Để thực hiện thành công việc đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo và áp dụng Chuẩn đầu ra đối với sinh viên Học viện, việc phát triển văn hóa đọc sinh viên tại Học viện đã trở thành yêu cầ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: TSKH Nguyễn Thị Đông
HÀ NỘI – 2011
Trang 4DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Học viện……… 39
Sơ đồ 1.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trung tâm……….46
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Bảng số liệu thể hiện thông tin của cán bộ Trung tâm……… 48
Bảng 1.2: Cơ cấu số lượng sinh viên trong từng nhóm người dùng tin………54
Bảng 2.1: Nhu cầu, hứng thú đọc theo lĩnh vực thông tin 57
Bảng 2.2: Nhu cầu, hứng thú đọc theo loại hình tài liệu 58
Bảng 2.3: Nhu cầu, hứng thú đọc theo ngôn ngữ tài liệu 60
Bảng 2.4 Thời gian biểu sinh hoạt và học tập học tập trong một ngày của sinh viên Học viện 61
Bảng 2.5: Tỷ lệ sinh viên biết sử dụng các yếu tố thuộc kỹ năng đọc 63
Bảng 2.6: Mức độ hiểu nội dung tài liệu của các nhóm sinh viên 65
Bảng 2.7: Quan niệm, nhận thức về tài liệu của các nhóm sinh viên 66
Bảng 2.8: Tỷ lệ sinh viên vi phạm các hành vi ứng xử đối với tài liệu 68
Bảng 2.9: Số lượng vốn tài liệu của Thư viện qua các năm……….…………71
Bảng 2.10: Cơ cấu vốn tài liệu theo lĩnh vực khoa học 72
Bảng 2.11: Cơ cấu vốn tài liệu theo loại hình tài liệu 73
Bảng 2.12: Cơ cấu vốn tài liệu theo ngôn ngữ tài liệu 73
Bảng 2.13: Ý kiến đánh giá về mức độ đáp ứng nhu cầu đọc của vốn tài liệu 74
Bảng 2.14: Hiệu quả đáp ứng nhu cầu đọc của sinh viên Học viện 75
Bảng 2.15: Số lượng cơ sở dữ liệu hiện có tại Thư viện 76
Bảng 2.16: Tỷ lệ sử dụng và ý kiến đánh giá chất lượng bộ máy tra cứu tin của Thư viện 77
Bảng 2.17: Số lượng người sử dụng và ý kiến đánh giá chất lượng dịch vụ mượn tài liệu của Thư viện 79
Bảng 2.18: Số lượng người sử dụng và ý kiến đánh giá chất lượng dịch vụ đọc tại chỗ của Thư viện 80
Bảng 2.19: Số lượng người sử dụng và ý kiến đánh giá chất lượng dịch vụ đa phương tiện của Thư viện 81
Bảng 2.20: Số lượng người sử dụng và ý kiến đánh giá chất lượng dịch vụ phát hành sách của Thư viện 82
Bảng 2.21: Số lượng người sử dụng và ý kiến đánh giá chất lượng dịch vụ tra cứu Internet của Thư viện 83
Bảng 2.22: Số lượng người sử dụng và ý kiến đánh giá chất lượng dịch vụ sao in băng đĩa của Thư viện 84
Trang 6Bảng 2.23: Ý kiến đánh giá về tinh thần và thái độ phục vụ của cán bộ Trung tâm 85 Bảng 2.24: Nhu cầu tham gia các khóa đào tạo người dùng tin 86 Bảng 2.25: Tỷ lệ sinh viên Học viện tham gia vào các hoạt động của Thư viện .87 Bảng 2.26: Mục đích sử dụng Internet của sinh viên Học viện 88
Trang 71
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Giả thuyết nghiên cứu 10
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
6 Phương pháp nghiên cứu: 11
7 Đóng góp của luận văn 11
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu 11
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1 VĂN HÓA ĐỌC VỚI SINH VIÊN HỌC VIỆN CẢNH SÁT NHÂN DÂN 12
1.1 Những vấn đề chung về văn hóa đọc 12
1.1.1 Khái niệm văn hóa và văn hóa đọc 12
1.1.2 Chức năng của văn hóa đọc 17
1.1.3 Những biểu hiện của văn hóa đọc 19
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa đọc 25
1.2 Học viện cảnh sát nhân dân trước yêu cầu phát triển văn hóa đọc 37
1.2.1 Khái quát về Học viện Cảnh sát Nhân dân 37
1.2.2 Đổi mới giáo dục đào tạo và yêu cầu phát triển văn hóa đọc trong sinh viên Học viện 41
1.2.3 Trung tâm Thông tin Khoa học và Tư liệu Giáo khoa trong phát triển văn hóa đọc cho sinh viên Học viện 44
1.3 Đặc điểm của sinh viên Học viện Cảnh sát Nhân dân 51
1.3.1 Đặc điểm hoạt động của sinh viên Học viện 51
1.3.2 Đặc điểm nhu cầu tin của các nhóm sinh viên Học viện 53
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG VĂN HÓA ĐỌC CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN CẢNH SÁT NHÂN DÂN 56
2.1 Nhu cầu, hứng thú đọc của sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân 56
2.1.1 Nhu cầu, hứng thú đọc theo nội dung tài liệu 56
2.1.2 Nhu cầu, hứng thú theo loại hình tài liệu 58
2.1.3 Nhu cầu, hứng thú theo ngôn ngữ tài liệu 60
2.1.4 Tập quán sử dụng tài liệu của sinh viên Học viện 61
2.2 Kỹ năng đọc và hiểu chính xác của sinh viên Học viện 63
2.2.1 Thực trạng kỹ năng đọc của sinh viên Học viện 63
Trang 82
2.2.2 Khả năng lĩnh hội các giá trị nội dung trong tài liệu 64
2.3 Ứng xử đối với tài liệu của sinh viên Học viện 66
2.3.1 Quan niệm, nhận thức đối với tài liệu của sinh viên 66
2.3.2 Thái độ ứng xử đối với tài liệu của sinh viên Học viện 67
2.4 Các yếu tố tác động đến văn hoá đọc của sinh viên Học viện 68
2.4.1 Môi trường học tập của sinh viên Học viện 68
2.4.2 Đặc điểm xuất bản phẩm của Ngành 69
2.4.3 Thực trạng hoạt động thông tin -thư viện tại Học viện 71
2.4.4 Ảnh hưởng của công nghệ thông tin và truyền thông đến sinh viên Học viện 88
2.5 Nhận xét chung về khả năng phát triển văn hóa đọc cho sinh viên Học viện 89
2.5.1 Những điều kiện thuận lợi cho phát triển văn hóa đọc 89
2.5.2 Những khó khăn trong phát triển văn hóa đọc cho sinh viên 90
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA ĐỌC CHO SINH VIÊN TẠI HỌC VIÊN CẢNH SÁT NHÂN DÂN 93
3.1 Xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin-thư viện 93
3.1.1 Xây dựng chính sách bổ sung phù hợp về hình thức và nội dung 93
3.1.2 Tăng cường chia sẻ nguồn lực thông tin 934
3.2 Đa dạng hóa các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện 95
3.2.1 Hoàn thiện và nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện hiện có 96
3.2.2 Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện mới 97
3.3 Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền văn hóa đọc 98
3.3.1 Các hình thức tuyên truyền văn hóa đọc tại Học viện 99
3.3.2 Nội dung các hoạt động tuyên truyền văn hóa đọc tại Học viện 101
3.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thông tin-thư viện 103
3.4.1 Yêu cầu đội ngũ cán bộ thư viện trong phát triển văn hóa đọc tại Học viện 103
3.4.2 Nội dung nâng cao trình độ cán bộ thư viện cho phát triển văn hoá đọc tại Học viện 105 3.5.Một số điểm mạnh của phương pháp giáo dục đào tạo mới cần phát huy tại Học viện 106
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 93
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa đọc có vị trí quan trọng trong đời sống của mỗi con người Mặc dù trong những năm gần đây, trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của các phương tiện thông tin đại chúng và công nghệ thông tin hiện đại, đặc biệt là công nghệ mạng, đọc sách vẫn là hình thức thông dụng để con người tiếp nhận thông tin và tri thức Đọc làm cho các cá nhân trong xã hội trở thành những công dân có sức mạnh tinh thần, giải phóng khỏi những hạn chế về mặt xã hội, pháp lý, và tâm lý cá nhân, đồng thời việc đọc cũng giúp con người đến gần nhau hơn
Văn hoá đọc, với tư cách là văn hoá hành vi của mỗi cá nhân, biểu hiện ở khả năng lựa chọn sách, kỹ năng đọc và lĩnh hội tri thức, cũng như thái độ ứng xử với sách báo, thể hiện rõ đặc điểm tâm lý và nhân cách của mỗi cá nhân, được hình thành
từ tuổi ấu thơ và phát triển trong suốt cuộc đời mỗi con người
Trên thế giới, người ta khẳng định văn hoá đọc có liên quan mật thiết đến sự phát triển năng lực nhận thức, bản lĩnh học tập và làm việc của mỗi cá nhân “Khảo sát khu vực châu Phi vào tháng 3-2000 cho thấy tình trạng thiếu văn hóa đọc là một trong những rào cản quan trọng trong quá trình phát triển kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và khả năng giao tiếp của phụ nữ châu Phi” [35] Tầm quan trọng của văn hoá đọc trong quá trình hội nhập xã hội hiện đại đã được nhiều quốc gia đề cao và xây dựng chiến lược phát triển văn hoá đọc quốc gia nhằm nâng cao việc đọc trong cộng đồng Ví dụ như Hà Lan xây dựng chiến lược có tên là Stiching Lezen
đã ra đời năm 1998 sau khi số liệu hơn một nửa số người lớn Hà Lan hiếm khi đọc sách báo được công bố từ cuộc khảo sát quốc gia của Liên đoàn Quốc tế các cơ quan và hiệp hội thư viện (IFLA) tại Amsterdam Chiến lược này nhấn mạnh những lợi ích của việc đọc đối với phát triển đời sống văn minh và tinh thần của con người trong xã hội Theo họ, việc đọc làm cho cuộc sống chất lượng hơn Việc đọc cung cấp con đường tiếp cận các nền văn hóa và di sản văn hóa Đọc làm cho các công dân trong xã hội trở thành những người có sức mạnh tinh thần, giải phóng khỏi
Trang 104
những hạn chế về mặt xã hội, về mặt pháp lý, về mặt tâm lý cá nhân và việc đọc mang con người đến gần nhau
Nhiều quốc gia đã có “Ngày toàn dân đọc sách” như Anh, Pháp, Tây Ban Nha
Thậm chí ở Thái Lan - một quốc gia rất gần gũi chúng ta cũng đã có chương trình quốc gia để phát động toàn dân quan tâm đến việc đọc sách Hơn nữa, UNESCO cũng đã
quyết định lấy ngày 23 tháng 4 hàng năm là “Ngày đọc sách quốc tế”, nhằm cổ vũ
cho phong trào đọc sách, thói quen đọc sách trên toàn thế giới [27] Quyết định và lời kêu gọi này của Liên hiệp quốc đã được rất nhiều quốc gia, vùng và lãnh thổ hưởng ứng nhiệt liệt
Thông qua văn hóa đọc, mọi công dân, tùy thuộc vào trình độ dân trí, nghề nghiệp và điều kiện sống, có thể tiếp cận được với thông tin, tri thức phù hợp và hữu ích đối với cuộc sống của mình Văn hóa đọc giúp cho mỗi cá nhân có cuộc sống trí tuệ hơn, đẹp đẽ, ý nghĩa, hạnh phúc và hài hòa hơn Chính vì vậy, phát triển văn hóa đọc luôn là một vấn đề mang ư nghĩa chiến lược của mọi quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng trong việc nâng cao dân trí, phát triển bền vững nguồn nhân lực để góp phần xây dựng đất nước
Để hưởng ứng “Ngày đọc sách quốc tế” do UNESCO phát động, ngày
1-4-2011, Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch đã ban hành quyết định số
1166/QĐ-BVHTTDL phê duyệt Đề án tổ chức "Ngày hội Đọc sách Việt Nam 2011" được qui
định vào ngày 23-4 hàng năm Đồng thời, vừa qua trang điện tử SachHay.com - một
dự án giáo dục của xã hội và vì xã hội đã có sáng kiến phát động một cuộc vận động
trên phạm vi cả nước về ngày “Tết đọc sách” của người Việt Nam Có thể nói, đây
là bước khởi đầu nhằm góp phần chấn hưng văn hóa đọc và nền dân trí của nước nhà Trong ngày này, mỗi người dân Việt Nam sẽ được sống trong bầu không khí ngập tràn của tri thức Tuy mỗi năm chỉ một ngày, nhưng là ngày có ý nghĩa vô cùng quan trọng với việc gìn giữ và cổ vũ văn hóa đọc
Văn hóa đọc, về bản chất, nói cho cùng chính là việc tự học Những quyển sách chính là người thầy, người bạn học với những giá trị vượt không gian và thời gian dành cho mỗi người [27] Trong đó, đọc là một hoạt động tích cực cho quá
Trang 115
trình tiếp cận tri thức của mọi cá nhân, đặc biệt là sinh viên Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo đã trở thành nhiệm vụ đặt ra đối với các cơ sở giáo dục đào tạo nói chung và các trường đại học nói riêng, trong đó có Học viện Cảnh sát Nhân dân (sau đây viết tắt là Học viện) Việc chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ đã được Học viện thực hiện từ năm
2010 Đồng thời Học viện cũng đã áp dụng Chuẩn đầu ra đối với sinh viên từ năm học 2009-2010
Để thực hiện thành công việc đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo và áp dụng Chuẩn đầu ra đối với sinh viên Học viện, việc phát triển văn hóa đọc sinh viên tại Học viện đã trở thành yêu cầu tất yếu khách quan, nhằm trang bị cho sinh viên Học viện các kỹ năng cơ bản để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập được giao Ở đây, thư viện giữ vai trò vô cùng quan trọng trong tổ chức, cung cấp tài liệu, định hướng cho sinh viên về kỹ năng lựa chọn tài liệu, hướng dẫn về kỹ năng đọc và kỹ năng lĩnh hội các giá trị văn bản
Trên góc độ này, Trung tâm Thông tin Khoa học và Tư liệu Giáo khoa (sau đây viết tắt là Trung tâm) thuộc Học viện Cảnh sát Nhân dân (sau đây gọi tắt là Học viện), đã nhận thức khá rõ chức năng và nhiệm vụ của mình trong đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa đọc sinh viên tại Học viện Kết quả khảo sát hiện trạng văn hoá đọc của sinh viên thuộc Học viện cho thấy, đặc điểm đào tạo theo quy chế ngành, điều lệnh nội vụ Công an Nhân dân, là thế mạnh đặc trưng của Học viện nói riêng
và của các trường thuộc lực lượng vũ trang nói chung Đặc điểm này đã hình thành ở sinh viên thói quen tích cực trong sử dụng thư viện, là cơ sở tốt để phát triển văn hoá đọc sinh viên tại Học viện
Tuy nhiên, trên thực tế sinh viên thuộc Học viện chưa phát huy được giá trị đó trong quá trình đào tạo Do vậy, phát triển văn hoá đọc, nhằm nâng cao chất lượng học tập của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo tại Học viện,
là vấn đề cấp thiết đặt ra trong bối cảnh đổi mới giáo dục đào tạo và áp dụng Chuẩn đầu ra ở Học viện hiện nay
Trang 126
Có thể nói, ở Việt Nam hiện nay, vấn đề văn hoá đọc và phát triển văn hoá đọc nói chung đã được xã hội hết sức quan tâm nghiên cứu, nhưng chưa có công trình nào đề cập tới vấn đề phát triển văn hoá đọc sinh viên ngành Công an nói chung và
sinh viên Học viện nói riêng Chính vì vậy, vấn đề “Phát triển văn hóa đọc cho sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân” được chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ
chuyên ngành Khoa học Thư viện, nhằm góp phần tăng cường phát triển văn hoá đọc cho sinh viên Học viện, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo của Học viện, cũng như áp dụng Chuẩn đầu ra của sinh viên Học viện trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin truyền thông và hội nhập quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề văn hóa đọc và phát triển văn hóa đọc những năm gần đây đã được các nước trên thế giới hết sức quan tâm và đã có những hoạt động cụ thể nhằm tôn vinh, giữ gìn và phát huy văn hóa đọc trong thời đại bùng nổ thông tin Việc khẳng định vai trò của sách, xác định các giải pháp cho phát triển văn hóa đọc là việc là vô cùng cần thiết và cấp bách của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam
Vai trò quan trọng của văn hoá đọc trong xã hội hiện đại đã được khẳng định
trong nghiên cứu của Hiệp hội các thư viện (IFLA) về “Nâng cao văn hoá đọc và sách trong thời đại kỹ thuật số” (Enhancing the culture of reading and books in the
digital age) Trong đó, ngoài khẳng định việc đọc sách vẫn được coi là một kênh tiếp nhận thông tin quan trọng của mọi người, bất chấp những tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại, nghiên cứu này cũng đã đưa ra các giải pháp hữu hiệu cho phát triển văn hóa đọc trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của công nghệ kỹ thuật số [39]
Phần lớn cộng đồng thư viện trên thế giới đều đã khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa đọc trong nâng cao dân trí; hỗ trợ có hiệu quả cho mỗi cá nhân trong quá trình học tập suốt đời; giúp cho mỗi cá nhân có khả năng tham gia và đóng góp tích cực vào sự phát triển của xã hội Họ cho rằng, việc đọc cho mục đích học tập muôn thuở không bao giờ mất đi, trái lại đã trở thành nhu cầu thiết yếu của mỗi cá nhân và toàn xã hội trong bối cảnh của xã hội học tập hiện nay Không có
Trang 137
nhà bác học thiên tài nào, không có nhà chính trị lỗi lạc nào, chỉ dựa vào tài năng của mình để thành đạt mà không qua việc đọc sách Trải qua hàng ngàn năm, việc đọc sách đã góp phần xây dựng con người văn minh, xã hội văn minh, truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Có thể nói, văn hoá đọc đã trở thành công cụ nâng cao dân trí cho cộng đồng xã hội, phát triển văn hoá đọc trở thành một trong các mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia [47] Thực hiện mục tiêu này đòi hỏi trước hết, cần phải hình thành thói quen đọc sách cho mỗi người, có phương pháp đọc sách và dần hình thành lòng ham mê đọc sách ở cá nhân
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam, vấn đề tôn vinh văn hóa đọc đã được mọi người đặc biệt quan tâm Một trong những hoạt động được chú ý nhất là cuộc hội thảo bàn về văn hóa đọc tại Hội sách Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra 2 năm
một lần Buổi Hội thảo “Tết đọc sách của người Việt, tại sao không?” do
SachHay.com tổ chức tại Hội sách thành phố Hồ Chí Minh đầu năm 2010 là tâm điểm trong chuỗi các hoạt động cổ súy cho văn hóa đọc, tôn vinh tầm quan trọng của sách, hướng tới việc vận động Chính phủ công nhận một ngày Tết đọc sách
mang tính quốc gia Trong đó, đã kiến nghị xây dựng một ngày “Tết đọc sách”,
nhằm mục đích không chỉ tạo lập thói quen đọc sách cho mọi người, mà còn kêu gọi
sự chung tay phối hợp của nhiều cơ quan, nhiều tổ chức xây dựng một nền văn hóa đọc Việt Nam tiến bộ [38] Các hội thảo được tổ chức trong khuôn khổ Hội sách ở
Thành phố Hồ Chí Minh vừa qua, nhìn chung, không có tham vọng “đào xới một cách rốt ráo những vấn đê cốt tử” của văn hóa đọc Mục đích chính chỉ là mong
muốn đánh động sự quan tâm của xã hội, góp phần khôi phục và phát triển văn hóa đọc Việt Nam Các thành viên tham dự Hội thảo đều cho rằng, Việt Nam, trước hết, cần kiên trì gây dựng lại trong xã hội về thói quen, không khí, quan niệm coi sách
vở, coi chữ nghĩa là quý, là thiêng liêng, coi văn hóa là cao quý hơn mọi thứ trên đời
Để tôn vinh sách và quảng bá cho văn hóa đọc, cũng như hưởng ứng lời kêu
gọi của UNESCO về lấy ngày 23/4 hàng năm là ngày “Sách và Bản quyền thế giới”,
Trang 148
hàng năm (kể từ năm 2005), tại Việt Nam, vào ngày này, nhiều cơ quan, đặc biệt là, trong các thư viện đã tổ chức nhiều hoạt động hữu ích nhằm khôi phục và phát triển văn hóa đọc Việt Nam Vừa qua, ngày hội đọc sách Việt Nam năm 2011 đã diễn ra
tại Văn Miếu Quốc Tử Giám với chủ đề “Đọc sách cho ngày mai” với ý tưởng lấy
Văn Miếu là điểm khởi đầu, là trung tâm để từ đây và từ nay chính thức lan tỏa tình yêu với sách, với văn hóa đọc đến tất cả mọi người [34]
Ngoài ra, vấn đề phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng Việt Nam cũng đã
được chính thức hóa trong Đề án “phát triển văn hoá đọc trong cộng đồng giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn 2030”, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng với mục tiêu nhằm “xây dựng phong trào đọc sách trong xã hội, góp phần xây dựng có hiệu quả thế hệ đọc tương lai” [28] Để giữ gìn và phát huy văn hóa đọc
theo đúng nghĩa, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều yếu tố, như: Đầu tư phát triển thư viện; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thông tin-thư viện; đầu tư nâng cao chất lượng công tác xuất bản; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động để nâng cao nhận thức cũng như xây dựng định hướng đọc lành mạnh cho cộng đồng, nhất là đối với lớp trẻ
Để thực hiện thành công Đề án “phát triển văn hoá đọc trong cộng đồng Việt Nam”đòi hỏi phải nghiên cứu toàn diện vấn đề văn hóa đọc, thống nhất khái niệm
và nội hàm của nó, cũng như các yếu tố tác động tới văn hóa đọc
Khảo sát tài liệu cho thấy, thuật ngữ "Văn hóa đọc" là khái niệm còn mới mẻ,
chưa có tài liệu nào định nghĩa văn hóa đọc là gì và nội hàm của nó như thế nào
[47] Mặc dù vậy, theo thời gian và sự phát triển của xã hội, thuật ngữ "Văn hóa đọc" ngày càng được nói tới nhiều hơn trên các phương tiện thông tin đại chúng và
trở thành đề tài khoa học để nghiên cứu và thảo luận
Trong giới thư viện học, đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá đọc
như, “Đẩy mạnh văn hóa đọc trong thời đại công nghệ thông tin” của Trần Văn Hà [7]; “Văn hóa đọc và vấn đề đặt ra hiện nay” của tác giả Phạm Thanh Tâm [17];
“Bàn thêm về văn hóa đọc” của tác giả Lê Văn Bài [3]; “Giáo dục văn hoá đọc cho lứa tuổi thiếu nhi” của TS Trần Thị Minh Nguyệt [12]; cũng như các công trình nghiên
Trang 159
cứu khác được trình bày tại tọa đàm về văn hoá đọc của người Việt Nam [21] Trong đó, đã khái quát hóa khái niệm văn hoá đọc và các nội hàm của nó; khẳng định tầm quan trọng của văn hóa đọc trong nâng cao dân trí và phát triển nhân tài; đồng thời kiến nghị rằng, phát triển văn hóa đọc là vấn đề cấp thiết trong bối cảnh phát triển ngày càng mạnh mẽ của công nghệ thông tin, tình trạng lười đọc sách ở tất cả các thành phần, lứa tuổi ngày một tăng, trong khi xã hội đang rất cần tri thức Làm thế nào để giữ gìn và phát huy văn hóa đọc trong cộng đồng? Để tìm lời đáp cho câu hỏi này không chỉ đòi hỏi các cấp, các ngành chức năng phải thật sự quan tâm mà bản thân mỗi cá nhân trong xã hội cũng cần phải tự nhận thức được vấn đề Ngoài ra, vấn đề văn hoá đọc cũng được đề cập trong các luận văn thạc sỹ
chuyên ngành Văn hoá học và Thư viện học, như: “Nghiên cứu văn hoá đọc của học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn Như Ngọc, luận văn thạc sĩ khoa học thư viện, đại học Văn hoá, năm 2009; “Nghiên cứu phát triển văn hoá đọc cho học sinh phổ thông bậc trung học cơ sở tỉnh Cà Mau” của tác
giả Lê Mộng Đài Trang, luận văn thạc sĩ khoa học thư viện, đại học Văn hoá, năm
2007; “Nghiên cứu phát triển văn hoá đọc cho học sinh phổ thông tiểu học trong thư viện tại thủ đô Viên Chăn” của tác giả Onta samuntry, Luận văn thạc sĩ khoa
học thư viện, Đại học Văn hoá Trong đó, hầu hết các tác giả đều khẳng định, cho đến nay chưa có một khái niệm thống nhất về văn hóa đọc Các định nghĩa văn hóa đọc được đưa ra tùy thuộc vào góc độ xem xét vấn đề của các tác giả Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều khẳng định vai trò to lớn của văn hoá đọc trong nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, hỗ trợ đắc lực cho quá trình học tập của các cá nhân trong cộng đồng xã hội Trong đó, vai trò quan trọng của thư viện được các tác giả đặc biệt nhấn mạnh Việc phát triển văn hóa đọc cần được thực hiện phù hợp với đặc điểm nhu cầu đọc, cũng như đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các nhóm đối tượng cụ thể
Xuất phát từ quan điểm trên, đối với Học viện cảnh sát Nhân dân, nghiên cứu phát triển văn hóa đọc cho sinh viên thuộc Học viện, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo, cũng như áp dụng Chuẩn đầu ra, là một trong các nhiệm
vụ trọng tâm hàng đầu trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, trên thực tế, cho đến
Trang 1610
nay, chưa có một đề tài nào nghiên cứu nào về vấn đề này Đề tài luận văn được chọn nghiên cứu trên đây là công trình nghiên cứu đầu tiên, tiếp cận một cách hệ thống và toàn diện văn hóa đọc, cũng như xem xét đề xuất các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho sinh viên thuộc lực lượng vũ trang nói chung và sinh viên Học viện cảnh sát Nhân dân nói riêng Bản luận văn này được xây dựng trên cơ sở độc lập nghiên cứu các tài liệu có liên quan, các công trình nghiên cứu khoa học, kế thừa vận dụng các thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, đồng thời căn cứ vào khảo sát thực trạng văn hóa đọc, cũng như đặc điểm nhu cầu đọc và tập quán sử dụng tài liệu của sinh viên thuộc Học viện
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng văn hóa
đọc của sinh viên Học viện Cảnh sát Nhân dân, trên cơ sở này đưa ra các giải pháp định hướngphát triển văn hóa đọc cho sinh viên Học viện
Nhiệm vụ: Để thực hiện mục tiêu trên, Luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của văn hóa đọc, xem xét vai trò và tác động của văn hoá đọc trong nâng cao chất lượng quá trình học tập của sinh viên Học viện
- Phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa đọc của sinh viên Học viện
- Đề xuất các giải pháp định hướng phát triển văn hóa đọc cho sinh viên thuộc Học viện
4 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu chú trọng phát triển văn hóa đọc trong các thư viện đại học nói chung và các trường thuộc lực lượng vũ trang nói riêng , thì chất lượng học tập của sinh viên
sẽ được cải thiện đáng kể , đồng thời chất lượng giáo dục đào tạo cũng sẽ được đảm bảo chắc chắn
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Văn hóa đọc của sinh viên
Phạm vi nghiên cứu: Văn hóa đọc của sinh viên Học viện Cảnh sát Nhân dân
trong giai đoạn đổi mới giáo dục đào tạo, từ năm 2007 đến nay
Trang 1711
6 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ đặt ra của Luận văn, tác giả đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phân tích, tổng hợp tài liệu;
- Điều tra bằng phiếu hỏi;
- Quan sát thực tế, trao đổi trực tiếp với đối tượng nghiên cứu;
- Thống kê phân tích số liệu
7 Đóng góp của luận văn
Ý nghĩa khoa học của đề tài: Luận văn góp phần làm sáng tỏ khái niệm văn
hóa đọc và biểu hiện của văn hóa đọc, cũng như các yếu tố tác động đến việc phát triển văn hóa đọc trong sinh viên nói chung và sinh viên các trường thuộc lực lượng
vũ trang nói riêng
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Các kết quả nghiên cứu và các đề xuất giải pháp của Luận văn sẽ là căn cứ khoa học và thực tiễn để lãnh đạo Học viện, cũng như Trung tâm Thông tin Khoa học và Tư liệu Giáo khoa xem xét thực hiện, để phát triển văn hóa đọc trong toàn sinh viên thuộc Học viện Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu của Luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo thiết thực cho mọi người có quan tâm về vấn đề này
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu
- Khảo sát và đánh giá một cách khách quan thực trạng công tác phát triển văn
hóa đọc tại Học viện; khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của người dùng tin tại Thư viện Học viện giai đoạn từ năm 2007 đến nay
- Đưa ra các giải pháp , kiến nghị mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả
của công tác phát triển văn hóa đọc đáp ứng yêu cầu đào tạo tín chỉ của Nhà trường trong thời gian tới
Trang 1812
NỘI DUNG CHƯƠNG I VĂN HÓA ĐỌC VỚI SINH VIÊN HỌC VIỆN CẢNH SÁT NHÂN DÂN 1.1 Những vấn đề chung về văn hóa đọc
1.1.1 Khái niệm văn hóa và văn hóa đọc
Văn hoá đọc là một phần của khái niệm văn hoá, vì thế, trước khi tìm hiểu thế nào là văn hoá đọc cần xác định khái niệm văn hoá
Khái niệm văn hóa
Thuật ngữ “Văn hóa” (tiếng Anh là culture, tiếng Đức là kultur), về từ nguyên
có nguồn gốc từ động từ Latinh : Collere, colo, cultus mang hàm nghĩa trồng trọt ,
vun trồng, nuôi dưỡng, giữ gìn, tạo dựng Sau này khái niệm “ Văn hóa” được hiểu
theo nghĩa khai trí , có học vấn , có giáo dục của con người Trong tiếng Việt, khái
niệm “Văn hoá” được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hoá), lối sống (nếp sống văn hoá) Khái niệm “Văn hóa” theo nghĩa hẹp, được dùng
để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn lịch sử nhất định (văn hoá Đông Sơn)
Theo nghĩa rộng, khái niệm “Văn hóa” bao gồm cả những giá trị vật chất và tinh
thần do con người tạo nên” [8]
Như vậy, có thể nói, “Văn hóa” là một khái niệm rộng cả về nội hàm lẫn ngoại
diện, chính vì thế, có nhiều định nghĩa khác nhau xung quanh khái niệm này Theo
Bách khoa toàn thư Wikipedia: “ Văn hoá là khái niệm dùng để chỉ một số kết quả của những hoạt động sáng tạo có giá trị của con người” Tất nhiên, không phải bất
cứ hoạt động nào của con người cũng đều là văn hoá, điều kiện cần ở đây là, kết quả của các hoạt động sáng tạo đó phải tồn tại trong một thời kỳ lịch sử liên tục và các giá trị của hoạt động sáng tạo đó phải liên kết chặt chẽ thành một hệ thống
Theo định nghĩa phổ biến của UNESCO , năm 2002, khái niệm “Văn hóa” được đưa ra như sau: " Văn hóa nên được đề cập đến như tập hợp của các đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội
Trang 1913
và nó chứa đựng ngoài văn hóa và nghệ thuật , cả cách sống , phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin"
Với các định nghĩa nói trên, có thể đúc kết các đặc trưng cơ bản của khái niệm
“Văn hóa” theo các nội dung sau:
Văn hóa là sản phẩm của con người, chỉ có con người mới có văn hóa
Văn hóa bao gồm tổng phức hợp của nhiều thành tố được tích tụ, tiếp nối, phát triển trong các cộng đồng người tạo thành chuẩn mực "ứng xử" cho các cá nhân trong xã hội và quan điểm lối ứng xử riêng của cộng đồng xã hội đó
Con người với hoạt động của mình sáng tạo ra văn hóa và đồng thời tạo ra
vẻ đẹp văn hóa cho chính bản thân mình
Đề cao vai trò của con người với văn hóa cũng như khả năng làm sang trọng, làm đẹp con người của văn hóa, thông qua lối ứng xử chuẩn mực trong mỗi cộng đồng, xã hội đã làm nên giá trị đích thực của văn hóa
Trên góc độ này, “Văn hoá đọc”, trên tư cách là một trong những yếu tố cấu
thành đời sống văn hoá của con người và xã hội, cũng chính là một bộ phận cấu thành của văn hoá
Khái niệm văn hóa đọc
Như đã trình bày ở trên, có thể nói, tuy khái niệm “Văn hóa” có nội hàm rộng
lớn mang tính phức hợp, nhưng được thể hiện hàng ngày, rất gần gũi với mọi người chúng ta như văn hóa dân tộc, văn hóa lễ hội, văn hóa đô thị, văn hóa lối sống, văn
hóa giáo dục đã được mọi người thừa nhận [47] Trong khi đó, thuật ngữ "Văn hóa đọc" là khái niệm mới được xây dựng lên, chưa được thống nhất về định nghĩa Tuy nhiên, với những đặc trưng cơ bản của k hái niệm “Văn hóa” như đã đúc kết ở
trên cho thấy , văn hóa đọc cũng chính là một bộ phận cấu thành văn hóa của con người được trao truyền qua nhiều thế hệ Thông qua quá trình đọc các tri thức được lưu giữ trong sách vở được con người tiếp nhận, sáng tạo và ghi nhận để truyền từ đời này đến đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác Nói khác đi, văn hóa đọc chứa đựng những giá trị văn hóa của thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau Từ xa xưa , các bậc tiền bối đã khẳng định vai trò quan trọng của việc đọc sách trong đời sống
Trang 2014
xã hội và trong sự phát triển của mỗi cá nhân Văn hóa đọc là nền tảng, là cơ sở cho sự phát triển những ý tưởng sáng tạo, góp phần nâng cao dân trí, phát triển nhân tài Và
vì thế, văn hóa đọc còn là một nét đẹp truyền thống của mỗi dân tộc
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam , có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa đọc Trong giới thư viện học quốc tế, hiểu văn hoá đọc như là một bộ phận trong văn hoá theo nghĩa rộng của mỗi cá nhân, bao gồm một tổ hợp các thói quen làm việc với sách từ việc chọn lựa có ý thức về đề tài, tính hệ thống và tính kế thừa,
kỹ năng biết tìm các tài liệu cần thiết với sự giúp đỡ của các ấn phẩm thư mục, sử dụng bộ máy tra cứu, định hướng trong tài liệu với mục đích lĩnh hội tối đa và cảm thụ sâu sắc những gì đã đọc, đến việc áp dụng những nội dung lĩnh hội qua đọc các lĩnh vực hoạt động của mình, làm phong phú thêm đời sống [21]
Khảo sát tài liệu cho thấy, văn hoá đọc là một khái niệm được hiểu cả ở nghĩa rộng và nghĩa hẹp Ở nghĩa rộng, đó là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, của cộng đồng xã hội và của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước Ở nghĩa rộng, văn hoá đọc là sự hợp thành của ba yếu tố, hay chính xác hơn là ba lớp vòng tròn không đồng tâm, ba vòng tròn giao nhau, đó là (1) ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước; (2) ứng
xử, giá trị và chuẩn mực đọc của cộng đồng xã hội; (3) ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân trong xã hội Còn ở nghĩa hẹp, đó là ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, được thể hiện ở ba yếu tố, ba vòng tròn không đồng tâm,
ba vòng tròn giao nhau, đó là (1) thói quen đọc; (2) sở thích đọc; (3) kỹ năng đọc
[45] Như vậy, có thể nói, về cơ bản, khái niệm “Văn hoá đọc” dù ở nghĩa rộng hay
hẹp đều có nội hàm như nhau, sự khác nhau ở đây là các nhóm đối tượng tác động
Ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước được thể hiện thông qua chính sách, chủ trương, đường lối và ứng xử hàng
ngày nhằm phát triển nền văn hóa đọc Nói khác đi, đó là hành lang pháp lý phát triển tài liệu đọc có giá trị và lành mạnh cho mọi đối tượng người đọc khác nhau, cũng như sự thuận tiện cho người đọc trong tiếp cận tới tài liệu đọc, thông qua các hình thức cung cấp tài liệu khác nhau, như cửa hàng sách, thư viện, phòng đọc
Trang 2115
sách… Nghĩa là người đọc, không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt tuổi tác, không phân biệt nơi cư trú đều có thể dễ dàng tiếp cận được những tài liệu đọc có giá trị họ mong muốn nhằm cải thiện chính cuộc sống của họ
Ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của cộng đồng xã hội là sự phát triển của
các hội nghề nghiệp liên quan tới đọc như: Hội tác giả, Hội nhà báo, Hội xuất bản, Hội thư viện Tất nhiên, các hội này phải hoạt động với mục đích chính là phát triển nghề nghiệp Ứng xử đọc của cộng đồng xã hội còn bao gồm cả truyền thống văn hóa của xã hội, hay nói chính xác hơn là truyền thống văn hóa tôn vinh người viết sách, người đọc sách và người truyền thụ kiến thức (kể cả giáo dục kỹ năng đọc
và hướng dẫn đọc) Ở đây không thể không kể tới những hoạt động đa dạng và phong phú của các tổ chức văn hóa xã hội khác nhằm thúc đẩy sự phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng như: hoạt động của Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên tổ chức thi đọc sách, thi tìm hiểu một vấn đề nào đó thông qua tìm hiểu sách báo
Ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân trong xã hội là thói quen
đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc của mỗi người Trong đó, trước hết cần hình thành
và phát triển thói quen đọc suốt cuộc đời cho mỗi cá nhân Xây dựng thói quen đọc phải được bắt đầu từ tuổi ấu thơ Thực tiễn cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới, văn hóa đọc của mỗi cá nhân được các bậc cha mẹ xây dựng (tạo lập, hình thành) từ rất sớm, ngay từ khi trẻ chưa tới tuổi đến trường Sau đó, trong suốt cuộc đời đi học và sau khi ra đời là quá trình tự học tập và rèn luyện các kỹ năng đọc của mỗi cá nhân Trong suốt quá trình này, mỗi cá nhân phát hiện ra sở thích đọc của mình để phát
huy sở trường và hạn chế những sở đoản
Như vậy, ở nghĩa rộng, khi đề cập tới văn hóa đọc, hay nói tới nền văn hóa đọc của mỗi quốc gia, phải bao gồm đầy đủ ba yếu tố cơ bản cấu thành như đã nói ở trên Ở các quốc gia được coi là có nền văn hóa đọc cao, ba yếu tố cấu thành này được họ phát triển khá đồng đều và hài hòa với nhau Bởi vì, nếu ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của các quan chức và cơ quan nhà nước lành mạnh, có nghĩa là, tạo điều kiện thuận lợi, môi trường thân thiện cho mọi người dân dễ dàng tiếp cận với
Trang 2216
sách báo (tài liệu đọc) có chất lượng cao Nếu thiếu ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc lành mạnh của cộng đồng xã hội, của mọi người dân, thì cũng không thể tạo ra được một nền văn hóa đọc phát triển Ngược lại, nếu ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của cộng đồng xã hội và ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mọi thành viên trong xã hội lành mạnh, nhưng ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của các quan chức
và cơ quan nhà nước không lành mạnh, thì cũng khó có thể có một nền văn hóa đọc phát triển Thậm chí, còn có nguy cơ làm thoái hóa ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc lành mạnh của toàn cộng đồng xã hội, cũng như của các thành viên trong xã hội Mục đích cuối cùng của phát triển văn hóa đọc trong mỗi quốc gia là, phát triển thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc cho mọi thành viên trong xã hội, nhưng vai trò quan trọng và quyết định để đạt được mục đích này lại thuộc về yếu
tố ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc lành mạnh của các quan chức và cơ quan quản
lý nhà nước Đó là yếu tố tạo ra môi trường thuận lợi cho mọi người dân tiếp cận tài liệu đọc có chất lượng cao, môi trường tôn vinh người viết sách, người đọc sách và người truyền thụ kiến thức (kể cả người hướng dẫn và giáo dục mọi người dân có ứng xử đọc lành mạnh) Việc chủ động giáo dục kỹ năng đọc cho thành viên trong
xã hội là yếu tố quyết định sự thành công của quá trình phát triển nền văn hóa đọc của mỗi quốc gia [45] Muốn tạo dựng được một xã hội đọc sách, một nền văn hóa đọc, thì cần phải bắt đầu từ thói quen của từng cá nhân Nhưng ngược lại, để mỗi cá nhân
có được thói quen tốt này còn cần sự "tiếp sức" từ xã hội [29 ]
Trong ba yếu tố cấu thành văn hóa đọc của mỗi cá nhân, thì thói quen và kỹ năng đọc mang tính chất đồng loạt, còn sở thích đọc lại phụ thuộc hoàn toàn vào từng cá nhân cụ thể (trình độ giáo dục, thiên tính cá nhân…), ví dụ: có người thích đọc thơ, có người thích đọc tiểu thuyết, có người thích đọc sách nghiên cứu, có người thích đọc sách phổ biến khoa học kỹ thuật, văn hóa nghệ thuật Yếu tố này tạo ra sự đa dạng, phong phú, giàu màu sắc cho nền văn hóa đọc trong các xã hội khác nhau
Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, khi nói tới văn hóa đọc của từng cá nhân phải
bao hàm đầy đủ cả ba yếu tố trên Bởi vì, đôi khi văn hóa đọc của mỗi cá nhân được
Trang 2317
hiểu đồng nghĩa với kỹ năng đọc của họ Điều này chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng của kỹ năng đọc của mỗi cá nhân, chứ không hoàn toàn thể hiện đầy đủ văn hóa đọc của cá nhân đó Nếu một cá nhân có thói quen đọc, nhưng thiếu kỹ năng đọc, hiệu quả đọc chắc chắn sẽ không cao, thậm chí không có hiệu quả, chỉ mất thời gian vô ích Nhưng nếu nắm vững kỹ năng đọc, nhưng không tạo được thói quen đọc, thì cũng chẳng thể nào thu lượm được những kiến thức cần thiết cho cuộc sống của chính họ Tương tự, nếu ai đó nắm vững kỹ năng đọc, có thói quen đọc nhưng thiếu
sở thích, hứng thú đọc thì khó lòng xác định được định hướng đọc cho bản thân
Ngoài ra, khái niệm “Văn hóa đọc” cũng được định nghĩa khái quát theo hai
khuynh hướng chính Khuynh hướng thứ nhất, coi văn hoá đọc đồng nghĩa với nhu cầu đọc (đọc cái gì), đây là quan niệm tương đối phổ biến ở nước ta hiện nay
Khuynh hướng thứ hai, coi văn hoá đọc không chỉ là đọc cái gì mà còn chủ yếu là đọc như thế nào, lĩnh hội và cảm thụ nội dung tài liệu ở mức độ nào, đồng thời bao hàm cả thái độ ứng xử với tài liệu của người đọc [12] Nếu như ở khuynh hướng thứ nhất, khái niệm “Văn hóa đọc” được đồng nghĩa với một yếu tố nội hàm của văn hóa đọc, thì ở khuynh hướng thứ hai khái niệm “Văn hóa đọc” được xem xét với nội
hàm đa dạng , tổng hợp và bao quát hơn , coi văn hóa đọc với tư cách là một cấu thành văn hóa hành vi của con người Khuynh hướng này đồng thời cũng tương ứng
với khái niệm “Văn hóa đọc ” ở nghĩa hẹp (ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của
mỗi cá nhân), nghĩa là, xem xét đầy đủ cả ba yếu tố cơ bản cấu thành văn hóa đọc của từng cá nhân
1.1.2 Chức năng của văn hóa đọc
Văn hoá đọc là một trong những nhân tố cấu thành đời sống văn hoá của con người và xã hội Đọc sách là một loại hoạt động tinh thần hết sức phức tạp của cá nhân, có sự tham gia của các yếu tố tâm lý: Cảm giác, tri giác, ngôn ngữ, biểu tượng, trí nhớ và tư duy Trong đó, ngôn ngữ đóng vai trò cực kỳ quan trọng Trong quá trình đọc sách, người đọc cần hiểu, đào sâu, phân tích kỹ, ghi chép, nhớ, lĩnh, hội các nội dung chuyển tải qua ngôn ngữ của tài liệu đó
Trang 2418
Là một hoạt động bên trong bị chi phối bởi các quá trình, các thuộc tính tâm lý
cá nhân và hệ thống tri thức kinh nghiệm, hoạt động đọc làm thay đổi chính chủ thể đọc Bởi vì, quá trình đọc sách đòi hỏi phải có sự tham gia của trí nhớ và tư duy Do vậy, trong quá trình đọc sách đương nhiên sẽ rèn luyện, phát triển, hoàn thiện được trí nhớ và tư duy của người đọc Kết quả của hoạt động đọc là tri thức, giá trị văn hoá, thẩm mỹ, kinh nghiệm xã hội trong sách báo được chủ thể lĩnh hội đã tác động, cải biến năng lực và các phẩm chất của chính chủ thể, trong khi đó đối tượng của hoạt động, tức là nội dung tri thức, các giá trị văn hoá, kinh nghiệm trong sách báo không hề bị bào mòn hay mất đi, mà được sản sinh ra cùng với kết quả lĩnh hội tri thức của chủ thể đọc
Như vậy, việc đọc sách có tác dụng biến đổi, hoàn thiện tư duy và ý thức người đọc, cũng như có tác dụng biến đổi và hoàn thiện thế giới nội tâm của chủ thể đọc, do đó có ảnh hưởng đến hành vi người đọc, đến trình độ văn hóa người đọc trong lao động và trong sinh hoạt, đến hoạt động xã hội của người đọc, có tác dụng hình thành con người mới, con người xây dựng xã hội tiên tiến [30] Đọc sách một cách tự lực, nghiền ngẫm kỹ chẳng những cho phép tiếp thu được tư tưởng của tác giả mà còn cho phép người đọc đối chiếu tư tưởng đó với tư tưởng của các tác giả khác về vấn đề mình quan tâm, giúp người đọc có được sự phán đoán riêng của mình về những điều đã đọc được
Về mặt xã hội, văn hoá đọc góp phần nâng cao tố chất con người Bởi vì, đọc
có thể gia tăng tri thức, nhu cầu tìm kiếm tri thức đóng vai trò quan trọng trong lịch
sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người, mối quan hệ giữa đọc và nâng cao tri thức ngày càng thể hiện rõ rệt Ai đó đã nói, để mọc lên một thành phố hiện đại chỉ mất 10 năm, nhưng để xây dựng nên con người tri thức hiện đại có khi phải mất cả một thế hệ Điều này thể hiện khá rõ vai trò xã hội của văn hóa đọc
Trong thời đại kinh tế tri thức nếu văn hoá đọc không phát triển, con người không tiếp thu kịp thông tin và tri thức, vốn văn hoá hạn chế và lạc hậu thì không thể phát triển và hội nhập xã hội hóa toàn cầu Việc tìm tòi tri thức, bồi dưỡng tài năng là việc cấp thiết của xã hội trong thế kỷ này, sự phát triển của mỗi đất nước tỷ
Trang 2519
lệ thuận với hàm lượng tri thức ẩn chứa trong mỗi công dân của đất nước đó Muốn
xã hội phát triển bền vững trong thời đại kinh tế tri thức cần vận động mọi người rèn luyện thói quen đọc sách, phương pháp đọc sách, phải ra sức tích luỹ tri thức một cách thiết thực bổ ích Thu nhận tinh hoa tri thức và vận dụng vào cuộc sống xã hội là mục đích của văn hoá đọc, đồng thời cũng thể hiện triết lý học suốt đời của mỗi cá nhân trong cộng đồng xã hội
Chức năng của văn hoá đọc không chỉ bó hẹp trong việc tìm kiếm tri thức để sinh tồn, bởi vì thế giới nội dung đọc rộng lớn và phong phú, không phải tác phẩm nào cũng chuyển tải tri thức mà bao gồm cả những tác phẩm văn học nghệ thuật, triết học v.v chức năng của những tác phẩm này là khơi nguồn tư tưởng, bồi dưỡng tinh thần, định hướng cuộc sống và phát triển nhân cách cho con người
Đối với cá nhân, văn hoá đọc giữ chức năng định hướng, giúp hình thành và phát triển nhân cách cho mỗi người Ðọc sách đem đến kinh nghiệm xã hội, tăng thêm cảm giác sống chung trong xã hội, hỗ trợ hướng đi cho đời sống hàng ngày, giúp con người nâng cao tri thức, hoàn thiện kỹ năng sống, trang bị đầy đủ kiến thức để làm việc và cống hiến cho gia đình, xã hội Giáo dục văn hoá đọc cho sinh viên, giúp sinh viên tu dưỡng và rèn luyện bản thân về nhiều mặt cả năng lực lẫn đạo đức Đọc là phương thức tốt nhất giúp tiếp thu tri thức, người có tri thức làm việc sẽ đạt hiệu quả cao hơn và dễ đạt được thành tựu về mọi mặt trong cuộc sống
vì họ có tri thức và biết vận dụng tri thức vào thực tế cuộc sống của chính họ
1.1.3 Những biểu hiện của văn hóa đọc
Văn hóa đọc không những thể hiện ở số lượng tài liệu đã đọc mà còn ở chất lượng đọc Kiến thức, kinh nghiệm tích lũy được của mỗ i người sẽ giúp ích nhiều cho việc đọc hiểu , lĩnh hội sâu sắc kiến thức và thông tin được chuyển tải trong tài liệu Hiệu quả của việc đọc được thể hiện ở khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức thu được từ việc đọc vào cuộc sống và công việc hàng ngày của chủ thể đọc Những biểu hiện của văn hóa đọc được tác giả tập trung xem xét trong Luận văn bao gồm ba yếu tố cơ bản cấu thành văn hóa đọc của mỗi cá nhân và được thể hiện ở các nội dung sau : (1) Nhu cầu đọc, hứng thú đọc (đọc cái gì ); (2) kỹ năng
Trang 2620
đọc, khả năng lĩnh hội nội dung đọc (đọc như thế nào ); (3) thái độ ứng xử với tài liệu của chủ thể đọc
(1) Nhu cầu đọc, hứng thú đọc
Nhu cầu và hứng thú nói chung là hai trạng th ái tinh thần đặc biệt của mỗi cá nhân con người đối với một đối tượng nào đó , vừa có ý nghĩa trong đời sống vừa có khả năng đem lại cho chủ thể những khoái cảm Nhu cầu và hứng thú có quan hệ mật thiết với nhau và có thể chu yển hóa cho nhau Nhu cầu là cơ sở cho hình thành
và phát triển hứng thú Ngược lại, hứng thú kích thích phát sinh nhu cầu mới Trong nhiều trường hợp hứng thú và nhu cầu chuyển hóa tương hỗ lẫn nhau trong cùng thời điểm Trên góc độ này, có thể nói, nhu cầu và hứng thú đọc là hai trạng thái tinh thần đặc biệt của mỗi cá nhân đối với tài liệu , chúng có quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau, trả lời cho câu hỏi “đọc cái gì?” Hứng thú đọc góp phần quan trọng trong thỏa mãn nhu cầu đọc của cá nhân người đọc
Nhu cầu đọc là đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận và sử
dụng tài liệu , nhằm duy trì và phát triển hoạt động sống của mình Nhu cầu đọc cũng biểu hiện thái độ nhận thức hoặc cảm thụ của người đọ c (cá nhân , nhóm người) đối với việc đọc như đối với các hoạt động cần thiết khác của cuộc sống , mà nhờ đó, các nhu cầu giao tiếp , nhận thức, thẩm mỹ được thỏa mãn Nhu cầu đọc chỉ xuất hiện khi bản thân người đọc cảm n hận được việc đọc chính là chất dinh dưỡng tinh thần không thể thiếu được trong đời sống thường nhật của họ [12]
Như vậy , nhu cầu đọc là tinh thần xuất phát từ nhu cầu nhận thức , nhu cầu giao tiếp và nhu cầu thẩm mỹ Đọc không chỉ để nhận thức mà còn để cảm nhận , thấu hiểu, thưởng thức một vẻ đẹp , một giá trị Nhu cầu đọc thường xuất hiện và được duy trì ổn định ở những người có đời sống tinh thần phát triển cao Nhu cầu đọc bắt nguồn từ yêu cầu của các hoạt động khác nhau trong đời sống của mỗi cá nhân và chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của các điều kiện xã hội Điều này được thể hiện qua nội dung và phương th ức mà xã hội thỏa mãn nhu cầu đọc cho người đọc Nhu cầu đọc nếu được đáp ứng thường xuyên , đầy đủ thì ngày càng phát triển và bền vững Ngược lại, nếu không được đáp ứng lâu dần sẽ suy giảm và mất đi
Trang 2721
Chính bởi lẽ đó, để duy trì nhu cầu đọc thì cần thường xuyên thúc đẩy hoạt động đọc Hoạt động này là một quá trình tiếp thu, lĩnh hội tri thức và các giá trị văn hóa được chuyển tải trong tài liệu Hoạt động đọc là hoạt động tinh thần bên trong của mỗi con người , bắt nguồn từ nhu cầu đọc Đó là hoạt động mà cùng lúc có sự tham gia trực tiếp của các yếu tố tâm lý khác nhau, như: cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ Vì thế đọc là quá trình tâm lý đặc biệt của con người Trong đó , không chỉ có sự tham gia của các quá trình nhận thức cảm tính, lý tính mà còn chịu sự chi phối của các trạng thái tâm lý và các thuộc tính tâm lý cá nhân , tuỳ thuộc vào sự tác động của môi trường xung quanh
Nhu cầu đọc xuất phát từ yêu cầu của hoạt động sống , nội dung đọc, vì vậy, có liên quan chặt chẽ đến hoạt động chủ đạo của chủ thể đọc Nếu hoạt động chủ đạo của chủ thể đọc là học tập thì các loại tài liệu đượ c quan tâm lựa chọn có nội dung liên quan đến chương trình học tập như : Giáo trình, tài liệu tham khảo , sách hướng dẫn học tập , sách giáo khoa Mỗi nhóm chủ thể đọc quan tâm tới các loại tài liệu khác nhau, phụ thuộc vào nhu cầu đọc của nhóm chủ thể đó Đây là vấn đề trọng tâm cần xem xét khi nghiên cứu phát triển văn hóa đọc cho sinh viên Học viện
Hứng thú đọc là thái độ tích cực của chủ thể đọc trong lựa chọn những tài liệu
có ý nghĩa , có giá trị và có sức hấp dẫn đối với chủ thể đọc Để hoạt động đọc đạt được hiệu quả cao , thỏa mãn được nhu cầu đọc , cần phải có kỹ năng lựa chọn tài liệu phù hợp , biết sàng lọc các loại tài liệu có nội dung lành mạnh và có ý nghĩa khoa học Chủ thể đọc chỉ có thể phát triển được văn hoá đọc của mình khi , việc lựa chọn tài liệu đạt được độ chính xác , phù hợp và có hiệu quả trong quá trình đọc Vì đôi khi việc lựa chọn không đúng tài liệu mình cần dễ làm giảm đi nhu cầu đọc Hứng thú đọc của mỗi cá nhân bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau , như đặc điểm lứa tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, khả năng học tập, hoàn cảnh kinh tế, gia đình, môi trường xã hội [8, 12] Ngoài ra, cũng bị chi phối bởi trạng thái tâm lý và loại hình tài liệu , cũng như ngôn ngữ trình bày của tài liệu Khi đọc sách kèm theo cảm xúc thì hứng thú đọc sẽ xuất hiện
Trang 2822
Nhu cầu đọc và hứng thú đọc là nguồn gốc tích cực trong hoạt động đọc , quyết định hiệu quả của hoạt động đọc , đồng thời cũng là hai khái niệm luôn đi đôi với nhau trong việc nghiên cứu hoạt động đọc của tất cả mọi thàn h phần người đọc Nhu cầu đọc là nhân tố duy trì sự tồn tại và phát triển của văn hóa đọc , còn hứng thú đọc là yếu tố kích thích sự phát triển của văn hóa đọc Hứng thú đọc có vai trò rất quan trọng đối với việc ph át triển nhu cầu đọc , nhất là đối với lứa tuổi thanh niên, bởi hoạt động của họ thường chịu sự chi phối khá rõ nét của yếu tố cảm xúc
Vì thế, nếu biết cách kích thích hứng thú đọc thì nhu cầu đọc sẽ được hình thành , duy trì và phát triển lâu dài
(2) Kỹ năng đọc, khả năng lĩnh hội các giá trị nội dung trong tài liệu
Kỹ năng đọc là khả năng vận dụng năng lực cá nhân của chủ thể đọc vào quá trình đáp ứng nhu cầu đọc Đó là yếu tố quan trọng , quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động đọc của mỗi cá nhân Kỹ năng đọc và thói quen đọc có liên quan mật thiết đến sự phát triển năng lực nhận thức , bản lĩnh học tập và làm việc của mỗi cá nhân Quá trình đọc sẽ đạt được hiệu quả cao nhất khi , chủ thể đọc biết cách biến tri thức trong tài liệu thành tri thức của mình Muốn vậy, trước hết chủ thể đọc phải có
kỹ năng đọc , khả năng lĩnh hội các giá trị nội dung chứa đựng trong tài liệu Nói cách khác, chủ thể đọc phải được trang bị kỹ năng đọc
Kỹ năng đọc là thành tố quan trọng nhất trong cấu trúc văn hoá đọc , là khả năng đặc biệt của chủ thể đọc , đó là khả năng hiểu biết , khả năng lĩnh hội, khả năng cảm thụ được nội dung được chuyển tải trong tài liệu , khả năng biến tri thức , kinh nghiệm tích lũy trong tài liệu thành tri thức , kinh nghiệm của bản thân , khả năng vận dụng tri thức , kinh nghiệm ấy vào những hoạt động sống khác nhau , nhằm làm phong phú hơn cho cuộc sống vật chất , tinh thần của chủ thể đọc Kỹ năng đọc của mỗi cá nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau , như tri thức, kinh nghiệm, năng lực cá nhân Những yếu tố này là kết quả của cả một quá trình rèn luyện thường xuyên và lâu dài Trong đó, người đọc có khả năng tập trung chú ý cao , có tri thức,
có kinh nghiệm phong phú sẽ có khả năng cảm thụ và lĩnh hội nội dung tài liệu ở mức độ cao
Trang 2923
Các yếu tố thuộc kỹ năng đọc của mỗi cá nhân bao gồm: (1) Xác định được mục đích đọc một cách rõ ràng; (2) lập được kế hoạch đọc cụ thể; (3) có phương pháp đọc khoa học (biết hệ thống hóa kiến thức, tóm tắt, tổng hợp…)
Mục đích đọc là yếu tố chi phối toàn bộ quá trình đọc của chủ thể đọc Việc
xác định được mục đích đọc một cách rõ ràng sẽ giúp cho người đọc có định hướng
cụ thể, không rơi vào tình trạng đọc tràn lan, tốn công sức và thời gian, giúp người đọc có cách đọc hợp lí, phù hợp với nhiệm vụ và chủ động về thời gian Xác định
mục đích đọc trả lời câu hỏi: Đọc để làm gì? tại sao phải đọc tài liệu này chứ không phải là tài liệu khác? Từ đó mới có thể trả lời được câu hỏi: Đọc sách gì, tìm ở đâu? đọc như thế nào? đọc chỗ nào? Mục đích đọc còn quyết định cả phương hướng khai
thác vấn đề quan tâm trong cùng một tài liệu Tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể
mà xác định mục đích đọc một cách rõ ràng và hợp lý mới có thể đạt được hiệu quả đọc như mong muốn
Lập kế hoạch đọc: Khi đã xác định được mục đích đọc rồi thì việc tiếp theo là ,
cần phải xây dựng kế hoạch đọc cụ thể , phù hợp với mục đích đọc đã đưa ra , đồng thời phải tuân thủ nghiêm ngặt kế hoạch đọc đó về thời gian và khối lượng tài liệu cần đọc Chẳng hạn, hãy đọc thật tập trung theo thời gian đã ghi trong kế hoạch đọc , vừa đọc vừa ghi chép , chưa xong chưa rời khỏi bà n Việc này sẽ giúp cho việc đọc không bị gián đoạn
Sử dụng phương pháp đọc khoa học: Đọc cũng là một nghệ thuật, có nghĩa là
biết đọc sao cho hợp lý, khoa học và tích cực nhất (về thời gian, dung lượng và nội dung) Khi đã có kế hoạch đọc, phải biết sử dụng phương pháp đọc một cách khoa học, nếu không khó thu được kết quả mong muốn, nghĩa là, trước hết phải biết lựa chọn sách, bởi vì không ai có thể đọc được tất cả những điều cần biết, nhưng có thể
có đủ thời gian để đọc những điều cần thiết Tiếp đến phải biết định hướng nguồn tài liệu cần thiết cho bản thân thông qua các công cụ tra cứu tin cả truyền thống và hiện đại như, các ấn phẩm thư mục, hệ thống mục lục thư viện, bách khoa thư, từ điển giải nghĩa, các loại sổ tay, cẩm nang , các cơ sở dữ liệu (CSDL), Internet Trong quá trình đọc phải biết cách tiếp nhận tối đa và sâu sắc nội dung tài liệu đọc, kể cả vệ
Trang 3024
sinh khi đọc tài liệu như cách ngồi, khoảng cách giữa mắt và tài liệu đọc; biết vận dụng các biện pháp kỹ thuật để củng cố và đào sâu những nội dung đã đọc như ghi chép những thông tin cần thiết, tóm tắt và chú giải nội dung các vấn đề mình quan tâm, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh nội dung các kiến thức đã đọc, thảo luận về những điều đã đọc với người khác; và điều quan trọng là biết vận dụng những kiến thức đã đọc được vào thực tiễn cuộc sống [45]
Khi lựa chọn nội dung để đọc cần chú ý đến thể loại của tài liệu Mỗi loại tài liệu có một cách đọc khác nhau Những cuốn sách mang nội dung tư tưởng rộng lớn đòi hỏi người đọc phải suy ngẫm nhiều lần , đào sâu suy nghĩ mới lĩnh hội hết ý nghĩa nội dung của nó Những tài liệu tra cứu và tài liệu kỹ thuật mang tính trực quan, những biểu đồ , sơ đồ cũng giúp ta hiểu rõ hơn mối quan hệ trong nội dung vấn đề đang đọc
Ngoài ra, ngôn ngữ cũng là một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoàn thiện kỹ năng đọc Muốn hiểu thật sâu nội dung cuốn sách đọc , người đọc cần không ngừng trau dồi và h oàn thiện vốn từ ngữ của mình , cần biết cách vận dụng tích lũy vốn từ ngữ ấy vào ngôn ngữ nói và viết , nhất là trong quá trình ghi chép lại nội dung phức tạp và sâu xa của những tác phẩm có giá trị Việc thường xuyên đọc sách giúp người đọc dần trau dồi trình độ ngôn ngữ của mình , nắm ngày càng sâu ngôn ngữ trình bày của tài liệu Như vậy, có thể nói, khi chủ thể đọc đã được trang
bị và hoàn thiện kỹ năng đọc thì tự bản thân chủ thể đọc đã có khả năng lĩnh hội nội dung các giá trị của tài liệu, làm giàu vốn tri thức của bản thân
Cần lưu ý, bản thân việc đọc sách không có ý nghĩa gì , vấn đề chủ yếu là đọc sách gì và lĩnh hội được những điều đọc được như thế nào [1] Mục đích cuối cùng trong phát triển kỹ năng đọc là nhằm đạt được hiệu quả đọc cao nhất, nắm chắc được nội dung cốt lõi của tài liệu, đồng thời biết vận dụng một cách khoa học những điều đã đọc được vào cuộc sống của người đọc để có thể cải thiện được chính cuộc sống của họ
Trang 3125
(3) Thái độ ứng xử với tài liệu
Thuật ngữ “Văn hóa ứng xử” tồn tại hàng ngày trong đời sống của con người, đó
chính là cách mà con người thể hiện thái độ ứng xử của mình với bản thân, với người khác và với môi trường xung quanh một cách thích hợp nhất [4, 25] Thái độ ứng xử là tâm trạng, là hành vi của chủ thể với khách thể tro ng hoạt động giao tiếp Thái độ ứng xử của một cá nhân đối với cá nhân hoặc với một đối tượng vật chất , tinh thần
là sự biểu hiện tâm trạng , tình cảm và hành động của cá nhân đó đối với đối tượng
mà mình tiếp xúc
Ứng xử văn hóa là phạm vi rộng và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ và đối tượng khác nhau Sách báo là sản phẩm kết tinh các giá trị văn hóa của nhân loại , là tài sản tinh thần và tri thức của thế hệ trước truyền lại c ho thế hệ sau Ở góc độ này , văn hóa ứng xử đối với sách thể hiện ở việc những cuốn sách - sản phẩm trí tuệ của nhân loại được tôn trọng như thế nào , những giá trị nội dung chuyển tải trong đó được lĩnh hội ra sao, thái độ đối xử với cuốn sách đó như thế nào Do vậy, việc giáo dục thái độ ứng xử đúng đắn với sách là vấn đề không thể tách rời trong cấu thành phát triển văn hóa đọc cho mọi cá nhân trong xã hội nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung, nhằm tạo lập thói quen tốt trong việc sử dụng tài liệu
Văn hóa ứng xử với sách được thể hiện qua thái độ và hành vi của người đọc đối với tài liệu khi tham gia quá trình đọc Thái độ và hành vi của người đọc đối với tài liệu phụ thuộc trước hết vào quan điểm, nhận thức của chủ thể đọc đối với đối tượng đọc là tài liệu Quan điểm, nhận thức của chủ thể đọc được biểu hiện qua các hành vi sau: Trân trọng, giữ gìn tài liệu; sử dụng tài liệu đúng mục đích (sách không phải để trưng bày); cách thức khai thác tài liệu; không làm hư hỏng tài liệu ; không chiếm giữ trái phép tài liệu Đồng thời còn được thể hiện qua tư thế và tâm thế của người sử dụng, qua tác phong khi đọc tài liệu
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa đọc
Văn hóa đọc của các nhóm đối tượng người đọc cụ thể khác nhau chịu sự chi phối bởi các yếu tố tác động khác nhau Đối với sinh viên, các yếu tố cơ bản có tác
Trang 3226
động tới văn hóa đọc bao gồm: Môi trường học tập; đặc điểm xuất bản phẩm; hoạt động thông tin-thư viện; công nghệ thông tin và truyền thông
(i) Môi trường học tập của sinh viên
Tác động của môi trường học tập đối với văn hóa đọc của sinh viên được Luận văn xem xét dưới góc độ ba yếu tố cơ bản cấu thành văn hóa đọc (theo nghĩa
rộng của khái niệm “Văn hóa đọc”) như đã trình bày ở trên, đó là: (1) ứng xử, giá trị
và chuẩn mực đọc của lãnh đạo một trường đại học cụ thể; (2) ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của các đoàn thể chính trị-xã hội, như tổ chức Đảng, Công đoàn, Phụ nữ, Thanh niên Trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Đoàn thanh niên; (3) ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của cá nhân sinh viên
Ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của lãnh đạo trường đại học giữ vai trò
chủ đạo trong việc hình thành và định hướng phát triển văn hóa đọc của toàn bộ cán
bộ, giảng viên và sinh viên toàn trường, tạo thành nét văn hóa đọc đặc trưng của trường đó Nội dung yếu tố này được thể hiện qua: Chủ trương, đường lối, kế hoạch chiến lược trong định phát triển của trường trước mắt và lâu dài; phương châm đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo Nghĩa là, tạo dựng môi trường pháp lý, cũng như các điều kiện cần thiết (như hạ tầng cơ sở thông tin, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục
vụ học tập…) cho phát triển văn hóa đọc
Ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của các đoàn thể chính trị-xã hội của
trường, thể ở việc tổ chức các hoạt động hữu ích, nhằm khuyến khích, động viên và tuyên truyền phát triển văn hóa đọc trong toàn trường, như: Thường xuyên cung cấp thông tin về những sự kiện văn hóa, văn học trong nước và quốc tế; tổ chức giao lưu trực tuyến với các nhà văn, nhà khoa học, nhà giáo về những vấn đề có liên quan đến văn hóa đọc; tổ chức thi đọc sách, thi tìm hiểu một vấn đề nào đó thông qua tìm hiểu sách báo; tổ chức ngày hội sách nhân một sự kiện nào đó, kết hợp giao lưu trao đổi về nội dung các tài liệu có liên quan tới sự kiện đó
Ứng xử đọc của mỗi cá nhân sinh viên được thể hiện ở việc phát triển nhu
cầu đọc, kỹ năng đọc và lĩnh hội kiến thức, cũng như thái độ ứng xử với tài liệu trong quá trình tham gia đọc
Trang 33Tài liệu học tập của sinh viên ngày càng đa dạng và phong phú với nhiều loại hình tài liệu khác nhau, cả tài liệu in truyền thống và tài liệu điện tử đa phương tiện Đồng thời chất lượng và hiệu quả hiệu quả hoạt động thông tin-thư viện ngày càng được nâng cao, với nhiều hình thức phục vụ khác nhau, cho phép sinh viên có thể tìm kiếm và sử dụng vốn tài liệu của thư viện tại chỗ trong bất cứ thời gian nào, thông qua việc truy cập tuyến với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại
Phương thức đào tạo hiện nay cũng đã thay đổi, chuyển từ đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ, làm thay đổi về chất mối quan hệ giữa thày và trò Theo
đó, trung tâm của quá trình đào tạo được chuyển từ người thày sang trò Vai trò
của giáo viên được chuyển từ vị trí người “truyền đạo”, sang vị trí là người hướng
dẫn sinh viên tìm kiếm các nguồn thông tin cần thiết Với phương thức đào tạo mới, đòi hỏi sinh viên phải nâng cao tính tự học, tự nghiên cứu, tăng cường hơn tính chủ động và sáng tạo trong quá trình đào tạo Do vậy, đòi hỏi sinh viên phải được trang bị kỹ năng đọc, khả năng lĩnh hội kiến thức, cũng như biết vận dụng các kiến thức đã đọc được vào quá trình học tập của mình
(ii) Đặc điểm xuất bản phẩm
Các loại hình xuất bản phẩm khác nhau cũng có những ảnh hưởng khác nhau tới văn hóa đọc của các đối tượng người đọc nói chung và nhóm đối tượng sinh viên nói riêng Hiện nay, trên thực tế xuất bản phẩm có hai dạng: In giấy truyền thống và điện tử
Xuất phát từ quan điểm đọc là hình thức tiếp nhận thông tin qua chữ viết Do vậy, tài liệu in giấy hoặc tài liệu điện tử cũng đều có chung mục đích là thỏa mãn
Trang 3428
nhu cầu đọc của mọi đối tượng người đọc, đó chẳng qua chỉ là phương tiện cung cấp thông tin Sự khác biệt chỉ là ở chất liệu (vật chất) ghi nhận thông tin để lưu giữ
và truyền đi trong không gian và qua thời gian, cũng như cách thức sử dụng chúng
mà thôi Nếu như tài liệu in giấy được sử dụng mọi lúc, mọi nơi mà không cần một điều kiện gì về máy móc và trang thiết bị, cũng như năng lượng (điện) cho hoạt động, thì ngược lại, tài liệu điện tử đòi hỏi phải đáp ứng các điều kiện này, đồng thời cũng đòi hỏi người đọc phải có các kỹ năng nhất định về sử dụng các phương tiện này, cũng như các phần mềm và các thiết bị đọc chuyên dụng khác
Chính vì vậy, xu hướng đọc tài liệu in truyền thống thường nghiêng về tầng lớp người đọc lớn tuổi, một phần do thói quen được tạo thành bởi môi trường sống của họ, hơn nữa, ở lứa tuổi này cũng có phần bị hạn chế về kỹ năng sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin hiện đại Ngược lại, xu hướng đọc của giới trẻ ngày nay, đặc biệt là sinh viên, phổ biến nghiêng về tài liệu điện tử (trong đó có các tài liệu đa phương tiện) - thành quả của khoa học và công nghệ Họ vẫn thường tiếp nhận tri thức, tiếp nhận thông tin bằng đủ các hình thức: đọc, nghe, nhìn Tuy nhiên,
“đọc ở đâu cũng là đọc, đọc sách, đọc báo, tạp chí, đọc trên Internet,… điều quan trọng là đọc cái gì, đọc như thế nào và rút ra được những gì sau khi đọc” [31] Việc
đọc để học, để cập nhật thông tin cho hoàn thiện bản thân muôn thuở không bao giờ mất đi, trái lại, đó là một nhu cầu thiết yếu của mỗi cá nhân con người và toàn xã hội
Ngày nay , với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, số lượng tài liệu được xuất bản (cả tài liệu in và tài liệu điện tử) ngày càng tăng cao, phương thức xuất bản phẩm ngày càng tiến bộ và đa dạng, nội dung sách phong phú hơn, hình thức cũng đa dạng hơn và ngày càng hấp dẫn người đọc hơn
Sự ra đời của sách điện tử - eBook (viết tắt của từ electronic book) trở thành một đối thủ lớn của sách in, đã có ảnh hưởng lớn đến hình thức đọc của các đối tượng bạn đọc hiện nay Có thể nói, sách điện tử đã thực sự tạo thành một cuộc cách mạng của văn hoá đọc Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trên toàn thị trường xuất bản, theo Hiệp hội Xuất bản Hoa Kỳ, số lượng Sách điện tử mới chỉ chiếm khoảng 8,5% số
Trang 35là cách thức để tài liệu nhanh chóng đến với người đọc Do vậy, đã có ý kiến cho rằng,
xuất bản điện tử là bước ngoặt rất lớn của thời đại số, hình thành “Văn hóa đọc điện tử” [48]
Tuy nhiên, bên cạnh những ích lợi to lớn, sách điện tử cũng có các bất tiện nhất định Đầu tiên là, sách điện tử có nhiều định dạng khác nhau, mỗi định dạng đòi hỏi phải có phần mềm phù hợp mới có thể đọc được Tiếp đến, về lâu về dài, đọc sách điện tử rất có hại cho mắt Ngoài ra, không phải ai cũng có những thiết bị đọc sách điện tử chuyên dụng, vì chúng đều có mức giá đắt, cao gấp nhiều lần so với giá một cuốn sách in Hơn nữa, những người đọc sách điện tử thường đọc lướt nhanh chứ không đọc sâu như đọc sách in giấy Điều này làm giảm sự giao cảm giữa người viết và người đọc Trên thực tế, đa số người sử dụng sách điện tử để lưu giữ thông tin hơn là đọc và thưởng thức nội dung tài liệu Đồng thời, đối với sách điện tử, quyền tác giả dễ bị xâm phạm hơn
Mặc dù vậy, sách điện tử vẫn là phương tiện quan trọng, có tác dụng bổ trợ cho sách in truyền thống trong thỏa mãn nhu cầu tin của mọi tầng lớp người đọc trong
xã hội Cho dù mai sau, khi xã hội sẽ phát triển cao hơn, con người có thể đọc sách trong thư viện điện tử hay qua mạng Internet, thì vẫn chắc chắn một điều là, sách in vẫn không hề mất đi giá trị văn hoá truyền thống lâu đời vốn có của nó Đơn giản bởi sách đã gắn bó với con người qua hàng ngàn năm lịch sử và cho đến tận hôm
Trang 3630
nay nó vẫn là nguồn sống quí giá nhất mà không có món ăn tinh thần nào có thể so sánh được Vì vậy, tài liệu in vẫn trường tồn cùng các phương tiện đọc hiện đại Khác với tài liệu điện tử, tài liệu in không bị vỡ, hết pin, hay đưa ra thông tin lỗi, hoặc đòi hỏi phải nâng cấp, phải có trợ giúp kỹ thuật, phải tốn tiền để mua các phụ tùng thay thế cao cấp, hay phải mang ra cửa hàng sửa chữa, giảm chi phí cho người
sử dụng, mang lại thuận lợi khi cần đọc mà không bị cản trở bởi các yếu tố khách quan
Tuy thế, tài liệu in vẫn có những hạn chế nhất định, là khó khăn cho các nhà chuyên môn có nhu cầu thông tin cao, những người thường phải mang một số lượng lớn báo chí và các tài liệu cho những chuyến công tác xa của họ Ở điểm này thì, tài liệu điện tử lại rất hữu ích cho người sử dụng bởi các phương tiện lưu giữ nhỏ gọn, chứa đựng được số lượng lớn thông tin cần thiết
Thực tế đã chứng minh rằng, “văn hóa đọc truyền thống”, hay “văn hóa đọc điện tử” về bản chất không có gì khác biệt, vẫn chỉ là phương thức thỏa mãn nhu cầu đọc của mọi người trong xã hội, cho dù có xuất hiện nhiều phương tiện đọc khác nhau, văn hóa đọc vẫn là một phương thức được con người sử dụng phổ biến hàng ngày cho mục đích tiếp cận và lĩnh hội tri thức của nhân loại Sự ra đời của xuất bản phẩm điện tử đã hỗ trợ đắc lực cho các xuất bản in truyền thống trong cung cấp thông tin, thỏa mãn nhu cầu đọc của xã hội
(iii) Chất lượng và hiệu quả hoạt động của thư viện
Việc đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của mỗi thư viện trong đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa nói chung, được thực hiện thông qua các tiêu chí có liên quan tới bốn thành phần cơ bản cấu thành thư viện
Sự tác động mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông đã và đang làm thay đổi sâu sắc phương thức hoạt động của các thư viện Ngày nay, khó có thể hình dung hoạt động của thư viện lại thiếu việc sử dụng máy tính điện tử, liên kết mạng, truy cập thông tin trên mạng, khai thác CSDL từ xa, truy cập vào các kho tư liệu điện tử khác nhau Tuy nhiên, về bản chất, nội dung hoạt động của thư viện hiện đại vẫn bao gồm các công đoạn: Tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu giữ và tổ chức phục vụ thông tin Chức năng chính của cán bộ thư viện, vẫn như trước kia - là cầu
Trang 3731
nối giữa thông tin có trong tài liệu và người dùng Cùng với việc thực hiện các chức năng truyền thống, thư viện hiện đại ngày càng tăng cường hơn vai trò phục vụ thông tin thông qua sự đa dạng hóa các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông đã hỗ trợ đắc lực cho các thư viện trong việc nâng cao chất lượng và làm giàu nguồn lực thông tin của mình bằng nguồn tài liệu điện tử khổng lồ của các thư viện số Các thư viện đặc biệt ngày càng chú trọng phát triển nguồn lực thông tin chất lượng cao, được lựa chọn, xử lý và lưu trữ dài lâu, đồng thời chú trọng đảm bảo các phương tiện kỹ thuật cho sử dụng có hiệu quả nguồn lực thông tin của mình, trên cơ sở tôn trọng
quyền tác giả Theo quan điểm của TS Sharon H White, “thư viện nên có đủ mọi nguồn tài nguyên, ý tưởng vì tri thức không của riêng ai Thư viện phải thực sự là trái tim của trường học, của cơ quan và cộng đồng, nơi mà mọi người cảm thấy mình được chào đón, một địa chỉ muốn tìm đến, nơi mà con người dựa vào khi họ muốn có thông tin về bất cứ điều gì, bởi bất cứ lý do gì ”[52]
Thực tế cho thấy, nhu cầu đọc trong thời đại công nghệ thông tin và truyền thông có sự thay đổi rõ rệt cả về hình thức tài liệu và nội dung thông tin Về hình thức, có sự gia tăng đáng kể nhu cầu sử dụng tài liệu điện tử, đặc biệt là, ở nhóm đối tượng người đọc là sinh viên, bởi tính tiện dụng và tốc độ cập nhật của loại hình tài liệu này Điều này cũng phù hợp với nội dung vốn tài liệu của các thư viện hiện đại
Về nội dung nhu cầu tin, ngày càng có sự đa dạng về các lĩnh vực khoa học khác nhau do xã hội ngày càng phát triển Trong đó, có những nhu cầu tin do đòi hỏi của công việc, có những nhu cầu tin phát sinh do tự thân của mỗi cá nhân Thậm chí, ngay cả nhu cầu tin trong từng lĩnh vực khoa học cũng có sự thay đổi theo thời gian Ví dụ, về lĩnh vực kinh tế, nếu như trước đây chủ yếu thiên về lý thuyết dạy làm giàu, thì nay nhu cầu đọc đã chuyển sang loại sách kinh nghiệm làm giàu của các doanh nghiệp, doanh nhân Tương tự, về lĩnh vực tin học, nếu như trước đây bạn đọc thường yêu cầu sách dạy tin học phổ thông, căn bản, thì nay nhu cầu đọc đã chuyển sang loại tài liệu tin học nâng cao và chuyên sâu
Trang 3832
Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động thông thư viện, việc nghiên cứu nhu cầu tin và đặc điểm các nhóm người dùng tin khác nhau của một thư viện cụ thể, là vấn đề hết sức quan trọng trong phát triển văn hóa, phù hợp với các nhóm đối tượng người dùng tin khác nhau Cần quan tâm đến nhu cầu, thói quen của người đọc thông qua các khảo sát, thống kê xã hội học để thu thập ý kiến của người đọc, theo từng thời điểm nhất định, ở một nhóm xã hội, một khu vực, hay một lĩnh vực cụ thể Đồng thời qua đó, có thể phát hiện và tiếp cận các nhóm người dùng tin mới nhằm tạo lập các dịch vụ thông tin-thư viện mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả phục vụ nhu cầu tin Đối với thư viện các trường đại học cần thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa cán bộ giảng dạy và cán bộ thư viện nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin phù hợp với nội dung đào tạo Ngoài ra, thư viện đại học cũng cần phải thay đổi nhận thức trong phương pháp tiếp cận người đọc Cần chú ý xây dựng các chương trình phát triển bạn đọc, tạo lập không gian học tập đầy hấp dẫn Trong đó, không chỉ đơn thuần cung cấp tài liệu thỏa mãn nhu cầu đọc, mà còn nâng cao năng lực của người đọc trong phát triển văn hóa đọc cá nhân
tin-Sự đa dạng về nhu cầu đọc trong thời đại công nghệ thông tin và truyền thông kéo theo sự thay đổi về chất trong tổ chức và phương thức cung cấp thông tin, đa dạng hóa các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện Các thư viện ngày càng quan tâm và chú trọng mở rộng các loại hình sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu tin ngày càng đa dạng và phức tạp của các nhóm đối tượng dùng tin khác nhau Ngày nay, các thư viện đang dần chuyển sang xu hướng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện hiện đại, có chất lượng cao, hướng vào đáp ứng yêu cầu của người dùng tin theo các chuyên đề cụ thể Đồng thời hiện đại hóa các khâu công tác truyền thống, ví dụ như, việc gia hạn mượn trả sách của thư viện cũng đã được thực hiện qua điện thoại, qua trao đổi bằng thư điện tử (E-mail) hoặc chat Bên cạnh các sản phẩm và dịch vụ công (không thu tiền), các thư viện đang tích cực tìm tòi và phát triển các dịch vụ có thu tiền nhằm bổ sung cho nguồn kinh phí hoạt động hạn hẹp của mình
Trang 3933
Yếu tố mang tính quyết định trong đảm bảo chất lượng và hiệu quả hoạt động của thư viện, chính là cán bộ thư viện Sự thay đổi công nghệ lưu trữ, tìm kiếm và cung cấp thông tin đã làm thay đổi chức năng của các thủ thư Trong thư viện hiện đại, cán bộ viên thư viện thực hiện vai trò điều phối giữa, một bên là dòng thác thông tin tăng theo cấp số nhân, bên kia là nhu cầu thông tin của xã hội ngày càng bức thiết khắt khe và phức tạp Ngoài những thao tác truyền thống, các thủ thư cần phải có các kỹ năng cao hơn phù hợp với môi trường làm việc điện tử Chính vì thế, các thủ thư cần được đào tạo nâng cao các kỹ năng phục vụ để thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin Họ cần được trang bị kiến thức thông tin, trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ, sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của người dùng tin khi tìm tới thư viện Có thể hiểu cán bộ thư viện ngày nay, không chỉ làm những công việc mà
họ đã từng làm trong hàng thế kỷ qua, mà còn bao gồm thêm nhiều việc khác nữa, chủ yếu liên quan đến công nghệ thông tin như quản lý và cung cấp các thiết bị công nghệ thông tin, quản trị trang web, kỹ thuật viên máy tính,… Sự thay đổi này phản ánh nhu cầu ngày càng lớn của cộng đồng người dùng tin đối với bộ thư viện
về kỹ năng nghề nghiệp và nhiệt huyết của họ
Người cán bộ thư viện hôm nay, không phải chỉ biết tổ chức ngăn nắp, thật khoa học nguồn tài nguyên thông tin của mình, đặt nó trong tình trạng sẵn sàng hoạt động, mà còn phải biết tinh luyện, chế biến nguồn tài liệu ấy, làm gia tăng giá trị sử dụng của thông tin có trong tài liệu về mặt chất lượng nội dung, về hình thức bao gói thông tin, phù hợp với tập quán của người sử dụng Trong một xã hội luôn chuyển động và chuyển động với tốc độ cao dưới tác động mạnh mẽ của công nghệ, thì mọi kiến thức đã có sẽ rất nhanh chóng bị lạc hậu và đào thải, cách tốt nhất để tồn tại trong sự chuyển động ấy là phải chuyển động với cùng một tốc độ, với cùng một quỹ đạo Chính vì vậy, năng lực cần thiết hàng đầu của người cán bộ thư viện hôm nay là năng lực thích ứng và thích nghi Người cán bộ thư viện trước đây được
đào tạo theo chiều “hướng nội” là chủ yếu Ngày nay, cần phải tăng cường khả năng
“hướng ngoại” của cán bộ thư viện, hướng về người đọc (người dùng tin), hướng về
Trang 4034
nhu cầu xã hội, hướng về đồng nghiệp, hướng về thế giới bên ngoài, để đón nhận,
để chia sẻ và để cộng tác [53]
Tóm lại, yêu cầu về chất lượng và hiệu quả hoạt động của thư viện đối với
việc phát triển văn hóa đọc được thể hiện ở mức độ thỏa mãn nhu cầu đọc của mọi đối tượng người đọc khác nhau Điều đó có nghĩa rằng, thư viện không chỉ là nơi lưu giữ thông tin mà còn là cổng thông tin, đáp ứng việc truy cập thông tin của người dùng Sự hiện đại về cơ sở hạ tầng, sự phong phú về nội dung và sự đa dạng
về hình thức của nguồn lực thông tin thuộc thư viện, đã có ảnh hưởng tích cực tới
sự phát triển nhu cầu đọc, thu hút bạn đọc tới thư viện Đội ngũ cán bộ thư viện có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, có kỹ năng giao tiếp, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình công tác cũng có tác động quan trọng tới việc thúc đẩy phát triển văn hoá đọc của xã hội nói chung và văn hóa đọc sinh viên nói riêng
(iv) Ảnh hưởng của công nghệ thông tin và truyền thông
Công nghệ thông tin và truyền thông là những bước tiến mới của loài người, giúp đời sống con người hiện đại và thuận tiện hơn, cung cấp những phương tiện để giảm thiểu sức lao động thủ công Công nghệ thông tin và truyền thông, mà đỉnh cao là công nghệ Internet, đã tạo điều kiện thuận lợi cho người đọc tiếp cận nhanh chóng tới các nguồn thông tin khác nhau, thỏa mãn tối đa nhu cầu đọc của cá nhân
và cộng đồng xã hội
Tuy nhiên, sự phát triển của các phương tiện thông tin và truyền thông đã làm cho thói quen đọc sách dần trở nên xa lạ đối với đa số người dân, đặc biệt là giới trẻ, trong đó có sinh viên Hằng ngày, qua các phương tiện truyền thông hiện đại như, tivi, đài, Internet mọi người đều được tiếp cận với một khối lượng tri thức khổng lồ Nhưng cũng vì cách tiếp cận thông tin hiện đại đó lại tiềm ẩn một nguy cơ
làm mai một thói quen đọc sách Nhiều người cho rằng, “thời đại của công nghệ thông tin, mọi thứ đều có trên mạng internet, đọc sách là lạc hậu, lên mạng đọc vừa nhanh, vừa dễ, vừa đỡ tốn kém” [46] Câu hỏi đặt ra là “liệu Internet có thể thay thế được thư viện không?”