Theo Luật HTX 2003 của Việt Nam, " HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân sau đây gọi chung là xã viên có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sứ
Trang 1VĂN PHÒNG QUỐC HỘI UNDP
Trang 2NHÓM NGHIÊN CỨU
Chủ nhiệm:
- TS Nguyễn Minh Ngọc
Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Đại học Kinh tế Quốc Dân
Các thành viên nhóm nghiên cứu
- GS.TS Đặng Đình Đào
Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Đại học Kinh tế Quốc Dân,
- TS Lê Quốc Hội
Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Đại học Kinh tế Quốc Dân
Trang 3MỤC LỤC
HÀ NỘI – THÁNG 8 - 2011NHÓM NGHIÊN CỨU 1
NHÓM NGHIÊN CỨU 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC BẢNG VÀ ĐỒ THỊ 5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 7
TÓM TẮT 8
GIỚI THIỆU 10
I KINH TẾ HỢP TÁC VÀ HỢP TÁC XÃ 12
1.1 Kinh tế hợp tác và HTX 12
1.2 Đặc trưng của HTX 13
II AN SINH XÃ HỘI 15
2.1 Khái niệm ASXH 15
2.2 Cấu trúc nội dung của hệ thống ASXH 17
III SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỢP TÁC XÃ Ở VIỆT NAM 18
3.1 Sự phát triển của tổ hợp tác 18
3.2 Sự phát triển của HTX 20
3.3 Tình hình phát triển HTX giai đoạn 1955-1986 22
3.4 Tình hình phát triển HTX giai đoạn 1987-1996 24
3.5 Tình hình phát triển HTX giai đoạn 1997-2003 24
3.6 Tình hình phát triển HTX giai đoạn 2004 đến nay 25
IV TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CHẾ, LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỢP TÁC XÃ 26
4.1 Tác động của cơ chế kinh tế đến sự phát triển của HTX 26
4.2 Tác động của luật pháp đến sự phát triển của HTX 28
4.3 Tác động của chính sách phát triển HTX 30
V THỰC TRẠNG QUY MÔ VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HTX 33
5.1 Quy mô giá trị gia tăng 33
5.2 Quy mô lao động 34
5.3 Quy mô vốn 35
5.4 Hiệu quả sản xuất kinh doanh 36
5.5 Thu nhập bình quân đầu người 37
VI THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ Ở CÁC HTX 39
6.1 Mục tiêu hoạt động của HTX ở nước ta hiện nay 39
6.2 Thực trạng liên kết sức mạnh của HTX 41
6.3 Thực trạng thực hiện các nguyên tắc tổ chức và quản lý của HTX 42
6.4 Mức độ hài lòng của xã viên HTX 44
VII VAI TRÒ CỦA HỢP TÁC XÃ ĐỐI VỚI AN SINH XÃ HỘI 45
7.1 Vai trò của HTX đối với việc bảo đảm mức sống tối thiểu 45
7.2 Vai trò của HTX trong việc cải thiện thị trường lao động 49
7.3 Vai trò của HTX trong việc thực thi các chính sách bảo hiểm 50
7.4 Vai trò của HTX trong việc thực thi chính sách ưu đãi xã hội 51
7.5 Vai trò của HTX trong việc thực hiện trợ giúp xã hội 54
VIII MỘT SỐ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA HỢP TÁC XÃ HIỆN NAY 55
8.1 Xu hướng gắn kinh tế gia đình với kinh tế HTX 55
8.2 Xu hướng phát triển HTX gắn liền với phát triển cộng đồng 58
8.3 Xu hướng doanh nghiệp hóa HTX 59
Trang 410.1 Về quá trình phát triển của HTX 63
10.2 Về tác động cơ chế, luật pháp và chính sách đến sự phát triển của HTX 64
10.3 Về quy mô, đóng góp, và hiệu quả của HTX 65
10.4 Về mục tiêu, tổ chức và hoạt động của HTX 65
10.5 Về vai trò của HTX đối với ASXH 66
10.6 Về xu hướng phát triển của HTX 67
XI HÀM Ý CHÍNH SÁCH 67
11.1 Phát triển HTX là yêu cầu khách quan đối với sự phát triển 67
11.2 Phát triển HTX đòi hỏi sự trợ giúp đặc biệt từ Nhà nước 67
11.3 Phát triển HTX cần gắn với việc đáp ứng nhu cầu hàng hóa / dịch vụ của xã viên và tạo công ăn việc làm cho người lao động 68
11.4 HTX cần được coi là công cụ quan trọng đảm bảo ASXH hơn là một khu vực quan trọng của nền kinh tế 68
11.5 HTX cần được phát triển trên cơ sở lấy nhu cầu hợp tác giữa những người lao động làm gốc 68
11.6 HTX cần được phát triển theo hướng thúc đẩy phát triển kinh tế hộ gia đình, phát triển cộng đồng, và không đề cao lợi nhuận 68
11.7 Luật pháp và các chính sách phát triển HTX cần hướng tới việc đảm bảo cho các nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, dân chủ, công bằng, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của HTX 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC I: ĐẶC ĐIỂM MẪU THĂM DÒ 71
Trang 5DANH MỤC BẢNG VÀ ĐỒ THỊ
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Số liệu HTX phân theo lĩnh vực giai đoạn 2005 – 2010 26
Bảng 2: Lợi ích của HTX đối với xã viên 39
Bảng 3: Vai trò của HTX đối với tạo việc làm và cung cấp dịch vụ cho xã viên 40
Bảng 4: Năng lực hợp tác của các HTX 41
Bảng 5: Nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, và công bằng 42
Bảng 6: Nguyên tắc dân chủ 43
Bảng 7: Nguyên tắc minh bạch 43
Bảng 8: Sự hài lòng của xã viên đối với HTX 44
Bảng 9: Thu nhập và vai trò của HTX trong việc tạo thu nhập cho xã viên 45
Bảng 10: Tính thường xuyên và tính ổn định của thu nhập 46
Bảng 11: Vai trò của HTX trong việc tạo việc làm và cung cấp dịch vụ cho xã viên 46 Bảng 12: Tính thường xuyên và tính ổn định trong sử dụng hàng hóa / dịch vụ của HTX 47
Bảng 13: Vai trò của HTX trong việc tạo việc làm cho các hộ xã viên 49
Bảng 14:Vai trò của HTX trong việc tạo công ăn việc làm thường xuyên và ổn định cho người lao động 50
Bảng 15: Vai trò của HTX đối với việc thực hiện chính sách bảo hiểm cho xã viên 51
Bảng 16: Tỷ lệ xã viên được hưởng ưu đãi xã hội từ hoặc thông qua HTX 51
Bảng 17: Tỷ lệ xã viên được hưởng trợ cấp từ hoặc thông qua HTX 54
Bảng 18: Tác động của lợi ích nâng cao năng lực sinh kế của HTX 55
Bảng 19: Tác động của lợi ích tiết kiệm chi phí của HTX 56
Bảng 20: Tác động của lợi ích cơ hội của HTX 57
Bảng 21: Ý kiến xã viên về mục tiêu phát triển HTX trong tương lai 60
Bảng 22: Điều kiện quan trọng nhất để trở thành xã viên 61
Bảng 23: Yếu tố quan trọng nhất quyết định bãi miễn tư cách xã viên 61
Trang 6DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 1: Số lượng tổ hợp tác và lao động tham gia tổ hợp tác giai đoạn 2000-2010 19
Đồ thị 2: Cơ cấu tổ hợp tác theo lĩnh vực hoạt động 20
Đồ thị 3: Số lượng HTX qua các thời kỳ 21
Đồ thị 4: Cơ cấu HTX theo lĩnh vực hoạt động 22
Đồ thị 5: Giá trị gia tăng và tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng khu vực HTX 33
Đồ thị 6: Tổng số lượng xã viên và số lượng xã viên bình quân / HTX 34
Đồ thị 7: Quy mô vốn bình quân HTX năm 2007 36
Đồ thị 8: Lợi nhuận bình quân / HTX 37
Đồ thị 9: Thu nhập bình quân lao động / năm 38
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ANGKASA Tổ chức HTX Malaixia
ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động
CN/TTCN Công nghiệp/Tiểu thủ công nghiệp
CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
GTSXCN Giá trị sản xuất công nghiệp
ICA Liên minh HTX quốc tế (International Cooperative Allien)
Trang 8TÓM TẮT
Sự hưng thịnh (1955-1986), suy thoái (1986-2003) và phục hưng (2004-2010) của hợp tác xã (HTX) phản ánh tính bất ổn trong sự phát triển cũng như tính tất yếu khách quan của việc phát triển HTX trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Cơ chế kinh tế, luật pháp và các chính sách phát triển HTX được coi là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của HTX, bản chất của HTX, và các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX Sau năm 1986, cùng với việc chuyển đổi cơ chế kinh tế, sự ra đời của luật HTX năm 1996 đã góp phần làm cho các nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, dân chủ, công bằng, minh bạch đi vào cuộc sống HTX ngày càng thực chất hơn, tuy nhiên nó cũng góp phần tạo ra sự suy thoái của các HTX có tính hình thức được lập trước năm 1986
Luật HTX năm 2003 đã thúc đẩy sự phát triển của HTX thông qua việc cho phép các pháp nhân tham gia HTX Tuy nhiên sự tham gia của các pháp nhân đã tạo ra định hướng lợi nhuận và xu thế doanh nghiệp hóa ở nhiều HTX Các chính sách của Nhà nước nhằm phát triển HTX chưa được thực thi triệt để và thiếu tính đồng bộ nên chỉ tác động tương đối khiêm tốn đến sự phát triển của HTX
Quy mô giá trị gia tăng của khu vực HTX ở nước ta tương đối thấp và xu hướng giảm dần về mức độ đóng góp vào GDP phản ánh sự tụt hậu của khu vực HTX với các khu vực kinh tế khác Quy mô vốn nhỏ và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư thấp làm cho các HTX khó tồn tại nếu chỉ lấy lợi nhuận làm mục đích hoạt động
Trên thực tế, quy mô lao động ở khu vực HTX là tương đối lới và đang có xu hướng gia tăng Lý do cơ bản của hiện tượng này là HTX có thể giúp người lao động
có khó khăn về kinh tế đáp ứng được các nhu cầu của họ bằng các hàng hóa/dịch vụ giá thấp hoặc tạo công ăn việc làm cho họ Tuy nhiên, mức thu nhập bình quân lao động tương đối thấp, HTX vì vậy chỉ có thể tạo ra thu nhập tối thiểu chứ khó có thể giúp người lao động giàu lên
Không có nhiều đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và GDP, nhưng HTX đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo ASXH cho người nghèo Thứ nhất, thu nhập từ HTX là một phần quan trọng trong thu nhập xã viên Thứ hai, HTX đang tạo ra số lượng lớn công ăn việc làm ổn định cho những người ít có cơ hội tham gia thị trường lao động Thứ ba, HTX có nhiều tiềm năng để giúp người nghèo tiếp cận dịch vụ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế Thứ tư, HTX có thể thực hiên một phần chính sách ưu đãi xã hội dưới các hình thức có tính cộng đồng cao Ngoài ra, HTX còn có khả năng thực hiện các hoạt động trợ giúp xã hội mà các tổ chức khác không thực hiện được
Trang 9Hiện có ba xu hướng quan trọng trong sự phát triển của HTX Thứ nhất, xu hướng phát triển HTX theo hướng gắn liền với kinh tế hộ Thứ hai, xu hướng phát triển HTX gắn liền với phát triển cộng đồng Thứ ba, xu hướng doanh nghiệp hóa HTX
Trong chính sách phát triển, không nên coi HTX là một khu vực đóng góp quan trọng vào GDP hay tăng trưởng kinh tế, mà cần coi HTX là khu vực quan trọng trong việc đáp ứng các nhu cầu hàng hóa / dịch vụ thiết yếu và tạo công ăn việc làm cho người lao động có hoàn cảnh khó khăn Tuy nhiên, là một khu vực kinh tế yếu kém và đang gặp rất nhiều khó khăn, phát triển HTX đòi hỏi sự quan tâm và trợ giúp đặc biệt
từ Nhà nước và chính quyền địa phương
HTX cần được coi là tổ chức đảm bảo ASXH cho người nghèo HTX có thể thực hiện rất tốt vai trò đảm bảo mức sống tối thiểu, tạo công ăn việc làm, ưu đãi xã hội, và trợ giúp xã hội Ngoài ra, trong tương lai HTX có thể là tổ chức giúp xã viên tiếp cận bảo hiểm y tế và xã hội HTX sẽ thực hiện được tốt hơn vai trò đảm bảo ASXH nếu Nhà nước thực hiện các chính sách ưu đãi về thuế đối với HTX
HTX cần được phát triển theo mô hình HTX phục vụ xã viên và mô hình HTX lao động hơn là HTX hoạt động vì lợi nhuận Các HTX hoạt động ngược với hai mô hình trên cần được chuyển đổi sang hình thức doanh nghiệp Đặc biệt cần hạn chế sự tham gia của pháp nhân vào HTX Để phát triển HTX theo hướng này, Nhà nước cần có chính sách ưu đãi về thuế đối với HTX như miễn thuế thu nhập và thuế VAT cho hàng hóa cho HTX Ngoài ra, trong quá trình thành lập HTX mới, tiêu chí nhu cầu chung của xã viên cần được coi là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc thẩm định
hồ sơ thành lập HTX
Luật pháp và chính sách phát triển HTX cần tôn trọng các nguyên tắc tự nguyện,
tự chủ, dân chủ, công bằng, minh bạch Ngoài ra, để đảm bảo bản chất HTX không bị đảo lộn và phát huy vai trò của HTX đối với ASXH, các pháp nhân không nên được tham gia vào HTX với tư cách là xã viên Luật HTX củng cần quy định yêu cầu chuyền đổi hình thức tổ chức của HTX sang loại hình doanh nghiệp phù hợp (công ty
cổ phần) khi cả hai điều kiện cơ bản là xã viên không còn sử dụng hoặc sử dụng một phần rất nhỏ sản phẩm / dịch vụ của HTX tạo ra và xã viên không góp sức hoặc mức góp sức của xã viên rất ít so với tổng số lao động của HTX
Để thúc đẩy sự phát triển của HTX, Nhà nước cần tổ chức triển khai các chính sách hỗ trợ HTX một cách đồng bộ hơn, tránh tình trạng các chính sách không được thực thi một cách đầy đủ trên thực tế do các vướng mắc trong quá trình thực thi
Trang 10GIỚI THIỆU
Hiện đang có một số quan niệm khác nhau về hợp tác xã (HTX) Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) “HTX là liên hiệp hội/hay là tổ chức tự chủ của các cá nhân liên kết với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một doanh nghiệp được sở hữu chung
và được kiểm soát một cách dân chủ" Theo Luật HTX 2003 của Việt Nam, " HTX là
tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” Theo luật này,
“HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật"
Sự khác biệt về quan niệm HTX có thể dẫn đến những đánh giá khác nhau về định hướng phát triển của HTX và vai trò của HTX đối với an sinh xã hội (ASXH) Theo ILO, HTX là tổ chức của các cá nhân trong khi đó theo Luật HTX năm 2003 thì HTX là tổ chức của cả cá nhân lẫn pháp nhân HTX với sự tham gia của các pháp nhân
có thể làm cho lợi ích về mặt tài chính (mục tiêu lợi nhuận) được đặt lên hàng đầu Trong khi đó HTX chỉ có cá nhân tham gia thì việc tạo công ăn việc làm và đáp ứng các nhu cầu chung về hàng hóa-dịch vụ lại được quan tâm hơn Vì vậy, HTX với sự tham gia của các pháp nhân nhấn mạnh vai trò của HTX trong việc cải thiện ASXH thông qua tối đa hoá lợi nhuận HTX chỉ với sự tham gia của các cá nhân nhấn mạnh vai trò của HTX trong việc cải thiện ASXH thông qua đáp ứng các nhu cầu chung của toàn bộ xã viên
Vì vậy, nghiên cứu này tập trung
- Đánh giá tình hình phát triển và thực trạng tổ chức-quản lý HTX hiện nay
- Làm rõ bản chất của HTX và các xu hướng phát triển mới của HTX
- Phân tích vai trò của HTX đối với ASXH
- Đánh giá những khó khăn và các vấn đề trong hoạt động của HTX hiện nay
- Đề xuất các hàm ý cho chính sách phát triển HTX trong thời gian tới
Cách tiếp cận:
Để thực hiện các mục tiêu và yêu cầu đặt ra đối với dự án, nhóm nghiên cứu sử
Trang 11- Tiếp cận hệ thống và cấu trúc: Nghiên cứu về mô hình kinh tế và hợp tác và vai trò của nó đối với ASXH được tiếp cận một cách hệ thống và theo cấu trúc: các cơ
sở pháp lý như văn kiện, nghị quyết, chính sách và hệ thống pháp lý liên quan đến phát triển kinh tế hợp tác từ năm 1955 đến nay, các mô hình HTX về cả lý luận và thực tiễn
- Tiếp cận lịch sử và logic: Nghiên cứu về HTX ở Việt Nam được tiếp cận theo lịch sử và logic với từng giai đoạn cụ thể nhằm làm rõ các ưu điểm và hạn chế của các
mô hình kinh tế hợp tác đã được áp dụng, xu hướng vận động và phát triển của HTX
- Tiếp cận thực tế và chuyên gia: Nhóm nghiên cứu sử dụng dụng cách tiếp cận thực tế và chuyên gia nhằm có các quan sát thực tế và ý kiến chuyên gia về HTX
Phương pháp nghiên cứu:
Nhóm nghiên cứu áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau:
- Phương pháp thống kê mô tả và tổng hợp tài liệu: Qua việc rà soát các văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về phát triển HTX, các văn bản, chính sách và
hệ thống luật và pháp luật cũng như các số liệu về kinh tế hợp tác từ các cơ quan Nhà nước để đánh giá hiện trạng của HTX, sự phát triển của HTX và các xu hướng phát triển của HTX
- Phương pháp phân tích tài liệu và phương pháp chuyên gia để đánh giá và làm sáng tỏ tầm quan trọng của HTX và những xu hướng phát triển mới của HTX
- Phương pháp điều tra thăm dò chọn lọc nhằm làm rõ hơn về thực trạng, xu hướng phát triển, và vai trò của kinh tế HTX và các mô hình HTX đối với ASXH Trong nghiên cứu này ý kiến của 174 xã viên ở 13 HTX trên ba địa phương Hà Nội (5), Thừa Thiên Huế (4), và Bạc Liêu (4) đã được thu thập và phân tích Đặc điểm mẫu thăm dò được trình bày ở phụ lục 1
Trang 12I KINH TẾ HỢP TÁC VÀ HỢP TÁC XÃ
1.1 Kinh tế hợp tác và HTX
Trong sản xuất và đời sống, sự hợp tác giữa các cá nhân cho phép thực hiện được hoặc thực hiện hiệu quả hơn nhiều công việc mà các cá nhân riêng lẻ không thực hiện được hay thực hiện kém hiệu quả Những lợi ích này là nguồn gốc cho sự ra đời và động lực phát triển của kinh tế hợp tác Kinh tế hợp tác được phân biệt với các hình thức kinh tế khác thông qua hai đặc trưng cơ bản là tài sản sở hữu chung và sự đề cao các mục tiêu phi kinh tế (xã hội và cộng đồng) Vì vậy, kinh tế hợp tác có thể được hiểu là hình thức tổ chức kinh tế trong đó những người lao động góp sức, góp vốn để cùng tiến hành một công việc hoặc thực hiện các hoạt động sản xuất hay cung cấp dịch nào đó với những mục đích chung và đem lại lợi ích cụ thể cho các thành viên tham gia hợp tác Kinh tế hợp tác tồn tại dưới hai hình thức là tổ hợp tác và HTX
HTX là tổ chức kinh tế được sở hữu, kiểm soát và điều hành bởi một nhóm người
vì lợi ích (kinh tế, xã hội và văn hóa) chung của họ Các thành viên đóng góp vốn và chia sẻ việc kiểm soát trên nguyên tắc một thành viên một phiếu bầu (và không tương ứng với tỷ lệ đóng góp cổ phần của mình)
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), “HTX là liên hiệp hội/hay là tổ chức tự chủ của các cá nhân liên kết với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một doanh nghiệp được sở hữu chung và được kiểm soát một cách dân chủ"
Theo Luật HTX năm 2003 của Việt Nam, "HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các
cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước"
Về mặt tổ chức và hoạt động HTX, có hai đặc trưng cơ bản phân biệt với các loại hình kinh tế khác: (1) HTX là hiệp hội các cá nhân đồng ý trở thành những người đồng
sở hữu, người đưa ra các quyết định dân chủ và người khai thác doanh nghiệp chung; (2) mục tiêu cơ bản của HTX là hỗ trợ các thành viên (xã viên) thông qua cung cấp dịch vụ hay tạo việc làm hơn là tối đa hóa lợi nhuận
Theo mục tiêu hoạt động, các HTX có thể được chia thành hai nhóm: (1) HTX của những người sử dụng (hàng hóa /dịch vụ) sở hữu HTX, được thành lập bởi các thành viên có nhu cầu chung về hàng hóa hay dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh
Trang 13marketing nông nghiệp hoặc HTX vật tư nông nghiệp; và (2) HTX của những người lao động sở hữu HTX được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu về việc làm của các xã viên, những người thất nghiệp hay không có việc làm
1.2 Đặc trưng của HTX
HTX là tổ chức liên kết các cá nhân
HTX là nơi tập hợp và liên kết các cá nhân qua đó họ (các xã viên) giúp đỡ lẫn nhau và hợp tác với nhau nhằm thực hiện các nhu cầu của họ về hàng hóa / dịch vụ hay tạo việc làm HTX sẽ thiếu bền vững nếu không tạo ra được sự liên kết và hợp tác chặt giữa các thành viên HTX hoặc có những nhân tố làm yếu đi sự liên kết này Sự tập hợp các cá nhân trong HTX là quá trình phát triển liên tục và lâu dài Không nhất thiết ngay khi mới thành lập HTX đã có nhiều xã viên tham gia Trong quá trình phát triển, sự hấp dẫn và các lợi ích HTX đem lại cho xã viên sẽ thu hút thêm xã viên tham gia HTX Các HTX nhỏ hơn có tính chất hoạt động tương tự nhau có thể hợp nhất với nhau dưới hình thức liên hiệp HTX
HTX được hình thành dựa trên nhu cầu chung của các xã viên
Nhu cầu chung là cái đầu tiên và căn bản đưa đến hợp tác thông qua HTX Xã viên tham gia HTX phải có nhu cầu chung và việc đáp ứng nhu cầu chung ấy thông qua sự hợp tác có hiệu quả hơn so với từng thành viên đơn lẻ thực hiện Do vậy, hoạt động kinh tế của các xã viên thường giống nhau hoặc trong cùng một ngành, nghề nhất định Tuy nhiên, HTX thỏa mãn cái chung cho mọi xã viên nhưng không làm triệt tiêu cái riêng của mọi xã viên Các xã viên vẫn giữ được sự độc lập, tự chủ của mình trong quá trình hợp tác Trong quá trình tham gia HTX, các xã viên có vai trò bình đẳng trên
cơ sở có trách nhiệm và nghĩa vụ tương tự nhau trong việc bảo đảm cho sự hợp tác
HTX là sự kết hợp hữu cơ giữa người sở hữu và người sử dụng sản phẩm, dịch
vụ, giữa người chủ và người làm thuê
Xã viên khi tham gia HTX là người góp vốn trở thành đồng sở hữu HTX, đồng thời là người sử dụng sản phẩm / dịch vụ của HTX Với tư cách là chủ sở hữu, cộng đồng xã viên quyết định làm cái gì và làm như thế nào để đáp ứng cao nhất nhu cầu chung về kinh tế, văn hoá, xã hội của xã viên Với tư cách là người sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX, xã viên có khả năng tác động trực tiếp tới hoạt động của HTX trong
Trang 14hoàn cảnh của xã viên Vì vậy, sử dụng sản phẩm và dịch vụ của HTX là thước đo cơ bản quan hệ kinh tế giữa xã viên và HTX, tính cộng đồng, tính hợp tác, mức độ tương trợ giữa các xã viên
Với tư cách là người chủ, các xã viên HTX có quyền tham gia vào các quyết định của HTX một cách dân chủ Với các tư cách là người làm thuê, các xã viên HTX được quyền hưởng các lợi ích cơ bản của người lao động là tiền lương và các quyền lợi liên quan khác Vì vậy HTX là tổ chức tự chủ của những người lao động được kiểm soát theo nguyên tắc dân chủ
HTX là tổ chức kinh tế có tính chất tự chủ
HTX không phải là tổ chức xã hội mà chỉ mang tính chất xã hội HTX là tổ chức kinh tế đặc biệt thúc đẩy hợp tác trong cộng đồng xã viên nhằm đáp ứng một cách hiệu quả nhu cầu chung về kinh tế, văn hóa, xã hội của xã viên Là tổ chức kinh tế, HTX phải có tên gọi, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh Là tổ chức có tính
tự chủ, HTX phải tổ chức sản xuất kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho xã viên và cho thị trường nhằm tối đa hoá lợi ích của xã viên Như vậy, HTX sẽ tồn tại và phát triển khi hoạt động hiệu quả và đem lại lợi ích kinh tế cho xã viên
HTX mang lại lợi ích cho xã viên theo nhiều cơ chế khác nhau
Lợi nhuận (khoản dư) trong HTX được phân phối cho xã viên dưới nhiều hình thứ khác nhau Ngoài các hình thức phân phối lợi nhuận cơ bản dựa trên tiêu thức góp vốn, mức độ sử dụng sản phẩm/dịch vụ, và mức độ góp công, xã viên HTX còn được hưởng lợi từ HTX thông qua việc trích lập các quỹ phát triển HTX và quỹ dự trữ HTX phòng khi rủi ro Khác với các loại hình tổ chức kinh tế khác, một phần quan trọng trong lợi nhuận của HTX được dùng để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa – xã hội chung của cộng đồng xã viên; đóng góp từ thiện của HTX đối với cộng đồng dân cư địa phương Đặc điểm phân phối lợi ích này phản ánh bản chất nhân văn và mang đậm tính văn hóa của HTX Cách thức phân phối các lợi ích này cũng góp phần tạo ra cơ chế hiệu quả để các thành viên HTX cùng chia sẻ khó khăn, trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi ích, từ đó khuyến khích phát triển tinh thần hợp tác, tính cộng đồng, tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các xã viên HTX
Tính bất khả chuyển nhượng của HTX
Vốn góp của xã viên HTX ở nhiều nước có cách gọi khác nhau: dự phần xã hội, vốn góp điều lệ, cổ phần Trong suốt quá trình tham gia HTX, xã viên chỉ được sở hữu
Trang 15tư nhân phần vốn góp đó mà thôi; còn tài sản hình thành từ hoạt động của HTX là tài sản chung không chia của HTX; trường hợp HTX bị giải thể, tài sản này phải được chuyển giao cho chính quyền địa phương; trường hợp xã viên rút ra khỏi HTX, thì chỉ rút phần vốn đã góp Tài sản chung được hình thành và phát triển không có mục đích
tự thân, mà hướng đến việc phục vụ nhu cầu chung của các xã viên; có tài sản chung hay chưa có tài sản chung, tài sản chung lớn hay nhỏ, đơn giản hay hiện đại là do yêu cầu về hiệu quả của việc đáp ứng nhu cầu chung đặt ra Tài sản chung không chia được xem là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển bền vững của HTX Thứ nhất, tài sản chung không chia đảm bảo sự tồn tại liên tục của HTX, chống lại bất cứ sự mua bán cơ hội nào Điều này có nghĩa là không thể bán hay chuyển nhượng HTX được Thứ hai, tài sản chung này là một trong những nguồn lực cơ bản để HTX khai thác, sử dụng, tích lũy để tái đầu tư
Đây là đặc điểm mang tính bản chất của HTX, đề cao tính cộng đồng và sở hữu chung trong HTX, khác hẳn với doanh nghiệp thương mại, theo đó, sở hữu của thành viên góp vốn doanh nghiệp trong tài sản của doanh nghiệp tương ứng với tỷ lệ góp vốn của mình trong suốt quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp
II AN SINH XÃ HỘI
2.1 Khái niệm ASXH
Trong cuộc sống, để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu, con người phải lao động sản xuất để có thu nhập Tuy vậy, không phải lúc nào người lao động cũng đảm bảo chắc chắn duy trì được việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định Đó là những lúc gặp rủi ro như ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động dẫn đến bị mất hoặc giảm việc làm.v.v Hơn nữa, hoạt động lao động sản xuất của con người không phải lúc nào cũng thuận lợi vì còn bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, môi trường, xã hội.v.v Vì vậy, phòng tránh và khắc phục rủi ro đã trở thành một nhu cầu của con người Đặc biệt, trong nền sản xuất công nghiệp, khi mà số lượng người lao động có thu nhập chính từ tiền lương tăng lên thì sự hẫng hụt về thu nhập trong các trường hợp gặp rủi ro hoặc khi không còn khả năng lao động.v.v càng trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống của
họ
Tính tất yếu phải đối mặt với những hẫng hụt về thu nhập trong những trường hợp bất khả kháng đã buộc người lao động phải tìm cách khắc phục bằng nhiều biện
Trang 16rách".v.v Nhưng xã hội càng phát triển, những biện pháp có tính truyền thống như trên đã tỏ ra không đủ độ an toàn để giúp cho mỗi người có thể khắc phục hoặc vượt qua khó khăn trong cuộc sống Bổ sung vào đó là các biện pháp phi truyền thống chỉ
có trong xã hội hiện đại như bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), cứu trợ xã hội, trợ giúp xã hội v.v Đây là những trụ cột cơ bản của hệ thống ASXH nhằm bảo vệ con người trước những rủi ro về kinh tế - xã hội
Trong thực tiễn, do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận nên hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về ASXH Theo Ngân hàng Thế giới (WB), ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình
và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), ASXH là hình thức bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong, cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em Theo Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA), ASXH là thành tố của hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ không chỉ có công nhân Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khoẻ thông qua bảo hiểm
y tế; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội Theo GS Hoàng Chí Bảo, ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người
và xã hội ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con người
và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách1 Theo PGS.TS Nguyễn Hải Hữu, "ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ có nguy cơ suy giảm, mất nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ và cung cấp các dịch vụ sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua hệ thống mạng lưới về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ
Trang 17giúp xã hội"2 Chiến lược ASXH giai đoạn 2011 – 2020 xác định “ASXH là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”3.Trong bài "Đảm bảo ngày càng tốt hơn ASXH và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 2011 – 2020” Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng: ASXH là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân4
2.2 Cấu trúc nội dung của hệ thống ASXH
Thực tế, khi phân tích về cấu trúc của hệ thống ASXH vẫn còn nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau Nhưng theo quan điểm của quốc tế thì một hệ thống ASXH bao giờ cũng phải có tối thiểu 3 hợp phần trong cấu trúc nội dung:
Thứ nhất, các chính sách, chương trình mang tính chất phòng ngừa rủi ro: Đây được coi là tầng trên cùng của hệ thống ASXH Vai trò của tầng này là hướng tới can thiệp và bao phủ toàn bộ dân cư; giúp cho mọi tầng lớp dân cư có được việc làm, thu nhập, có được năng lực vật chất cần thiết để đối phó tốt nhất với rủi ro Trụ cột cơ bản nhất của hợp phần này là các chính sách, chương trình về thị trường lao động tích cực như đào tạo nghề; hỗ trợ người tìm việc, tự tạo việc làm hoặc đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động
Thứ hai, các chính sách, chương trình mang tính chất giảm thiểu rủi ro: Đây được coi là tầng thứ hai của hệ thống ASXH, tầng này có vị trí đặc biệt quan trọng với các chiến lược giảm thiểu thiệt hại do rủi ro Nội dung quan trọng nhất trong tầng này
là các hình thức bảo hiểm, dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.v.v Chính sách thuộc tầng này rất nhạy cảm, nếu phù hợp sẽ thúc đẩy sự tham gia tích cực của người dân, tiết kiệm nguồn lực Nhà nước, tăng độ bao phủ hệ thống Ngược lại, nếu chính sách không phù hợp người dân
sẽ không tham gia hoặc chính sách bị lạm dụng
Trang 18Thứ ba, các chính sách, chương trình mang tính chất khắc phục rủi ro: Đây được coi là tầng cuối cùng của hệ thống ASXH nhằm bảo vệ an toàn cho các thành viên xã hội khi họ gặp phải rủi ro mà bản thân họ không tự khắc phục được như: thất nghiệp, người thiếu việc làm, người có thu nhập thấp, người già, người tàn tật, trẻ em
mồ côi, người nghèo Các chương trình trong hợp phần này thường là cứu trợ xã hội và trợ giúp xã hội (gồm cả trợ giúp xã hội đặc thù)
Ở Việt Nam, cấu trúc nội dung của hệ thống ASXH được cụ thể hóa thành năm tầng Tầng thứ nhất, bảo đảm mức sống tối thiểu của mọi người dân trong xã hội Đây
là tầng thấp nhất hay là lưới an toàn xã hội cho mọi người; bất cứ ai nằm dưới tiêu chuẩn này đều được Nhà nước và cộng đồng trợ giúp để vượt lên trên Tầng thứ hai, chính sách thị trường lao động Tầng này có tính chất phòng ngừa, chủ yếu là hỗ trợ người lao động bị mất việc làm hoặc thất nghiệp thông qua các chính sách thị trường lao động chủ động hoặc thụ động để ổn định cuộc sống ở mức tối thiểu và giúp họ sớm trở lại thị trường lao động (có việc làm) Tầng thứ ba, bảo hiểm xã hội (bắt buộc và tự nguyện), bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các hình thức bảo hiểm khác Đây là một trong những tầng trụ cột quan trọng nhất của hệ thống ASXH nhằm khắc phục những rủi ro cho mọi người dân, trước hết là người lao động, trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, mất khả năng lao động khi về già và chết Tầng thứ tư, chính sách ưu đãi xã hội Đây là tầng đặc thù chỉ có ở nước ta nhằm thực hiện mục tiêu cao cả là đền ơn, đáp nghĩa đối với sự hy sinh, công lao đặc biệt và cống hiến to lớn của những người có công với cách mạng, với đất nước; là trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội chăm lo, đảm bảo cho người có công có cuộc sống ổn định và ngày càng được cải thiện Tầng thứ năm, trợ giúp xã hội (cứu trợ đột xuất và trợ cấp xã hội thường xuyên) Đây là tầng đảm bảo ít nhất ở mức sống tối thiểu cho các đối tượng thuộc nhóm xã hội yếu thế cần trợ giúp xã hội có cuộc sống ổn định và có điều kiện hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng
III SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỢP TÁC XÃ Ở VIỆT NAM
3.1 Sự phát triển của tổ hợp tác
Ở Việt Nam tổ hợp tác tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như tổ hợp vốn, hợp sức lao động để thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất mà từng cá nhân, hộ đơn lẻ không thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả Tổ hợp tác hoạt
Trang 19động theo nguyên tắc tự nguyện tham gia của các thành viên có những nhu cầu chung, cùng góp sức, góp vốn để hỗ trợ hoạt động kinh tế của các thành viên
Các tổ hợp tác đã có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sản xuất, kinh doanh của các hộ thành viên, tạo việc làm và tăng thu nhập cho một bộ phận lao động nông nghiệp ở nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Về mặt số lượng, năm 2000, cả nước mới chỉ có xấp xỉ 150.000 tổ hợp tác, đến năm 2005 con số này đã lên tới 300.000 tổ hợp tác, theo số liệu thống kê thì bình quân giai đoạn năm 2001- 2005 số lượng tổ hợp tác tăng khoảng 13,1%/năm Tính đến tháng 6/2010, số tổ hợp tác tăng và phát triển rộng trên phạm vi cả nước, tổng số tổ hợp tác đã lên tới 360.000 tổ, tăng 20% so với năm 2005 (xem đồ thị 1)
Tổng số lao động ở các tổ hợp tác đã tăng lên từ 1,7 triệu người vào năm 2000 lên khoảng 3,6 triệu người vào năm 2005 và xấp xỉ 4 triệu người năm 2010
Đồ thị 1: Số lượng tổ hợp tác và lao động tham gia tổ hợp tác giai đoạn 2000-2010
Nguồn: Tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau
Về mặt cơ cấu (xem đồ thị 2), năm 2005 có 300.000 tổ hợp tác, trong đó 90.000
tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp (chiếm 30%), 70.000 tổ hợp tác ở các ngành nghề phi nông nghiệp (chiếm 23,3%), 140.000 tổ hợp tín dụng và dịch vụ (chiếm 46,7%) Năm 2010, trong số 360.000 tổ hợp tác có 100.000 tổ hợp tác thuộc lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp (chiếm 27,8%), 150.000 tổ tín dụng (chiếm 41,7%), 65.000 tổ tiểu thủ công nghiệp, xây dựng (chiếm 18,1%) và 45.000 tổ thuộc các lĩnh vực khác (chiếm 12,4%)
Trang 20Đồ thị 2: Cơ cấu tổ hợp tác theo lĩnh vực hoạt động
Nguồn: Tổng hợp từ các nguồn khác nhau
Về mặt tổ chức hoạt động, các tổ hợp tác có quy mô tương đối nhỏ từ 10 - 13
hộ, cơ cấu tổ chức đơn giản, nội dung hoạt động thiết thực và phù hợp với trình độ người dân Phần lớn tổ hợp tác hoạt động theo hình thức hỗ trợ lẫn nhau, liên kết linh hoạt và mang tính ngắn hạn Khi tham gia tổ hợp tác, người lao động được giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình Tuy nhiên, tại một số địa phương như ở vùng miền núi và trung du phía Bắc việc tổ chức hoạt động của tổ hợp tác còn lỏng lẻo, chủ yếu theo hình thức vần công, đổi công, hợp tác lao động giản đơn trong từng khâu, từng việc nên năng suất lao động thấp Tổ hợp tác, xét về bản chất là HTX, ít nhất là đảm bảo tinh thần hợp tác giữa các thành viên, các thành viên thực sự hợp tác với nhau một cách tự nguyện, tự chủ Chính
vì vậy, các tổ hợp tác là tiền đề để phát triển các HTX mới Trong năm 2010, có 1.219
tổ hợp tác lựa chọn mô hình HTX để đăng ký hoạt động
Sự phát triển nhanh chóng của các tổ hợp tác trong những năm gần đây một mặt phản ánh nhu cầu cao về hợp tác trong tổ chức sản xuất của người lao động, mặt khác phản ánh hợp tác giữa người lao động nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh là nguồn gốc và động lực phát triển của tổ hợp tác nói chung và kinh tế hợp tác nói riêng
3.2 Sự phát triển của HTX
Quá trình phát triển của HTX ở Việt Nam có thể được chia thành các giai đoạn chủ yếu như sau: (1) Giai đoạn trước 1986; Giai đoạn 1987-1996; Giai đoạn 1997-2003; và Giai đoạn 2004 đến nay Về mặt số lượng, sự phát triển của HTX được thể hiện ở đồ thị 3
Trang 21Đồ thị 3: Số lượng HTX qua các thời kỳ
Nguồn: Tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau
Năm 1955 cả nước có 45 HTX, đến năm 1986 con số này tăng lên 73470 Tuy nhiên đến năm 1996 số lượng HTX chỉ còn 18607 và con số này năm 2003 là 14207 Đến năm 2010, số lượng HTX tăng lên đạt con số 18244 Đồ thị 3 phản ánh sự tăng nhanh của số lượng HTX trong giai đoạn giai đoạn 1955-1986 Trung bình trong giai đoạn này mỗi năm có thêm 2369 HTX Giai đoạn 1987-1996 chứng kiến sự suy giảm nhanh chóng với số lượng HTX giảm bình quân hàng năm là 5486 Giai đoạn 1987-
1996, số lượng HTX tiếp tục giảm mạnh với mức giảm bình quân hàng năm là 629 Giai đoạn 2004-2010, báo hiệu sự phục hồi của số lượng HTX với số lượng tăng thêm bình quân hàng năm là 577
Từ năm 2005 đến nay cấu HTX theo ngành nghề tương đối ít biến động (đồ thị 4) Nông nghiệp là lĩnh vực có số lượng HTX hoạt động nhiều nhất chiếm gần 50% số lượng HTX Tỷ trọng HTX điện nước đang có xu hướng giảm xuống, trong khi đó tỷ trọng các HTX công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ đang có xu hướng tăng lên
Trang 22Đồ thị 4: Cơ cấu HTX theo lĩnh vực hoạt động
Nguồn : Liên minh HTX Việt Nam, 2010
Thực trạng phát triển HTX ở nước ta từ năm 1955 đến nay (hưng thịnh, suy thoái, phục hưng) phản ánh tính bất ổn trong sự phát triển của HTX Tuy nhiên, sự phục hưng của HTX trong gần 10 năm trở lại đây, sự hiện diện của các HTX trong nhiều lĩnh vực khác nhau phản ánh phát triển HTX là một hình thức tổ chức kinh tế tất yếu trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
3.3 Tình hình phát triển HTX giai đoạn 1955-1986
Giai đoạn 1955-1986, HTX được xác định là một trong hai hình thức tổ chức kinh
tế chính thức ở Việt Nam Giai đoạn này được coi là giai đoạn bùng nổ của HTX với
số lượng HTX tăng từ 45 HTX năm 1955 lên 73.470 HTX năm 1986 HTX trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến thay dần hình thức kinh tế cá thể và tổ đội sản xuất Nhiều HTX đã phát triển thành HTX bậc cao có quy mô toàn thôn, toàn xã, thậm chí liên xã, nhất là trong nông nghiệp
Sự phát triển nhanh chóng về mặt số lượng của HTX trong giai đoạn 1955-1986 được giải thích bởi sự đề cao tuyệt đối của Nhà nước đối với kinh tế tập thể, trong khi
đó vai trò của kinh tế hộ, kinh tế tư nhân lại bị phủ định Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 (khóa II) tháng 8/1955 đã đề ra chủ trương xây dựng thí điểm một số HTX nông nghiệp Trong 3 năm thực hiện thí điểm, nước ta xây dựng được 45 HTX và trên 100.000 tổ đổi công Tháng 4/1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 16 (khóa II) đã quyết định chính thức đường lối, phương châm, chính sách hợp tác hóa nông nghiệp và Trung ương đã triệu tập nhiều hội nghị nhằm thúc đẩy phong trào hợp tác hóa Cuối năm 1960, đại bộ phận nông dân ở Miền Bắc đã tham gia HTX bậc thấp Năm 1961, Nhà nước công bố điều lệ HTX công nghiệp Việt Nam làm căn cứ
Trang 23thống nhất để củng cố tổ chức và cải tiến quản lý HTX Cho đến Đại hội Đảng VI năm
1986, cùng với việc thực hiện cải tạo nông nghiệp, công thương nghiệp tư bản tư doanh, HTX ở nước ta đã được hình thành ở hầu hết các lĩnh vực, các ngành kinh tế và
ở tất cả địa phương Năm 1986, trong tổng số 73.470 HTX có 17022 HTX nông
nghiệp, 474 HTX nghề cá, 32.034 HTX công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, 3.900 HTX xây dựng, 3.300 HTX giao thông vận tải, 9.600 HTX mua bán, 7.160 HTX tín dụng
Sự phát triển nhanh chóng của HTX đã có nhiều đóng góp cho công cuộc giải phóng dân tộc và sự phát triển đất nước Khu vực HTX đã huy động được các nguồn lực của Nhà nước và nhân dân phục vụ công cuộc kháng chiến chống Mỹ; cải thiện một bước đời sống, bộ mặt của nông thôn, kết cấu hạ tầng khu vực Tuy vậy, sự phát triển của HTX trong giai đoạn 1955-1986 đã bộc lộ một số hạn chế, đặc biệt sau năm
1972, tình hình kinh tế của các HTX nhìn chung còn rất nhiều khó khăn về con người
và vật chất
Ngoài ra, các nguyên tắc cơ bản của HTX như tự nguyện, tự chủ, dân chủ, công
bằng, minh bạch cũng không được thực hiện đầy đủ Thứ nhất, nguyên tắc tự nguyện
gia nhập HTX không được coi trọng Trong gian đoạn này, các hình thức tổ chức kinh
tế tự nguyện (tổ hợp tác) đã được thay bằng hình thức tổ chức kinh tế mang tính áp đặt hơn (HTX) Đầu những năm 60 thế kỷ XX, ở miền Bắc tồn tại nhiều tổ đổi công và các hình thức hợp tác khác của nông dân, kinh tế cá thể, tiểu chủ dưới hình thức đơn giản, mà thực chất là các HTX ở trình độ thấp Tuy nhiên, các hình thức tổ chức kinh
tế này đã nhanh chóng được thay thế bằng các HTX được hình thành theo mệnh lệnh
hành chính Thứ hai, tính tự chủ của HTX không được đảm bảo Dưới tác động của
theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, Nhà nước kiểm soát toàn bộ các yếu tố sản xuất và giữ quyền quyết định việc sử dụng các yếu tố sản xuất cũng như phân phối về thu nhập Ngoài ra, các HTX hoạt động theo điều lệ mẫu thống nhất do Chính phủ quy định (Quy tắc tổ chức HTX mua bán và HTX tiêu thụ được ban hành kèm theo Nghị định số 649/TTg ngày 30/12/1955, Điều lệ đăng ký kinh doanh công thương nghiệp được ban hành kèm theo Nghị định số 76/CP ngày 8/4/1974, Điều lệ đăng ký kinh doanh công thương nghiệp đã được ban hành kèm theo Nghị định số 119/CP ngày 9/4/1980) Những can thiệp này đã ảnh hưởng không nhỏ đến nguyên tắc
tự chủ của HTX Thứ ba, hoạt động của HTX thiếu sự công bằng và minh bạch cần
thiết Quan hệ lợi ích giữa Nhà nước – HTX – xã viên không được phân định rạch ròi, đặc biệt lợi ích của xã viên và người lao động trong HTX ít được chú trọng
Trang 24một hệ thống HTX lớn về mặt số lượng và quy mô, nhưng không phản ánh được bản chất của HTX
3.4 Tình hình phát triển HTX giai đoạn 1987-1996
Giai đoạn 1987-1996, kinh tế tập thể cùng kinh tế Nhà nước được coi là hình thức kinh tế chủ đạo bên cạnh kinh tế tư nhân, tuy nhiên đây cũng là thời kỳ khó khăn nhất trong quá trình phát triển HTX ở nước ta; số lượng HTX bị giảm mạnh, từ 73.490 HTX năm 1987 xuống còn 18.607 HTX năm 1996
Sự suy giảm về mặt số lượng của HTX trong giai đoạn 1987-1996 một mặt phản ánh những thay đổi về chính sách mặt khác phản ánh sự yếu kém của bộ phận lớn các HTX, cũng như sự phát triển vượt quá yêu cầu về mặt số lượng HTX trong giai đoạn trước 1986 Từ năm 1986, Việt Nam chuyển dần từng bước từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, coi trọng khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế hộ, kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân, coi kinh tế hộ là chủ thể kinh tế tự chủ Sự chuyển đổi cơ chế kinh tế đã làm giảm dần vai trò và lợi thế của HTX cũng như làm bộc lộ sự yếu kém của HTX
Sự yếu kém của hệ thống HTX thể hiện ở các điểm chính sau Thứ nhất, hệ thống
HTX không được thành lập, tổ chức và hoạt theo đúng các nguyên tắc cơ bản của
HTX vì vậy không phát huy được động lực gia nhập HTX của xã viên Thứ hai, mô
hình tổ chức HTX mặc dù đã được điều chỉnh nhưng không phù hợp với cơ chế thị trường đã làm cho hệ thống HTX cũ bị tê liệt, tan rã hoặc tự phát chuyển đổi thích
nghi với môi trường mới Thứ ba, hệ thống HTX tỏ ra kém thích nghi với quá trình
chuyển đổi cơ chế theo hướng tăng cường sự tự chủ của HTX và giảm dần các ưu đãi
về mặt nguồn vốn và tính dụng đối với HTX
Bài học về sự suy thoái của các HTX trong giai đoạn 1987-2003 phản ánh sự lỗi thời của hệ thống HTX hoạt động không phù hợp với nguyên tắc cơ bản của HTX (nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, dân chủ) được thành lập trong giai đoạn trước 1986 trong điều kiện kinh tế thị trường Ngoài ra, sự suy thoái của hệ thống HTX trong thời
kỳ này cũng phản ánh rằng, để tồn tại và phát triển bền vững các HTX cần được thành lập trên cơ sở các nhu cầu chung của xã viên hơn là sự áp đặt của các cơ quan chính quyền
3.5 Tình hình phát triển HTX giai đoạn 1997-2003
Giai đoạn 1997-2003, kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX được coi là nền tảng của nền kinh tế quốc dân trong nền kinh tế nhiều thành phần Giai đoạn này chứng kiến sự chuyển đổi và thu hẹp của HTX Số lượng HTX đã giảm từ 18.607 năm 1986 xuống còn 14.207 năm 2003
Trang 25Sự giảm sút về số lượng HTX trong giai đoạn 1997-2003 phản ánh quá trình chọn lọc của thị trường đối với hệ thống HTX và quá trình thực thi Luật HTX (2003) theo hướng thực hiện đầy đủ hơn các nguyên tắc cơ bản của HTX Theo Liên minh HTX, trong số 14.207 năm 2003 có khoảng 5.800 HTX thành lập mới (riêng lĩnh vực nông nghiệp khoảng 2.139 HTX, chiếm tỷ lệ 37%); khoảng 8.400 HTX được chuyển đổi từ
mô hình cũ sang mô hình mới Cũng trong giai đoạn này, có đến hơn 10.000 HTX bị giải thể Trong 2 năm 2001 – 2002 đã có 2.271 HTX được giải thể
Tình hình phát triển HTX trong giai đoạn 1997-2004 có một số điểm đáng chú ý
sau Thứ nhất, việc giải thể một số lượng lớn HTX khẳng định nếu HTX không hoạt
động đúng các nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, dân chủ, công bằng và minh bạch sẽ gặp
khó khăn trong điều kiện kinh tế thị trường Thứ hai, sự ra đời của các HTX mới phản
ánh đây là một hình thức tổ chức kinh tế có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện
kinh tế thị trường Thứ ba, các HTX chuyển đổi và thành lập mới theo Luật chủ yếu
tập trung ở các vùng nông thôn có điều kiện kinh tế khó khăn như vùng trung du miền núi phía Bắc có 4.034 HTX ( chiếm 28%); vùng đồng bằng sông Hồng 5.063 HTX (chiếm 36%) Ở các vùng phát triển sản xuất hàng hoá cao như Đông Nam Bộ số lượng HTX chỉ có 642 HTX (chiếm 4,5%)
Đặc điểm phát triển của HTX trong giai đoạn 1997-2003 khẳng định các HTX không được thành lập trên cơ sở tinh thần tự nguyện của xã viên, không có khả năng
tự chủ khó có cơ hội tồn tại trong điều kiện kinh tế thị trường Ngoài ra sự ra đời của một loạt HTX mới và sự phát triển rộng rãi của HTX ở khu vực nông thôn và khu vực khó khăn trong thời kỳ này phản ánh HTX là hình thức tổ chức kinh tế cần được ưu tiên phát triển đặc biệt là ở khu vực nông thôn và khu vực mà người dân gặp nhiều khó khăn hay bất lợi
3.6 Tình hình phát triển HTX giai đoạn 2004 đến nay
Giai đoạn 2004 đến nay đánh dấu sự phục hồi của kinh tế HTX cả về chất và lượng Số lượng HTX đã tăng từ 14.207 năm 2003 lên 18.244 năm 2010 Sự tăng lên
về mặt số lượng HTX ở giai đoạn này là kết quả của việc chuyển đổi mô hình ở 8.500 HTX thành lập trước năm 1997, thành lập mới 9.744 HTX và giải thể 5707 HTX Sự phục hồi này phần nào phản ánh những tác động tích cực của Luật HTX sửa đổi năm
2003 (chính thức có hiệu lực từ 1/7/2004) đến khu vực kinh tế hợp tác và HTX
Các HTX đã tham gia ngày càng sâu rộng vào nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau Trong tổng số 18.244 HTX có 8.918 HTX nông nghiệp, 389 HTX thủy sản, 2.497
Trang 26Bảng 1: Số liệu HTX phân theo lĩnh vực giai đoạn 2005 – 2010
Nguồn : Liên minh HTX Việt Nam
Trong tổng số 18.244 HTX khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên hiện có 4.974 HTX; khu vực Nam Bộ có 1,726 HTX; khu vực Trung Bộ có 4.267 HTX; khu vực đồng bằng sông Hồng hiện có 6.023 HTX
Các hình thức liên kết hợp giữa các HTX cũng phát triển mạnh trong giai đoạn từ
2004 đến nay Hiện cả nước có 53 liên hiệp HTX , trong đó có 18 liên hiệp HTX nông nghiệp, 2 liên hiệp HTX thủy sản, 8 liên hiệp HTX GTVT, 4 liên hiệp HTX công nghiệp, 5 liên hiệp HTX xây dựng, 13 liên hiệp HTX thương mại, dịch vụ Các liên hiệp thu hút sự tham gia của 1.492 HTX, các đơn vị thành viên
Sự hồi phục và phát triển của HTX trong giai đoạn 2004 đến nay phản ánh xu thế phát triển tất yếu của kinh tế hợp tác trong giai đoạn mới Ngoài ra sự phát triển của hệ thống các liên minh HTX ngành nghề trong thời kỳ này phần nào phản ánh yêu cầu hợp tác ở trình độ cao của kinh tế hợp tác
IV TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CHẾ, LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỢP TÁC XÃ
Lịch sử phát triển của HTX ở Việt Nam giai đoạn 1955-2010 chịu nhiều ảnh hưởng của cơ chế kinh tế, luật pháp và các chính sách phát triển kinh tế hợp tác và HTX
4.1 Tác động của cơ chế kinh tế đến sự phát triển của HTX
Tác động của cơ chế kinh tế đến sự phát triển của HTX được phản ánh rõ ràng
Trang 27nhất vào thời điểm năm 1986 Trước năm 1986, với cơ chế kế hoạch hóa tập trung, HTX cùng với kinh tế Nhà nước là hai hình thức tổ chức kinh tế chính thức được tồn tại Đảng và Nhà nước đã quan tâm và phát triển kinh tế hợp tác và HTX từ khi đất nước được giành độc lập (1945) Tháng 4/1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 16 (khóa II) đã quyết định chính thức đường lối, phương châm, chính sách hợp tác hóa nông nghiệp và Trung ương đã triệu tập nhiều hội nghị nhằm thúc đẩy phong trào hợp tác hóa Cuối năm 1960, đại bộ phận nông dân ở Miền Bắc đã tham gia HTX bậc thấp Năm 1961, Nhà nước công bố điều lệ HTX công nghiệp Việt Nam làm căn cứ thống nhất để củng cố tổ chức và cải tiến quản lý HTX Ngày 13/1/1981, Ban bí thư trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị 100-CT/TW về “mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm
và người lao động trong HTX nông nghiệp” Đây được coi là bước đột phá mang tính bước ngoặt đầu tiên về đổi mới mô hình HTX, phân chia lại vai trò và lợi ích giữa HTX và xã viên Sự phân chia lại vai trò và lợi ích giữa HTX, xã viên cũng như giữa Nhà nước và HTX đã bước đầu được chú trọng Đó là nông dân được nhận ruộng khoán, chỉ cần nộp sản lượng khoán, phần còn lại được quyền tự do tiêu thụ và bán cho các cơ quan Nhà nước theo giá thỏa thuận, và sau này được quyền tiêu thụ trên thị trường tự do
Sau khi nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường năm 1986, sự phát triển của HTX gặp phải sự chọn lọc của thị trường và sự cạnh tranh từ các hình thức tổ chức kinh tế tư nhân Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đã chính thức mở ra tiến trình “Đổi mới” với quan điểm cơ bản khẳng định sự tồn tại lâu dài của nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Xuyên suốt cả thời kỳ, Nghị quyết của Đảng qua các đại hội lần thứ VIII (1996), IX (2001), X (2006) luôn khẳng định vai trò quan trọng khu vực HTX: “Kinh tế Nhà nước được đổi mới cùng với kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, tiếp tục thực hiện một cách nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh” Trong đó, Hiến pháp năm
1992, trên cơ sở những chủ trương, đường lối lớn của Đảng, đã khẳng định: kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi Kết quả của sự
Trang 28Tóm lại, trong giai đoạn 1955-1986 HTX được coi là một trong hai hình thức tổ chức kinh tế chính thức vì vậy đã phát triển rộng khắp trên cả nước Tuy nhiên, trong giai đoạn này, các nguyên tắc cơ bản của HTX như tự nguyện, tự chủ, dân chủ, công bằng minh bạch không được thực hiện đầy đủ, dẫn đến sự phát triển thiếu nội lực Sau năm 1986, sự vận hành của nền kinh tế thị trường đã làm giảm vai trò của HTX trong nền kinh tế Để tồn tại và phát triển trong điều kiện này, các nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, dân chủ, công bằng minh bạch dần được củng cố ở các HTX Điều này đã tạo ra những thay đổi về bản chất của HTX từ năm 1986 đến nay
4.2 Tác động của luật pháp đến sự phát triển của HTX
Về luật pháp, trong giai đoạn trước 1996, các HTX hoạt động theo các điều lệ mẫu thống nhất cho Quốc hội và Chính phủ quy định Nghị quyết của Quốc hội ngày 27/5/1959 về vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp là văn bản pháp lý cao nhất đối với khu vực HTX nông nghiệp Nghị định 649/TTg ngày 30/12/1955 quy định việc tổ chức HTX mua bán và HTX tiêu thụ Điều lệ cho HTX trong lĩnh vực công thương nghiệp được ban hành theo Nghị định 76/TTg ngày 8/4/1974 và sau đó là Nghị định số 119/CP ngày 9/4/1980 Chính vì vậy, trong giai đoạn này, HTX được thành lập và hoạt động theo các quyết định quản lý hành chính Nhà nước và chưa có Luật về HTX Với việc thực hiện cải tạo nông nghiệp, công thương nghiệp tư bản tư doanh, HTX đã được hình thành ở hầu hết các lĩnh vực, các ngành kinh tế và ở các địa phương HTX được phát triển nhanh về số lượng và quy mô chủ yếu bằng các biện pháp hành chính Nhà nước Phương thức tổ chức phổ biến của HTX là xã viên góp chung tài sản và vốn để tiến hành sản xuất chung Đồng thời, HTX chịu sự điều hành của Nhà nước theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, đề cao gần như tuyệt đối vai trò sở hữu tập thể và sản xuất tập thể, xem nhẹ sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất và vai trò kinh tế hộ, kinh tế cá thể HTX vừa là tổ chức kinh tế vừa là tổ chức xã hội Quan hệ lợi ích giữa Nhà nước – HTX- xã viên không được phân định rạch ròi, đặc biệt lợi ích của xã viên không được đảm bảo
Năm 1996, Luật HTX ra đời và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1997 đã đặt cơ sở pháp
lý đầu tiên cho quá trình đổi mới mạnh mẽ tư duy về bản chất của loại hình tổ chức kinh tế này cũng như tạo hành lang pháp lý cho các HTX hoạt động trong điều kiện kinh tế thị trường Đây là lần đầu tiên Việt Nam có một hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh về HTX, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của HTX trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 29Điểm cơ bản nhất trong Luật HTX năm 1996 là đổi mới tư duy về bản chất HTX được thông qua định nghĩa: “HTX là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động
có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước…” Luật HTX năm 1996 đã tạo ra động lực và sức sống mới cho khu vực kinh tế hợp tác và HTX Các HTX cũ đã chuyển đổi và bắt đầu hồi phục, phát triển với các nguyên tắc được đông đảo xã viên đồng tình, ủng hộ Bên cạnh các HTX cũ chuyển đổi, hàng nghìn HTX mới được thành lập ở nhiều lĩnh vực khác nhau Những HTX này tuy còn nhỏ về quy mô vốn, số lượng xã viên nhưng đã tạo ra những mẫu hình HTX mới, thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm, có tiềm năng để phát triển trong điều kiện mới Đồng thời, Luật HTX ra đời đã thúc đẩy đổi mới tư duy không coi các Bộ ngành, Chính quyền địa phương các cấp là
“cơ các quan chủ quản HTX”
Đến năm 2003 Quốc hội tiếp tục sửa đổi Luật HTX và ban hành Luật HTX mới vào năm 2003 và bắt đầu áp dụng từ ngày 01/7/2004 Luật HTX năm 2003 cùng các văn bản hướng dẫn đã thể chế hóa một bước quan điểm mới của Nghị quyết TW 5 (khóa IX) về phát triển kinh tế tập thể Theo tư tưởng của Luật mới, HTX được thành lập dựa trên sở hữu của các xã viên và sở hữu tập thể, liên kết giữa những người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm; chức năng quản lý của ban quản trị và chức năng điều hành của chủ nhiệm HTX được phân định rõ rang hơn; thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh tiếp tục được đơn giản hoá và minh bạch hoá; các pháp nhân, cán bộ công chức có thể tham gia HTX
Sau khi Luật HTX được ban hành, Chính phủ ban hành nhiều Nghị định và các Bộ ban hành nhiều thông tư, văn bản khác hướng dẫn thực hiện Luật đã tạo hành lang pháp lý rõ ràng, khá đồng bộ, cụ thể, thuận lợi cho HTX phát triển Đây là cơ sở pháp
lý tương đối hoàn chỉnh thúc đẩy HTX phát triển đúng vị trí và bản chất của nó
Tóm lại, tác động của luật pháp đến sự phát triển của HTX được thể hiện rõ nhất vào năm 1996 và 2003 Sự ra đời của Luật HTX vào năm 1996 đã làm cho HTX trở nên tự chủ hơn, ít chịu sự chi phối hơn từ các cơ quan hành chính Nhà nước Điều này
đã góp phần cải thiện nguyên tắc tự chủ của HTX Luật HTX năm 2003 phần nào đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của HTX thông qua việc cho phép các pháp nhân tham
Trang 304.3 Tác động của chính sách phát triển HTX
Nhằm thúc đẩy sự phát triển của HTX, trong những năm gần đây Chính phủ đã ban hành và thực thi các chính sách khác nhau, tuy nhiên tác động của các chính sách này đến sự phat triển của HTX còn ở mức hạn chế
Về chính sách đất đai: mặc dù đã có các quy định về ưu đãi đất đai đối với HTX (Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai, Nghị định 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về tiền thuê đất, thuê mặt nước, Nghị định 88/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về một số chính sách
hỗ trợ, khuyến khích phát triển HTX,…), song chính sách hỗ trợ đất đai cho các HTX khó khả thi do quỹ đất hạn chế, chưa có văn bản hướng dẫn trình tự, thủ tục cụ thể để thực hiện Nhiều HTX chưa được hưởng những ưu đãi từ chính sách đất đai, chưa có trụ
sở làm việc, phần lớn sử dụng nhà của chủ nhiệm HTX để làm trụ sở, hoặc phải thuê
để làm nơi giao dịch và hoạt động Chỉ một số ít địa phương đã tạo điều kiện về mặt bằng giúp HTX xây dựng văn phòng, nhà xưởng và các cơ sở hạ tầng khác, thực hiện chính sách miễn giảm tiền thuê đất có thời hạn
Về chính sách tín dụng: Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước các tỉnh đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng tạo điều kiện cho HTX tiếp cận nguồn vốn tín dụng của Nhà nước, nguồn vốn hỗ trợ phát triển do liên minh HTX tỉnh phối hợp với Ngân hàng phát triển chủ trì, nguồn vốn Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, nguồn vốn hỗ trợ phát triển khoa học của tỉnh Một số địa phương đã hoặc đang khẩn trương tiến hành thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển HTX, Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó
có HTX nông nghiệp; mở rộng và thành lập mới các quỹ tín dụng nhân dân tạo thành
một kênh tín dụng cho HTX,… ; đã ưu tiên dành nguồn kinh phí Quỹ quốc gia giải
quyết việc làm hỗ trợ HTX Tuy nhiên, nhìn chung, các HTX rất khó vay vốn từ các tổ chức tín dụng do không có tài sản thế chấp; tình hình vay vốn của các tổ chức kinh tế tập thể chưa được cải thiện; các ngân hàng chính sách và ngân hàng nông nghiệp mới chỉ cho một số ít HTX vay vốn với số lượng hạn chế
Về chính sách thuế: Theo quy định tại Nghị định 88/2005/NĐ-CP, Nghị định 164/2003/NĐ-CP và Thông tư 128/2003/TT-BTC, Thông tư 88/2004/TT-BTC quy định cụ thể chính sách miễn giảm thuế thu nhập, thuế môn bài; riêng HTX nông nghiệp được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập từ hoạt động dịch
vụ trực tiếp phục vụ đời sống xã viên Cục thuế một số địa phương đã thực hiện miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các HTX có đủ điều kiện Tuy nhiên, nhìn chung, các tỉnh chưa quan tâm đầy đủ đến việc áp dụng việc miễn giảm thuế cho các đối tượng HTX hoạt động ở vùng sâu, vùng khó khăn, trong khi những đối tượng này
Trang 31lại hạn chế trong việc nắm bắt thông tin, tiếp cận những chính sách hỗ trợ của Nhà nước
Về Chính sách hỗ trợ ứng dụng đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, khuyến nông, khuyến ngư và khuyến công: hàng năm, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các ngành chức năng trực thuộc tỉnh (Sở Khoa học và Công nghệ,
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,…) chuyển giao cho các HTX nông nghiệp và các tổ chức kinh tế tập thể về công nghệ sinh học, giống mới, công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch, hỗ trợ chuyển đổi cây trồng, vật nuôi; dịch vụ khuyến công, khuyến thương, khuyến ngư,… tác động tích cực đến việc đầu tư phát triển sản xuất- kinh doanh của HTX
Về hỗ trợ tiếp thị, mở rộng thị trường: một số Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư tỉnh đã tạo điều kiện để HTX quảng bá thương hiệu, tìm đối tác thương mại, nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ, quản lý, và tiêu thụ sản phẩm; tổ chức cho các HTX thăm quan học tập tìm kiếm thị trường đầu vào, đầu ra cho các sản phẩm, tạo điều kiện cho các HTX tham gia các hội chợ thương mại trong tỉnh, khu vực và toàn quốc Tuy nhiên, các HTX hầu như chưa chủ động để được hưởng ưu đãi về hỗ trợ xúc tiến thương mại, đặc biệt là đăng ký thương hiệu và đăng ký sản phẩm thương mại, quảng
bá tên HTX và các sản phẩm, dịch vụ lên mạng internet, tránh tranh chấp tên HTX và tên sản phẩm của HTX
Về chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống của cộng đồng
xã viên và tham gia các chương trình kinh tế - xã hội: một số tỉnh tập trung bố trí vốn đầu tư từ ngân sách đầu tư hạ tầng phục vụ nông nghiệp, nông thôn, theo đó HTX cũng được hưởng lợi khá lớn như: giao thông, trường học, trạm y tế, nước sạch nông thôn, vệ sinh môi trường, thuỷ lợi kênh mương nội đồng Tuy nhiên, các HTX, nhất là HTX xây dựng chưa được hưởng ưu đãi của chính sách này; không được thông báo về ngân sách
dự án chương trình quốc gia thực hiện trên địa bàn; không được ưu tiên mời thầu những dự án mà đối tượng hưởng lợi là cộng đồng (trường học, bệnh xá, trạm, trại…) Các cơ quan có thẩm quyền chưa chú ý giao cho HTX quản lý hoặc đấu thầu quyền khai thác, duy tu, sửa chữa các công trình
Tóm lại, trong thời gian qua Chính phủ đã đưa ra và triển khai nhiều chính sách khác nhau nhằm thúc đẩy sự phát triển của HTX Các chính sách này phần nào đã tác động đến sự phát triển của HTX tuy nhiên tác động của các chính sách này còn tương đối hạn chế Sự hạn chế của những tác động một mặt phản ánh việc thực thi các chính
Trang 32Ân Độ
Ở Ấn Độ, Chính phủ có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của HTX Để thực hiện vai trò của mình, Chính phủ Ấn Độ đã thành lập công ty quốc gia phát triển HTX nhằm triển khai các dự án khác nhau trong lĩnh vực chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản, hàng tiêu dùng, lâm sản và các mặt hàng khác, đồng thời thực hiện các dự án về phát triển những vùng nông thôn còn lạc hậu Ngoài ra, Chính phủ
đã triển khai các biện pháp khác nhau nhằm tạo điều kiện cho HTX phát triển như xúc tiến xuất khẩu; sửa đổi Luật HTX theo hướng tăng cường quyền tự chủ cho HTX; thiết lập mạng lưới thông tin hai chiều giữa những người nghèo nông thôn với các tổ chức HTX
Nhật Bản:
Để giúp các tổ chức HTX hoạt động, Chính phủ Nhật Bản đã tăng cường xây dựng
hệ thống phục vụ xã hội hóa nông nghiệp, coi HTX nông nghiệp là một trong những hình thức phục vụ xã hội hóa tốt nhất và yêu cầu các cấp, các ngành phải giúp đỡ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho tổ chức này Đồng thời, Chính phủ còn yêu cầu các ngành tài chính, thương nghiệp giúp đỡ về vốn, kỹ thuật, tư liệu sản xuất v.v…, tuy nhiên, không làm ảnh hưởng đến tính tự chủ và độc lập của các HTX này
Thái lan
Để tạo điều kiện cho khu vực HTX phát triển và khuyến khích xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan đã ban hành nhiều chính sách thiết thực như chính sách giá, tín dụng nhằm khuyến khích nông dân phát triển sản xuất Sự hỗ trợ, giúp đỡ của Chính phủ Thái Lan thực sự có hiệu quả trong việc hoạch định các chính sách đối với phát triển khu vực HTX Thông qua sự trợ giúp của Chính phủ, Ngân hàng Nông nghiệp và HTX Nông nghiệp, xã viên được vay vốn với lãi suất thấp với thời hạn ưu đãi thích hợp cho việc kinh doanh hoặc sản xuất của họ
Malaysia
Năm 1922, Pháp lệnh đầu tiên về HTX của Nhà nước Malaixia ra đời Sau đó, năm
1993, Luật HTX ra đời, là khung khổ pháp lý để các HTX hoạt động, đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển và đào tạo cán bộ quản lý HTX, củng cố quyền của xã viên cũng như công tác đào tạo xã viên Luật cũng quy định việc kiểm toán nội bộ và xây dựng báo cáo toàn diện của Ban chủ nhiệm HTX trong Đại hội xã viên thường kỳ hàng năm Đặc biệt, Chính phủ Malaixia đã thành lập Cục Phát triển HTX với một số hoạt động chính như: Quản lý và giám sát các hoạt động của HTX; Giúp đỡ tài chính và cơ
sở hạ tầng để HTX có thể tồn tại hoạt động; Xây dựng kế hoạch phát triển HTX, kế
Trang 33Nguồn: Vụ HTX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
V THỰC TRẠNG QUY MÔ VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HTX 5.1 Quy mô giá trị gia tăng
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, cùng với mức tăng trưởng GDP chung của cả nền kinh tế, GDP của thành phần kinh tế tập thể với nòng cốt là HTX liên tục gia tăng hàng năm (đồ thị 5) Theo giá so sánh 1994, GDP năm 1995 của thành phần kinh tế tập thể là 18.978 tỷ đồng, năm 2003 tăng lên là 26.158 tỷ đồng, tăng 1,4 lần so với năm
1995 và đến năm 2010 đạt khoảng 33 nghìn tỷ đồng, tăng 1,26 lần so với năm 2003
Giá trị Tốc độ tăng trưởng
Đồ thị 5: Giá trị gia tăng và tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng khu vực HTX
Nguồn: Tổng cục Thống kê
So với các thành phần kinh tế khác thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, kinh
tế tập thể có mức tăng trưởng tương đối ổn định, không chịu tác động mạnh trước ảnh hưởng khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy giảm kinh tế trong nước giai đoạn 2008 – 2009 Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tập thể tương đối thấp và liên tục giảm từ năm 2005 đến năm 2010 Cụ thể, tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của khu vực này năm 2010 đạt khoảng 3,2%, năm 2009 đạt 3,3%, năm 2008 đạt khoảng 3,11%, năm 2007 đạt khoảng 3,32%, năm 2006 đạt 3,51% và năm 2005 đạt 3,98%
Trang 34thể là 32,9%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 11,54%) Từ sau năm 2005,
tỷ trọng đóng góp trong GDP của khu vực kinh tế tập thể giảm rõ rệt, chỉ chiếm bình quân khoảng 5,76% trong GDP, thay vào đó là sự phát triển của kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Năm 2010, kinh tế HTX chỉ đóng góp khoảng 5,22% GDP
Quy mô nhỏ cùng xu hướng giảm dần trong đóng góp của kinh tế HTX vào GDP phản ánh kinh tế HTX là khu vực kinh tế đang bị tụt hậu so với các khu vực kinh tế khác
5.2 Quy mô lao động
Về mặt quy mô lao động (đồ thị 6), tổng số người lao động tham gia HTX đã tăng nhanh trong giai đoạn từ 2003 đến 2010 Năm 2003, các HTX chỉ thu hút trên 6,5 triệu lao động Đến năm 2007 con số nay lên đến trên 7,4 triệu và năm 2010 đạt trên 12,5 triệu
Tổng số xã viên hợp tác xã Xã viên / hợp tác xã
Đồ thị 6: Tổng số lượng xã viên và số lượng xã viên bình quân / HTX
Nguồn: Tính toán từ LM HTX, Bộ Kế Hoạch Đầu Tư, Tổng Cục Thống Kê 2010
Quy mô xã viên bình quân trên một HTX cũng có xu hướng tăng nhanh từ khoảng
459 xã viên / HTX năm 2003 lên 685 xã viên / HTX năm 2010 Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) là nơi thu hút nhiều xã viên nhất (trung bình 960 xã viên/QTDND); tiếp đó
là HTX nông nghiệp (953 xã viên/HTX) và ít nhất là HTX thương mại (43 xã viên/HTX)
Quy mô lao động và sự biến động về quy mô lao động trong trong toàn khu vực kinh tế HTX và số lượng lao động / HTX ở mức độ cao và có xu hướng tăng dần phản ánh vai trò quan trọng của HTX trong việc giải quyết công ăn việc làm, đặc biệt là cho lao động ở khu vực nông thôn
Trang 35HTX và việc làm ở Thái Lan và Mỹ
vụ chăm sóc sức khỏe, giải trí, ngành công nghiệp năng lượng
Nguồn: Vụ HTX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
5.3 Quy mô vốn
Tính bình quân, năm 2007 một HTX có tổng số vốn hoạt động là 2.375,09 triệu đồng Tuy nhiên có sự chênh lệch rất lớn về quy mô vốn giữa các HTX trong các lĩnh vực khác nhau Theo đồ thị 7, vốn hoạt động bình quân của các HTX trong lĩnh vực tín dụng là lớn nhất (12.903,02 triệu đồng), sau đó đến HTX vận tải (5.403,67 triệu đồng)
và HTX dịch vụ (4.642,58 triệu đồng) HTX lâm nghiệp có tổng số vốn hoạt động bình quân thấp nhất (754,49 triệu đồng), sau đó đến HTX nông nghiệp (996,26 triệu đồng) và công nghiệp (1.166,80 triệu đồng) Đây là con số quá thấp so với quy mô lao động của các HTX
Trang 36Đồ thị 7: Quy mô vốn bình quân HTX năm 2007
Nguồn: Bộ Kế Hoạch Đầu Tư, 2008
Kết quả dự án “Khảo sát thu thập thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu về HTX trên địa bàn toàn quốc” của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2008 cũng cho kết quả tương tự Các HTX vùng Đông Nam Bộ có tổng số vốn hoạt động bình quân lớn nhất đạt mức 7.400,50 triệu đồng / HTX Các HTX vùng Đồng bằng sông Cửu Long có số vốn bình quân là 3.826,84 triệu đồng và vùng Tây Nguyên 3.551,76 triệu đồng Các HTX thuộc vùng Tây Bắc có tổng số vốn hoạt động bình quân thấp nhất khoảng 956,20 triệu đồng / HTX Con số này của các hợp tác vùng Đông Bắc là 1.145,90 triệu đồng và vùng Bắc Trung Bộ là 1.460,37 triệu đồng Tại thời điểm 31/12/2007, trong tổng số vốn hoạt động của các HTX, vốn chủ sở hữu chiếm 46,28%, vay nợ chiếm 53,72%
Quy mô vốn bình quân và cấu trúc tài chính của HTX phản ánh quy mô vốn nhỏ và
sự khó khăn trong việc huy động vốn của các HTX
5.4 Hiệu quả sản xuất kinh doanh
Mặc dù đã có sự tăng trưởng nhất định trong sản xuất, hiệu quả kinh doanh khu vực HTX vẫn còn thấp Theo số liệu của LMHTX, mức lợi nhuận bình quân hàng năm của các HTX đã tăng từ 75 triệu đồng năm 2006 lên 95 triệu đồng năm 2009, tuy nhiên đây là những con số tương đối nhỏ bé so với quy mô vốn và quy mô xã viên