1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước ở Việt Nam

68 441 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề về cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước ở Việt Nam
Người hướng dẫn PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai
Trường học Chưa có thông tin
Chuyên ngành Ngân hàng
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản Chưa có thông tin
Thành phố Chưa có thông tin
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 500,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế tất yếu mà không có một quốc gia nào muốn phát triển lại tự đặt mình ra ngoài quy luật tất yếu ấy. Theo tinh thần nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế: Việt Nam phải xây dựng một hệ thống ngân hàng đa dạng về hình thức, hoạt động có hiệu quả, an toàn, nâng cao năng lực cạnh tranh, có uy tín với khách hàng, huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân và mở rộng đầu tư, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Trong quá trình hội nhập kinh tế, cuộc cạnh tranh không cân sức giữa các nước ngày càng gay gắt và quyết liệt. Để không bị tụt hậu, việc nâng cao khả năng của mỗi quốc gia nói chung và sức cạnh tranh của các ngân hàng thương mại nói riêng luôn là yếu tố có ý nghĩa quyết định. Cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước (CPH NHTMNN) được đặt ra trong giai đoạn này là phù hợp với tiến trình đổi mới hoạt động ngân hàng để hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, CPH NHTMNN còn mang ý nghĩa lớn hơn, không chỉ giúp hệ thống ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn, mà đi liền với đó là giúp hình thành cơ chế, tạo môi trường để các Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoạt động hiệu quả hơn, thúc đẩy tiến trình CPH các DNNN vốn đang diễn ra chậm chạp. Xuất phát từ nhận thức trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Một số vấn đề về cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước ở Việt Nam”. Đề tài gồm 3 chương:

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xuthế tất yếu mà không có một quốc gia nào muốn phát triển lại tự đặt mình rangoài quy luật tất yếu ấy Theo tinh thần nghị quyết số 07-NQ/TW ngày27/11/2001 của Bộ chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế: Việt Nam phải xâydựng một hệ thống ngân hàng đa dạng về hình thức, hoạt động có hiệu quả, antoàn, nâng cao năng lực cạnh tranh, có uy tín với khách hàng, huy động tối đanguồn vốn nhàn rỗi trong dân và mở rộng đầu tư, đáp ứng yêu cầu công nghiệphóa và hiện đại hóa đất nước

Trong quá trình hội nhập kinh tế, cuộc cạnh tranh không cân sức giữacác nước ngày càng gay gắt và quyết liệt Để không bị tụt hậu, việc nâng caokhả năng của mỗi quốc gia nói chung và sức cạnh tranh của các ngân hàngthương mại nói riêng luôn là yếu tố có ý nghĩa quyết định

Cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước (CPH NHTMNN) đượcđặt ra trong giai đoạn này là phù hợp với tiến trình đổi mới hoạt động ngânhàng để hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh đó, CPH NHTMNN còn mang ýnghĩa lớn hơn, không chỉ giúp hệ thống ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn,

mà đi liền với đó là giúp hình thành cơ chế, tạo môi trường để các Doanhnghiệp nhà nước (DNNN) hoạt động hiệu quả hơn, thúc đẩy tiến trình CPHcác DNNN vốn đang diễn ra chậm chạp

Xuất phát từ nhận thức trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Một số vấn đề về cổphần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước ở Việt Nam” Đề tài gồm 3chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cổ phần hoá Ngân hàng

Thương mại Nhà nước.

Chương 2: Tiến trình cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại ở Việt Nam Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy cổ phần hoá

Trang 2

Ngân hàng Thương mại Nhà nước ở Việt nam trong thời gian tới

Đây là lĩnh vực còn rất mới và phức tạ Bên cạnh đó lượng kiến thứctích luỹ, thời gian cũng như điều kiện nghiên cứu còn hạn chế Chính vì vậy,mặc dù được sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai nhưng nhữngvấn đề được trình bầy dưới đây còn rất nhiều thiếu sót Kính mong nhận được

sự chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn

Trang 3

CH ƯƠNG I NG I

NH NG V N ỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ CÁC NGÂN ẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ CÁC NGÂN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ CÁC NGÂN LÝ LU N CHUNG V C PH N HO C C NG N ẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ CÁC NGÂN Ề LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ CÁC NGÂN Ổ PHẦN HOÁ CÁC NGÂN ẦN HOÁ CÁC NGÂN Á CÁC NGÂN Á CÁC NGÂN ÂN

H NG TH ÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC (CPH NHTMNN) ƯƠNG I NG M I NH N ẠI NHÀ NƯỚC (CPH NHTMNN) ÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC (CPH NHTMNN) ƯỚC (CPH NHTMNN) C (CPH NHTMNN)

1.1 – C ph n hoá Doanh nghi p nh n ổ phần hoá Doanh nghiệp nhà n ần hoá Doanh nghiệp nhà n ệp nhà n à n ư c ớc.

Cổ phần hoá đã có lịch sử hàng trăm năm nay Sự ra đời của loại hình công

ty này gắn liền với trình độ phát triển xã hội hóa nền sản xuất và sự phát triểncao của nền kinh tế thị trường Qúa trình hình thành công ty cổ phần khôngphụ thuộc ý muốn chủ quan mà hội tụ nhiều yếu tố kinh tế và thị trường

Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước (CPH DNNN) là con đẻ của nền kinh

tế thị trường và được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng, đem lại nhiềuthành công lớn trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thànhphần CPH DNNN là lối ra phù hợp với khu vực kinh tế nhà nước, đặc biệt làtrong điều kiện những nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay: Thiếuvốn, nợ triền miên, quản lý yếu kém, công nghệ lạc hậu…

Cơ sở lý luận và thực tiễn làm xuất hiện hiện tượng này là: Do DNNN pháttriển tràn lan, lại không được tổ chức, quản lý tốt nên hoạt động kém hiệu quả

Do hoạt động kém hiệu quả nên DNNN trở thành gánh nặng cho Ngân sáchnhà nước (NSNN) Do có sự thay đổi quan điểm về vai trò của nhà nước trongnền kinh tế thị trường Do sức hấp dẫn bởi vai trò của Công ty cổ phần(CTCP)

Việc thực hiện giải pháp CPH đối với DNNN không chỉ là giải pháp cầnthiết xuất phát từ yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, giảm bớtgành nặng của NSNN, mà còn đáp ứng yêu cầu mới của sự phát triển kinh tếthị trường Việc tiến hành chuyển đổi DNNN sang CTCP suy cho cùng là dotính xã hội hoá của sản xuất trong nền kinh tế thị trường quyết định, chứ khôngphải là bột phát do ý muốn bất kỳ của cá nhân hay tổ chức nào

Để xác định thực chất của CPH DNNN, trước hết phải phân biệt 2 quátrình: Cổ phần hoá (CPH) và tư nhân hoá (TNH) TNH là quá trình chuyển

Trang 4

DNNN sang doanh nghiệp tư nhân Đây là quan niệm tư nhân theo nghĩa hẹp.

TNH còn được hiểu theo nghĩa rộng, đó là thị trường hoá, “nới lỏng hay xoá

bỏ những hạn chế pháp lý dưới nhiều hình thức khác nhau đối với sự cạnh tranh chống lại các xí nghiệp công cộng Nó bao gồm mọi chính sách để khuyến khích khu vực tư nhận tham gia vào việc cung cấp dịch vụ công cộng

và cơ sở hạ tầng và có khuynh hướng loại trừ hay biến đổi vị trí độc quyền của DNNN” Liên hợp quốc cũng đưa ra khai niệm “TNH là sự biến đổi tương

quan giữa Nhà nước và thị trường của một nước theo hướng ưu tiên thịtrường” Thực chất quan niệm trên mong muốn giảm bớt vai trò của Nhà nước

và mở rộng khu vực tư nhân, đồng thời làm cho các DNNN phải chịu sức éplớn hơn của thị trường Việc giảm bớt vai trò của nhà nước có thể được thựchiện bằng nhiều cách khác nhau, trong đó bao gồm bán DNNN dưới hình thức

cổ phần cho công chúng hay còn gọi là CPH DNNN Từ đó cho rằng CPHDNNN là 1 nội dung của TNH

Song theo cách tiếp cận của kinh tế chính trị Mác-Lenin, xuất phát từtính chất của các quan hệ kinh tế (quan hệ sở hữu về tái sản, tiền vốn ) thìCPH không thể đồng nhất với TNH Thực tế nhiều nước đã diễn ra quá trìnhdoanh nghiệp tư nhân thuần tuý hay doanh nghiệp của một nhóm chủ thôngqua phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn của các chủ sở hữu khác ngoài xã hội

để chuyển thành CTCP Sau khi trở thành CTCP, chủ sở hữu CTCP không còn

là cá nhân riêng lẻ nữa mà trở thành tập thể các cổ đông Quá trình này cũngdiễn ra trong DNNN Nhà nước dựa trên giá trị thực tế của doanh nghiệp cầnđược chuyển thành CTCP, xác định số lượng cổ phần, giá trị mỗi cổ phần, cácloại cổ phiếu, phương thức phát hành, sau đó bán cổ phiếu cho các tổ chức và

cá nhân Chuyển doanh nghiệp từ chỗ chỉ có một chủ sở hữư là nhà nước thànhCTCP có nhiều chủ sở hữu là quá trình CPH DNNN Nghĩa là CPH không chỉdiễn ra tại các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty liên doanh, mà

còn diễn ra tại các DNNN CPH là quá trình thực hiện xã hội hoá sở hữu tại

doanh nghiệp Đây là thực chất CPH nói chung

Trang 5

CPH DNNN cũng mang thực chất của CPH nói chung nêu trên Tuynhiên để làm rõ hơn tính chất CPH DNNN, cần phải theo dõi nội dung mà cácDNNN chuyển thành như thế nào? Thực tế, DNNN chuyển thành CTCPthông qua một trong 2 cách: (1)bán toàn bộ hay một phần tìa sản thuộc sở hữunhà nước tại doanh nghiệp cho các tổ chức và cá nhân bằng phương thức pháthành cổ phiếu; (2) giữ nguyên toàn bộ giá trị vốn hiện có của Nhà nước tạidoanh nghiệp, phát hành cổ phiếu ra công chúng để thu hút vốn, mở rộngdoanh nghiệp Đây chính là các hình thức khác nhau của CPH DNNN Đồngthời với việc chuyển sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp sang sở hữu của tập thể

cổ đông là việc chuyển quản lý doanh nghiệp từ trực tiếp của chủ sở hữu nhà

nước sang gián tiếp của các cổ đông thông qua Hội đồng quản trị Về hình

thức, CPH DNNN là quá trình Nhà nước bán một phần hay toàn bộ tài sản của

mình tại doanh nghiệp cho các tổ chức và cá nhân bằng việc đấu giá công khai

thông qua TTCK để hình thành CTCP Về thực chất, CPH DNNN chính là

phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển hình thái kinh doanh mộtchủ với sở hữu nhà nước trong doanh nghiệp thành CTCP với nhiều chủ sởhữu để tạo thành một mô hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường

và đáp ứng được yêu cầu kinh doanh hiện tại Vấn đề mấu chốt để phân biệtCPH và TNH là sự phân biệt quyền sở hữu, quyền sử dụng và quản lý doanhnghiệp sau khi doanh nghiệp chuyển thành CTCP hay Công ty tư nhân CPHDNNN không phải là tư nhân hoá Đây là 2 quá trình khác nhau, cần có sựphân biệt

1.1.1 – L i ích ợi ích đạt được từ việc CPH DNNN ở Việt Nam: đạt được từ việc CPH DNNN ở Việt Nam: đượi ích đạt được từ việc CPH DNNN ở Việt Nam: ừ việc CPH DNNN ở Việt Nam: ệp nhà n t c t vi c CPH DNNN Vi t Nam: ở Việt Nam: ệp nhà n

Chủ trương CPH DNNN được đặt ra khi đất nước ta bước vào thời kỳđổi mới theo quyết định số 143/HĐBT ngày 15/10/1990 và thực hiện thí điểm

từ năm 1992 theo quyết định số 202/HĐBT ngày 8/6/1992 của Hội Đồng BộTrưởng Đây là quá trình khó khăn phức tạp với nhiều thử thách, tìm tòi vàứng dụng từ những kinh nghiệm của các nước trên thế giới để lựa chọn

Trang 6

phương thức phù hợp với những đặc thù riêng của Việt Nam đang trong quátrình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN Việc CPH DNNN được thực hiện và mở rộngmạnh mẽ ngay sau khi thực hiên Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX về sắp xếp,đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả DNNN Trong giai đoạn thí điẻm CPH(năm 1992 đến 5/1996) số DN được CPH là 5 DN Giai đoạn mở rộng thí điểm(cuối năm 1996 đến 6/1998) CPH được 25 DN Giai đoạn triển khai (từ 7/1998đến 9/2004) tiến hành CPH được 1690 DN Tổng số DN được CPH theo nghịđịnh số 44/1998/NĐ-CPH ngày 26/6/1998 của Chính Phủ là 1720 DN (theo

Nghiên cứu kinh tế số 320) Số doanh nghiệp còn lại khoảng 4300, trong đó

phải tiến hành đa dạng hoá hoặc CPH khoảng 2400 doanh nghiệp Trong sốcác DNNN được CPH, các DNNN có vốn dước 5 tỷ đồng là 1018 doanhnghiệp, chiếm 59,2%; các DNNNcó vốn nhà nước từ 5-10 tỷ đồng chiếm22,3%; còn lại các doanh nghiệp có vốn nhà nước trên 10 tỷ đồng là 318 doanhnghiệp, chiếm 18,5%

CPH đã tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, bao gồm nhànước, người lao động trong doanh nghiệp, cổ đông ngoài doanh nghiệp, trong

đó người lao động trong doanh nghiệp trở thành chủ thực sự phần vốn góp củamình trong CTCP Tính bình quân kết quả CPH thời gian qua cho thấy chủ sởhữu Nhà nước nắm giữ 46,5% vốn điều lệ, tương ứng 10.792 tỷ đồng; ngườilao động trong doanh nghiệp nắm giữ 38,1% vốn điều lệ, tương ứng 8.847 tỷđồng; cổ đông ngoài doanh nghiệp nắm giữ 15,4% vốn điều lệ, tương ứng3.564 tỷ đồng

CPH đã trở thành giải pháp cơ bản và quan trọng nhất trong cơ cấu lạiDNNN để DNNN có cơ cấu thích hợp, quy mô lớn, tập trung vào nhữngngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Hầu hết các DNNN sau khi CPHđều trở nên năng động và làm ăn có hiệu quả hơn Quy mô vốn của DNNNnhờ đó mà tăng lên đáng kể Năm 2001, vốn bình quân của một DNNNkhoảng 24 tỷ đòng, nay đã tăng lên 63,6 tỷ đồng Tài chính doanh nghiệp được

Trang 7

lành mạnh hoá hơn một bước thông qua việc cơ cấu lại các khoản nợ, xử lý tàisản ứ đọng, tồn kho lâu CPH đã huy động thêm vốn của xã hội đầu tư vào sảnxuất kinh doanh Trong quá trình CPH DNNN, một mặt vốn DNNN tại doanhnghiệp được được đánh giá lại khách quan hơn, tiếp cận hơn với phương thứcthị trường, mặt khác đã huy động được 12.411 tỷ đồng của các cá nhân, tổchức ngoài xã hội vào doanh nghiệp để kinh doanh CPH còn tạo cơ sở thúcđẩy quá trình ra đời, hoàn thiện và phát triển của TTCK Sự thành công vàphát triển của TTCK Việt Nam phụ thuộc vào tiến trình CPH DNNN Tiếntrình này ngày càng tạo ra nhiều hàng hoá đủ tiêu chuẩn và chất lượng chohoạt động của TTCK.

CPH góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Do lợi ích được đảm bảo hài hoà, tuyết đối đại đa số sau khi CPH đềuhoạt động hiệu quả hơn Theo báo cáo của bộ, ngành, địa phương về hiệu quảsản xuất kinh doanh của 850 doanh nghiệp hoàn thành CPH đã hoạt động trênmột năm cho thấy: Vốn điều lệ bình quân tăng 44%; Doanh thu bình quân tăng23,6% trong đó 71,4% số doanh nghiệp có doanh thu tăng Lợi nhuận thựchiện bình quân tăng 139,76%, trên 90% số doanh nghiệp sau khi cổ phần đềuhoạt động kinh doanh làm ăn có lãi Nộp ngân sách bình quân tăng 24,8%, mặc

dù các doanh nghiệp này được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanhnghiệp, thuê sử dụng đất, tiền thu sử dụng vốn nhà nước Thu nhập của ngườilao động bình quân tăng 12%…

Điều này vừa chứng tỏ chủ trương đúng đắn về CPH các DNNN củaĐảng và Nhà nước ta, vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

1.1.2 Nh ng t n t i trong quá trình CPH DNNN: – Những tồn tại trong quá trình CPH DNNN: ững tồn tại trong quá trình CPH DNNN: ồn tại trong quá trình CPH DNNN: ạt được từ việc CPH DNNN ở Việt Nam:

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tiến trình CPH DNNN ở ViệtNam trong những năm qua đã bộc lộ một số tồn tại sau:

Việc đa dạng hoá chủ sở hữu trong CPH còn hạn chế Thể hiện rõ nét lànhà nước còn chiếm tỷ trọng lớn trong vốn điều lệ, nhiều doanh nghiệp thuộc

Trang 8

diện không cần giữ cổ phần chi phối nhưng nhà nước vẫn nắm giữ, phổ biếnnhất là trong các tổng công ty nhà nước thuộc ngành xây dựng, giao thông (bộgiao thông vận tải có tới 82% doanh nghiệp đã CPH) Rất nhiều doanh nghiệpthực hiện CPH khép kín, có tới 860 doanh nghiệp (38,4%) không có cổ phầnbán ra ngoài doanh nghiệp như tỉnh Hải Dương (28/28), Bộ Thương mại(36/59) CPH khép kín ở một số nơi có hiện tượng định giá doanh nghiệp thấp

so với giá thị trường, gây thất thoát tài sản của nhà nước

V n nhà n ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn c trong các DNNN CPH còn quá nh và vi c huy ỏ và việc huy động vốn ệc huy động vốn động vốn ng v n ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn trong quá trình CPH DNNN ch a ư được nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước c nhi u N u tính t ng s v n nhà n ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ếu tính tổng số vốn nhà nước ổng số vốn nhà nước ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn c theo s sách c a toàn b các doanh nghi p ã CPH là 17.700 t ổng số vốn nhà nước ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ộng vốn ệc huy động vốn đ ỷ đồng thì mới đồng thì mới ng thì m i ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn

ch b ng 8,2% S v n huy ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn động vốn ng ngoài xã h i m i có 53,4% v n i u l , t ộng vốn ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn đ ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ệc huy động vốn ương ng

ng 12.411 t ng Th c t là trong h n 10 n m th c hi n CPH DNNN, đương ỷ đồng thì mới đồng thì mới ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ếu tính tổng số vốn nhà nước ơng ăm thực hiện CPH DNNN, ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ệc huy động vốn

chúng ta ch t p trung ch ập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH o CPH các DNNN quy mô nh nên tuy s DNNN CPH ỏ và việc huy động vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn nhi u nh ng s v n nhà n ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ư ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH c l i ít, do ó m c dù vi c CPH DNNN r t hi u qu đ ặc dù việc CPH DNNN rất hiệu quả ệc huy động vốn ất hiệu quả ệc huy động vốn ả

nh ng do t tr ng v n nhà n ư ỷ đồng thì mới ọng vốn nhà nước còn quá nhỏ nên hạn chế đến việc nâng cao ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn c còn quá nh nên h n ch ỏ và việc huy động vốn ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ếu tính tổng số vốn nhà nước đếu tính tổng số vốn nhà nước n vi c nâng cao ệc huy động vốn

hi u qu và s c c nh tranh c a doanh nghi p ệc huy động vốn ả ức cạnh tranh của doanh nghiệp ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ệc huy động vốn

Việc CPH các DNNN chưa thực sự gắn liền với sự phát triển của thịtrường vốn và TTCK Trong số 1483 DNNN đã CPH mới chỉ có 25 DNNNtham gia niêm yết cổ phiếu Điều này cũng có nghĩa là chỉ chưa đến 20%thông tin về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế đượccoi là minh bạch trên thị trường Ngoài 25 CTCP đã niêm yết chứng khoántrên thị trường, nhìn chung các CTCP khác vẫn mang tính khép kín, chưa có

sự thay đổi về chất Chừng nào mà tình hình đầu tư, sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp còn thiếu minh bạch, chưa dám công khai, thì chừng đó sự pháttriển của thị trường chứng khoán sẽ chưa thể có dấu hiệu khởi sắc

1.2 C ph n hoá Ngân h ng th – Những tồn tại trong quá trình CPH DNNN: ổ phần hoá Doanh nghiệp nhà n ần hoá Doanh nghiệp nhà n à n ương m i nh n ạt được từ việc CPH DNNN ở Việt Nam: à n ư c ớc.

Khác với DNNN nói chung, NHTMNN là một doanh nghiệp nhà nước đặcbiệt, và hoạt động của Ngân hàng mang tính đặc thù riêng, bởi đó là một doanhnghiệp với chức năng kinh doanh tiền tệ, chịu nhiều yếu tố tác động của nềnkinh tế Ngược lại những cơ chế chính sách hoạt động của NHTMNN cũng sẽrất nhạy cảm và có sự tác động trở lại rất lớn đối với nền kinh tế Vì vậy, đặt

Trang 9

vấn đề CPH đối với các NHTMNN trong bối cảnh chuẩn bị tham gia hội nhậpquốc tế ngành ngân hàng là điều kiện hết sức cần thiết, quan trọng Tuy nhiênnhìn chung, CPH NHTMNN là quá trình sẽ khó khăn và phức tạp hơn so vớiCPH một DNNN thông thường, do NHTMNN có những đặc điểm sau:

Đây là lần đầu tiên chính thức đặt ra vấn đề thực hiện CPH một sốNHTMNN ở nước ta Do kinh nghiệm thực tế về việc thực hiện CPH mộtNHTM là chưa có

Tất cả các DNNN ngoài khu vực ngân hàng hiện chịu sự điều chỉnh trựctiếp của Luật DNNN; Riêng các NHTMNN, ngoài một số nội dung hoạt độngđược tuân thủ theo Luật DNNN, do có những đặc thù nên về cơ bản là chịu sựđiều chỉnh của Luật các TCTD Sự khác biệt trong cơ sở pháp lý như vậy sẽlàm cho việc thực hiện CPH NHTMNN gặp nhiều khó khăn hơn, vì hiện nayvăn bản pháp lý về CPH mới chỉ đề cấp trực tiếp đến CPH DNNN thôngthường

Hoạt động ngân hàng có độ nhạy cảm cao, liên quan trực tiếp đến quyềnlợi và lợi ích của đông đảo người gửi tiền và các khách hàng nên mọi giải phápthực hiện CPH có liên quan đều phải cân nhắc kỹ lưỡng để lựa chọn đúng trên

cơ sở đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng của các khách hàng

Trong cách tính giá trị NHTMNN trước khi CPH, việc xác định giá trịthương hiệu sẽ khó khăn hơn vì sản phẩm dịch vụ ngân hàng đa dạng và khátrìu tượng, không giống như các sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệpthông thường

1.2.1 L i ích t vi c CPH NHTMNN: – Những tồn tại trong quá trình CPH DNNN: ợi ích đạt được từ việc CPH DNNN ở Việt Nam: ừ việc CPH DNNN ở Việt Nam: ệp nhà n

1.2.1.1 – Những tồn tại trong quá trình CPH DNNN: Đối với ngân hàng: ớc i v i ngân h ng: à n

Một khi đã bước chân vào sân chơi chung, các ngân hàng của Việt Namnoi chung va NHTMNN nói riêng đều phải đáp ứng được những yêu cầu rấtgay gắt như : quy mô hoạt động và xu thế không ngừng phát triển ổn định bềnvững, hội nhập trong hoạt động ngân hàng, thông lệ quốc tế trong hoạt động

Trang 10

ngân hàng, phải trở thành ngân hàng hiện đại, phải đáp ứng về năng lực tàichính, phải tăng được sức mạnh cạnh tranh về khách hàng, thị trường thị phầnsản phẩm, dịch vụ tiện ích trong nước và quốc tế, phát triển và ứng dụng cáccông nghệ tiên tiến hiện đại, có được trình độ quản lý của một ngân hàng hiệnđại, đội ngũ cán bộ quản lý mang tầm quốc tế, mở rộng các hoạt động kinhdoanh ra ngoài quốc tế.

Những yêu cầu, đòi hỏi trên là hoàn toàn chính đáng nhằm bảo đảm cho sựtồn tại và phát triển bền vững trong tương lai Trong khi nhà nước không thểcấp thêm vốn điều lệ nữa và vì vậy đây cũng chính là lý do tại sao phải CPHNHTMNN Sau khi được CPH, các NHTMNN sẽ đạt được những lợi ích:Thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư của xac hội từ bên ngoài để tăng nănglực tài chính

Nhanh chóng cấu trúc lại NHTMCP về hoạt động kinh doanh, mô hình tổchức, tài chính…

Có điều kiện tốt nhất để hoàn toàn chủ đọng và tự chịu trách nhiệm trongkinh doanh, hoạt động hiệu qủa linh hoạt, phát triển bền vững tài chính, đủ sứccạnh tranh trong kiều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Chủ động đổi mới mô hình tổ chức phù hợp với các chuẩn mực quản lýngân hàng hiện đại Toàn quyền bố trí cán bộ điều hành kinh doanh Có đủđiều kiện để tuyển dụng, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là sử dụng nhân tài, tinhgiảm biên chế, giảm dần và loại bỏ những người không đáp ứng được yêu cầucông việc, từ đó nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí, nâng cao hiệu quảkinh doanh

Có điều kiện áp dụng những sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới, quản lý hiệnđại và hiệu quả Mở rộng nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng, phi ngânhàng và vị thế cạnh tranh của NHTMCP trong nước và trên trường quốc tế.Đưa người lao động trở thành người chủ thực sự của NHCP Khi quyền lợiriêng đã được gắn kết với quyền lợi chung, người lao động sẽ luôn quan tâmđến kết quả kinh doanh, không ngừng tiết kiệm chi phí, từ đó thiết thực nâng

Trang 11

cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Tạo động lực mới trong quản lý doanh nghiệp Khi còn là NHTMNN, giámđốc là viên chức nhà nước Nhưng thực tế nhà nước cũng không làm chủ, mà

để cho giám đốc trở thành ông chủ, tuy danh nghĩa, song quyền hành rất lớn.Khi CPH, người giám đốc có thể chỉ là người được thuê, phải chịu sự giám sátchặt chẽ trong việc điều hành hoạt động NHCP Điều này buộc người giámđốc phải trở nên năng động, cầu tiến, có trách nhiệm thực sự đối với công việc

1.2.1.2 L i ích – Những tồn tại trong quá trình CPH DNNN: ợi ích đạt được từ việc CPH DNNN ở Việt Nam: đối với ngân hàng: ớc i v i qu c gia: ối với ngân hàng:

Nền kinh tế Việt Nam trước đây là nền kinh tế hàng hóa theo kế hoạch,thị trường kém phát triển, chủ yếu tự cung tự cấp, giao lưu kinh tế yếu kém vàchủ yếu có quan hệ buôn bán với các nước xã hội chủ nghĩa…ngày nay quan

hệ kinh tế đã mở rộng ra hầu hết khu vực và hội nhập quốc tế đáng kể, tuynhiên vẫn mới chỉ là quan hệ đơn phương song phương mà chưa phải là thànhviên chính thức của các thị trường thế giới và khu vực (WTO), các doanhnghiệp được thành lập hầu hết là DNNN hoạt động với cơ chế kế hoạch hóatập trung theo kiểu chỉ huy thông qua mệnh lệnh hành chính trực tiếp

Hoạt động ngân hàng cũng nằm trong bối cảnh đó và các ngân hàngthương mại trong bối cảnh chung cũng đã có những cải cách tiến bộ đáng kể,chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường

Sự vận động của kinh tế thế giới là kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường,

cơ chế thị trường là cạnh tranh không chỉ trong nước mà cả quốc tế, đây làcuộc cạnh tranh mang tính chất toàn cầu Cùng chấp nhận vào thị trườngchung tức là phải hội nhập quốc tế và kinh tế quốc tế để tiến tới xu thế toàncầu hóa

Hầu hết các nước đều có kinh tế Nhà nước và nhìn chung kinh tế Nhànước đều giống nhau là hoạt động kém hiệu quả Như vậy CPH là đòi hỏi tấtyếu khách quan trong tiến trình phát triển kinh tế và quản lý nhằm phát triển vàtồn tại trong xu thế hội nhập, trong đó bao gồm các NHTMNN là tất yếu khách

Trang 12

Quản lý vĩ mô (thông qua các chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, các

cơ chế chính sách kinh tế xã hội, hệ thống pháp luật ) Quản lý vi mô: các thểchế, định chế của NHNN trên các lĩnh vực quản lý hoạt động nghiệp vụ ngânhàng thông qua các sản phẩm dịch vụ tiện ích, các thể chế định chế về mô hìnhnhân sự bộ máy tổ chức các tổ chức đoàn thể, điều lệ hoạt động quản lý, kiểmtra, thanh tra, giám sát, hạch toán, kế toán, chế độ báo cáo kiểm toán…Cáccông cụ thị trường: thị trường tài chính, thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thịtrường mở, thị trường chứng khoán, ngoại hối kiều hối, lãi suất liên quan tácđộng chi phối đến hoạt động kinh doanh của các NHTM

Để phát huy vai trò Nhà nước, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệptrong quản lý nền kinh tế và hoạt động kinh tế, đòi hỏi phải tách bạch rõ rànggiữa chức năng quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế và các đơn vị kinh tế,quản lý các đơn vị kinh tế Vậy, để quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệpđược tốt và hiệu quả thì các doanh nghiệp phải được độc lập hoạt động theocác nguyên tắc thị trường, có nghĩa là phải chuyển các DNNN thành các doanhnghiệp độc lập-tự chủ, tự chịu trách nhiệm để hoạt động, và CPH chính làphương thức hợp lý và tốt nhất để thực hiện điều này CPH NHTMNN sẽmang lại cho Quốc gia những lợi ích cơ bản sau:

Đa dạng hóa và mở rộng các chủ sở hữu của nền kinh tế chung và của cácngân hàng nói riêng

Hạn chế sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào hoạt động của nền kinh tế

và hoạt động ngân hàng NHTMCP cũng không còn phải chịu sức ép vô hìnhhoặc hữu hình của các cấp chính quyền trong hoạt động nghiệp vụ cũng như về

tổ chức cán bộ

Thu hút đầu tư mới trong nước và ngoài nước vào công ty cổ phần nóichung và NHTMCP nói riêng để nhà nước tập trung vốn của mình vào các tập

Trang 13

đoàn kinh tế mạnh ở một số lĩnh vực then chốt của nền kinh tế nhằm ổn địnhkinh tế vĩ mô, bảo đảm quốc phòng an ninh, an toàn xã hội; đồng thời tạo dựng

ra nhiều doanh nghiệp có vốn trong nước, thu hút và chuyển dịch lao động từnông thôn sang công nghiệp, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động,nhanh chóng thúc đẩy quá trình CHN, HĐH đất nước

Góp phần xây dựng và vận hành hệ thống tài chính-tiền tệ của nền kinh tếlành mạnh, bảo đảm an ninh về tài chính-tiền tệ trong cạnh tranh và hội nhậpkinh tế quốc tế

Tạo điều kiện tốt nhất để các ngân hàng cạnh tranh lành mạnh Tăng hiệuquả hoạt động của các tổ chức tín dụng ở cả hai khu vực nhà nước và cổ phần

do tăng tính cạnh tranh từ phía các NHCP đến các NHTMNN, thúc đẩy cả haibên đều phải nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.Nâng cao chất lượng và sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đồng thời nâng caotính nhạy cảm của hoạt động tài chính-tiền tệ trước những biến đổi của thịtrường trong và ngoài nước

Có điều kiện áp dụng hệ thống khuyến khích hợp lý để thu hút nhân tài,giảm dần những người khong đáp ứng được yêu cầu công việc, góp phần đẩylùi tham nhũng, lãng phí

1.2.2 Kinh nghi m CPH NHTMNN m t s Qu c gia trên th – Những tồn tại trong quá trình CPH DNNN: ệp nhà n ở Việt Nam: ột số Quốc gia trên thế ối với ngân hàng: ối với ngân hàng: ế

Người ta thường nêu 4 lý do cơ bản để tiến hành CPH các NHTMNN

Thứ nhất, ở các nước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung

Trang 14

sang nền kinh tế thị trường thì CPH được tiến hành trên nhiều lĩnh vực, ngànhnghề trong nền kinh tế, trong đó có lĩnh vực ngân hàng Đây là một trongnhiều việc cần làm để chuyển đổi nền kinh tế sang vận hành theo cơ chế thịtrường Vì vậy, trong những trường hợp này, CPH thành công là một tháchthức to lớn bởi trước đó các khoản cho vay của các NHTMNN thường có chấtlượng tín dụng thấp.

Thứ hai, cổ phần hóa, tư nhân hóa các NHTMNN ở các nước đang tiến

hành hạn chế sở hữu nhà nước trên nhiều lĩnh vực

Thứ ba, CPH NHTMNN ở các nước đang tiến hành tự do hóa tài chính,

với các nước này thì CPH NHTM là một biện pháp giảm bớt sự kiềm chế củanhà nước đối với hệ thống tài chính

Thứ tư, đối với một số chính phủ thì CPH là một biện pháp nhằm tăng

nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Tuy nhiên, đối với các nhà kinh tế học thì lý do cơ bản để tiến hànhCPH các NHTMNN là tính kém hiệu quả ở các doanh nghiệp sở hữu nhà nướcnói chung Tính kém hiệu quả đó thể hiện trên các khía cạnh sau:

Thứ nhất, những nhà quản lý ở các DNNN thường có trình độ thấp hơn

và thiếu động cơ để tối thiểu hoá chi phí và tối đa hoá doanh thu so với những

nhà quản lý ở doanh nghiệp cổ phần Thứ hai là các DNNN thường có một cơ

chế kiểm tra giám sát lỏng lẻo bởi sự cồng kềnh về tổ chức và sự chồng chéotrách nhiệm của nhiều đơn vị đối với một DNNN, thậm chí nếu phát hiện sai

phạm thì đợi đến khi có quyết định xử lý cũng là một thời gian dài Thứ ba,

các DNNN thường đã kém hiệu quả ngay từ khi manh nha thành lập vì mộtmục tiêu nào đó như vì lợi ích của một nhóm những người ủng hộ về chính trịtrong xã hội Đã có một số nghiên cứu [Vickers và Yarrow (1988,1991),Stiglitz (1993), Nellis (1994), Shleifer và Vishny (1994), Boyko, Shleifer vàVishny (1996a,b), Shleifer (1998), Sappington và Sidak (1999), Shirley vàWalsh (2000)] chỉ ra rằng các DNNN là công cụ tốt nhất để tiến hành phânphối lại thu nhập Vì vậy, các DNNN đã hoạt động vì mục tiêu chính trị hơn là

Trang 15

vì thị trường theo mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Theo một nghiên cứu kháccủa Boehmer (2003), ở các nước thuộc khối OECD, lý do chính để tiến hànhCPH là nhằm tăng thu cho ngân sách, còn với các nước đang phát triển khácthì lý do CPH thường là để nâng cao chất lượng hoạt động ngân hàng trongnền kinh tế.

1.2.2.2 K t qu – Những tồn tại trong quá trình CPH DNNN: ế ả đ t ạt được từ việc CPH DNNN ở Việt Nam: đư c sau khi c ph n hoá: ợi ích đạt được từ việc CPH DNNN ở Việt Nam: ổ phần hoá Doanh nghiệp nhà n ần hoá Doanh nghiệp nhà n

Những nghiên cứu thực tế quá trình CPH NHTM ở các nước cho thấy,không có một phương pháp chung nào cho tất cả các nước và kết quả của CPHcũng khác nhau giữa các nước

Nghiên cứu của Boehmer (2003) qua 270 NHTM được CPH giai đoạn1982-2000 với tổng số tiền thu về cho ngân sách lên đến 119 tỉ USD cho thấy,

có 46,7% số NHTM được CPH bằng cách phát hành cổ phiếu ra công chúng

và 53,3% là bằng cách bán tài sản

Megginson (2004), với khoảng thời gian nghiên cứu từ tháng 1/1987đến tháng 8/2003 cho thấy, qua 283 vụ CPH NHTM đã thu về cho các chínhphủ 142,9 tỉ USD, trong đó 76,2 tỉ USD qua việc phát hành cổ phiếu ra côngchúng và 66,7 tỉ USD là qua việc bán tài sản

1.2.2.3 Kinh nghi m Ba Lan v CPH NHTMNN: – Những tồn tại trong quá trình CPH DNNN: ệp nhà n ề CPH NHTMNN:

Trong khối các nước Đông Âu thì Ba Lan là nước đi đầu trong quá trìnhCPH các DNNN Quá trình CPH này được sự giúp đỡ về kỹ thuật và tài chínhcủa WB và nhóm các nước G7 Quá trình CPH NHTMNN của Ba Lan đượclên kế hoạch rõ ràng là đến hết năm 1996 sẽ CPH 7 trong số 9 NHTMNN

Ban đầu, kế hoạch được đưa ra là nhà nước sẽ nắm 30% cổ phiếu, nhânviên ngân hàng nắm 20%, số còn lại sẽ được bán đấu giá cho các nhà đầu tưnhỏ và một số đối tác chiến lược Tuy nhiên, tỷ lệ này đã được điều chỉnh quathời gian

Kế hoạch CPH của Ba Lan được xây dựng với mục tiêu:

- Duy trì sở hữu của các nhà đầu tư trong nước, tránh sự thôn tính của các

Trang 16

nhà đầu tư nước ngoài.

- Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước

- Củng cố, phát triển hệ thống ngân hàng nội địa, chuẩn bị cho sự cạnh tranhvới các ngân hàng nước ngoài

Hai NHTMNN đầu tiên có chất lượng quản lý và tình hình tài chínhtương đối tốt hơn được tiến hành CPH vào năm 1991, và thực sự trở thànhdoanh nghiệp cổ phần vào tháng 3/1993 Ngân hàng đầu tiên được CPH làWielkopolski Bank Kredytowy (WBK) với giá bán ra trung bình là 6,89 USD/

cổ phiếu Phương thức bán là thoả thuận giữa người mua và nhà nước để đạtgiá bán ra Đến tháng 6/1993 (sau 3 tháng), cổ phiếu ngân hàng này đượcniêm yết trên thị trường chứng khoán với giá 19,66 USD (cao hơn 3 lần sovới giá bán khi tiến hành CPH) Ngân hàng này được tiến hành CPH với sựtrợ giúp cả về kỹ thuật và đảm bảo tài chính từ phía WB để thu hút các đối tácđầu tư chiến lược từ nước ngoài nhằm chuyển giao công nghệ ngân hàng vào

Ba Lan Vì vậy, đến năm 1997 thì Allied Irish Bank đã nắm quyền kiểm soátngân hàng với 60% cổ phiếu

NHTMNN thứ hai của Ba Lan được CPH là ngân hàng Slaski (BSK).BSK được tiến hành cổ phần hoá vào tháng 12/1993, chậm hơn so với WBK 9tháng Nhằm tránh tình trạng định giá cổ phiếu thấp quá như đã diễn ra vớiWBK nên cổ phiếu lần này được lên kế hoạch bán đấu giá công khai Tuynhiên, quá trình bán đấu giá công khai đã không thành công do có sự thay đổi

về Chính phủ sau bầu cử Vì vậy, giá bán cổ phiếu ngân hàng này được địnhgiá là 25 USD/cổ phiếu Tỷ lệ công nhân viên được mua ưu đãi giá 12,5 USD/

cổ phiếu là 10% cổ phần, nhà nước giữ 33%, bán cho nhà đầu tư chiến lượcING Bank của Hà Lan 25,9%, số còn lại bán cho các nhà đầu tư trong nước.Đến ngày 25/1/1994, cổ phiếu ngân hàng này được niêm yết và lần này thì giá

cổ phiếu được thị trường chấp nhận tại phiên giao dịch đầu tiên là 337,5 USD/

cổ phiếu (cao hơn gấp 13,5 lần giá bán ban đầu khi tiến hành CPH) Đếntháng 7/1996, ING mua thêm 28% cổ phần của nhà nước và nắm tỷ lệ chi

Trang 17

phối là 54%.

Ngân hàng thứ ba được tiến hành CPH là ngân hàng Handlowy (BPH) vào tháng 1/1995 Tuy nhiên, đây là ngân hàng có chấtlượng quản lý và tín dụng thấp hơn so với 2 ngân hàng trước nên mặc dù đãđưa cổ phiếu ra đấu giá công khai nhưng giá bán (giá trúng thầu) bằng đúngvới giá thấp nhất của Chính phủ đưa ra ban đầu và nhà nước vẫn nắm 43% cổphần

Przemyslowo-Trước tình hình đó, năm 1995 chính phủ Ba Lan đã lên kế hoạch củng

cố các ngân hàng trước khi tiến hành CPH rộng hơn nữa Đây là kế hoạch vừa

để đảm bảo tận thu cho ngân sách nhà nước, vừa hạn chế tỷ lệ nắm giữ cổphần chi phối của nước ngoài

Tháng 12/1995, ngân hàng thứ tư được tiến hành CPH là ngân hàngGdanski (BG) Kế hoạch được thông báo là 33% cổ phiếu được bán cho cácnhà đầu tư nước ngoài theo danh mục đầu tư (không bán cho 1 hoặc 2 đối tácchiến lược như các ngân hàng CPH trước), 33% được bán cho các nhà đầu tưtrong nước, 4% được bán cho cán bộ công nhân viên ngân hàng, còn lại 30%nhà nước vẫn tiếp tục nắm giữ Như vậy, kế hoạch này đã thể hiện ý chí củachính phủ lúc đó là không muốn một hoặc một nhóm nhỏ những đối tác nướcngoài sẽ nắm được cổ phần chi phối

Cuối năm 1995, với cố gắng nhằm tránh sự chi phối hệ thống ngân hàngcủa các nhà đầu tư từ nước ngoài và sự cạnh tranh của các ngân hàng nướcngoài, Chính phủ đã công bố kế hoạch củng cố các ngân hàng còn lại bằngviệc sáp nhập tất cả các NHTMNN còn lại cùng với ngân hàng BPH thành haingân hàng lớn

Đầu tiên là Handlowy (BH) – một ngân hàng tư nhân hoạt động từ năm

1870 và được quốc hữu hoá sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II Đây là ngânhàng hoạt động lâu nhất tại Ba Lan và là một ngân hàng mạnh, không phải cải

tổ nhiều

Nhóm thứ hai là ngân hàng Pekao S.A đã đứng ra sáp nhập 3 NHTMNN khác

Trang 18

vào để thành lập nên ngân hàng Peokao Hiện nay, đây là ngân hàng lớn nhất

Ba Lan, chiếm 20% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng

Một số bài học kinh nghiệm về CPH các NHTMNN của Ba Lan:

Thứ nhất, có quá nhiều mục tiêu được đặt ra cho việc CPH NHTMNNcộng với sự bất ổn về chính trị, đặc biệt là mục tiêu ưu tiên của Chính phủthay đổi sẽ làm cho tiến trình CPH chậm lại, từ đó ảnh hưởng chung đến sựphát triển của hệ thống ngân hàng

Thứ hai, vấn đề định giá cổ phiếu hay là việc đánh giá giá trị tài sản doanhnghiệp là vấn đề quan trọng Nếu làm sai có thể gây thất thoát lớn cho ngânsách nhà nước

Không lường trước được nhu cầu của thị trường về cổ phiếu của một ngânhàng có thể gây bất ổn cho cả quá trình CPH DNNN nói chung

Phát triển thị trường giao dịch chứng khoán song hành với việc CPH doanhnghiệp

Có kế hoạch thu hút các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài cụ thể, tránhtình trạng chữa cháy khi thấy không kiểm soát được hệ thống ngân hàng

1.2.2.4 Kinh nghi m c a Trung Qu c: – Những tồn tại trong quá trình CPH DNNN: ệp nhà n ủ tiến hành CPH NHTM thuộc sở hữu Nhà ối với ngân hàng:

Hệ thống ngân hàng vẫn được coi là một trong những điểm yếu nhất củanền kinh tế Trung Quốc, khiến cho việc tăng trưởng kinh tế của Trung Quốcgặp rủi ro Trong nhiều năm qua, Chính phủ Trung Quốc đã dành sự ưu tiênđặc biệt đối với cuộc cải cách hệ thống ngân hàng, trước hết là các ngân hàngthương mại quốc doanh (NHTMQD) nhằm bảo đảm cho Trung Quốc có thểduy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đã tiến hành hàng loạt cácbiện pháp nhằm lành mạnh hoá hệ thống ngân hàng, chuẩn bị cho kế hoạch cổphần hoá các NHTMQD trước khi Trung Quốc mở cửa toàn bộ khu vực tàichính ngân hàng vào năm 2007 theo cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới

Công việc trước tiên mà Trung Quốc chú trọng là cải thiện tình hình tài

Trang 19

chính của các NHTMQD trước khi tiến hành cổ phần hoá thông qua các biệnpháp xử lý nợ khó đòi và các đợt tiếp thêm vốn cho các ngân hàng Trongvòng 5 năm kể từ khi được Chính phủ thành lập chỉ có một công ty quản lý tàisản (AMC) tổ chức thành công hai lần bán đấu giá quốc tế các khoản nợ khóđòi và số nợ được xử lý chỉ bằng 35% tổng số nợ được chuyển giao với tỉ lệthu hồi vốn vào khoảng 17,3% so với giá trị ban đầu của khoản nợ Vì vậy vẫncòn tới hàng trăm tỉ USD nợ khó đòi đang được treo trên sổ sách của cácNHTMQD Mới đây, Công ty quản lý tài sản nhà nước Cinda của Trung Quốc

đã mua vào 33,7 tỉ USD (278,7 tỉ CNY) nợ xấu từ Ngân hàng Trung Quốc vàNgân hàng Kiến thiết Trung Quốc khi 2 ngân hàng này chuẩn bị niêm yết cổphiếu trên thị trường chứng khoán

Vào năm 1998, Bộ Tài chính đã tiếp thêm 270 tỉ CNY cho cácNHTMQD nhưng cũng không giải quyết được vấn đề Đồng thời quỹ an toànvốn đặc biệt đã được thành lập để nâng tỷ lệ an toàn vốn cho 4 NHTMQD,nhưng trong vòng 5 năm qua, các ngân hàng này cũng chưa đáp ứng được yêucầu này Đợt tiếp thêm vốn và xoá nợ gần đây nhất trị giá 1.670 tỉ CNY (200 tỉUSD) cũng chưa đủ để giúp 4 NHTMQD Trung Quốc thoát khỏi gánh nặng nợkhó đòi

Như vậy, chi phí để cứu trợ các ngân hàng Trung Quốc đã là khá lớnnếu so sánh với tổng chi phí ước tính từ 145 tỉ USD đến 175 tỉ USD mà Mỹ

đã phải bỏ ra trong chương trình cứu trợ các ngân hàng tiết kiệm khỏi bị sụp

Trang 20

mới Thậm chí những dự báo của các nhà phân tích độc lập thì cho rằng con số

nợ khó đòi tại 4 NHTMQD Trung Quốc có thể lên tới gần 420 tỉ USD Nhữngthống kê chính thức cho thấy nợ xấu chiếm khoảng 23% (2000 tỉ CNY) tổng

dư nợ, nhưng theo Standard & Poor’s và Moody’s thì tỉ lệ này lên tới 40%(3500 tỉ CNY) Ngân hàng tốt nhất trong số 4 ngân hàng này chỉ đạt tỉ lệ antoàn vốn là 4-5%, được coi là đã phá sản về mặt kỹ thuật (technical bankrupt)

Để đạt được tỉ lệ an toàn vốn 8% thì 4 ngân hàng này phải cần đến khoảng 500

tỉ CNY Đó là lý do tại sao Trung Quốc đang tìm mọi biện pháp để tiếp thêmvốn và niêm yết 4 ngân hàng này trên thị trường chứng khoán, khi WTO yêucầu Trung Quốc mở cửa các thị trường tài chính vào cuối năm 2006

Cuối tháng 12/2003 Trung Quốc đã quyết định sử dụng dự trữ ngoại tệquốc gia để tiếp thêm vốn cho các NHTMQD Trung Quốc đã tiếp thêm 45 tỉUSD – khoảng một phần 10 số dự trữ ngoại tệ quốc gia – cho 2 ngân hàng tốtnhất trong số 4 NHTMQD lớn nhất của nước này là Ngân hàng Kiến thiếtTrung Quốc và Ngân hàng Trung Quốc Tiếp đến sẽ là Ngân hàng Côngthương Trung Quốc nhận khoảng 40 tỉ USD, sau đó kế hoạch tiếp vốn sẽ được

mở rộng sang cho hàng trăm NHTM nhỏ khác của Trung Quốc Tổng chi phícủa lần tiếp vốn này có thể lên tới 120 tỉ USD Mục tiêu của kế hoạch tiếp vốnlần này là giúp các NHTM củng cố lòng tin đối với các nhà đầu tư trước khiniêm yết trên thị trường chứng khoán và trở nên năng động hơn trong việc bánthẳng các khoản nợ tồn đọng cho các nhà đầu tư mà không phải thông qua cácAMC nữa

Trong khi các khoản cứu trợ các ngân hàng đang được xây dựng thì việc

sử dụng dự trữ ngoại tệ đã gây ra nhiều ngạc nhiên Tính đến nay, hầu hết cáckhoản tiếp thêm vốn cho các ngân hàng là từ trái phiếu chính phủ hoặc các quỹtrong nước của NHTW Trung Quốc Theo Jonathan Anderson – một nhà chiếnlược của UBS tại Hồng Kông thì kế hoạch tiếp thêm vốn cho các ngân hàngcủa Trung Quốc cho đến nay được thực hiện nhanh là do nó không đòi hỏiphải có những phê chuẩn ưu tiên từ cơ quan lập pháp và không làm gia tăng

Trang 21

các khoản nợ của Chính phủ Việc Chính phủ Trung Quốc sử dụng dự trữngoại tệ để tiếp vốn cho các ngân hàng một mặt không đòi hỏi Chính phủTrung Quốc phải vay tiền trên thị trường trong nước để hỗ trợ cho các ngânhàng, mặt khác sẽ làm giảm lượng dự trữ ngoại hối đang tăng quá nhanh, theoNHTW Trung Quốc, tính đến cuối năm 2003 là 403 tỉ USD Nhưng chắc chắn

kế hoạch tiếp vốn bằng USD như thế này sẽ gây áp lực lên đồng CNY do cáckhoản nợ tồn đọng của các ngân hàng chủ yếu bằng đồng CNY Chính vì vậy,trước mắt các ngân hàng sẽ không được dùng số vốn này để xoá các khoản nợtồn đọng Bởi vì nếu chuyển đổi ngay một lượng vốn lớn như vậy sẽ tạo ra sức

ép tăng giá rất mạnh lên đồng CNY

Bằng việc ưu tiên 2 ngân hàng tốt nhất trong số 4 ngân hàng lớn nhất,

các cơ quan chức năng của Trung Quốc đang bắt đầu một sự kết thúc có quản

lý (manageable end) những vấn đề của hệ thống ngân hàng Trung Quốc Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Kiến thiết Trung Quốc dự kiến cũng sẽ được niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán trong nước và thị trường chứng khoán Hồng Kông vào cuối năm 2004 hoặc đầu năm 2005 Nếu hai ngân hàng

còn lại là Ngân hàng Công thương Trung Quốc và Ngân hàng Nông nghiệpcũng đáp ứng được những yêu cầu cần thiết thì họ cũng được phép làm nhưvậy

Thay vì xoá các khoản nợ khó đòi, Ngân hàng Trung Quốc và Ngânhàng Kiến thiết Trung Quốc sẽ sử dụng số tiền đó để tăng tỉ lệ an toàn vốn và

vì thế hỗ trợ hoạt động cho vay mới được cho là có khả năng mang lại nhiềulợi nhuận hơn Chính phủ Trung Quốc có ý định cho các ngân hàng này thờigian để thanh toán khỏi vấn đề nợ khó đòi

tiền gửi chuyển nhượng.

Bên cạnh các biện pháp trên, để giúp các NHTMQD tăng cơ sở vốn,NHTW Trung Quốc cho biết trong năm nay cũng sẽ cho phép các NHTMQDphát hành trái phiếu thứ cấp và chứng chỉ tiền gửi chuyển nhượng sau khi ban

Trang 22

hành các quy định mới về tài chính cho phép các ngân hàng bán các khoản nợthứ cấp trên thị trường liên ngân hàng trong nước hoặc thông qua các cơ sở tưnhân Ngày 7/7/2004 vừa qua, Ngân hàng Trung Quốc đã phát hành 14,07 tỉCNY (1,7 tỉ USD) trái phiếu thứ cấp trên thị trường liên ngân hàng có thời hạn

10 năm và với coupon hàng năm là 4,87% nhằm tăng cơ sở vốn và cải thiệntình hình tài chính Đây chỉ là đợt phát hành đầu tiên trong kế hoạch phát tráiphiếu thứ cấp trị giá tới 60 tỉ CNY (7,2 tỉ USD) của ngân hàng này trước khi

cổ phần hoá Đây là một trong các phương thức cho phép các NHTM bổ sungthêm vốn thông qua việc thu hút hàng triệu USD khi phát hành trái phiếu Cả 4NHTMQD của Trung Quốc dự định phát hành tổng cộng 36 tỉ USD trái phiếuthứ cấp nhằm cố đạt được tỉ lệ an toàn vốn gần với mức 8% theo tiêu chuẩnquốc tế

Theo các nhà phân tích nước ngoài, danh mục những việc mà các ngânhàng Trung Quốc cần phải tiến hành để cải cách bao gồm:

Cắt bỏ tất cả các khoản cho vay dành cho các doanh nghiệp nhà nước dướihình thức các khoản trợ cấp xã hội vì các lý do chính trị

Thắt chặt các điều kiện cho vay và tăng cường quản lý rủi ro

Các nhà quản lý ngân hàng phải làm việc như các nhà ngân hàng chuyênnghiệp chứ không phải là thành viên của các tổ chức chính trị, xã hội

Cải tiến công tác kiểm toán và chống tham nhũng triệt để

ít nhất 5 chủ sở hữu

Theo luật pháp Trung Quốc đã được sửa đổi, để được niêm yết trên thịtrường chứng khoán, các ngân hàng phải có ít nhất 5 chủ sở hữu Một chủ sởhữu sẽ là Nhà nước, có thể thông qua Central Huijin Investment – một công tyđược thành lập tháng 12/2003 cho mục đích này Khi các NHTMQD chuyểnsang hình thức công ty cổ phần, 45 tỉ USD trên dây sẽ được chuyển dổi sangthành cổ phần trên sổ sách của công ty trên Như vậy về thực chất sau khi đượcniêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế, Chính phủ Trung Quốc vẫn nắm

Trang 23

giữ đa số cổ phần của các NHTMQD Công ty này cũng sẽ được uỷ thác quản

lý một phần dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc Bộ Tài chính cũng đã chuẩn bị đểmua cổ phần tại các ngân hàng lớn, nhằm dọn đường cho các công cụ mới Vềvấn đề lãi suất, có lẽ Bộ Tài chính sẽ đưa ra mức lãi suất khá hấp dẫn chắcchắn sẽ bằng hoặc thấp hơn mức lợi tức trái phiếu chính phủ Mỹ do phần lớn

dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc được đầu tư dưới hình thức này

Kế hoạch cổ phần hoá các ngân hàng thương mại của Trung Quốc đượcbắt đầu từ các ngân hàng tốt nhất, đó là hai ngân hàng Ngân hàng Trung Quốc

và Ngân hàng Kiến thiết Trung Quốc Việc phát hành cổ phiếu lần đầu tiên

trên thị trường chứng khoán của các ngân hàng hiện đang là vấn đề nóng được

các nhà đầu tư quan tâm CBRC cho biết họ sẽ giám sát chặt chẽ quá trình cổphần hoá Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Kiến thiết Trung Quốc CBRCđang hối thúc 2 ngân hàng này dự thảo kế hoạch tái cơ cấu, xây dựng các biệnpháp ngăn chặn rủi ro, bảo đảm quyền lợi của cán bộ ngân hàng và người gửitiền

Ngân hàng Kiến thiết Trung Quốc dự kiến sẽ niêm yết trên thị trườngchứng khoán nước ngoài vào cuối năm nay, Ngân hàng Trung Quốc vào năm

2005 Mới đây, Ngân hàng Trung Quốc vừa công bố sẽ hoàn tất kế hoạch cổphần hoá vào tháng 10 năm nay Tỷ lệ nợ khó đòi tại Ngân hàng Trung Quốcvào cuối tháng 3/2004 là 14,8% tổng dư nợ, giảm 1,4% so với cuối năm 2003

và dự kiến sẽ giảm tới mức 1 chữ số vào cuối năm nay Ngân hàng này cũngđang lựa chọn các nhà đầu tư trong số 6 nhà đầu tư chiến lược để bảo đảm sựthành công của kế hoạch cổ phần hoá

Ngân hàng Công thương Trung Quốc dự kiến cũng được cổ phần hoávào năm 2007 Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc, ngân hàng được đánhgiá là yếu kém nhất trong số 4 NHTMQD Trung Quốc dự kiến sẽ làNHTMQD cuối cùng tiến hành cổ phần hoá Cuộc cải cách tại Ngân hàngNông nghiệp Trung Quốc cũng đang được tăng tốc Theo Chủ tịch Ngân hàng

Trang 24

Nông nghiệp Trung Quốc, ông Yang Mingsheng thì ngân hàng này cần thêmthời gian để chuẩn bị cho việc phát hành cổ phiếu lần đầu, dự kiến vào năm

2007 Tính đến cuối tháng 5/2004, tỉ lệ nợ xấu của ngân hàng này ở mức 27%tổng dư nợ, giảm so với mức trên 29% vào đầu năm 2004 Mới đây, như mộtphần trong nỗ lực chuẩn bị cho việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứngkhoán trong vòng 2 năm tới, lần đầu tiên Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc

đã thực hiện bán trực tiếp một phần trong số các khoản nợ xấu của ngân hàngnày cho các nhà đầu tư nước ngoài Mục tiêu của ngân hàng này là giảm tỉ lệ

nợ xấu xuống còn 25% vào cuối năm nay Ông Yang Mingsheng cho biết bướctiếp theo ngân hàng này sẽ xem xét bán một phần số nợ khó đòi cho các ngânhàng nước ngoài lớn, chẳng hạn như Citigroup

Trang 25

CH ƯƠNG I NG 2

TI N TRÌNH C PH N HO NG N H NG TH ẾN TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ Ổ PHẦN HOÁ CÁC NGÂN ẦN HOÁ CÁC NGÂN Á CÁC NGÂN ÂN ÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC (CPH NHTMNN) ƯƠNG I NG M I NH ẠI NHÀ NƯỚC (CPH NHTMNN) ÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC (CPH NHTMNN)

N ƯỚC (CPH NHTMNN) Ở VIỆT NAM C VI T NAM ỆT NAM

2.1 Khái quát chung v ho t đ ng c a NHTMNN Vi t Nam: – Những tồn tại trong quá trình CPH DNNN: ề CPH NHTMNN: ạt được từ việc CPH DNNN ở Việt Nam: ột số Quốc gia trên thế ủ tiến hành CPH NHTM thuộc sở hữu Nhà ệp nhà n

Đến nay trong hệ thống các NHTMNN ở nước ta có 5 ngân hàng thuộc

sở hữu của nhà nước, đó là: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn(Agribank), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), Ngân hàng Côngthương Việt Nam (ICB), Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV),Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB) Các ngân hàngtrên đều được tách ra từ Ngân hàng Nhà nước trước đây (trừ Ngân hàng Pháttriển nhà Đồng bằng sông Cửu Long), và có những đặc điểm khác nhau trênnhiều mặt: VCB và BIDV đã có trên 40 năm lịch sử hình thành và phát triển,trong khi đó Agribank và ICB trên 15 năm, và mới nhất là MHB gần 6 năm.Tuy là các NHTM, nhưng các ngân hàng nói trên cũng có những đặc thù tronghoạt động và tổ chức, trong đó rõ nhất là VCB có tỉ lệ kinh doanh bằng ngoại

tệ thường chiếm trên 50%, và mạng lưới không trải rộng (chỉ có trên 20 chinhánh); Agribank chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn,

có chi nhánh phụ thuộc ở hầu hết các tỉnh, thành phố, quận huyện và nhiềuphòng giao dịch ở các cụm dân cư; MHB còn có chức năng cho vay phục vụphát triển khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (xây dựng khu dân cư vùng lũlụt, làm nhà trên cọc…); BIDV trong những năm trước đây lại chủ yếu cho vayđầu tư phát triển, theo kế hoạch nhà nước, phần lớn là cho vay trung dài hạnvới món cho vay lớn (sau này bàn giao sang Quỹ Hỗ trợ phát triển)…

2.1.1 Th c tr ng ho t – Những tồn tại trong quá trình CPH DNNN: ực trạng hoạt động của các NHTMNN trước năm 2001: ạt được từ việc CPH DNNN ở Việt Nam: ạt được từ việc CPH DNNN ở Việt Nam: đột số Quốc gia trên thế ng c a các NHTMNN tr ủ tiến hành CPH NHTM thuộc sở hữu Nhà ước c n m 2001: ăm 2001:

Do hậu quả của nền kinh tế tập trung bao cấp,hoạt động của cácNHTMNN gặp rất nhiều khó khăn và bộc lộ những yếu kém như: Quy mô hoạtđộng nhỏ, lạc hậu về công nghệ,nghèo nàn về dịch vụ ngân hàng, tình hình tài

Trang 26

chính không lành mạnh và khả năng cạnh tranh thấp Điều này thể hiện ởnhững điểm sau:

2.1.2 C c u t i chính, nhân l c, t ch c NHTMNN giai o n 2001- – Những tồn tại trong quá trình CPH DNNN: ơ ấu tài chính, nhân lực, tổ chức NHTMNN giai đoạn 2001- à n ực trạng hoạt động của các NHTMNN trước năm 2001: ổ phần hoá Doanh nghiệp nhà n ức NHTMNN giai đoạn 2001- đ ạt được từ việc CPH DNNN ở Việt Nam: 2004

Để cải thiện thình hình của các NHTMNN, cuối năm 2001, Thủ tướngChính phủ đã phê duyệt Đề án cơ cấu lại các NHTMNN Trong đó xác địnhnội dung cơ cấu lại tài chính các NHTMNN là cấp bổ sung vốn điều lệ cho cácNHTMNN để dần đạt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định của quốc tế là8%, và xử lý dứt điểm các khoản nợ tồn đọng còn dư nợ đến thời điểm ngày31/12/2000

Đến nay sau 3 năm triển khai thực hiện, hoạt động cơ cấu lại tài chính cácNHTMNN đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần làm lành mạnh tìnhhình tài chính cảu các NHTMNN, củng cố thêm vai trò chủ đạo của cácNHTMNN trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, từng bước nâng cao khả năngcạnh tranh và hội nhập vào hoạt động tài chính ngân hàng của khu vực và thếgiới Kết quả cơ cấu lại tài chính các NHTMNN được thể hiện trên các mặt sauđây:

2.1.2.1 N ng l c t i chính: – Năng lực tài chính: ăng lực tài chính: ực tài chính: ài chính:

Các NHTMNN đều xác định nhiệm vụ cơ cấu lại tài chính là nhiệm vụ

Trang 27

trọng tâm hàng đầu trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới.

Trong năm 2002, các ngân hàng đã thành lập bộ phận chuyên trách tại trụ sởchính để chỉ đạo, theo dõi tiến độ cơ cấu lại tài chính: thành lập và đưa vàohoạt động 4 công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, trực thuộc 4 NHTMNN đểtiếp nhận và xử lý các khoản nợ và tài sản tồn đọng

a.Vốn tự có và tỷ lệ an toàn vốn:

Vốn tự có của các NHTMNN tăng liên tục trong hai năm 2002, 2003 với tỷ

lệ 69% và 42%, đạt mức 17018 tỷ đồng vào cuối năm 2003 Sự gia tăng vốn tự

có chủ yếu bắt nguồn từ hoạt động nhà nước cấp vốn bổ sung điều lệ cho cácNHTMNN, chỉ tính riêng trong hai năm 2001-2003, tổng số vốn điều lệ cấp bổsung cho 5 NHTMNN lên tới 9.346 tỷ đồng, chiếm khoảng 55% vốn tự có tạithời điểm cuối năm 2003 Mặc dù Chính phủ đã nỗ lực trong việc xử lý nợ và

bổ sung vốn điều lệ cho các NHTMNN, song hệ số Vốn tự có/Tổng tài sản cóđiều chỉnh theo mức độ hệ số rủi ro (hệ số CAR) của các NHTMNN chỉ đạt4,5% hệ số này thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu là 8% được quy địnhtrong Thoả ước Basel (gọi tắt là thoả ước về vốn) Nếu theo tiêu chuẩn kế toánquốc tế IAS thì 3 Ngân hàng (Công thương, Đầu tư và Nông nghiệp) đang cóvốn tự có âm do chưa trích đủ dự phòng rủi ro đối với các khoản nợ xấu Mứcvốn tự có của các NHTMNN chỉ đạt mức 1/6 so với các Ngân hàng trong khuvực Tốc độ tăng trưởng tín dụng và tài sản bình quân là 20%/ năm trong cácnăm 2000-2003 nhưng hiệu quả lại không tương xứng với quy mô vốn (tốc độtăng trưởng tín dụng của các ngân hàng ở khu vực các nền kinh tế mới nổi ởChâu Á là 12,15%) Trong khi tỷ lệ an toàn vốn của các NHTM trong khu vựcđạt 13% thì khoảng cách của các NHTM Việt Nam là quá xa so với trong khuvực Đây chính là khó khăn đầu tiên và nan giải của các NHTMNN trong quátrình tái cơ cấu, gây khó khăn cho các ngân hàng này về khả năng mở rộng tíndụng, đầu tư kinh doanh vào những ngành có khả năng sinh lời cao như chứngkhoán, ngoại tệ, cho vay không có bảo đảm…cũng như nâng cao chất lượngtín dụng

Trang 28

Để đảm bảo đủ vốn theo chuẩn mực quốc tế, đến cuối năm 2003 cacNHTMNN cần phải bổ sung thêm 13.082 tỷ đồng Giả sử trong giai đoạn2004-2010, tổng tài sản có của các NHTMNN tiếp tục tăng trung bình25%/năm, trong khi đó nguồn vốn tự có chỉ tăng 6% (chỉ nguồn tích luỹ nội

bộ, do ngân sách nhà nước không cấp thêm), thì đến cuối năm 2010, hệ sốCAR của các NHTMNN chỉ còn khoảng 1,4% và để đáp ứng theo chuẩn mựcquốc tế thì các NHTMNN cần phải bổ sung then một lượng vốn tự có vàokhoảng 117.940 tỷ đồng Như vậy nếu không tìm được giải pháp thì cácNHTMNN sẽ lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng để có thể đảm bảo antoàn hoạt động và phát triển bền vững

Bảng 1 – M t s ch s v v n c a các NHTMNNộng vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới

Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản có (%) 25,55 33,38 24,95 26,59 24,11

Tổng tài sản có điều chỉnh theo rủi ro (tỷ

Trang 29

Bảng 2 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của 4 NHTMNN ( 6/2004)

Theo thông lệ quốc tế, một ngân hàng tốt trên thế giới thường có ROAtrung bình là 1%, và ROE là 15% Như vậy khả năng sinh lời hiện nay của các

Trang 30

NHTMNN là rất thấp so với các ngân hàng tốt trên thế giới Trong giai đoạn1999-2003, chỉ số ROA của các NHTMNN chỉ đạt khoảng 0,38% trong khi đóchỉ số ROE lại có khuynh hướng giảm liên tục trong giai đoạn 2001-2003, từmức 15,85% năm 2001 xuống còn 6,54% năm 2003 Nguyên nhân khả năngsinh lời thấp là do tỷ lệ nợ không sinh lời (NPL) quá lớn Ngoài ra do nhu cầucạnh tranh, các NHTMNN chú trọng phát triển mạng lưới, đẩy chi phí lên,trong khi chênh lệch lãi suất huy động và cho vay có xu hướng giảm Một lý

do nữa là do dịch vụ và sản phẩm của các NHTMNN vẫn cón nghèo nàn,những dịch vụ mới như được quy định trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹvẫn chưa phát triển, chưa tạo được nhiều nguồn thu từ các dịch vụ phi tíndụng

M t s ch tiêu ánh giá hi u qu ho t ộng vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn đ ệc huy động vốn ả ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH động vốnng

Nếu so sánh ROA của NHTMNN Việt Nam với các nước trong khu vựcthì các NHTMNN của ta ở mức độ thấp Ví dụ Malaysia, ROE bình quân trongkhoảng 3 năm gần đây đạt trên 20% và ROA trên 4%

Nếu tính theo tiêu chuẩn kế toán quốc tế ISA thì tỉ lệ nợ xấu thực tế củacác NHTMNN dao động ở mức 40% tổng dư nợ, gấp 8 lần cho phép, trong đó58% là nợ quá hạn không có khả năng thu hồi Còn theo tiêu chuẩn kế toán củaViệt Nam thì tỷ lệ này là 13,7% vào năm 1999; 7,6% vào cuối năm 2002 và5,8% vào năm 2003 Nếu so sánh với các nước trong khu vực thì nợ quá hạncủa Việt nam chưa phải là lớn (Hàn Quốc 10%, Thái Lan 39% tổng dư nợ-theoWB) nhưng chúng ta có độ rủi ro cao hơn (tỷ lệ nợ quá hạn của NHTMNN gấp

Trang 31

4 lần vốn tự có) Hơn nữa quan điểm phân loại nợ của Việt Nam chưa dựa vào

cơ sở định tính mà mới chỉ là định lượng, chưa dựa vào cơ sở phân loại nợquốc tế, các NHTMNN trên thực tế vẫn có thể cho vay đảo nợ, biến nợ quáhạn thành nợ trong dài hạn…

Nhờ những biện pháp quản trị rủi ro tín dụng hiện đại, nên tỷ lệ nợ xấucủa các NHTMNN giảm liên tục trong những năm qua Tính đến 31/12/2003,

nợ xấu của các NHTMNN theo tiêu chuẩn Việt Nam là 5,01%, thấp hơn nhiều

so với các năm trước Đây có thể coi là thành công của các NHTMNN trongviệc xử lý và ngăn ngừa nợ xấu (NPL) trong các NHTMNN vẵn còn rất lớn Vìvậy các NHTMNN cần tập trung quản lý rủi ro tín dụng, trước hết là áp dụngcác quy trình quản lý tín dụng thận trọng đã được đặt ra trong các sổ tay tíndụng mà các NHTMNN đã xây dựng

Như vậy, qua 3 năm thực hiện đề án tái cơ cấu đến năm 2010, cácNHTMNN đã có những bước phát triển nhanh về quy mô, tổng tài sản tăngliên tục với tốc độ cao, mạng lưới chi nhánh và văn phòng mở rộng khắp cảnước Tuy nhiên, trước xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tếđang diễn ra ngày càng sâu sắc, các NHTMNN đang phải đương đầu với nhiềuthách thức Thách thức lớn nhất hiện nay là năng lực quản lý điều hành vẫncòn yếu kém, cản trở sự phát triển nhanh và bền vững của ngân hàng Thứ hai,sản phẩm dịch vụ vẫn còn nghèo nàn, đơn điệu, chưa tương xứng với tiềmnăng và nhiệm vụ đặt ra đối với ngân hàng Cuối cùng, quy mô vốn tự có nhỏcũng đang là thách thức lớn trong điều kiện tăng trưởng tài sản cao, và yêu cầu

về vốn ngày càng chặt chẽ để đảm bảo an toàn hoạt động và nâng cao năng lựccạnh tranh

S li u v n x u c a các NHTMNN ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ệc huy động vốn ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ợc nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ất hiệu quả ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới đếu tính tổng số vốn nhà nướcn 31/5/2004

Nợ khó đòi

Nợ chờ xử lý khác

Trang 32

2.1.2.2 V ngu n nhân l c – Năng lực tài chính: ề nguồn nhân lực ồn nhân lực ực tài chính:

Nhân l c c a các ngân hàng Vi t Nam hi n nay kho ng 60.000ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ệc huy động vốn ệc huy động vốn ả

người, trong đó VCB khoảng 4.000 người, ICB khoảng 13.000 người,i, trong ó VCB kho ng 4.000 ngđ ả ười, trong đó VCB khoảng 4.000 người, ICB khoảng 13.000 người,i, ICB kho ng 13.000 ngả ười, trong đó VCB khoảng 4.000 người, ICB khoảng 13.000 người,i,Agribank kho ng 28.000 ngả ười, trong đó VCB khoảng 4.000 người, ICB khoảng 13.000 người,i M t hi n tộng vốn ệc huy động vốn ược nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcng chung là g n 90%ần 90%nhân l c các NHTMNN là t ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ở các NHTMNN là từ đội ngũ lao động do lịch sử để lại ừ đội ngũ lao động do lịch sử để lại động vốni ng lao ũ lao động do lịch sử để lại động vốnng do l ch s ịch sử để lại ử để lại để lại ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH l i

Ph n ông trong s h ít ần 90% đ ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ọng vốn nhà nước còn quá nhỏ nên hạn chế đến việc nâng cao được nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước đc ào t o v ki n th c kinh t thạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ếu tính tổng số vốn nhà nước ức cạnh tranh của doanh nghiệp ếu tính tổng số vốn nhà nước ịch sử để lại

trười, trong đó VCB khoảng 4.000 người, ICB khoảng 13.000 người,ng, động vốn ổng số vốn nhà nước tu i trung bình cao (trung bình kho ng 40), ch a có nhi uả ư ều Nếu tính tổng số vốn nhà nướckinh nghi m v kinh doanh và qu n lý c ng nh trình ệc huy động vốn ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ả ũ lao động do lịch sử để lại ư động vốn ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước v ngo iạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH

ng , tin h c T l lao # ọng vốn nhà nước còn quá nhỏ nên hạn chế đến việc nâng cao ỷ đồng thì mới ệc huy động vốn động vốnng gián ti p các NHTMNN là khá cao, cóếu tính tổng số vốn nhà nước ở các NHTMNN là từ đội ngũ lao động do lịch sử để lại.ngân hàng lên t i kho ng 30%, phân b các công vi c l tân, kớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ả ổng số vốn nhà nước ở các NHTMNN là từ đội ngũ lao động do lịch sử để lại ệc huy động vốn ễ tân, kế ếu tính tổng số vốn nhà nướctoán, ngân qu , lái xe, b o vỹ, lái xe, bảo vệ…Tỷ lệ đào tạo và đào tạo lại, tuy rất ả ệc huy động vốn…Tỷ lệ đào tạo và đào tạo lại, tuy rất ỷ đồng thì mới ệc huy động vốn đT l ào t o và ào t o l i, tuy r tạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH đ ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ất hiệu quả

c các ngân hàng quan qâm, song con s này c ng ch a t ngđược nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ũ lao động do lịch sử để lại ư ăm thực hiện CPH DNNN,

được nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ỷ đồng thì mới ệc huy động vốn đ ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ở các NHTMNN là từ đội ngũ lao động do lịch sử để lại động vốn đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ọng vốn nhà nước còn quá nhỏ nên hạn chế đến việc nâng cao đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ả

khi Thái Lan con s này là 70% Ch ở các NHTMNN là từ đội ngũ lao động do lịch sử để lại ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ếu tính tổng số vốn nhà nước động vốn đ ãi ng và thu nh pộng vốn ập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH

ch a tư ươngng x ng v i lao ức cạnh tranh của doanh nghiệp ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn động vốnng c ng là m t nguyên nhân gây ch yũ lao động do lịch sử để lại ộng vốn ảmáu ch t xám các NHTMNN trong nh ng n m qua, càng t o raất hiệu quả ở các NHTMNN là từ đội ngũ lao động do lịch sử để lại # ăm thực hiện CPH DNNN, ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPHkho ng cách l n v ngu n nhân l c c v s lả ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ồng thì mới ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ả ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ược nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcng và ch t lất hiệu quả ược nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcng

ngh m i vào ho t ệc huy động vốn ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH động vốnng ngân hàng thì s dôi d v lao ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ư ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước động vốnng t tất hiệu quả

y u s x y ra Nh ng các NHTMNN không ếu tính tổng số vốn nhà nước ẽ xảy ra Nhưng các NHTMNN không được coi là những doanh ả ư được nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcc coi là nh ng doanh#nghi p trong vi c s d ng lao ệc huy động vốn ệc huy động vốn ử để lại ụng công động vốnng, các giám đốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốnc không có quy n saều Nếu tính tổng số vốn nhà nước

th i lao ả động vốnng, người, trong đó VCB khoảng 4.000 người, ICB khoảng 13.000 người,i lao động vốnng thu c biên ch nhà nộng vốn ếu tính tổng số vốn nhà nước ước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốnc V i chi phíớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốncao, hi u qu kinh doanh th p, trình ệc huy động vốn ả ất hiệu quả động vốn nhân l c ch m ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH đổng số vốn nhà nướci m i , rõớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốnràng là áp l c v l c lực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ược nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcng lao động vốnng các NHTMNN là r t l n vàở các NHTMNN là từ đội ngũ lao động do lịch sử để lại ất hiệu quả ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn

c ng không d gi i quy t Tuy nhiên, các NHTMNN ph i c i cáchũ lao động do lịch sử để lại ễ tân, kế ả ếu tính tổng số vốn nhà nước ả ảquy t li t ếu tính tổng số vốn nhà nước ệc huy động vốn đốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốni v i nhân l c c a mình, mà gi i pháp t t nh t ây làực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ả ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ất hiệu quả ở các NHTMNN là từ đội ngũ lao động do lịch sử để lại đ

th c hi n CPH các NHTMNN.ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ệc huy động vốn

2.1.2.3 V c c u t ch c – Năng lực tài chính: ề nguồn nhân lực ơ cấu tổ chức ấu tổ chức ổ chức ức.

Các NHTM đều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcu t ch CPH thành 2 c p: tr s chính và chiổng số vốn nhà nước ức cạnh tranh của doanh nghiệp ất hiệu quả ụng công ở các NHTMNN là từ đội ngũ lao động do lịch sử để lại.nhánh t i tr s chính, các NHTMNN ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ụng công ở các NHTMNN là từ đội ngũ lao động do lịch sử để lại đều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcu k t c u chung v i H iếu tính tổng số vốn nhà nước ất hiệu quả ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ộng vốn

đồng thì mới ả ịch sử để lại đốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn đ ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ặc dù việc CPH DNNN rất hiệu quảphòng tr c thu c C c u này ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ộng vốn ơng ất hiệu quả được nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcc phân bi t ch y u v i 2 ch cệc huy động vốn ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ếu tính tổng số vốn nhà nước ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ức cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 33

n ng c b n là qu n tr i u hành và qu n lý kinh doanh Tuy nhiên,ăm thực hiện CPH DNNN, ơng ả ả ịch sử để lại đ ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ả

H i ộng vốn đồng thì mớing qu n tr ch a ho t ả ịch sử để lại ư ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH động vốnng uúng v i tính ch t là c quanđ ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ất hiệu quả ơng

qu n lý cao nh t c a NHTM ch a t p trung ả ất hiệu quả ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ư ập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH được nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcc m i thông tin trongọng vốn nhà nước còn quá nhỏ nên hạn chế đến việc nâng caongân hàng, th m chí có ngân hàng ch a xác nh rõ ch c n ng vàập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ư địch sử để lại ức cạnh tranh của doanh nghiệp ăm thực hiện CPH DNNN,quy n h n c a H QT Vì v y s ph i k t h p gi a H QT và banều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ĐQT Vì vậy sự phối kết hợp giữa HĐQT và ban ập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ếu tính tổng số vốn nhà nước ợc nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước # ĐQT Vì vậy sự phối kết hợp giữa HĐQT và ban

đ ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ười, trong đó VCB khoảng 4.000 người, ICB khoảng 13.000 người, ắn kết Trải qua nhiều lần thay đổi ếu tính tổng số vốn nhà nước ả ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ần 90% đổng số vốn nhà nước

c c u t ch c thì NHTMNN ã thu ơng ất hiệu quả ổng số vốn nhà nước ức cạnh tranh của doanh nghiệp đ được nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcc nhi u kinh nghi m, song sều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ệc huy động vốn ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN,

ch ng chéo trong th c hi n nhi m v và th c hi n công vi n v n x yồng thì mới ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ệc huy động vốn ệc huy động vốn ụng công ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ệc huy động vốn ệc huy động vốn ẫn xảy ả

ra i u quan tr ng là nhi u v n ĐQT Vì vậy sự phối kết hợp giữa HĐQT và ban ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ọng vốn nhà nước còn quá nhỏ nên hạn chế đến việc nâng cao ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ất hiệu quả đều Nếu tính tổng số vốn nhà nước trong ngân hàng r t c n t pất hiệu quả ần 90% ập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPHtrung nh qu n tr r i ro (bao g m r i ro th trư ả ịch sử để lại ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ồng thì mới ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ịch sử để lại ười, trong đó VCB khoảng 4.000 người, ICB khoảng 13.000 người,ng, thanh kho n, tínả

d ng), qu n lý thanh kho n, qu n lý tài s n N -Có, v n ụng công ả ả ả ả ợc nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ất hiệu quả đều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ể lại ki m soát,

ki m toán n i b l i phân tán, thi u s h p tác, do ó không c p nh tể lại ộng vốn ộng vốn ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ếu tính tổng số vốn nhà nước ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ợc nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước đ ập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH

v thông tin và thi u hi u qu trong qu n tr N u so sánh v i cácều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ếu tính tổng số vốn nhà nước ệc huy động vốn ả ả ịch sử để lại ếu tính tổng số vốn nhà nước ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn

khi mà h s d ng lao ọng vốn nhà nước còn quá nhỏ nên hạn chế đến việc nâng cao ử để lại ụng công động vốnng h p lý v i c c u tinh g n.ợc nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ơng ất hiệu quả ọng vốn nhà nước còn quá nhỏ nên hạn chế đến việc nâng cao

Nh v y n u nhìn t ng quát v ho t ư ập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ếu tính tổng số vốn nhà nước ổng số vốn nhà nước ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH động vốnng c a các NHTMNNủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới

l c v a th a v a thi u, công ngh ch a phát tri n ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ừ đội ngũ lao động do lịch sử để lại ừ đội ngũ lao động do lịch sử để lại ừ đội ngũ lao động do lịch sử để lại ếu tính tổng số vốn nhà nước ệc huy động vốn ư ể lại đồng thì mớing b Nh ngộng vốn #

đ ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ần 90% đếu tính tổng số vốn nhà nước ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốnngân hàng có y u t nếu tính tổng số vốn nhà nước ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốnc ngoài, th m chí tính nhanh nh y c ngập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ũ lao động do lịch sử để lại.không b ng các NHTMCP trong nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốnc S c ì trong t ch c và th cức cạnh tranh của doanh nghiệp ổng số vốn nhà nước ức cạnh tranh của doanh nghiệp ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN,

hi n khá cao, kh n ng ng phó trệc huy động vốn ả ăm thực hiện CPH DNNN, ức cạnh tranh của doanh nghiệp ước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốnc m i bi n ọng vốn nhà nước còn quá nhỏ nên hạn chế đến việc nâng cao ếu tính tổng số vốn nhà nước động vốnng c a th trủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ịch sử để lại ười, trong đó VCB khoảng 4.000 người, ICB khoảng 13.000 người,ngkém ây là i u c c k nguy hi m c a các NHTMNN khi gia nh pĐQT Vì vậy sự phối kết hợp giữa HĐQT và ban đ ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ỳ nguy hiểm của các NHTMNN khi gia nhập ể lại ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPHWTO d tính vào cu i n m 2005.ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ăm thực hiện CPH DNNN,

ĐQT Vì vậy sự phối kết hợp giữa HĐQT và banức cạnh tranh của doanh nghiệp ước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn đ đ ếu tính tổng số vốn nhà nước ơng

c u theo ất hiệu quả đều Nếu tính tổng số vốn nhà nước án c a mình ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới để lại làm gia t ng n ng l c tài chính, c iăm thực hiện CPH DNNN, ăm thực hiện CPH DNNN, ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ả

ti n b máy qu n tr i u hành, nâng cao n ng l c c nh tranh Nh ngếu tính tổng số vốn nhà nước ộng vốn ả ịch sử để lại đ ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ăm thực hiện CPH DNNN, ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ư

v n ất hiệu quả đều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ơng ả c b n trong các cu c c i t doanh nghi p, xét cho ộng vốn ả ổng số vốn nhà nước ệc huy động vốn đếu tính tổng số vốn nhà nướcn cùng

là v n ất hiệu quả đều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ở các NHTMNN là từ đội ngũ lao động do lịch sử để lại # s h u N u gi i quy t ếu tính tổng số vốn nhà nước ả ếu tính tổng số vốn nhà nước được nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcc v n ất hiệu quả đều Nếu tính tổng số vốn nhà nước này thì m i khó kh nọng vốn nhà nước còn quá nhỏ nên hạn chế đến việc nâng cao ăm thực hiện CPH DNNN,

c a doanh nghi p c ng nh ngân hàng s ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ệc huy động vốn ũ lao động do lịch sử để lại ư ẽ xảy ra Nhưng các NHTMNN không được coi là những doanh được nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcc gi i quy t M i cả ếu tính tổng số vốn nhà nước ọng vốn nhà nước còn quá nhỏ nên hạn chế đến việc nâng cao ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn

g ng trong th i gian qua ắn kết Trải qua nhiều lần thay đổi ời, trong đó VCB khoảng 4.000 người, ICB khoảng 13.000 người, đều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcu ch a làm thay ư đổng số vốn nhà nước đ ều Nếu tính tổng số vốn nhà nướci i u c t y u này, doốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ếu tính tổng số vốn nhà nước

đ động vốn ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ẽ xảy ra Nhưng các NHTMNN không được coi là những doanh ư ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn

c ng không tri t ũ lao động do lịch sử để lại ếu tính tổng số vốn nhà nước để lại ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn v i nh ng b nh t t c h u ã t n t i hàng ch c# ệc huy động vốn ập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn # đ ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ụng công

n m qua ăm thực hiện CPH DNNN, ĐQT Vì vậy sự phối kết hợp giữa HĐQT và banức cạnh tranh của doanh nghiệp.ng trước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốnc s c ép l n c a s t n t i v i các doanh nghi pức cạnh tranh của doanh nghiệp ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ồng thì mới ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ệc huy động vốn

và ngân hàng khác trong khi s b o h c a Nhà nực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ả ộng vốn ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốnc v thu , phápều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ếu tính tổng số vốn nhà nước

lý…Tỷ lệ đào tạo và đào tạo lại, tuy rấtkhông còn được nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcc duy trì, thì gi i pháp mà các NHTMNN c n ả ần 90% đếu tính tổng số vốn nhà nướcn

là th c hi n CPH.ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ệc huy động vốn

Trang 34

2.1.2.4 K t q a c c u l i t i chính – Năng lực tài chính: ết qủa cơ cấu lại tài chính đến tháng 6/2004 ủa cơ cấu lại tài chính đến tháng 6/2004 ơ cấu tổ chức ấu tổ chức ại tài chính đến tháng 6/2004 ài chính: đết qủa cơ cấu lại tài chính đến tháng 6/2004 n tháng 6/2004.

V c p b sung v n đi u l : ề CPH NHTMNN: ấu tài chính, nhân lực, tổ chức NHTMNN giai đoạn 2001- ổ phần hoá Doanh nghiệp nhà n ối với ngân hàng: ề CPH NHTMNN: ệp nhà n

- ĐQT Vì vậy sự phối kết hợp giữa HĐQT và banếu tính tổng số vốn nhà nướcn 6/2004, nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn đc ã c p b sung v n i u l cho 4ất hiệu quả ổng số vốn nhà nước ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn đ ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ệc huy động vốnNHTMNN v i s ti n h n 9000 t VN , hoàn thành h n 85% kớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ơng ỷ đồng thì mới ĐQT Vì vậy sự phối kết hợp giữa HĐQT và ban ơng ếu tính tổng số vốn nhà nước

ho ch b sung v n i u l giai o n 2001-2004 ã ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ổng số vốn nhà nước ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn đ ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ệc huy động vốn đ ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH đ được nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcc Th tủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốnngChính Ph phê duy t V i k t qu này, t l an toàn v n t i thi uủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ệc huy động vốn ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ếu tính tổng số vốn nhà nước ả ỷ đồng thì mới ệc huy động vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ể lại

c a 4 NHTMNN ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới đếu tính tổng số vốn nhà nướcn tháng 6/2004 nh sau:ư

+ ICB: 4,43%

+ VCB: 4,7%

+ BIDV: 5,52%

+ Agribank: 6,17%

- D ki n trong 6 tháng cu i n m 2004, B tài chính s ph i h pực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ếu tính tổng số vốn nhà nước ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ăm thực hiện CPH DNNN, ộng vốn ẽ xảy ra Nhưng các NHTMNN không được coi là những doanh ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ợc nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước

v i Ngân hàng Nhà nớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốnc cùng B K ho ch và ộng vốn ếu tính tổng số vốn nhà nước ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ĐQT Vì vậy sự phối kết hợp giữa HĐQT và banần 90% ư để lại.u t xem xét,

c p b sung v n i u l cho 3 ngân hàng (VCB, ICB, Agribank) v iất hiệu quả ổng số vốn nhà nước ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn đ ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ệc huy động vốn ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn

s ti n g n 1500 t VN ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ần 90% ỷ đồng thì mới ĐQT Vì vậy sự phối kết hợp giữa HĐQT và ban

K t qu trên ây ã và s c i thi n ếu tính tổng số vốn nhà nước ả đ đ ẽ xảy ra Nhưng các NHTMNN không được coi là những doanh ả ệc huy động vốn được nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcc m t bộng vốn ước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốnc yêu c u v anần 90% ều Nếu tính tổng số vốn nhà nướctoàn v n t i thi u (so v i t l v an toàn v n th i i m 31/12/2000ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ể lại ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ỷ đồng thì mới ệc huy động vốn ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ời, trong đó VCB khoảng 4.000 người, ICB khoảng 13.000 người, đ ể lại

c a 4 NHTMNN trung bình là 3,05%), ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới đồng thì mớing th i t ng cời, trong đó VCB khoảng 4.000 người, ICB khoảng 13.000 người, ăm thực hiện CPH DNNN, ười, trong đó VCB khoảng 4.000 người, ICB khoảng 13.000 người,ng n ng l căm thực hiện CPH DNNN, ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN,tài chính và s ch ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới động vốnng trong vi c cho vay nh ng khách hàng cóệc huy động vốn #nhu c u v v n ần 90% ều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn đần 90% ư ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốnu t l n

K t qu x lý n t n đ ng: ế ả ử lý nợ tồn đọng: ợi ích đạt được từ việc CPH DNNN ở Việt Nam: ồn tại trong quá trình CPH DNNN: ọng:

Tính đếu tính tổng số vốn nhà nướcn tháng 6/2004, t ng s n t n ổng số vốn nhà nước ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ợc nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ồng thì mới đọng vốn nhà nước còn quá nhỏ nên hạn chế đến việc nâng caong ã x lý đ ử để lại được nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcc c aủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mớicác NHTMNN đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPHt kho ng 65,5% t ng s n t n ả ổng số vốn nhà nước ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ợc nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ồng thì mới đọng vốn nhà nước còn quá nhỏ nên hạn chế đến việc nâng caong c n x lý (nần 90% ử để lại ợc nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước

t n ồng thì mới đọng vốn nhà nước còn quá nhỏ nên hạn chế đến việc nâng caong có d n ư ợc nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước đếu tính tổng số vốn nhà nướcn 31/12/2000) Trong ó:đ

- Các NHTMNN t x lý b ng các bi n pháp t n thu h i n vàực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ử để lại ệc huy động vốn ập trung chỉ đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ồng thì mới ợc nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nướcdùng d phòng r i ro ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPHt 69,58%

- Nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốnc h tr ngu n ỗ trợ nguồn để các NHTMNN xử lý đạt 30,42% ợc nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ồng thì mới để lại các NHTMNN x lý ử để lại đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPHt 30,42%

K t q a trên th hi n n l c r t l n c a các Chính ph , các B ,ếu tính tổng số vốn nhà nước ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ể lại ệc huy động vốn ỗ trợ nguồn để các NHTMNN xử lý đạt 30,42% ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ất hiệu quả ớc trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ộng vốncác ngành và các NHTMNN trong vi c x lý n t n ệc huy động vốn ử để lại ợc nhiều Nếu tính tổng số vốn nhà nước ồng thì mới đọng vốn nhà nước còn quá nhỏ nên hạn chế đến việc nâng caong do l ch sịch sử để lại ử để lại

để lại ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ừ đội ngũ lao động do lịch sử để lại ước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH ả ổng số vốn nhà nước ếu tính tổng số vốn nhà nước ả

tín c a các NHTMNN trên trủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ười, trong đó VCB khoảng 4.000 người, ICB khoảng 13.000 người,ng qu c t ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ếu tính tổng số vốn nhà nước

2.1.3 Nh ng b t c p v c c u l i t i chính NHTMNN – Những tồn tại trong quá trình CPH DNNN: ững tồn tại trong quá trình CPH DNNN: ấu tài chính, nhân lực, tổ chức NHTMNN giai đoạn 2001- ập về cơ cấu lại tài chính NHTMNN ề CPH NHTMNN: ơ ấu tài chính, nhân lực, tổ chức NHTMNN giai đoạn 2001- ạt được từ việc CPH DNNN ở Việt Nam: à n

Trong th i gian qua, m c dù Chính ph , các B ngành vàời, trong đó VCB khoảng 4.000 người, ICB khoảng 13.000 người, ặc dù việc CPH DNNN rất hiệu quả ủa toàn bộ các doanh nghiệp đã CPH là 17.700 tỷ đồng thì mới ộng vốnNHTMNN r t n l c trong vi c ch ất hiệu quả ổng số vốn nhà nước ực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ệc huy động vốn đạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH đ ều Nếu tính tổng số vốn nhà nướco, i u hành và th c hi n tái cực tế là trong hơn 10 năm thực hiện CPH DNNN, ệc huy động vốn ơng

t n t i sau:ồng thì mới ạo CPH các DNNN quy mô nhỏ nên tuy số DNNN CPH

Ngày đăng: 31/07/2013, 13:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 – M t s  ch  s  v  v n c a các NHTMNN ộng vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ều - Một số vấn đề về cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước ở Việt Nam
Bảng 1 – M t s ch s v v n c a các NHTMNN ộng vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ốn nhà nước trong các DNNN CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn ều (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w