng cà phê Đây là một lợi thế rất lớn cho người điều tra vì nó dễ
dàng cho việc thu thập thông tin từ nông hộ
- Phạm vi thời gian: Đề tài được tiến hành tại huyện Eakar tỉnh Đaklak thời
gian từ 25/2/2012 đến 15/4/2012
Trang 15CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Eakar
2.1.1 Vị trí địa lý- địa hình
Hình 2.1 bản đồ tỉnh đaklak
- Eakar là huyện nằm về phía đông tỉnh Đaklak Huyện có hai thị trấn Eakar, Ekanốp và 13 xã
Trang 16- Trung tâm huyện cách thành phố Buôn Ma Thuật là 52 km, cách thành phố nha trang là 200km, cách trung tâm kinh tế lớn TP.HCM là 500 km
- Huyện có diện tích đất tự nhiên là 103.747 ha, dân số 2011 là 145.010 người Trong đó thành thị là 28.000 người ( chiếm 19,3 %), nông thôn là 117010 người (chiếm 80,7%),tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hiện nay là 1,5%, mật độ dân số toàn huyện
là 114 người/km2
+ phía bắc giáp tỉnh Phú Yên
+ phía nam giáp huyện Crông Bông
+ phía tây giáp các huyện Krông Pắc, Krông Buk, Krông Năng
+ phía đông giáp huyện Madrắc
- Nằm trên quốc lộ 26 rất thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng hóa với các vùng lân cận Từ những điều kiện trên , huyện Eakar có nhiều lợi thế, nhưng cũng có nhiều hạn chế lớn trong việc tiếp nhận các yếu tố tác động của các nhân tố kinh tế mới từ bên ngoài vào
2.1.2 Địa hình - đất đai
Địa hình : địa hình huyện nằm ở vùng thấp của tây nguyên, có độ cao trung
bình từ 450-550m so với mực nước biển, bao gồm các bản phù xa ven rừng , phía bắc
là các dãy núi trung bình và các khối Bazan rỉ ra Địa hình nói chung chia cắt phức tạp bao gồm các dạng chính sau
- Địa hình đồi núi dốc: tập chung chủ yếu ở phía bắc có độ dốc trung bình từ 600-800m so với mặt nước biển, bị chia cắt mạnh ,hiện trạng là rừng tự nhiên bị phá
- Địa hình đòi núi lượn sóng có độ cao trung bình từ 350-450m so với mặt nước biển.Đây là dạng địa hình thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện
Trang 17Với địa hình như vậy huyện Eakar có được khí hậu không quá khắc nghiệt Nơi đây chưa từng xảy ra lũ lụt nhưng đôi khi lại xuất hiện những đợt hạn hán kéo theo hàng 100ha hoa màu bị héo khô Địa hình đồi núi dốc cũng không cho phép huyện có được hệ thống giao thông như mong đợi vì vậy mà đời sống của nông hộ ở những vùng cách xa thị trấn cũng gặp nhiều khó khăn
Đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên cua huyện là 103.747 km2 được sử dụng vào các mục đích khác nhau
Đất đai huyện Eakar tương đối đa dạng, theo kết quả của phòng tài nguyên môi trường thì có đến 9 nhóm đất khác nhau, cụ thể một số nhóm đất chính sau:
-Nhóm đất vàng trên đá granite (Fa) chiếm 40.700 ha chiếm tỷ lệ lơn nhất (39,94%), phân bố rải rác ở phía bắc, trung tâm và phía nam của huyện, trên các địa hình có vùng núi thấp, chia cắt mạnh, tương đối nghèo chất dinh dưỡng , giữ ẩm kém
có nhiều đá Nhóm đất này thích hợp cho các laoij cây lương thực , thực phẩm và cũng có thể phát triển một số loại cây ăn quả
- Nhóm đất nâu đỏ trên đá bazan (Fk) : với diện tích khoảng 7.200 ha (chiếm 7,07 %) ,tập trung chủ yếu tại vùng phía tây của huyện(gồm các xã Cư Xuân, Xuân Phú), phân bố rải rác trên các địa hình lượn sóng.Nhóm đất này giàu dinh dưỡng và các nguyên tố như sắt, nhôm, can xi, magie, photpho, kali…, tầng dày, cấu tạo viên hạt, dạng xốp cao, thành phần cơ giới đất nặng, khả năng giữ nước và giữ màu tốt thích hợp cho các loại cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả nhiệt đới
- Đất nâu vàng trên đá bazalt (Fu) với diện tích 40.000 ha (0.39%) nằm xen với vùng đất Fk Loại đất này cũng giàu chất dinh dưỡng thích hợp cho các loại cây công nghiệp dài ngày và các loại cây ăn quả
- Đất phù sa (p) phân bố tập trung vùng phía nam ven suối Krông Pak đất có tầng dày lớn , khá phì nhiêu, hơi chua, thành phần cơ giới từ trung bình đến nhẹ, một
số bị ngập vào mùa mưa Loại đất này phân bố ven suối và tổng diện tích là 5350 ha
Trang 18chiếm 5.25% còn lại, thích hợp cho cây lúa nước, chuyên màu và cây công nghiệp ngắn ngày
- Đất xám trên đá granite (Xa) diện tích là 31.422 (30,8%) phân bố trên địa hình dốc thoát nước của các sông suối Phía nam trên địa bàn các xã Easo, Epal, Eao, Cư Giang Đa số đất này có tầng mỏng, một số nơi có tầng dày , độ dốc nhỏ , có khả năng phát triển nông nghiệp
- Đất vàng đỏ trên phiến sét (fs(z)) diện tích là 8.720 ha (8.56%), đất vàng đỏ trên đá gnai (fs) 49.000 ha (4.81%)
Có thể nhận định chung rằng huyện Eakar có lợi thế rất lớn về mặt tài nguyên đất đai Được thiên nhiên ưu đãi với phần lớn diện tích đất màu mỡ thích hợp không chỉ với các loại cây công nghiệp dài ngày mà cả các loại cây lương thực ngắn ngày Diện tích đất bạc màu hay đất không thể canh tác chiếm tỷ lệ rất ít do đó người dân địa bàn có thể tận dụng thế mạnh này để phát triển nông nghiệp một cách nhanh chóng và bền vững
Bảng 2.1 Cơ cấu và thành phần đất huyện Eakar
Trang 19Fs
720
0
7,07 Chủ yếu ở phía tây
(cư huê và xuân phú) 314
20
13,37%
Chủ yếu ở phía đông rải rác phía tây nam Nguồn : Phòng tài nguyên và môi trường huyện Eakar Như vậy nhìn vào cơ cấu đất thành phần các loại đất của Eakar chỉ có 47,4% diện tích đất đai của huyện là có tính chất thích hợp với cây cà phê.mạc dù vậy theo thống kê thì trong những năm gần đây diện tích đất cà phê luôn giao động từ 60-70%.một phần do đại đa số nông dân trong địa bàn huyện có hoạt động sản xuất nông nghiệp theo phong trào, chưa hiểu biết được hoạt động sản xuất của mình
Trang 20Những năm gần đây công tác khuyến nông của huyện đã tác động không nhỏ và
có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động sản xuất của nông dân.những chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi đã từng bước hướng dẫn nguwoif nông dân sử dụng đất đai một cách hợp lý hơn
2.1.3 Thời tiết-khí hậu
Huyện Eakar chịu ảnh hưởng của nhiệt đới gió mùa phía nam Việt Nam và tính
chất khí hậu Tây Nguyên, phân làm hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa đến sớm vào đầu tháng 4 và kéo dài đến tháng 10, chiếm 90% lượng mưa cả năm, mùa mưa kéo dài và kết thúc muộn tạo điều kiện cho cây trồng phát triển, lượng mưa lớn nhất từ tháng 8-10 Trong mùa mưa thường có tiểu hạn trong thang 7 rồi lại tiếp tục mưa
- Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 11 năm sau, thời kỳ này mưa ít, tốc độ gió lớn, quá trình bốc hơi diễn ra mạnh mẽ, lượng mưa không đáng kể
- Nhiệt độ bình quân năm là 23,7 độ C nhiệt độ cao nhất là 39,4 độ C, nhiệt độ thấp nhất là 7,4 độ C
- Tháng có nhiệt độ bình quân cao nhất là tháng 4 và tháng 5, tháng có nhiệt độ bình quân thấp nhất là tháng 12 và tháng 1 Số giờ chiếu sáng bình quân trên cả năm
là 2250-2700 giờ, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất là 21 độ C , nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là 26 độ C
- Lượng mưa: lượng mưa bình quân năm là 1872mm Lượng nước bốc hơi bình quân năm là 9226mm
Chế độ thủy văn: Eakar là huyện có hệ thống mặt nước khá phong phú, toàn
vùng có mạng lưới sông ngòi dày đặc Phía bắc có hệ thống suối đổ về sông Krông năng , phía nam có hệ thống suối đổ về sông Krông Pak Tất cả các suối thuộc hai hệ thống sông chính này tạo thành hệ thống mặt nước phong phú Nước suối có độ khoáng hóa nhỏ.Phản ứng trung tính, sử dụng rất tốt trong nông nghiệp
Trang 21Như vậy khí hậu của huyện mang đặc thù cao nguyên nóng ẩm, lại thêm ảnh hưởng của khí hậu duyên hải miền trung nên mưa nhiều, trong đó các loại cỏ, thảm thực vật phát triển tốt, là nguồn thức ăn dồi dào cho đàn gia súc chăn thả.một điều kiện khác nữa là diện tích đồng cỏ khá rộng ,vì thế có lợi thế rất lớn trong việc phát triển chăn nuôi đại gia súc
2.1.4 Các nguồn tài nguyên cơ bản
Tài nguyên nước: tài nguyên nước huyện Eakar tương đối phong phú bao gồm
hệ thống nước mặt và nước ngầm
- Nguồn nước mặt : Eakar là một trong những huyện có hệ thống nước mặt khá phong phú, toàn vùng có hệ thống sông suối dày đặc Với mật độ 0,3-0,5 km/km2 Sông Krong Năng là dòng sông chính, nhánh chảy qua địa phận huyện Eakar, sông có chiều dài là 129 km, diện tích lưu vực là 1790 km2 , độ dốc sông là 7,45% theo hướng Tây Bắc- Đông Nam
-Tổng lượng dòng chảy 0,58 tỷ m3/ năm.Ngoài ra còn nhiều sông suối lớn nhỏ phân bố khá đều khắp trên địa bàn huyện
- Nguồn nước ngầm :theo kết quả lập bản đồ địa chính của liên đoàn địa chất thủy văn- địa chính công trình Miền Trung, nước ngầm trong địa bàn huyện Eakar chủ yếu vận động trong tạo thành phun trào basatl có độ sâu phân bố từ 15-120m.vùng phía Bắc có trữ lượng nước ngầm phong phú hơn phía Nam
Tài nguyên rừng: Huyện Eakar có diện tích đất lâm nghiệp là 31.530 ha chiếm
30% diện tích đất tự nhiên Trong đó diện tích đất rừng tự nhiên khoảng 25.550 ha và 5.980 ha rừng trồng Đây là nguyền tài nguyên quí giá của vùng nhằm bảo vệ môi trường sinh thái phòng hộ đầu nguồn, là nơi sinh sống và bảo tồn các loại động vật quí hiếm Điều này cho thấy tài nguyên rừng vẫn còn phong phú và đa dạng cho nên cần phải có sự khai thác và bảo vệ hợp lý để tận dụng tối ưu nguồn tài nguyên sẵn có
và nghiêm trị những kẻ phá rừng đốt rừng làm nương rẫy Do việc làm tốt khâu chăm sóc, bảo vệ rừng nên mấy năm gần đây việc chặt phá rừng đã giảm, người dân ở đây
Trang 22đã ý thức được tác dụng của rừng đối với sản xuất nông nghiệp Đồng thời họ cũng ý
thức được trách nhiệm trước pháp luật khi xâm phạm tài nguyên rừng
2.2 Tình hình kinh tế
2.2.1 Tình hình phát triển chung của vùng
Bảng 2.2 Tỷ trọng sản xuất của vùng theo cơ cấu ngành
(năm 2009 là 50,2 % nhưng đến năm 2011 chỉ còn lại 39,2 %) tuy nhiên nó vẫn đóng
vai trò quan trọng số một, vẫn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất Cùng với sự giảm xuống
của tỷ trọng nghành nông nghiệp thì tỷ trọng nghành dịch vụ không ngừng gia tăng
hàng năm gần như tương ứng với tỷ lệ giảm xuống của nông nghiệp ( năm 2009 là
19,8 đến năm 2011 là 29,4) Nó phản ánh một điều rằng kinh tế của huyện Eakar
không ngừng phát triển, đời sống đang ngày được nâng cao Trong ba ngành thì duy
chỉ có nghành công nghiệp là gần như không tăng nó cho thấy công nghiệp ở địa bàn
huyện Eakar không được đầu tư phát triển mạnh mẽ
2.2.2 Tình hình chung về sản xuất nông nghiệp
2.2.2.1 Cơ cấu Nông – Lâm – Thủy
Trang 23Nông nghiệp được chia làm ba ngành sản xuất chính bao gồm : sản xuất nông
nghiệp (SXNN), sản xuất lâm nghiệp (SXLN), sản xuất thủy sản (SXTS) Cũng giống
như các các huyện mang đặc thù nông nghiệp khác, huyện Eakar phát triển mạnh về
ngành sản suất nông nghiệp, hàng năm nghành này luôn đem lại nguồn lợi lớn cho
huyện và chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp vì dựa trên những đặc
điểm tự nhiên về thổ nhưỡng cũng như khí hậu Bên cạnh sự tăng lên của nghành sản
xuất nông nghiệp thì hai nghành còn lại lại có xu hướng giảm xuống hoặc tăng không
đáng kể Dựa vào bảng số liệu thứ cấp dưới đây sẽ cho ta cái nhìn chi tiết hơn về tình
hình chung của sản xuất nông nghiệp
Bảng 2.3 Cơ cấu Nông – Lâm – Thủy sản của huyện (2009-2011)
Trang 24Bảng 2.4 Tỷ trọng các ngành trong cơ cấu Nông – Lâm – Thủy sản (2009-2011)
Nguồn: Phòng kinh tế huyện Eakar
Ta nhận thấy rằng hàng năm nghành sản xuất nông nghiệp luôn đóng vai trò vô
cùng quan trọng trong cơ cấu Nông – Lâm – Thủy sản của vùng Chiếm tỷ trọng tới
97,3% vào năm 2009, 97,6% vào năm 2010 và 97,8% vào năm 2011 trong tổng cơ
cấu Nông – Lâm – Thủy sản Ngành sản xuất nông nghiệp có xu hướng tăng nhẹ và
luôn chiếm một tỷ trọng khá cao điều đó nói nên tầm quan trọng của nó đối với kinh tế
huyện Eakar Nguyên nhân của điều này chính là do những đặc điểm tự nhiên mang lại
như phần lớn diện tích đất đai là màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng từ cây
công nghiệp đến cây lương thực, ăn quả kết hợp với điều kiện khí hậu ôn hòa đã đem
đến cho huyện Eakar một ngành sản xuất nông nghiệp toàn diện Trồng chọt và chăn
nuôi đều gia tăng tỷ trọng hàng năm tuy nhiên trồng chọt được áp dụng nhiều hơn và
tỷ trọng cũng áp đảo hơn so với chăn nuôi
Trong ba ngành thì ngành sản xuất lâm nghiệp luôn chiếm tỷ trọng thấp nhấp
(0,64% năm 2009, 0.5% năm 2010 và 0.3% năm 2011) và có khuynh hướng giảm
xuống Đây cũng là một điều dễ hiểu vì tài nguyên rằng của huyện không còn được dồi
Trang 25dào và phong phú như trước đây nữa (từ sau năm 2005) bên cạnh đó nhà nước cũng có chính sách bảo vệ, khôi phục và không cho phép khai thác tài nguyên rừng đã khiến cho giá trị mà nghành sản xuất lâm sản đem lại rất ít
Ngành thủy sản mặc dù có lợi thế lớn về phần diện tích mặt nước tương đối rộng nhưng dường như ngành này vẫn chưa tận dụng được những lợi thế sẵn có tỷ trọng của ngành này có xu hướng giảm nhẹ (2% năm 2009, 1,9% năm 2010 và 1,9% năm 2011) Theo dự kiến của đảng ủy thì trong những năm tới huyện nhà sẽ chú trọng tới việc phát triển nghành sản xuất thủy sản để đưa nghành này phát triển mạnh mẽ hơn, phát huy lợi thế sẵn có
2.2.2.2 Tình hình sản xuất cây cà phê tại địa bàn huyện
a) Diện tích đất trồng cà phê và vấn đề nước tưới
Cà phê là loại cây trồng đòi hỏi một lượng nước lớn được tưới vào mùa khô để nuôi thân, lá, cành và đặc biệt là để cây có thể cho ra hoa kết trái một cách đồng loạt Chính vì vậy nước tưới được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định đến năng suất của cây cà phê Trong những năm gần đây diện tích cà phê không ngừng gia tăng càng đòi hỏi nhiều lượng nước tưới trong khi đó mạch nước ngần thì không ngừng giảm sút trần trọng Nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường đối với không chỉ cây cà phê mà còn toàn bộ nghành nông nghiệp tại địa bàn huyện Diện tích đất cà phê cứ không ngừng gia tăng trong khi đó điện tích đất nông nghiệp thì chỉ tăng nhẹ do tài nguyên đất rừng đã bị khai thác dữ dội nên không còn nhiều để người dân có thể phá rừng làm nương rẫy
Bảng 2.5 Diện tích cà phê tại địa bàn huyện Eakar qua các năm (2005-2011)
đvt: ha
Diện tích tự nhiên 103.747 103.747 103.747 103.747
Trang 26Đất nông nghiệp 52.334 53.644 54.200 54.315
Nguồn: Phòng tài nguyên và môi trường huyện Eakar
Hình 2.2 Đồ thị biểu diển sự gia tăng diện tích cây cà phê qua các năm (2005-2011)
Từ nguồn số liệu trên ta thấy được rằng diện tích cà phê không ngừng tăng lên hàng năm Năm 2005 diện tích cà phê mới chỉ là 7.124 ha chiếm 13,6% diện tích đất nông nghiệp ,tuy nhiên đến năm 2011 trong vòng 6 năm diện tích cà phê đã tăng gần hơn 2 lần (16.505 ha) chiếm 27.4% diện tích đất nông nghiệp Nguyên nhân của hiện tượng này là do người dân trong địa bàn đã chạy đua theo phong trào trồng cà phê vì
Trang 27giá cà phê trong những năm gần đây ở mức tương đối cao và ổn định, hơn nữa nó là loại cây công nghiệp đem lại giá trị kinh tế cao hơn các cây trồng ngắn ngày trong địa bàn Và như vậy người dân đã biến đất trồng màu thành đất trồng cà phê Kết quả là diện tích cà phê cứ không ngừng gia tăng
Không riêng gì huyện Eakar, những năm qua do giá tăng cao người dân đã ào
ào trồng loại cây công nghiệp này bất chấp có phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng hay không Theo báo cáo của viện khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên thì : hiện nay tỉnh Daklak đang chủ trương giảm diện tích xuống còn 170.000 ha vào năm
2015, cà phê phải được phát triển trong vùng sinh thái thích hợp, được đầu tư để sản lượng đạt từ 400.000 tấn nhân/năm trở lên Tỉnh cũng vận động người dân chuyển đổi, thay thế những cây trồng khác đối với khu vực cà phê không đủ nước tưới , có độ dốc trên 15 độ, sản xuất kém hiệu quả sang các loại cây trồng khác như ca cao, cao
su, vì loại cây này không đòi hỏi nhiều nước và độ phì của đất cao Và Sự phát triển ồ
ạt, thiếu tính qui hoạch này đã dẫn tới một hậu quả nặng nề là những vườn cà phê đang trong độ tuổi cho thu hoạch đã bị chết cháy do thiêu nước tưới vào mùa khô
Hình 2.3 Hiện trạng cà phê bị khô hạn do thiết nước tưới
Trang 28
Hậu quả địa phương này hầu như năm nào cũng có diện tích bị khô hạn, gây thiệt hại lớn cho nông dân Thực tế trong những năm gần đây có hàng chục diện tích đất cà phê bị chết vì khô hạn, hàng trăm ha cà phê sống lay lắt vì thiếu nước
Cây cà phê phát triển nhanh về diện tích, năng suất sản lượng đã đem lại lợi ích
to lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội khu vực huyện Eakar nói riêng và tỉnh Đaklak nói chung, đồng thời đưa Việt Nam trở thành nước có sản lượng cà phê xuất khẩu lớn thứ hai thế giới và lớn nhất về xuất khẩu cà phê vối Nhưng một điều bất cập cần nhận
ra rằng trong thời gian qua nhiều vấn đề ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững cũng như thu nhập cho người trồng cà phê, do phát triển không kiểm soát được dẫn đến sự suy giảm nguồn nước, gia tăng nạn phá rừng tác động xấu đến môi trường
Trang 29Theo thống kê hiện nay vào mùa khô mỗi ngày huyện khai thác khoảng 232.500 m3 nước ngầm phục vụ sinh hoạt sản xuất trong đó nước được khai thác phục
vụ cho cây cà phê chiếm trên 90% Chính vì khai thác nguồn nước ngầm quá mức như vậy mà nguồn nước ngầm bị suy giảm nghiêm trọng, nhiều nơi tụt từ 3-5m so với trung bình nhiều năm trước đây Diện tích cà phê trên địa bàn huyện Eakar chủ động được nguồn nước mặt để tưới mới bảo đảm khoảng 3150ha, chiếm 10% diện tích cà phê hiện có, toàn bộ diện tích còn lại đều dùng nước ngầm để tưới Những mũi khoan dài hàng trăm mét được cắm vào lòng đất để khai thác nước ngầm và nguồn nước này được sử dụng một cách lãng phí đã trở thành những nguy cơ tiềm ẩn sẽ xảy ra ở một tương lai không xa Những giếng khoan này khi không được sử dụng đã gây ô nhiễm nguồn nước do nước mưa cuốn theo những chất ô nhiễm theo giếng khoan ngấm vào lòng đất ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn tài nguyên môi trường Mặc dù chính quyền huyện đã có biện pháp ngăn cản nhưng công tác thực hiện chưa được triệt để nên tình trạng khoan giếng lấy nước gầm vẫn diễn ra phổ biến
b) Sự biến động của giá cà phê qua hai thập niên gần đây
Bất kỳ một loại hàng hóa nào cũng chịu sự tác động mạnh mẽ của giá cả, nhưng riêng đối với các sản phẩm nông nghiệp thì nó chịu một sự tác động mạnh mẽ lớn hơn nhiều Vì giá cả của các sản phẩm nông nghiệp luôn biến động không ngừng theo thời gian Giá cà phê cũng không ngoài qui luật này, lên xuống thất thường khiến cho nông hộ gặp nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất
Bảng 2.6 Giá trung bình của cà phê tại địa bàn huyện Eakar qua các năm
(1000 đồng/kg)
Năm Mức giá
(1000 đồng/kg)
Trang 3028 39,2 32.5 36,5 37,5 Nguồn: Phòng kinh tế huyện Eakar
Hình 2.4 Biểu đồ biến động giá cà phê ở thị trấn giai đoạn 1992-2011
Trang 31Số liệu thứ cấp từ phòng kinh tế huyện Eakar đã cho ta cái nhìn toàn cảnh về giá cà phê trung bình hàng năm tại địa bàn huyện eakar trong 20 năm gần đây nhất
Ta nhận thấy trong 20 năm gần đây có thể xác định ba mốc lịch sử của giá cà phê tại địa bàn huyện :
Mốc lịch sử thứ nhất : được xác định vào năm 1994 khi mà cà phê đang ở mức 11.200 đồng/kg năm 1993 bỗng nhảy vọt lên mức 30.100 đồng/kg.Mức giá đỉnh điểm của mốc lịch sử này lên tới 43,2 triệu đồng/tấn Chỉ trong một năm mà mức giá tăng gấp gần ba lần Đây là sự đột biến lớn nhất về giá cà phê trong 20 năm gần đây Sự đột biến này là nguyên nhân của việc dự báo sản lượng cà phê tại Brazin sẽ giảm sản lượng tới 50% vì sương muối dẫn đến việc giá cà phê tại sàn giao dịch London tiêng tục tăng Các doanh nghiệp tại địa phương nói riêng và toàn tỉnh nói chung không ngừng xả hàng từ những liên vụ trước để thu lợi nhuận Việc làm này đã dẫn tới hậu quả cho năm 1995, mức giá đã hạ xuống gần một nửa
Mốc lịch sử thứ hai :được xác định vào năm 2002 Tại thời điểm này mức giá
hạ tới mức thấp nhất trong hai thập kỷ Và kể từ khi mức giá đạt kỷ lục vào năm 1994 thì nó cứ tiếp tục giảm dần hàng năm và đến năm 2002 thì ở mức thấp nhất chỉ còn lại 8.970 đồng/kg Sự sụt giảm này đã khiến cho đời sống của người trồng cà phê gặp
Trang 32nhiều khó khăn, trong khi đó giá phân bón thì không ngừng leo thang Điều này đã dẫn tới hàng ngàn hộ dân tại địa bàn đã chặt bỏ cây cà phê chuyển sang các loại cây ngắn ngày như ngô, khoai, đậu đỗ và các loại cây công nghiệp khác có giá trị cao hơn như ca cao, tiêu.Theo nguồn tin của phòng kinh tế huyện Eakar thì nguyên nhân của
sự sụt giảm nghiêm trọng này là do sự tăng sản lượng cà phê từ các nước khác đặc biệt là Brazin nói chung và Việt Nam nói riêng Mức giá kỷ lục của năm 1994 đã khiến cho mọi người đua theo phong trào trồng cà phê và chăm sóc cho cây cà phê kỹ lưỡng hơn.Từ đó khiến cung vượt cầu, giá giảm liên tiếp qua nhiều năm
Mốc lịch sử thứ ba: được xác định vào năm 2008 Tại thời điểm này giá cà phê
đã đạt mức giá kỷ lục là 39.200 đồng/kg cao hơn cả mức giá tại năm 1994 Theo nghi nhận của phòng kinh tế thì chưa bao giờ cà phê lại được nói nhiều tới như vậy Trên các phương tiện thông tin đại chứng của huyện không ngừng đưa tin về giá cà phê Đây cũng là năm mà người trồng cà phê hạnh phúc nhất bởi cà phê vừa được mùa lại vừa được giá Kể từ sau 2002 thì giá cà phê đã tăng dần dần trở lại và đến năm 2008 thì đạt mức cao nhất Nguyên nhân của sự tăng trở lại cũng lại do bởi tác động của cung cầu Khi giá cà phê liên tục ở mức thấp qua nhiều năm đã khiến cho người dân
từ bỏ niềm tin ở nó để chuyển đổi sang cây trồng mới Hành vi này khiến cho lượng cung trên thị trường giảm và giá tăng trở lại
Qua ba mốc lịch sử của giá cà phê trong hai thập kỷ gần đây nhất ta nhận thấy rằng giá cà phê luôn biến động không ngừng-tăng rồi lại giảm, giảm rồi lại tăng Sự tăng giảm này chịu sự tác động mạnh mẽ của quy luật cung cầu và cũng một phần không nhỏ của các nhà đầu cơ Sự tăng giảm này không có gì đặc biệt cả vì nó xảy ra với bất kỳ loại hàng hóa nào Cứ dư thừa sẽ dẫn đến giá giảm, khan hiếm làm cho giá tăng Nhưng điều đáng nói ở đây là hành vi của người trồng cà phê tại địa bàn còn nhiều thiếu xót, chưa có sự định hướng rõ ràng, chính quyền địa phương quản lý chưa tốt khâu sản xuất cứ để người dân sản xuất tự phát mà không có biện pháp can thiệp
Hễ giá cà phê tăng thì người người trồng cà phê nhưng nó xuống vài năm thì chặt bỏ, chuyển đổi cây trồng mới hoặc bỏ mặc không chăm sóc chi tới khi giá tăng trở lại mới chú ý tới việc chăm sóc Họ không hiểu được rằng giá cà phê luôn biến động, sự
Trang 33biến động này phụ thuộc vào chính hành vi trồng rồi lại phá của họ Như đã nghiên cứu ở trên thì để có được 1ha cà phê kinh doanh thì họ phải tốn hết ba năm xây dựng
cơ bản và những khoản chi phí không nhỏ và khi họ chặt phá đi thì lợi ích của những năm tiếp theo sẽ không còn và đặc biệt khi giá lên trở lại thì thiệt hại của họ lại càng nặng nề hơn
Tình hình của huyện trong ba năm qua đạt kết quả tốt Số lượng đàn gia súc và gia cầm tăng nhanh Số lượng đàn trâu năm 2009 tăng 7,65% so với năm 2004, số lượng đàn bò tăng 2.900 con (tăng 13,12%), số lượng đàn heo tăng không nhiều do
Trang 34tổng số heo trong các hộ nuôi tương đối bão hòa với khả năng nuôi Đàn dê của toàn huyện tăng 1351 con (tăng 14%), một con số nói lên lỗ lực đáng ghi nhận mà nghành chăn nuôi đem lại
Một dấu hiệu đáng mừng hơn nữa là công tác kiểm tra phòng dịch dịch cúm gia cầm luôn được quan tâm đúng mức Trong khi nhiều vùng trong cả nước dịch cúm gia cầm làm cho số lượng gia cầm giảm mạnh thì trên địa bàn huyện số lượng gia cầm vẫn tiếp tục tăng (tăng 37,9% năm 2009) và không hề xảy ra dịch cúm
Số lượng đàn vật nuôi tăng nhah phần nào đã đem lại đời sống khấn khá hơn cho người nông dân, tại thêm công ăn việc làm cho nhiều lai đọng nhàn rỗi
Tuy vậy một bất cập đang được bà con hết súc quan tâm, đó chính là giá cả của các loại vật nuôi như trâu, bò, dê đang giảm xuongs so với những năm trước đó Chính điều này đã làm cho giá trị nghành chăn nuôi năm 2009 không tương xứng với tiềm năng và số lượng đạt được
2.3 Tình hình dân số và lao động
Toàn huyện eakar có tổng số hộ là 30100 (hộ).với tổng số dân là 145000 người.mật độ dân số trung bình trên 1km2 là 114 người , tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,5 % dân số phân bố tương đối không đồng đều giữa thành thị và nông thôn điều này phản ánh đúng thực trạng của nông thôn Việt Nam nói chung và tốc độ đô thị hóa nông thôn còn rất chậm.tốc độ tăng dân số ở mức trung bình so với các tỉnh ở miền núi và cao nguyên khác
2.4 Vấn đề về tôn giáo
Đối với hoạt động tôn giáo : có thể nói khu vực Tây Nguyên nói chung và trên địa bàn huyện Eakar nói riêng vẫn luôn dành sự sự quan tâm đặc biệt của nhà nước về vấn đề tôn giáo.vì đây là nơi mà phần phần tử chống phá Cách Mạng muốn lợi dụng
sự đa dạng về văn hóa và trình độ văn hóa thấp để tuyên truyền xúi dục bà con dân bản gây mất trật tự đoàn kết xã hội.những năm 2002-2005 đã có nhiều sự việc đáng tiếc xảy ra trên địa bàn huyện liên quan đến vấn đề tôn giáo.nhưng trong những năm
Trang 35gần đây hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện đều chấp hành tốt các quy định của nhà nước , bằng việc lắm vững các qui định của pháp luật các cấp các nghành luôn tạo điều kiện cho hoạt động tôn giáo tuân thủ đúng các qui định của pháp luật.Đồng thời góp phần giáo dục cho đồng bào có đạo đức thực hiện lối sống tốt đời đẹo đạo
Từ khi pháp lệnh tín ngưỡng – tôn giáo ra đời đã giúp cho chính quyền địa phương có
đủ điều kiện pháp lý để quản lý tốt hoạt động của tôn giáo
2.5 Y tế và giáo dục
2.5.1 Y tế
Hiện nay việc khám chữa bệnh luôn được quan tâm đúng mức Đội ngũ y bác sĩ thường xuyên được học tập bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tinh thần thái độ phục vụ với người bệnh, nên chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân càng được cải thiện Các cơ sở y tế tại các xã đều có bác sĩ sẵn sàng phục vụ nhân dân khi cần thiết.huyện đã có bệnh viện đa khoa với hệ thống y bác sĩ có tay nghề chuyên môn cao.nhìn chung qua một số chỉ tiêu về kinh tế có thể nói rằng y tế của huyện đã và đang thay đổi theo chiều hướng tích cực, ngày càng gặp hái được nhiều thành công đáp ứng được nhu cầu được khám và chữa bệnh của người dân
2.5.2 Giáo dục
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của huyện trong những năm qua đã thu được những thành tựu đáng mừng rỡ , số lượng trường lớp và học sinh tăng lên đáng kể , chất lượng giáo dục ở các cấp học nghành học cũng như năng lực quản lý ,trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ cán bộ giáo viên nâng cao Hiện trên địa bàn huyện có tất cả 64 trường trong đó có 3 trường cấp 3 ,15 trường cấp 2, 34 trường cấp 1 và 15 trường mẫu giáo- nhà trẻ.toàn huyện có 706 giáo viên dạy giỏi tỷ
lệ đậu tốt nghiệp đạt từ 84,4% -98%
So với các huyện khác thì Eakar là huyện có thế mạnh về giáo dục và cũng là đơn vị có thành tích đứng thư hai trong tỉnh sau thành phố Buôn Ma Thuật.nhìn
Trang 36chung tình hình giáo dục ở huyện phát triển theo hướng tích cực, đánh dấu một bước tiến mới cho đầu tư phát triển con người cho tương lai
Trang 37CHƯƠNG 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Sơ lược về cây cà phê
3.1.1 Nguồn gốc cây cà phê
Lần đầu tiên cà phê được đưa vào Việt Nam vào năm 1875, được người Pháp
mang từ đảo Bourton sang trồng ở phía bắc sau đó lan ra các tỉnh miền trung như
Quảng Trị, Bố Trạch…
Cà phê là một trong những loại cây trồng gắn bó với đất nước và nhân dân Việt Nam Đối với các tỉnh thuộc tây nguyên Đaklak, Đak Nông,lâm đồng và một số tỉnh ở phía Bắc, cây cà phê đang chiến vị trí quan trong hoạt động xuất khẩu nông sản quốc gia và là nguồn thu ngân sách của các tỉnh
Mặc dù cà phê chỉ cho một loại sản phẩm như hiệu quả thì lại cao hơn các loại cây khác Sản phẩm mà chúng ta biết đến đó là bột cà phê dùng để pha uống như một thư nước giải uống khát và những năm gần đây đã có những nhà nghiên cứu tiến hành nghiên cứu vỏ cà phê để làm phân cho cây trồng
Tầm quan trọng của cây cà phê : cà phê là cây công nghiệp quan trọng, sản xuất
cà phê là nghành sản xuất nông nghiệp có giá trị cao trong lĩnh vực tiêu dùng và xuất khẩu Trong những thập niên trở lại đây, cà phê đang là một loại hàng hóa đem lại ngoại tệ lớn cho một số nước trên thế giới Có nhiều loại cà phê được trồng ở nước ta nhưng chủ yếu là giống cà phê Rousta
Trang 383.1.2 Đặc điểm sinh thái của cây cà phê
Điều kiện khí hậu: Điều kiện khí hậu thích hợp với cây cà phê là :phạm vi
nhiệt độ biến động từ 15-30 độ C nhưng lý tưởng nhất là có nhiệt độ trung bình khoảng 19-24 độ C lượng mua trên dưới 2000mm có độ cao so với mục nước biển
khoảng 500m, có một mùa khô nhẹ kéo dài từ 2-3 tháng
Đất đai: Cà phê là loại cây công nghiệp lâu năm, có bộ rễ ăn sâu tới 1m vì vậy
phải chọn các loại đất sau :
- đất có tầng sâu từ 70 cm trở nên
- đất có cơ cấu lượng tốt, tơi xốp giàu chất hữu cơ
- không bị úng nước trong mùa mưa
Nhìn chung các loại đất trong nhóm đat đỏ bazan là loại đất rất quí để trồng cà phê Giúp cây không chỉ sinh trưởng tốt mà còn kéo dài tuổi thọ cho vòng đời của cây
Ánh sáng: Cà phê là loại cây thích ánh sáng tán xạ (nguồn gốc mọc trong rừng
thư tại châu phi), ánh sáng cực xạ là cho cây bị kích thích ra hoa qua độ dẫn tới hiện tượng khô cành, khô quả, vườn cây xuống dốc nhanh, ánh sáng tán xạ có tác dụng điều hòa sự ra hoa, phù hợp với cơ chế quang hợp tạo thành và tích lũy chất hữu cơ có lợi cho cây cà phê, giữ cho vườn cà phê lâu bền , năng xuất ổn định cà phê vối là loại cây thích ánh sáng cực xạ yếu (cà phê vối có nguồn gốc rải rác ven các bìa rừng ở châu phi) Ở những nơi có ánh sáng trực xạ với cường độ mạnh thì cây cà phê vối cần lượng cây che bóng để điều hòa ánh sáng, điều hòa quá trình quang hợp của vườn cây
Gió: Gió lạnh, gió nóng , gió khô đều có hại đến sinh trưởng của cây cà phê.gió quá mạnh là cho lá bị rách ,rụng lá, các lá non bị thui đen, gió nóng làm cho
lá bị khô héo Gió làm tăng nhanh quá trình bốc thoát hơi nước của cây và đất đặc biệt là trong mùa khô Vì vậy cần giải quyết trồng tốt hệ đai rừng chắn gió chính và
Trang 39phụ; cây che bóng để hạn chế tác hại của gió Đai rừng chắn gió và cây che bóng còn
có tác dụng hạn chế hình thành và tác hại của sương muối, ở những vùng có gió nóng, đai rừng còn có tác dụng điều hòa nhiệt độ trong lô trồng
3.1.3 Đặc điểm sinh học cây cà phê
Bộ rễ: Rễ cà phê phát triển cạn phân tầng rõ, khoảng 5cm có một tầng Rễ
chính mọc từ 60-100cm, rẽ nhánh mọc theo hướng xuyên ngang.khối lượng rễ tập trung mặt đất khoảng 94% tổng khối lượng rễ
Thân cây: Cà phê là cây lâu liên, thân gỗ nhỏ,cao từ 4-20 m tùy theo từng loại
và điều kiện sống nhưng trên thực tế người ta chỉ để chiều cao phát triển 1.5-1.8m để tiện chăm sóc
Cây có đặc tính sinh trưởng lưỡng tính theo hai chiều thẳng đứng và chiều nằm ngang Thân cây cà phê lúc nhỏ có màu xanh hình vuông sau chuyển dần sang màu nâu có dạng trị tròn.trên thân cây chia làm nhiều đốt
Cành lá: Cành cà phê được chia thành hai cấp cành cấp 1 và cành cấp hai
Cách cành nằm ngang cơ bản mọc thành từng cạp đối xứng nhau qua thân chính
Lá cà phê mọc đối xứng hình bầu dục,đầu nhọn, cuốn ngắn,mép lá xoắn , phiến
lá có màu xanh đậm, bóng , hơi gợn sóng và có từ 6 đến 12 cặp gân
Hình 3.1 Sự phân bố các loại cành của cây cà phê
Trang 40Hoa cà phê: Hoa cà phê thuộc loại lưỡng tính, phát triển trên các nách lá của
cành nang tạo thành xim hoa, mỗi xim có từ 1-5 hoa Cuốn hoa ngắn , lá đài kém phát triển Cà phê ra hoa vào tháng 11 và tháng 12 của năm
Hoa cà phê màu trắng, có năm cánh, thường nở thành chùm đôi hoặc chùm ba Màu hoa và hương hoa dễ làm ta liên tưởng tới hoa nhài Hoa chỉ nở trong vòng 3 đến
4 ngày và thời gian thụ phấn chỉ vài ba tiếng Một cây cà phê trưởng thành có từ 30.000 đến 40.000 bông hoa
Ngay từ khi cây cà phê ra hoa kết quả người ta đã có những đánh giá đầu tiên
về vụ mùa cà phê Ở các nước sản xuất cà phê lớn điều này đặc biệt quan trọng trong việc đưa ra những nhận định về giá cả và thị trường Tuy vậy những đợt rét đậm hoặc hạn hán có thể làm đảo lộn mọi sự tính toán và đẩy thị trường vào tình thế hoàn toàn khác
Hình 3.2 Hoa cà phê nở vào mùa khô