1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện hữu nghị việt nam cu ba đồng hới, tỉnh quảng bình

63 254 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất thải y tế tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro lây nhiễm các mầm bệnh hoặc gây nguy hại cho người bệnh, nhân viên y tế và cộng đồng nếu không được quản lý đúng cách.. Chất thải y tế nguy hạ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

BỘ MÔN SINH HỌC – MÔI TRƯỜNG

TRẦN THỊ THÚY NGÂN

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN

HỮU NGHỊ VIỆT NAM – CU BA ĐỒNG HỚI,

TỈNH QUẢNG BÌNH

H A U N T T NGHIỆP ĐẠI HỌC

QUẢNG BÌNH, 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

BỘ MÔN SINH HỌC – MÔI TRƯỜNG

H A U N T T NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN

HỮU NGHỊ VIỆT NAM – CU BA ĐỒNG HỚI,

TỈNH QUẢNG BÌNH

Họ tên sinh viên: Trần Thị Thúy Ngân

Mã số sinh viên: DQB05130061 Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường Giảng viên hướng dẫn: TS Đinh Thị Thanh Trà

QUẢNG BÌNH, 2017

Trang 3

ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” là đề tài nghiên cứu của bản thân tôi với sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn Nội dung nghiên cứu, kết quả trình bày trong đó là trung thực

và chưa từng được công bố dưới bất kì hình thức nào trước đây

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình !

Sinh viên thực hiện

Trần Thị Thúy Ngân

Xác nhận của giảng viên hướng dẫn

TS Đinh Thị Thanh Trà

Trang 4

Lời cảm ơn

Đầu tiên cho phép tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới các thầy cô Trường Đại học Quảng Bình, đặc biệt là các thầy cô khoa Nông - Lâm - Ngư trong bốn năm qua đã giảng dạy nhiệt tình, truyền đạt cho tôi những kiến thức của ngành Quản lý Tài nguyên và môi trường

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viên hướng dẫn là cô TS Đinh Thị Thanh Trà đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập và hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp này

Bản thân tôi cũng đã nhờ đến sự giúp đỡ về chuyên môn của nhiều đơn vị, cơ quan, ban ngành trong việc cung cấp các số liệu Nhân đây, tôi xin được gửi lời cám ơn đến: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Bình, Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Bình, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba - Đồng Hới

Cuối cùng, xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn tạo điều kiện và cổ vũ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Mặc dù đã cố gắng hoàn thiện bài luận văn bằng tất sự nỗ lực và nhiệt tình của mình tuy nhiên khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp quí báu của các thầy cô và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đồng Hới, tháng 05 năm 2017 Sinh viên thực hiện Trần Thị Thúy Ngân

Trang 5

MỤC ỤC

ỜI CAM ĐOAN

ỜI CẢM ƠN

TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH ẢNH

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Cơ sở lựa chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu đề tài 1

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

2.1 Tổng quan về chất thải y tế 2

2.1.1 Khái niệm chất thải y tế 2

2.1.2 Phân loại chất thải y tế 2

2.1.3 Các nguồn phát sinh chất thải rắn y tế 5

2.1.4 Thành phần chất thải rắn y tế 5

2.1.5 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến môi trường và cộng đồng 6

2.1.6 Các công nghệ xử lý chất thải rắn y tế 9

2.2 Tổng quan về quản lý chất thải rắn y tế 12

2.2.1 Một số khái niệm về quản lý chất thải rắn y tế 12

2.2.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới 12

2.2.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 14

2.3 Tổng quan về bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới 17

2.3.1 Giới thiệu vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 17

2.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển 18

2.3.3 Quy mô và cơ cấu tổ chức của bệnh viện 20

2.3.4 Tình hình hoạt động y tế tại bệnh viện 21

PHẦN 3 Đ I TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 22

3.2 Nội dung nghiên cứu 22

3.3 Phương pháp nghiên cứu 22

Trang 6

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 22

3.3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 22

3.3.3 Phương pháp so sánh 23

3.3.4 Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích số liệu 23

3.3.5 Phương pháp chuyên gia 23

PHẦN 4 ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO U N 24

4.1 Hiện trạng chất thải rắn tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới 24

4.1.1 Khối lượng chất thải rắn y tế 24

4.1.2 Thành phần chất thải rắn y tế 27

4.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới 29

4.2.1 Nguồn nhân lực quản lý chất thải rắn y tế 29

4.2.2 Trang thiết bị thu gom, phân loại chất thải rắn y tế 29

4.2.3 Phân loại và thu gom chất thải rắn y tế 30

4.2.4 Vận chuyển chất thải rắn y tế 31

4.2.5 Lưu trữ chất thải rắn y tế 31

4.2.6 Xử lý chất thải rắn y tế 31

4.3 Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới 32

4.3.1 Đánh giá công tác quản lý hành chính đối với CTRYT 32

4.3.2 Đánh giá các mặt kỹ thuật trong công tác quản lý CTRYT 34

4.4 Đề xuất các giải pháp khắc phục và nâng cao công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới 41

4.4.1 Xây dựng hệ thống quản lý môi trường tại bệnh viện 41

4.4.2 Nâng cao hoạt động bảo vệ môi trường tại bệnh viện 42

4.4.3 Cải thiện công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện 46

4.4.4 Giải pháp xử lý 49

4.4.5 Giải pháp cho công tác bảo vệ môi trường bệnh viện 49

PHẦN 5 ẾT U N VÀ IẾN NGHỊ 51

TÀI IỆU THAM HẢO 53

Trang 7

TỪ VIẾT TẮT

BV: Bệnh viện CTRYT: Chất thải rắn y tế CTRYTNH: Chất thải rắn y tế nguy hại CTYT: Chất thải y tế

MT: Môi trường ÔNMT: Ô nhiễm môi trường

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn đặc thù từ hoạt động y tế 5

Bảng 2.2 Thành phần CTRYT ở Việt Nam 6

Bảng 2.3 Khối lượng chất thải y tế của một số địa phương 15

Bảng 2.4 Sự biến động về khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các loại cơ sở y tế khác nhau 16

Bảng 4.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn từ hoạt động y tế 24

Bảng 4.2 Lượng CTRYT từ năm 2012 đến năm 2016 tại bệnh viện 25

Bảng 4.3 Tỉ lệ phát sinh của CTRYT tại bệnh viện từ năm 2012 - 2016 26

Bảng 4.4 Khối lượng và tỉ lệ CTRYT nguy hại tại bệnh viện 27

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 2.1 Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới 17

Hình 2.2 Vị trí của bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới 17

Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện lượng CTRYT tại bệnh viện từ năm 2012 - 2016 26

Hình 4.2 Biểu đồ tỉ lệ các loại CTRYT nguy hại của bệnh viện 28

Hình 4.3 Phân loại CTRYT phát sinh trực tiếp trong quá trình khám chữa bệnh 36 Hình 4.4 Vật liệu sử dụng chứa chất thải sắc nhọn của bệnh viện 37

Hình 4.5 Phương tiện vận chuyển CTRYT tại bệnh viện 38

Hình 4.6 Nhà lưu giữ CTRYT tại bệnh viện 39

Hình 4.7 Thiết bị vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa tại bệnh viện 40

Hình 4.8 Hệ thống quản lý Bảo vệ môi trường 41

Hình 4.9 Túi đựng CTRYT đúng quy định 48

Trang 10

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 Cơ sở lựa chọn đề tài

Trong những năm gần đây, việc đẩy mạnh quá trình “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã giúp cho nền kinh tế của nước ta phát triển mạnh mẽ, nâng cao đời sống vật chất của người dân Chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao kèm theo đó là việc sử dụng các loại hình dịch vụ có chất lượng tốt hơn, đặc biệt là dịch vụ y tế Nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của người dân, hệ thống các cơ sở y tế không ngừng được tăng cường mở rộng và hoàn thiện Điều đó đã làm gia tăng một khối lượng lớn chất thải rắn y tế nguy hại và không nguy hại

Chất thải y tế đã và đang là vấn đề quan tâm của toàn xã hội nói chung và của ngành y tế, môi trường nói riêng Chất thải y tế tiềm ẩn những nguy cơ rủi

ro lây nhiễm các mầm bệnh hoặc gây nguy hại cho người bệnh, nhân viên y tế

và cộng đồng nếu không được quản lý đúng cách Công tác quản lý chất thải rắn

y tế là công tác vô cùng quan trọng, từ khâu thu gom, phân loại, vận chuyển đến

xử lý Cần phải có sự phân công trách nhiệm cụ thể, nhân viên phải được đào tạo

về quản lý chất thải y tế, phương tiện vận chuyển, thu gom và xử lý hiệu quả

Thành phố Đồng Hới là trung tâm văn hóa kinh tế chính trị của tỉnh Quảng Bình có tốc độ phát triển kinh tế xã hội cao và mật độ dân số lớn Do đó

có số lượng bệnh nhân cần tiếp nhận mỗi ngày khá nhiều, đòi hỏi cở sở vật chất

và trang thiết bị y tế phải đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới là một bệnh viện lớn của thành phố Đồng Hới đã hình thành từ lâu và đang ngày càng phát triển Bên cạnh những thành quả đạt được về khám chữa bệnh thì vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế

Vì vậy, đánh giá công tác thu gom và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới là việc làm cần thiết, giúp cho công tác quản

lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện được tốt hơn

Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng

và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình”

1.2 Mục tiêu đề tài

- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý (phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển và xử lý) chất thải rắn y tế tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới

- Đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế phù hợp tại bệnh viện

Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường

Trang 11

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan về chất thải y tế

2.1.1 Khái niệm chất thải y tế

Chất thải y tế là toàn bộ chất thải phát sinh từ cơ sở y tế bao gồm chất thải

y tế thông thường và chất thải y tế nguy hại Chất thải y tế tồn tại ở các thể rắn, lỏng và khí [6]

Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe

con người như môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ

nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn Chất thải y tế nguy hại chiếm từ 10 - 25% chất thải y tế [7]

Chất thải y tế thông thường là chất thải y tế không gây ra những vấn đề

nguy hiểm đặc biệt cho sức khỏe con người và môi trường Chất thải thông thường được coi là tương đương với chất thải sinh hoạt và thường phát sinh ở các khu hành chính từ các hoạt động lau dọn, vệ sinh hàng ngày của các bệnh viện Chất thải y tế thông thường chiếm từ 75 - 90% tổng lượng chất thải y tế [7]

2.1.2 Phân loại chất thải y tế

2.1.2.1 Chất thải lây nhiễm

Chất thải lây nhiễm bao gồm:

- Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm bao gồm: các loại kim tiêm, kim luồn, kim bướm, kim chọc dò, kim châm cứu thải bỏ; ống pipet, ống mao dẫn, ống xét nghiệm thủy tinh bị vỡ; lưỡi dao mổ, lưỡi dao cạo dùng cho người bệnh; những vật sắc nhọn khác có dính máu, dịch sinh học người bệnh;

- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: các chất thải thấm máu, dịch cơ thể; các chất thải phát sinh từ phòng bệnh cách ly; dây truyền dính máu, truyền plasma (bao gồm cả túi máu); găng tay y tế; catheter, kim luồn mạch máu không sắc nhọn; ống hút đờm, ống thông tiểu, ống thông dạ dày và các ống dẫn lưu khác; bột bó trong gẫy xương hở và tất cả vật liệu, vật dụng thải bỏ khác có dính máu;

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các

Trang 12

phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định số 92/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm;

- Chất thải giải phẫu bao gồm: các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người được thải ra sau phẫu thuật; nhau thai, thai nhi; xác động vật thí nghiệm [7]

2.1.2.2 Chất thải nguy hại không lây nhiễm

Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:

- Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;

- Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất;

- Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng;

- Chất hàn răng amalgam thải bỏ;

- Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại (sau đây gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT) như:

36/2015/TT-+ Vỏ chai, lọ đựng (các loại: thuốc gây độc tế bào (cytotoxic và cytostatic); các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào; các loại thuốc kháng sinh; các loại hóa chất độc hại) vượt ngưỡng quy định tại QCVN07:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại;

+ Nhiệt kế thủy ngân hỏng, huyết áp kế thủy ngân hỏng;

+ Bình áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO, bình ga, bình khí dung;

+ Bóng đèn huỳnh quang hỏng; pin thải, ắc quy thải; vật dụng, thiết bị điện tử thải bỏ và các vật liệu có chì thải bỏ;

+ Bùn thải từ quá trình xử lý nước thải có chứa các chất vượt ngưỡng quy định tại QCVN 50:2013/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng nguy hại đối với bùn thải từ quá trình xử lý nước;

+ Tro thải từ quá trình xử lý chất thải rắn y tế có chứa các chất vượt ngưỡng quy định tại QCVN 07:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại [7]

Trang 13

2.1.2.4 Chất thải y tế thông thường

Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, bao gồm:

a) Chất thải không có khả năng tái chế

- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các khoa, phòng, các buồng bệnh không cách ly không có khả năng tái chế;

- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế không bị lây nhiễm như bột bó trong gãy xương kín;

- Chất thải ngoại cảnh: rác thải từ khu vực ngoại cảnh;

- Các mảnh kính vỡ, chai, lọ thủy tinh vỡ (loại chai lọ không dùng để chứa các hóa chất độc hại, thuốc có thành phần độc hại) không phát sinh từ các buồng bệnh cách ly;

- Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải y tế có nồng độ các yếu tố nguy hại dưới ngưỡng theo quy định của QCVN 50:2013/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng nguy hại đối với bùn thải từ quá trình xử lý nước; tro của lò đốt chất thải y tế có nồng độ các yếu tố nguy hại dưới ngưỡng theo quy định của QCVN 07:2009/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại

- Chất thải y tế lây nhiễm sau khi xử lý bằng công nghệ khử khuẩn an toàn không có khả năng tái chế [7]

b) Chất thải có khả năng tái chế

- Từ hoạt động văn phòng, sinh hoạt trong cơ sở y tế:

+ Giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng carton, túi nilon, túi đựng phim;

Trang 14

+ Các chai, lọ, lon nước uống giải khát bằng nhựa hoặc kim loại; thức ăn thải từ căng tin, nhà ăn;

- Từ hoạt động chuyên môn y tế:

+ Các dây dịch truyền không dính máu, dính dịch cơ thể người; chai nhựa,

đồ nhựa, các túi nilon, giấy bóng, giấy bọc, can nhựa không chứa chất lây nhiễm, không có chất hóa học gây độc hoặc nhiễm chất phóng xạ; bã thuốc y học cổ truyền;

+ Chất thải lây nhiễm sau khi đã được xử lý bằng công nghệ khử khuẩn an

toàn và có khả năng tái chế [7]

2.1.3 Các nguồn phát sinh chất thải rắn y tế

Bảng 2.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn đặc thù từ hoạt động y tế [1]

Chất thải sinh hoạt Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành chính,

các loại bao gói

Chất thải lây nhiễm

Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng người sau khi mổ xẻ và của các động vật sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu mủ của bệnh nhân

Chất thải nguy hại

không lây nhiễm

Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân, hóa chất, dược phẩm hết hạn các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà

Chất thải đặc biệt

Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, các chất phóng xạ, hóa chất dược, từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dược

2.1.4 Thành phần chất thải rắn y tế

- Thành phần vật lý:

+ Đồ bông vải sợi; gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải + Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh

+ Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm

+ Đồ nhựa, hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng

Trang 15

+ Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng

+ Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc

- Thành phần hóa học:

+ Những chất vô cơ, kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, sỏi đa, hóa

+ Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, phần cơ thể, đồ nhựa

chất thải nguy hại

Chai lọ thuỷ tinh, xilanh thuỷ tinh,

Đất, cát, sành sứ, và các chất rắn khác 20.9 Không

Tỷ lệ phần chất thải nguy hại 22.6

Nguồn: Nguyễn Đức Khiển, Quản lý chất thải nguy hại, 2010

2.1.5 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến môi trường và cộng đồng

Cơ sở y tế trong quá trình hoạt động của mình sẽ thải ra các loại CTYT dưới các dạng khác nhau rắn, lỏng, khí Nếu việc quản lý và xử lý chất thải của

cơ sở khám chữa bệnh không tốt chúng có thể gây ra ảnh hưởng đến môi trường

và sức khỏe cộng đồng

Trang 16

2.1.5.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến sức khỏe con người [15]

a Đối tượng nguy cơ lây nhiễm

Tất cả những người phơi nhiễm với CTYT nguy hại đều là đối tượng có nguy cơ lây nhiễm Nhóm đối tượng đó bao gồm:

- Bác sĩ và y tá, điều dưỡng, nhân viên vệ sinh, nhân viên hành chính

- Người bệnh điều trị nội trú và ngoại trú

- Người nhà chăm sóc bệnh nhân

- Nhân viên thu gom, vận chuyển, tiêu hủy chất thải

- Cộng đồng dân cư xung quanh bệnh viện

b Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến sức khỏe

Ảnh hưởng của các loại chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn:

Đối với những bệnh có khả năng truyền nhiễm, nguy hiểm do virus gây ra như HIV/AIDS, viêm gan B hoặc C, những nhân viên y tế, đặc biệt là y tá, hộ lý

là những người có nguy cơ nhiễm cao nhất qua những vết thương do các vật sắc nhọn bị nhiễm máu của bệnh nhân Nhiều tổn thương gây ra do kim tiêm trước

và sau khi vứt bỏ vào thùng chứa, các thùng chứa được làm bằng các vật liệu dễ

bị rách hoặc bị xuyên thủng cũng là nguyên nhân gây tổn thương trong công tác thu gom

Ảnh hưởng của các chất thải hóa chất và dược phẩm:

Trong hoạt động y tế nhiều loại hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là mối nguy cơ đe dọa sức khỏe con người như: các chất gây độc gen, chất độc tế bào, chất ăn mòn, các chất gây phản ứng… Các chất thải này có thể gây nhiễm độc cấp tính hoặc gây nhiễm độc mãn tính, gây ra các tổn thương cho người tiếp xúc Sự nhiễm độc này có thể là do kết quả của sự hấp thụ hóa chất hoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa

Ảnh hưởng của các loại chất thải phóng xạ:

Chất thải phóng xạ cũng như chất thải dược phẩm là một loại chất thải độc hại tới gen, tế bào và cũng có thể ảnh hưởng tới các yếu tố di truyền Nguy

cơ từ các loại chất thải có chứa các đồng vị hoạt tính thấp có thể phát sinh do việc nhiễm xạ trên bề mặt các vật chứa, do phương thức hoặc khoảng thời gian lưu trữ loại chất thải phóng xạ này Các nhân viên y tế hoặc những người làm

Trang 17

nhiệm vụ thu gom và vận chuyển rác khi phải tiếp xúc với chất thải có chứa các loại đồng vị phóng xạ này là những người có nguy cơ nhiễm xạ cao

2.1.5.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến môi trường [16]

a Ảnh hưởng đối với môi trường nước

CTRYT của bệnh viện có chứa nhiều hóa chất độc hại, phóng xạ, tác nhân gây bệnh có khả năng lây nhiễm cao như: Samonella, coliform, tụ cầu, liên cầu Trực khuẩn Gram âm đa kháng Do đó, CTRYT lây nhiễm nếu không được xử

lý trước khi thải bỏ thì có thể gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước

Một lý do làm cho nguồn nước bị ô nhiễm tại các khu vực BV là do việc chôn lấp CTRYT không hợp vệ sinh tại một số cơ sở y tế sẽ làm cho nước thải

từ các hộ chôn ngấm vào mạch nước ngầm Khi nguồn nước bị ô nhiễm sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng bởi tại nhiều địa phương chưa có điều kiện sử dụng nước máy, nguồn nước sinh hoạt chính của người dân đó là nước từ các sông, kênh, nước ngầm, nước giếng khoan Đặc biệt là nếu CTRYT được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nước nặng hơn

b Ảnh hưởng đối với môi trường đất

Không phải tất cả các cơ sở khám chữa bệnh đều có điều kiện xử lý CTRYT hàng ngày Chất thải sau khi được phân loại, thu gom sẽ được tập trung

về nơi lưu giữ tạm thời nếu nơi lưu giữ này không đảm bảo vệ sinh để cho nhiều loài côn trùng, loài gặm nhấm xâm nhập thì đây chính là các tác nhân trung gian

sẽ mang mầm bệnh phát tán ra bên ngoài do vậy ảnh hưởng đến MT trong và ngoài BV Các chất độc hại như gạc, bông băng nhiễm khuẩn, hóa chất chưa được xử lý lại thu gom đổ cùng với chất thải sinh hoạt và đem đi chôn không đảm bảo yêu cầu có thể ảnh hưởng đến MT đất và mạch nước ngầm

c Ảnh hưởng đối với môi trường không khí

Ở cơ sở khám chữa bệnh đặc biệt là khoa truyền nhiễm chứa rất nhiều mầm bệnh như Shetococcus, Corynebacterium diphteriea, Mycobacterium tuberculosis, Stphylococcus và không khí là MT truyền mầm bệnh ngoài ra còn

là môi truờng truyền các loại virus như virus cúm, virus sởi, quai bị có thể gây lên các vụ dịch lớn trong cộng đồng

- MT không khí còn chịu tác động rất lớn của công tác xử lý chất thải

Trang 18

- Rác thải vứt bừa bãi, tồn đọng sẽ gây các mùi hôi thối cho BV, khu vực dân cư xung quanh và là ổ truyền nhiễm các loài dịch bệnh

- Hơi khí độc phát sinh từ một số khoa, phòng trong BV như khoa chuẩn đoán hình ảnh, khoa xét nghiệm không được xử lý đúng cũng là một trong những nguồn gây ô nhiễm MT không khí trong BV

- Do hoạt động đốt chất thải làm phát sinh ra các hạt bụi, NO2, SO2, các hợp chất hữu cơ bay hơi như dioxin, furan, chì, crôm, thủy ngân Một thực tế chung các lò đốt CTRYT ở nước ta hiện nay đều không có bộ phận xử lý khí thải, không được bảo dưỡng thường xuyên do đó phát sinh nhiều khí thải độc hại trong ống khói với nồng độ cao hơn nhiều so tiêu chuẩn, quy chuẩn cho phép

2.1.6 Các công nghệ xử lý chất thải rắn y tế

2.1.6.1 Xử lý chất thải rắn y tế bằng nồi hấp

Nồi hấp có khả năng xử lý nhiều chất thải lây nhiễm, các dụng cụ dính máu hoặc dịch, chất thải cách ly, chất thải phẫu thuật, chất thải phòng xét nghiệm (trừ chất thải hóa học) và chất thải „mềm‟ (bao gồm băng gạc, chăn, gối, màn đệm, ga trải giường và quần áo) từ chăm sóc bệnh nhân

Các hợp hữu cơ chất dễ bay hơi, chất thải hóa học trị liệu, thủy ngân, các chất thải hóa học nguy hại khác và chất thải phóng xạ không được phép xử lý trong nồi hấp [6]

2.1.6.2 Xử lý chất thải rắn y tế bằng vi sóng

Công nghệ vi sóng có khả năng xử lý nhiều chất thải lây nhiễm, bao gồm

cả các dụng cụ dính máu hoặc dịch, chất thải cách ly, chất thải phẫu thuật, chất thải phòng xét nghiệm (trừ chất thải hóa học) và chất thải „mềm‟ (bao gồm băng gạc, chăn, gối, màn đệm, ga trải giường và quần áo) từ chăm sóc bệnh nhân

Thiết bị xử lý vi sóng theo mẻ thường được thiết kế với công suất 30 -

100 lít mỗi mẻ Thiết bị được lập sẵn các chế độ xử lý với mức độ khử trùng khác nhau [6]

2.1.6.3 Xử lý chất thải rắn y tế bằng gia nhiệt khô

Gia nhiệt khô được áp dụng cho một lượng nhỏ chất thải lây nhiễm mềm như gạc, băng phát sinh từ việc chăm sóc người bệnh

Thiết bị là buồng gia nhiệt, các chất thải được sấy nóng bằng thiết bị sấy hồng ngoại hoặc điện trở Trong quá trình xử lý nhiệt khô, chất thải được sấy nóng bằng trao đổi nhiệt đối lưu hoặc trao đổi bức xạ [6]

Trang 19

2.1.6.4 Xử lý chất thải rắn y tế bằng thiêu đốt

a Quá trình thiêu đốt

Thiêu đốt là quá trình ô xy hóa khô nhiệt độ cao và kết quả là sẽ giảm đáng kể thể tích và trọng lượng chất thải Nhược điểm của công nghệ thiêu đốt

là làm phát sinh các chất khí, bụi vào môi trường không khí và tro xỉ Chất thải y

tế khi đốt cháy tạo ra khí thải chứa hơi nước, carbon dioxide (CO), nitrogen oxide (NOx), các chất dễ bay hơi (kim loại, axit halogen, các sản phẩm của quá trình đốt cháy không hoàn toàn), bụi và tro xỉ [6]

b Các loại lò đốt chất thải y tế

- Lò đốt thiếu không khí:

Đốt thiếu không khí còn được gọi là đốt có kiểm soát không khí, đốt nhiệt phân, đốt hai giai đoạn hoặc lò đốt nhiệt phân tĩnh Không khí được sử dụng để đốt ít hơn lượng không khí tính toán theo lý thuyết

Lò đốt thiếu không khí bao gồm một buồng đốt sơ cấp và một buồng đốt thứ cấp Trong buồng sơ cấp, chất thải được đốt cháy trong điều kiện thiếu ôxy ở nhiệt độ từ 800 - 900°C, tạo ra tro xỉ bụi và khí Khí tạo ra trong buồng sơ cấp bị đốt cháy trong buồng thứ cấp ở nhiệt độ từ 1100 - 1600°C trong điều kiện dư thừa không khí để giảm thiểu khói thải, CO và mùi hôi Nếu nhiệt độ giảm xuống dưới 1.100°C phải được đốt bổ sung để duy trì nhiệt độ

- Lò quay:

Lò quay gồm một lò quay và một buồng đốt sau Lò quay thường được thiết kế riêng để đốt chất thải hóa học và cũng phù hợp để đốt chất thải y tế với quy mô lớn Các đặc điểm chính của lò quay là:

+ Nhiệt độ đốt từ 900 - 1200°C;

+ Công suất lò đốt lên đến 10 tấn/giờ;

+ Cần thêm các thiết bị đi kèm, chi phí vận hành cao, nhân viên vận hành phải được đào tạo tốt Trục của lò quay tạo một góc nghiêng nhỏ so với phương ngang, độ dốc từ 3-5% Số vòng quay của lò từ 2-5 vòng/phút, nạp chất thải ở phía đầu cao, tro xỉ dồn xuống đầu thấp của lò Khí thải tạo ra trong lò được gia nhiệt đến nhiệt độ cao để đốt cháy hợp chất hữu cơ trong buồng đốt với thời gian lưu khói là 2 giây [6]

Trang 20

- Thiêu đốt kết hợp:

Đốt các chất hóa chất thải và chất thải dược phẩm trong lò nung xi măng,

lò luyện thép hoặc lò đốt chất thải đô thị

Chất thải y tế có thể được thiêu đốt trong lò đốt chất thải rắn đô thị Nhiệt trị của chất thải y tế cao hơn so với chất thải đô thị, và với số lượng tương nhỏ các chất thải y tế không ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của lò đốt chất thải đô thị [6]

2.1.6.5 Xử lý chất thải rắn y tế bằng hóa chất

Xử lý chất thải rắn y tế bằng hóa chất có khả năng xử lý nhiều chất thải lây nhiễm, bao gồm cả các dụng cụ dính máu hoặc dịch, chất thải cách ly, chất thải phẫu thuật, chất thải phòng xét nghiệm (trừ chất thải hóa học) và chất thải

"mềm" (như băng, gạc, màn, áo và chăn gối, đệm, ga trải giường) từ chăm sóc bệnh nhân

Chất thải rắn y tế phải được băm, nghiền nhỏ trước hoặc trong quá trình khử trùng, băm nhỏ chất thải phải được thực hiện trong một hệ thống khép kín

để tránh phát tán các tác nhân gây bệnh vào không khí

Các loại hóa chất được sử dụng để khử khuẩn chất thải y tế chủ yếu là các hợp chất clo, andehyd, vôi bột, khí ozone, muối amoni và các hợp chất phenolic Chất khử trùng phải được lưu trữ và xử lý theo hướng dẫn của nhà sản xuất [6]

2.1.6.6 Đóng gói và trơ hóa chất thải rắn

a Đóng gói chất thải rắn y tế

Chôn cất chất thải y tế chưa xử lý không được phép chôn lấp trong các bãi chôn lấp chất thải đô thị Tuy nhiên, nếu các cơ sở y tế không có lựa chọn khác, thì chất thải phải được đóng gói, điền đầy trong các thùng chứa chất thải bằng vật liệu kết dính và đóng kín trước khi chôn lấp Chất kết dính vô cơ thường dùng là ximăng, vôi, pozzolan, thạch cao, silicat Chất kết dính hữu cơ thường dùng là epôxy, polyester, nhựa asphalt, polyolefin, ureformaldehyt Thùng chứa được làm bằng polyethylene (PE) mật độ cao và kim loại Chất thải được đổ đầy 3/4 thùng sau đó được điển đầy bằng các vật liệu kết dính Sau khi các hỗn hợp khô, các thùng chứa được đóng kín và đưa đi chôn trong bãi chôn lấp [6]

b Trơ hóa chất thải rắn y tế

Chất thải cần đóng rắn được nghiền nhỏ, sau đó được đưa vào máy trộn theo từng mẻ với các phụ gia như xi măng, cát và polymer được bổ sung vào để

Trang 21

thực hiện để thực hiện quá trình hòa trộn ướt Sau 28 ngày, quá trình đóng rắn diễn ra làm cho các thành phần bị ô nhiễm hoàn toàn bị cô lập Khối rắn sẽ được kiểm tra cường độ chịu nén, khả năng rò rỉ và lưu trữ cẩn thận tại kho sau đó vận chuyển đến bãi chôn lấp an toàn

Trơ hóa đặc biệt thích hợp cho dược phẩm và tro xỉ có hàm lượng kim loại cao (quá trình này còn được gọi là „ổn định‟) [6]

2.2 Tổng quan về quản lý chất thải rắn y tế

2.2.1 Một số khái niệm về quản lý chất thải rắn y tế [7]

Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu

gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện

Quản lý chất thải nguy hại là các hoạt động liên quan đến việc phòng

ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH

Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải

chất thải y tế

Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh

và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y

tế

Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi lưu

giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ

sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế

2.2.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới

* Về phân loại:

- Phân loại thành 02 nhóm là chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế không nguy hại có các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Tuy nhiên trong mỗi nhóm lại được phân chi tiết, chẳng hạn như:

- WHO: chất thải y tế nguy hại gồm: chất thải lây nhiễm cao, chất thải giải phẫu, chất thải sắc nhọn; chất thải hóa học; chất thải dược phẩm; chất thải phóng xạ;

Trang 22

- Phân thành 06 nhóm có: Philippine: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học, chất thải có chất gây độc tế bào; chất thải dược phẩm; chất thải phóng xạ; chất thải thông thường

- Phân thành 03 nhóm có: Úc chằng hạn bao gồm: chất thải khám, chữa bệnh; chất thải khác có liên quan đến KCB; chất thải thông thường

- Phân thành 05 nhóm có Malaysia, bao gồm các nhóm: chất thải khám, chữa bệnh; chất thải dược phẩm; chất thải phóng xạ; chất thải hóa học nguy hai; chất thải thông thường;

- Đối với cơ sở y tế đặc thù, lượng chất thải phát sinh ít (chứa trong các hộp đựng chất thải sắc nhọn 0,5L hoặc 01L, thời gian lưu giữ tối đa 03 tháng (quy định của Anh);

- Các nhóm chất thải có cùng công nghệ xử lý (không phản ứng với nhau) được phân loại chung (quy định của Úc)

* Về xử lý

- Về Giảm thiểu chất thải: Hầu hết trong các nước được rà soát đều đưa ra các biện pháp quản lý ngay từ khâu mua sắm để giảm tối đa lượng chất thải phải

xử lý và tiêu hủy cuối cùng (như mua các loại vật liệu dụng cụ phục vụ khi thải

bỏ là không nguy hại hoặc ít nguy hại nhất; đặc biệt trong quản lý dược phẩm để giảm thiểu tối đa thuốc quá hạn thải bỏ);

Trang 23

- Về vận chuyển chất thải: Do chất thải y tế nguy hại của tất cả các nước

rà soát (Philippine, Mỹ, Anh, EU, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc,…) đều áp dụng mô hình xử lý tập trung nên đơn vị vận chuyển chất thải đều phải được cơ quan quản lý MT cấp phép

- Về tái chế, tái sử dụng chất thải y tế:

+ Chất thải y tế tái chế được quản lý nghiêm ngặt tại các nước được rà soát Chất thải tái chế chỉ được chuyển giao cho các cơ sở có giấy phép tái chế;

+ Danh mục các loại chất thải tái chế chủ yếu được quy định tại các nước

là chất thải y tế thông thường (giấy, báo, bìa carton, bao gói đựng thuốc, các chai dịch truyền bằng nhựa, ) Tuy nhiện, tại Nhật Bản, do công nghệ xử lý đồng bộ và hiện đại, chất thải lây nhiễm loại sắc nhọn khi chuyển giao chop cơ

sở xử lý sẽ được khử khuẩn, nghiền cắt, tách kim loại và thu hồi nhựa phục vụ cho tái chế;

+ Các chai dược phẩm bằng thủy tinh thải bỏ tại cơ sở y tế cũng được tái

sử dụng lại thông qua chuyển giao cho công ty cung cấp dược phẩm để xử lý phục vụ tái sử dụng

+ Các cơ sở xử lý đều phải được cấp phép về xử lý CTR y tế

2.2.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam

Theo số liệu thống kê năm 2015 của Cục Quản lý MT y tế, tại Việt Nam, tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế vào năm 2015 khoảng hơn

600 tấn/ngày, trong đó có hơn 80-90 tấn/ngày là chất thải nguy hại phải xử lý Hiện nay tại Việt Nam, trên phạm vi toàn quốc, về chất thải rắn y tế: còn khoảng 15% BV chưa thực hiện việc xử lý chất thải rắn y tế theo đúng quy định và cả nước chỉ có khoảng hơn 200 chiếc lò đốt chuyên dụng (nhiệt độ cao và có hai buồng) nhưng chỉ có 80 lò đốt hai buồng đạt tiêu chuẩn MT, với công suất 300 -

450 kg/ngày, trong đó có 02 xí nghiệp đốt rác tập trung tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh, còn lại là các lò đốt rác cỡ trung bình và cỡ nhỏ [3]

Trang 24

Bảng 2.3 Khối lượng chất thải y tế của một số địa phương [3]

tế, tổng lượng CTNH y tế cần được xử lý trong 1 ngày là 5.122 kg, chiếm 16,2% tổng lượng CTR y tế Trong đó, lượng CTNH y tế tính trung bình theo giường bệnh là 0,25 kg/giường/ngày Các phương pháp xử lý đặc biệt đối với CTNH y

tế đắt hơn rất nhiều so với các CTR sinh hoạt, do vậy đòi hỏi việc phân loại chất thải phải đạt hiệu quả và chính xác

Trang 25

Bảng 2.4 Sự biến động về khối lượng chất thải y tế nguy hại

phát sinh tại các loại cơ sở y tế khác nhau [1]

Bệnh viện chuyên khoa TW 0,23 - 0,29 0,28 - 0,35

Bệnh viện chuyên khoa tỉnh 0,17 - 0,29 0,21 - 0,35

Bệnh viện huyện, ngành 0,17 - 0,22 0,21 - 0,28

Quy trình phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn y tế đã

có nhiều tiến bộ, nhiều cơ sở y tế thực hiện đúng theo quy định quản lý chất thải

y tế Nhiều bệnh viện đã xây dựng khu lưu giữ chất thải tập trung tại BV Tuy nhiên, sự hỗ trợ của các ban, ngành trong việc cấp kinh phí đầu tư trang bị phương tiện cho hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải y tế nguy hại còn hạn chế và chưa đồng bộ

Theo kết quả khảo sát của Cục Quản lý MT y tế - Bộ y tế về tình hình quản lý đối với CTR y tế, đã có hơn 90% bệnh viện thực hiện thu gom hàng ngày và có thực hiện phân loại chất thải từ nguồn Tuy vậy, đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ

và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn Số liệu thống kê từ địa phương trong năm 2013 cho thấy

có 32/57 địa phương có số liệu xử lý CTR y tế đạt từ 80% trở lên Nhìn chung,

tỷ lệ thu gom CTR y tế trong giai đoạn 2011 – 2015 tăng không cao Tính đến năm 2015, tỉ lệ CTR y tế được thu gom đạt trên 75%; tỷ lệ CTNH y tế được thu gom, xử lý đạt khoảng 65% Hầu hết các bệnh viện đều tiến hành thu gom, phân loại chất thải, nhưng phương tiện thu gom còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn, không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn [3]

Trang 26

2.3 Tổng quan về bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới

Hình 2.1 Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới

2.3.1 Giới thiệu vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Trang 27

2.3.1.2 Điều kiện tự nhiên

Khu đất thuộc thành phố Đồng Hới vì vậy khí hậu ở đây mang đầy đủ những đặc điểm của khí hậu miền Trung - khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Với thời tiết khắc nghiệt bậc nhất, có mùa đông khá lạnh và mùa hè nóng,

oi bức gió lào khô nóng thổi liên tục

Nhiệt độ trung bình năm 24,4ºC, giao động nhiệt độ cao nhất trong năm là khoảng 40°C và thấp nhất là khoảng 10°C

Lượng mưa trung bình từ 1.300 đến 4.000 mm, tổng giờ nắng 1.786 giờ/năm, độ ẩm trung bình trong năm khoảng 84% và thuộc chế độ gió mùa: gió

Đông Nam (gió nồm), gió Tây Nam (gió nam), gió Đông Bắc [16]

2.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển

Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới tiền thân là Bệnh viện Đồng Hới, trong thời kỳ Pháp thuộc gọi là Anbulancode Đồng Hới Bệnh viện

đã trải 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ

Ngày 17/9/1973, bệnh viện đón chào Lãnh tụ hai nước Việt Nam và CuBa Với tình cảm đặc biệt đối với nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Quảng Bình nói riêng, Đảng, Chính phủ và nhân dân Cu Ba anh em đã quyết định xây tặng Quảng Bình một Bệnh viện đa khoa

Ngày 19/5/1974, nhân kỷ niệm 84 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, tiến hành khởi công xây dựng Bệnh viện Đồng Hới

Ngày 9/9/1981, trải qua 7 năm miệt mài lao động với bao công sức, trí tuệ, mồ hôi, công trình đã được khánh thành

Sự trưởng thành và phát triển của bệnh viện

- Giai đoạn từ năm 1981 - 1991

Từ Bệnh viện khu vực I Bình - Trị - Thiên, quy mô 200 giường bệnh, trang thiết bị giản đơn với gần 30 bác sỹ và 250 cán bộ, đến tháng 9/1981, số lượng cán bộ đã đủ để tiếp quản Bệnh viện mới với quy mô 462 giường bệnh và những trang thiết bị đồng bộ, hiện đại Bệnh viện có 19 khoa lâm sàng, cận lâm sàng và 07 phòng chức năng

Đến năm 1991, bệnh viện đã có 721 cán bộ, trong đó có 104 bác sỹ, 12 dược sỹ, kỹ sư, 295 cán bộ có trình độ trung cấp và nhiều công nhân lành nghề trong vận hành và bảo quản bệnh viện

- Giai đoạn từ năm 1991 - 2001

Trang 28

Giai đoạn này, Bệnh viện có 26 khoa, phòng, trong đó có 14 khoa lâm sàng, 6 khoa cận lâm sàng, 6 phòng chức năng Đội ngũ bác sỹ có 79 người, trong đó có 02 bác sỹ chuyên khoa II, 43 bác sỹ chuyên khoa cấp I, 04 thạc sỹ,

06 cử nhân điều dưỡng, nữ hộ sinh và nhiều cử nhân kinh tế Hoạt động khám, chữa bệnh ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng

- Giai đoạn từ năm 2001 - 2011

Ở giai đoạn này Bệnh viện có sự thay đổi về phân cấp quản lý

Ngày 30/12/2001, theo Công văn số 4240/VPCP VX ngày 13/9/2001 của văn phòng Chính phủ và Quyết định số 4810/QĐ/BYT ngày 19/11/2001 của Bộ trưởng Bộ Y tế đồng ý chuyển giao Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cuba Đồng Hới từ Bộ y tế về Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình quản lý

Đến ngày 29/11/2006 thực hiện Quyết định số 3195/QĐ UBND ngày 26/11/2006 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình về việc chuyển giao Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cuba Đồng Hới thuộc Uỷ ban nhân dân Tỉnh về trực thuộc Sở Y tế

Ngày 30/9/2007 UBND Tỉnh Quảng Bình thực hiện Quyết định số 1163/

QĐ BYT ngày 5/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển giao Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cuba Đồng Hới về trực thuộc Bộ Y tế quản lý cho đến nay Bệnh viện hoạt động gồm 550 giường bệnh, có 26 khoa Lâm sàng và Cận lâm sàng, 6 phòng chức năng

Ngày 5/10/2010 Tòa nhà Kỹ thuật nghiệp vụ cao có thiết kế 7 tầng, thuộc

dự án đầu tư xây dựng cải tạo, mở rộng bệnh viện được khởi công xây dựng

- Giai đoạn từ năm 2011 đến nay

Đây được đánh giá là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của Bệnh viện từ trước đến nay với những bước đột phá lớn về mọi mặt

Bệnh viện có 39 khoa, phòng, trong đó có 24 khoa lâm sàng, 07 khoa cận lâm sàng và 08 phòng chức năng Tổng số cán bộ nhân viên của bệnh viện hiện

có 676 cán bộ gồm: 160 bác sĩ, 26 dược sỹ, 257 điều dưỡng, 36 hộ sinh, 45 kỹ thuật viên và 155 các chức danh khác

Ngày 9/9/2011, Nhân dịp kỷ niệm 30 năm khánh thành Bệnh viện, Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới đã vinh dự được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ

Trang 29

Ngày 24 tháng 4 năm 2013 Bệnh viện đã chính thức được Bộ Y tế nâng hạng từ Bệnh viện hạng II lên hạng I tuyến Trung ương

Tháng 24/04/2016 BV Việt Nam Cu Ba Đồng Hới đưa vào sử dụng Khu

kỹ thuật nghiệp vụ cao với hệ thồng trang thiết bị hiện đại đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh

Ngày 9/9/2016, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới kỷ niệm 35 năm ngày khánh thành và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì

do Đảng và Nhà nước trao tặng

2.3.3 Quy mô và cơ cấu tổ chức của bệnh viện

Hiện nay Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới là bệnh viện

đa khoa hạng I trực thuộc Bộ Y tế với 680 giường bệnh, gồm 40 khoa phòng, trong đó có 24 khoa lâm sàng, 08 khoa cận lâm sàng và 08 phòng chức năng Tổng số cán bộ nhân viên của Bệnh viện hiện có 676 cán bộ gồm: 160 bác sĩ, 26 dược sỹ, 257 điều dưỡng, 36 hộ sinh, 45 kỹ thuật viên và 155 chức danh khác

Cơ cấu, tổ chức của bệnh viện gồm: Ban giám đốc, 8 phòng chức năng, 24 khoa lâm sàng và 8 khoa cận lâm sàng

- Các phòng chức năng gồm có: Tổ chức cán bộ, kế hoạch tổng hợp, tài chính kế toán, hành chính quản trị, vật tư trang thiết bị, quản lý chất lượng, chỉ đạo tuyến, điều dưỡng

Các khoa cận lâm sàng: Chuẩn đoán hình ảnh, vi sinh, giải phẫu bệnh, sinh hóa-huyết học-truyền máu, thăm dò chức năng-nội soi, kiểm soát nhiễm khuẩn, dược

Trang 30

2.3.4 Tình hình hoạt động y tế tại bệnh viện

Từ năm 2012 đến năm 2016, bệnh viện đã tăng dần chỉ tiêu giường bệnh

từ 530 lên 658 giường Các chỉ tiêu chuyên môn luôn đạt và vượt kế hoạch đề

ra Cụ thể: Năm 2016, số giường bệnh thực kê là 680 giường, đạt tỷ lệ 100.55 % tăng 7.44% so với năm 2015; Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú là 43.197 đạt 130.39% tăng 6.22%; Ngày sử dụng giường bệnh đạt 100.55% tăng 7.44%; Tổng số lần khám bệnh năm 2016 là 166.805 đạt 115.40%; Tổng số bệnh nhân phẫu thuật đạt114.16%

Nhiều kỹ thuật mới tiếp tục được triển khai và áp dụng có hiệu quả trong lâm sàng, cận lâm sàng như kỹ thuật chụp mạch vành, tiến tới can thiệp mạch vành; đặt máy tạo nhịp tạm thời và vĩnh viễn, cấp cứu tim mạch;

Bệnh viện đã được đầu tư mua sắm hàng loạt các trang thiết bị y tế mới, hiện đại như hệ thống C-Arm, hệ thống chụp mạch DSA, hệ thống chụp cộng hưởng từ MRI 1.5 Tesla, máy CT-scanner 64 dãy,…Những trang thiết bị này đều đã được lắp đặt, sử dụng và phát huy hiệu quả tốt, góp phần nâng cao chất lượng, khám chữa bệnh tại Bệnh viện

Xây dựng kế hoạch hoạt động và tích cực chỉ đạo triển khai công tác nghiên cứu khoa học sâu rộng trong toàn thể cán bộ nhân viên, cử các cán bộ nhân viên đi đào tạo chuyên sâu, có chủ trương thu hút các bác sĩ giỏi

Năm 2016, bệnh viện phát triển vượt bậc về chỉ tiêu giường bệnh, cho đi vào hoạt động Khu nhà kỹ thuật nghiệp vụ cao 7 tầng, đầu tư trang thiết bị, phát triển kỹ thuật mới, hoàn thiện về công tác tổ chức đào tạo, chất lượng bệnh viện ngày một nâng cao

Trang 31

PHẦN 3 Đ I TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 3.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

- Địa điểm: Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Chất thải rắn y tế

+ Cở sở vật chất, trang thiết bị thu gom, vận chuyển xử lý chất thải rắn y

tế

- Thời gian: Tháng 01 năm 2017 đến tháng 05 năm 2017

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu thông tin về hiện trạng chất thải rắn y tế tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới

- Tìm hiểu thông tin về hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại

bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới

- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới

- Đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế phù hợp tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

Tìm hiểu, nghiên cứu, thu thập, kế thừa các thông tin, số liệu liên quan đến hiện trạng và định hướng phát triển y tế, công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế thông qua các trang mạng, sách báo, đề tài nghiên cứu, báo cáo của các sở y tế, môi trường,

3.3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

Khảo sát thu thập các hình ảnh về công tác quản lý chất thải y tế, các số liệu ở bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới

Điều tra nhanh bằng cách đặt ra một số câu hỏi cho các cán bộ công nhân viên trong bệnh viện, đặc biệt là các bộ thực hiện việc thu gom, xử lý với chất thải rắn y tế để hiểu rõ hơn về công tác quản lý CTRYT

Ngày đăng: 03/03/2018, 09:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w