1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tích hợp kiến thức Ngữ Văn trong dạy học bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (Ngữ văn 10, tập 2)

16 331 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 358,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRỊNH THỊ HẢI QUỲNH TÍCH HỢP KIẾN THỨC NGỮ VĂN TRONG DẠY HỌC BÀI “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT” NGỮ VĂN 10 - TẬP 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRỊNH THỊ HẢI QUỲNH

TÍCH HỢP KIẾN THỨC NGỮ VĂN TRONG DẠY HỌC BÀI “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT”

(NGỮ VĂN 10 - TẬP 2)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRỊNH THỊ HẢI QUỲNH

TÍCH HỢP KIẾN THỨC NGỮ VĂN TRONG DẠY HỌC BÀI “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT”

(NGỮ VĂN 10 - TẬP 2)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 01 11 Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thời Tân

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Vai trò quan trọng của ngôn ngữ và của phân môn Tiếng Việt

Cùng với lao động, ngôn ngữ cũng góp phần hình thành và phát triển

xã hội loài người Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp phổ biến và thuận lợi

nhất, được coi là “sáng tạo kỳ diệu của loài người” Ngôn ngữ còn là công cụ

tổ chức quá trình tư duy, giúp tư duy phát triển Mặt khác, ngôn ngữ đóng vai trò là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành cộng đồng dân tộc, duy trì và phát triển truyền thống văn hóa của dân tộc Với người Việt Nam, tiếng Việt

là ngôn ngữ bản địa, góp phần duy trì sự thống nhất quốc gia, dân tộc

Bên cạnh chức năng giao tiếp, chức năng tư duy, ngôn ngữ còn có chức năng thẩm mĩ, là phương tiện để tạo nên cái đẹp – hình tượng nghệ thuật Đề cao chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ, môn Tiếng Việt trong nhà trường được chú trọng để hướng nhiều vào nội dung dạy ngôn ngữ nghệ thuật, học Tiếng Việt trong các tác phẩm nghệ thuật, học Tiếng Việt để hiểu nghệ thuật văn chương Do đó, việc dạy cho HS biết sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác là mục tiêu vô cùng quan trọng Cũng vì thế, Tiếng Việt đã trở thành phân môn

có vị trí đặc biệt; không chỉ cung cấp những kiến thức, kĩ năng cơ bản để phát triển khả năng giao tiếp, giúp các em hiểu được những giá trị “chân – thiện – mĩ” trong văn học, trong cuộc sống, mà còn trang bị cho các em công cụ thiết yếu để học tốt các môn khoa học khác Đây chính là lý do vì sao Tiếng Việt là môn học (phân môn) được dạy xuyên suốt từ bậc Tiểu học đến THPT

1.2 Tích hợp là một phương pháp dạy học được quan tâm nhiều trong dạy học môn Ngữ văn hiện nay

Thế kỉ XXI là thế kỉ của khoa học kĩ thuật, của sự bùng nổ tri thức, thế

kỉ của những con người năng động, sáng tạo và tự chủ Để hội nhập với xu thế phát triển chung của thế giới, xã hội Việt Nam cần có một sự thay đổi căn bản, toàn diện về rất nhiều lĩnh vực trong đời sống, trong đó chủ yếu là những thay đổi trong giáo dục Bởi phát triển giáo dục chính là chiến lược phát triển

Trang 4

nhiên lên các nội dung trong một loạt tình huống cho trước, để giải quyết những vấn đề do tình huống đó đặt ra Năng lực này là một hoạt động phức hợp đòi hỏi sự tích hợp, phối hợp các kiến thức và kĩ năng, chứ không phải là sự tác động các kĩ năng riêng rẽ lên một nội dung

Khoa sư phạm tích hợp nhấn mạnh dạy học là dạy cách tìm tòi, sáng tạo

và cách vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau Tức là, dạy cho HS biết cách sử dụng kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết những tình huống cụ thể, có ý nghĩa nhằm mục đích hình thành, phát triển năng lực Đồng thời chú ý xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng khác nhau của các môn học hay các phân môn khác nhau để bảo đảm cho HS khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình vào giải quyết các tình huống tích hợp

Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhiều Hội nghị trên thế giới quan tâm đến lý thuyết về tích hợp như: Tháng 9 –1968, Hội đồng liên quốc gia về giảng dạy khoa học, với sự bảo trợ của UNESCO đã tổ chức tại Varna

(Bungari) “Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa học” Hội nghị này đặt

ra hai vấn đề: “Vì sao phải dạy học tích hợp các khoa học?” và “dạy học tích

hợp các khoa học là gì?” Đến năm 1972, Hội nghị phối hợp trong chương

trình giáo dục của UNESCO họp tại Paris đã đưa ra định nghĩa dạy học tích

hợp các khoa học Ngay sau đó, UNESCO lại tổ chức Hội nghị đào tạo GV

vào tháng 4 năm 1973 tại Đại học tổng hợp Maryland bàn thêm về khái niệm dạy học tích hợp các khoa học còn bao gồm cả dạy học tích hợp các khoa học với công nghệ học Nghĩa là phải chỉ ra cách thức chuyển từ nghiên cứu khoa học sang triển khai ứng dụng, làm cho các tri thức kĩ thuật - công nghệ trở thành một bộ phận quan trọng của đời sống xã hội hiện đại

Cũng theo hướng tích hợp các khoa học với công nghệ, gắn học với hành, Xavier Roegiers (Phó Giám đốc văn phòng Công nghệ Giáo dục và Đào

tạo của Liên minh Châu Âu) cho rằng: giáo dục nhà trường phải chuyển từ

đơn thuần dạy kiến thức sang phát triển ở HS các năng lực hành động, xem

Trang 5

năng lực (compétence) là khái niệm “cơ sở” của khoa sư phạm tích hợp (pédagogie de l'intégration) Theo Xavier Roegiers, sư phạm tích hợp (SPTH)

là một quan niệm về quá trình học tập, trong đó toàn bộ quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực cụ thể có dự tính trước những điều kiện cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập sau này hoặc nhằm hoà nhập HS vào cuộc sống lao động Như vậy SPTH tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa

Trong cuốn “Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các

năng lực ở nhà trường” của Xavier Roegiers do Đào Trọng Quang và Nguyễn

Ngọc Nhị dịch (1996) đã đưa ra cái nhìn tổng quan về dạy học tích hợp Trong cuốn sách này tác giả đã đưa ra định nghĩa và mục tiêu của khoa sư phạm tích hợp; ảnh hưởng của khoa sư phạm tích hợp đối với chương trình; ảnh hưởng của khoa sư phạm tích hợp đối với việc đánh giá những kiến thức

HS đã lĩnh hội và ảnh hưởng của khoa sư phạm tích hợp đối với việc biên soạn sách giáo khoa

Quan điểm tích hợp còn được thể hiện khá rõ trong nhiều công trình nghiên cứu cũng như SGK của một số nước như: Trung Quốc, Pháp, Malaixia, Đức Tuy nhiên, việc đưa tích hợp vào các môn khoa học tự nhiên

và các môn khoa học xã hội của một số nước là khác nhau Riêng ở môn Tiếng, xu hướng tích hợp từ Tiểu học đến THPT của các nước trên thế giới là tương đối thống nhất Tích hợp triệt để các mảng nội dung để dạy các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết thông qua việc cho HS tiếp xúc với loại văn bản ngay từ những buổi đầu HS tập đọc, tập viết ở bậc Tiểu học đến THPT

Như vậy, tích hợp là một hiện tượng khá phổ biến đã xuất hiện từ lâu ở các nước trên thế giới Nhưng mỗi nước lại có những cách nhìn nhận và áp dụng riêng tùy thuộc đặc điểm tình hình từng quốc gia, từng môn học mà không đi lệch khỏi đường ray cốt lõi của nó

Trang 6

2.2 Dạy học tích hợp ở Việt Nam

Vấn đề tích hợp môn học trên thế giới đã có từ rất lâu, nhưng ở Việt Nam mới có manh nha từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây và ngày càng được chú trọng với những mức độ khác nhau

Ở Việt Nam, Thời Pháp thuộc, quan điểm tích hợp được thể hiện trong một số môn ở trường Tiểu học như môn “Cách trí”, sau đổi thành môn “Khoa học thường thức” Môn học này được dạy một số năm ở trường Tiểu học của miền Bắc nước ta Từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng môn “Tìm hiểu tự nhiên - xã hội” của Việt Nam theo quan điểm tích hợp đã được thiết

kế đưa vào dạy học từ lớp 1 đến lớp 5 Đến năm 2000, quan điểm tích hợp được thể hiện trong chương trình, SGK và các hoạt động DH ở Tiểu học Tuy nhiên khái niệm tích hợp vẫn còn mới lạ với nhiều GV

Sang chương trình ở cấp Trung học, tích hợp được thể hiện chủ yếu ở mức thấp, chưa được áp dụng sâu Một trong những nguyên nhân chính là do việc dạy học tích hợp liên quan đến nhiều yếu tố đòi hỏi phải có quá trình chuẩn bị lâu dài mà chúng ta chưa thực hiện được đầy đủ như: chương trình, sách giáo khoa, tổ chức dạy học, phương pháp dạy và học, đánh giá, kiểm tra, thi Tuy vậy, ngày càng có nhiều nội dung giáo dục được tích hợp vào một

số môn học ở bậc Trung học (như: dân số, môi trường, phòng chống HIV/AIDS, chống các tệ nạn xã hội, giáo dục pháp luật, an toàn giao thông ) bằng phương thức lồng ghép Việc dạy học các nội dung này bước đầu đã làm cho GV có một số kinh nghiệm thực tiễn về tích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện dạy học tích hợp trong chương trình và sách giáo khoa mới sau 2015

Thực tiễn trong những thập niên 90 trở lại đây, việc dạy học của chúng

ta vẫn mang tính “hàn lâm, lý thuyết” nhiều Đặc điểm cơ bản đó là chú trọng việc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học đã được quy định trong chương trình mà chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng như đến khả năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn Mục tiêu dạy học

Trang 7

trong chương trình được đưa ra một cách chung chung, không chi tiết; việc quản lý chất lượng giáo dục chỉ tập trung “điều khiển đầu vào” là nội dung dạy học Đến nay, việc chuyển đổi SGK ở trường phổ thông theo hướng tích hợp là một yêu cầu tất yếu đổi mới việc dạy và học Ngữ văn Chương trình THPT môn Ngữ văn, năm học 2002 do Bộ giáo dục và Đào tạo dự thảo đã ghi

rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung

chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy” [tr

27] “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ

Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp trong phương pháp dạy học của

GV và tích hợp trong hoạt động học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo” [tr 40] Sau gần mười năm thực hiện chương trình Ngữ văn

THCS mới, bước đầu chúng ta đã thu được những kết quả đáng khích lệ Với việc lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc để biên soạn chương trình, vấn đề dạy học Ngữ văn THCS theo hướng tích hợp ngày càng được nghiên cứu sâu

và rộng

Nhưng có một vấn đề đáng bàn là ở nước ta trong nhiều năm qua, tích hợp được chú ý nhiều tại các hội thảo, hội nghị, song đến nay nó vẫn chưa thực sự trở thành nguyên tắc hoặc định hướng chung, nhất quán từ đầu trong việc xây dựng chương trình, viết sách giáo khoa và định hướng dạy học các môn học ở các cấp học phổ thông Tích hợp mới chỉ là một trong những định hướng cơ bản xây dựng chương trình Tiểu học năm 2000

Vì định hướng tích hợp chưa trở thành quan điểm chỉ đạo phát triển chương trình Giáo dục phổ thông nên việc quán triệt định hướng này trong đào tạo cũng có những hạn chế nhất định Mặc dù, đội ngũ chuyên gia giáo dục và đội ngũ GV đã có nhận thức về tích hợp không tạo môn học mới như tích hợp một số mặt giáo dục trong dạy học môn học, tích hợp trong nội bộ

Trang 8

môn học nhưng việc xây dựng một số chủ đề tích hợp và dạy học theo dự án thì còn rất hạn chế

Ở Việt Nam, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề tích hợp, nhưng tiêu biểu là tích hợp trong môn Ngữ văn như: Trương Dĩnh trong

cuốn“Thiết kế dạy học Ngữ văn THCS theo hướng tích hợp”, đã nêu lên

những phương diện tích hợp trong dạy học Ngữ văn THCS; năng lực tích hợp, kiểu văn bản tích hợp, phương pháp tích hợp; mối quan hệ giữa tích hợp

và tích cực; tích hợp và hiệu quả dạy học tích hợp; tích hợp gắn liền với đời sống xã hội và cách triển khai các bài dạy cụ thể trong chương trình THCS theo định hướng tích hợp

Người rất tâm huyết với vấn đề đọc hiểu và vấn đề tích hợp là GS.TS

Nguyễn Thanh Hùng Trong bài "Tích hợp trong dạy học Ngữ văn" đăng trên tạp chí "Nghiên cứu giáo dục" (số 6, tháng 3 năm 2006), tác giả đã chỉ ra bản chất của tích hợp là "Phương hướng phối hợp (Integrate) một cách tốt nhất

các quá trình học tập của nhiều môn học cũng như các phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn trong một môn Ngữ văn" Trên cơ sở phân tích tư tưởng tích

hợp, tác giả chỉ ra ý nghĩa của tích hợp: "Tích hợp trong nhà trường sẽ giúp

HS học tập thông minh, biết vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hoà (Harnonie), hợp lý (Algebra) trong tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại"

Quan tâm đến vấn đề tích hợp, TS Đỗ Ngọc Thống, người tham gia biên soạn chương trình SGK Ngữ văn THCS cũng có nhiều đóng góp đáng

ghi nhận Trong cuốn "Đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn ở THCS" Nxb

GD (2002); tác giả có một hệ thống bài viết về quan điểm tích cực và việc dạy

học Văn theo hướng tích hợp, giúp người đọc hiểu rõ "Việc lấy tên chung của

cuốn sách là Ngữ văn không chỉ đơn thuần là dồn ba phân môn lại thành một cuốn sách theo kiểu gộp lại (Combination) mà chúng được xây dựng theo tinh thần tích hợp (Integration)" Trong bài viết "Dạy học môn Ngữ văn theo nguyên tắc tích hợp", tác giả chỉ ra biểu hiện của tích hợp là "Trong cuốn

Trang 9

sách cả ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn cùng dựa trên một văn bản chung để khai thác, hình thành, rèn luyện các kiến thức và kỹ năng của mỗi phân môn" Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra ưu điểm của nguyên tắc dạy học

tích hợp: “Tích hợp thể hiện trong việc xây dựng cấu trúc SGK, trong quá

trình tổ chức giờ dạy học, thay đổi cách soạn giáo án, cách kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của HS”

TS Nguyễn Văn Đường trong "Tích hợp trong dạy học Ngữ văn bậc

THCS", (Tạp chí Giáo dục, 2002) cũng đã đề cập đến một số cơ sở lý luận

và thực tiễn, bản chất của tích hợp và đề ra những phương hướng thực hiện tích hợp trong dạy học Ngữ văn, song mới chỉ dừng lại ở phạm vi ứng dụng cho THCS

Ngoài ra còn có một số sách tham khảo, các bài báo, luận văn viết về vấn đề tích hợp trong dạy học Ngữ văn của nhiều tác giả: Trần Bá Hoành, Nguyễn Khắc Phi, Vũ Thị Sơn, Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử… Các tài liệu trên đã đặt cơ sở lý luận cho việc dạy học theo hướng tích hợp, song đối tượng chủ yếu vẫn là THCS Đối với cấp THPT, các tài liệu bàn về vấn đề dạy học theo hướng tích hợp còn rất ít

Tích hợp không chỉ được chú trọng nhiều trong dạy học Ngữ văn nói chung, mà những năm gần đây cũng đã bắt đầu thu hút khá nhiều học giả nghiên cứu dạy học tích hợp riêng trong phần Tiếng Việt Nhưng do điều kiện

và thời lượng có hạn, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu trong phạm vi trường Đại học Giáo dục Như trong chuyên ngành Ngữ văn của riêng trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã có một số công trình nghiên cứu: Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Vân

Anh - Trường Đại học giáo dục (2008 - 2010) “Dạy các biện pháp tu từ so

sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ theo hướng tích hợp trong chương trình Ngữ văn lớp 6, lớp 7 THCS”; luận văn thạc sĩ của tác giả Lưu Quỳnh Nga -

Trường Đại học Giáo dục (2008 - 2010): “Dạy học Tiếng Việt lớp 10 trung

học phổ thông theo hướng tích hợp (ban cơ bản)”; luận văn thạc sĩ của tác giả

Trang 10

Nguyễn Thị Hường - Trường Đại học Giáo dục (2010 - 2012): “Dạy học loạt

bài thực hành kỹ năng sử dụng Tiếng Việt lớp 10 theo hướng tích hợp”

Có thể thấy rằng, tích hợp đã trở thành xu hướng chung của việc xây dựng chương trình và SGK Ngữ văn của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới và cũng không phải là điều hoàn toàn mới mẻ trong lịch sử xây dựng chương trình, SGK Tiếng Việt và Văn học của nước ta Tuy nhiên, ở Việt Nam, vấn đề tích hợp trước đây chủ yếu vẫn dựa trên quan điểm lấy Văn học làm trung tâm, mục tiêu của mỗi bài học trong SGK chủ yếu vẫn nhằm giúp

HS cảm thụ các tác phẩm văn chương Những kiến thức Tiếng Việt, Làm văn được đề cập đến còn rời rạc, ngẫu nhiên do tính chất của văn bản xếp theo trình tự văn học sử quyết định Trong khi đó, chúng ta thấy việc xây dựng chương trình và SGK Ngữ văn theo quan điểm tích hợp hiện nay vừa kế thừa tính tích hợp đã được thể hiện trong các chương trình và SGK Ngữ văn trước đây, đồng thời có sự đổi mới theo hướng cập nhật và tiếp cận với chương trình và SGK tích hợp trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy các bài cụ thể trong chương trình Ngữ văn nói chung và phần Tiếng Việt nói riêng vẫn còn bị bỏ ngỏ Đa phần các tác giả nghiên cứu mới chỉ đưa ra phương pháp dạy học tích hợp chung trong một nhóm bài mà chưa chỉ ra được việc triển khai dạy một bài cụ thể trong chương trình theo hướng tích hợp như thế nào Mặt khác, các tác giả chủ yếu nghiên cứu tích hợp ở các dạng bài mang tích chất luyện tập, thực hành nhiều

mà chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu vào tích hợp kiến thức Ngữ với Văn ở các dạng bài hình thành, xây dựng khái niệm, kiến thức mới

Các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước chính là nguồn tài liệu quý báu, có giá trị cho chúng tôi sử dụng làm luận cứ hoặc làm phương pháp chứng minh luận điểm của mình để từ đó tiếp tục tìm hiểu và phát triển sâu hơn nữa các vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn của phương pháp tích hợp được vận dụng trong dạy học môn Ngữ Văn nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng trong nhà trường THCS, và THPT

Ngày đăng: 03/03/2018, 15:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w