Những tập thơ như Hương cđy in chung với Bằng Việt, Hương cđy – Bếp lửa, Nxb Văn học, 1968, Bầy ong trong đím sđu Nxb Hội Nhă văn, 1933 hay Những bông hoa không chết in chung cùng phần N
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 VÀI NÉT VỀ LƯU QUANG VŨ VÀ “CÁI KHÁC” CỦA THƠ ÔNG TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1975 3
1.1 Vài nét về Lưu Quang Vũ 3
1.1.1 Cuộc đời 3
1.1.2 Hành trình sáng tạo giai đoạn 1945 – 1975 5
1.1.3 Phong cách nghệ thuật 8
1.2 “Cái khác” của thơ Lưu Quang Vũ trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 9 1.2.1 Khái niệm “Cái khác” 10
1.2.2 Đặc điểm nổi bật của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 10
1.2.3 “Cái khác” của Lưu Quang Vũ trong giai đoạn 1945 – 1975 12
CHƯƠNG 2 KHUYNH HƯỚNG THẾ SỰ ĐỜI TƯ VÀ CÁCH NHÌN NHẬN VỀ CHIẾN TRANH TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 13
2.1 Khuynh hướng thế sự đời tư trong thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn 1945 – 1975………
……… 13
2.1.1 Thể hiện qua lăng kính đời tư 13
2.1.1.1 Bi kịch đổ nát đời tư………13
2.1.1.2 Cái tôi cô đơn tuyệt vọng……… 13
2.1.2 Thể hiện qua sự bận tâm đến những thân phận nhỏ bé 17
2.1.3 Thể hiện trên mảnh đất muôn màu có tên “Tình yêu” 21
2.2 Cách nhìn nhận về chiến tranh trong thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn 1945 – 1975……… 26
Chương 3 “Cái khác” về nghệ thuật trong thơ của Lưu Quang Vũ giai đoạn 1945 – 1975 33
3.1 Thể thơ và ngôn ngữ 34
3.2 Giọng thơ 37 KẾT LUẬN
Trang 2MỞ ĐẦU
Lưu Quang Vũ là một cây bút mà tài năng hội tụ đầy đủ trên mọi mặt Hầu như ởlĩnh vực nào ông cũng đạt được những thành tựu nhất định và tạo nên được những mốcson đáng nhớ trong sự nghiệp văn chương của mình cũng như những dấu ấn trong bạnđọc các thế hệ
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 tập trung vào ba mươi năm kháng chiếntrường kì của dân tộc và văn học là một bộ phận gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng,với kháng chiến, thể hiện niềm tự hào dân tộc và một niềm tin mãnh liệt vào tương laikhải hoàn của dân tộc Việt Nam Tuy nhiên có một Lưu Quang Vũ trong giai đoạn này cónhững trang viết, đặc biệt là trong thơ, ta lại thấy xuất hiện một thế giới nghệ thuật khác
Ở đây không có không khí hô hào của những trận chiến, không có những bài ca hànhquân mà trang thơ của ông lại lạc vào thế giới của tâm hồn thành thực, luôn trăn trở về lẽsống, mang nỗi niềm riêng tư về con người, cuộc sống và tình yêu Người ta bảo LưuQuang Vũ là hồn thơ “lạc điệu” và là hiện tượng “cái khác” trong văn học Việt Nam 1945– 1975
Trang 3CHƯƠNG 1 VĂI NĨT VỀ LƯU QUANG VŨ VĂ “CÂI KHÂC” CỦA THƠ ÔNG TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1975
1.1 Văi nĩt về Lưu Quang Vũ
1.1.1 Cuộc đời
Lưu Quang Vũ (17/04/1948 – 29/08/1988) lă nhă viết kịch vă lă nhă thơ hiện đạicủa Việt Nam Ông sinh ra tại xê Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ nhưng quí gốclại ở phường Hải Chđu, quận Hải Chđu, thănh phố Đă Nẵng Lưu Quang Vũ lă con traicủa nhă viết kịch Lưu Quang Thuận vă bă Vũ Thị Khânh, tuổi thơ sống cùng cha mẹ tạiPhú Thọ Khi hòa bình lập lại năm 1954, gia đình ông đê chuyển về sống tại Hă Nội Ôngtừng tham gia quđn đội thời kì khâng chiến chống Mĩ cứu nước (giai đoạn từ năm 1965đến năm 1970, ông nhập ngũ vă phục vụ trong Quđn chủng Phòng không – không quđn)
Từ năm 1970 đến năm 1978, ông xuất ngũ vă lăm đủ mọi nghề để mưu sinh như lăm ởxưởng Cao su Đường sắt, lăm hợp đồng cho Nhă xuất bản Giải phóng, chấm công trongmột đội cầu đường, vẽ pa nô, âp phích,
Thiín hướng vă năng khiếu nghệ thuật của Lưu Quang Vũ đê sớm được bộc lộ vẵng bắt đầu sâng tâc thơ khoảng giữa những năm sâu mươi của thế kỉ XX Thơ ông từngđược khâ nhiều bạn đọc yíu mến bởi sự trong trẻo, đắm đuối vă mộng mơ của hồn thơ
Những tập thơ như Hương cđy (in chung với Bằng Việt, Hương cđy – Bếp lửa, Nxb Văn học, 1968), Bầy ong trong đím sđu (Nxb Hội Nhă văn, 1933) hay Những bông hoa không
chết (in chung cùng phần Nhật kí, Nxb Lao động, 2008),…lă những vần thơ hay nhất của
đời thơ Lưu Quang Vũ mă hậu thế cứ mêi tìm đến như để đắm mình trong sự mí đắm dochính ông tạo ra Đến đầu những năm 80 của thế kỉ XX thì ông chuyển hẳn sang lĩnh vựcsđn khấu vă với khoảng năm mươi kịch bản do ông viết thì hầu hết đều được dăn dựng
Năm 1979, Lưu Quang Vũ hoăn thănh kịch bản dăi tay đầu tiín có tín Sống mêi tuổi 17
vă cho mêi đến 1981, khi đoăn kịch Hă Nội diễn vở Cô gâi đội mũ nồi xâm thì kịch vă
tín tuổi của ông mới nhận được sự chú ý của khân giả để rồi sau đó lă một chuỗi dăi
những kịch bản lần lượt ra đời như Người tốt nhă số 5 (1981), Hồn Trương Ba, da hăng
thịt (1981), Năng Xi –ta (1982), Hoa xuyến chi (1982), Nữ ký giả (1983),…
Trang 4Ông thuộc tạng người chỉ tin vào mắt mình, chỉ tin ở lòng mình Mỗi một chuyện
gì, việc gì mà mắt ông nhìn thấy được hay khiến tim ông nhói đau thì ông đều viết chúngthành thơ Ông muốn thơ của mình phải xuất phát từ những tình cảm nguyên sơ tronglòng và ông trung thành với mong muốn đó, còn ngoài ra thì ông không để lòng mình bậntâm nhiều đến những việc khác
Cuộc đời của Lưu Quang Vũ đã hai lần kết hôn Lần đầu là với nữ diễn viên điệnảnh Tố Uyên (sau là NSƯT Tố Uyên) vào năm 1969 và li hôn năm 1972 Hai người cóngười con trai chung tên là Lưu Minh Vũ Lần thứ hai ông tái hôn với nữ thi sĩ XuânQuỳnh (tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh) vào năm 1973 Xuân Quỳnh lớn hơn LưuQuang Vũ 6 tuổi, đã từng kết hôn và có một con riêng Tháng 2/1975, họ có với nhau mộtcon trai đặt tên là Lưu Quỳnh Thơ
Giữa lúc sự nghiệp đang vào độ chín thì vào đúng chiều ngày 29/08/1988, LưuQuang Vũ qua đời trong một tai nạn ô tô trên quốc lộ số 5 tại Hải Dương cùng với ngườibạn đời là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ năm đó mới 13 tuổi Sự ra đicủa ông đã để lại vô vàn nuối tiếc cho những ai yêu mến nhà thơ, nhà viết kịch tài năngnày Cho đến hôm nay, vẫn chưa có một tác giả nào ở lĩnh vực sân khấu kịch có thể lấpđược khoảng trống mà Lưu Quang Vũ để lại và những vần thơ không chỉ bay bổng, tàihoa mà còn giàu cảm xúc, chất chứa đầy những trăn trở và khát khao của ông sẽ mãi đểlại dấu ấn trong lòng công chúng yêu thơ Việt Nam Có thể thời gian đã mài mòn bớtnhững sắc cạnh so với ban đầu, nhưng nỗi đau thì vẫn như còn âm ỉ đâu đó Chắc có lẽmùa thu năm đó là mùa thu ảm đạm nhất của làng văn Việt Nam
1.1.2 Hành trình sáng tạo giai đoạn 1945 – 1975
Các tác phẩm của ông đã để lại một dấu ấn đáng kể trong lòng người đọc Tácphẩm ông nổi bật lên từ những năm sau chiến tranh Ông đã từng sống những năm thángtuổi trẻ trong chiến tranh, vào bộ đội chiến đấu và trở về sống trong một thời kì khó khăncủa nước nhà: thời hậu chiến, kinh tế bao cấp với chồng chất khó khăn, cơ cực Các vở
Trang 5kịch, truyện ngắn và thơ của Lưu Quang Vũ giàu tính hiện thực và nhân văn cũng như inđậm dấu ấn của từng giai đoạn trong cuộc sống của ông.
Trong giai đoạn 1945 – 1975, hành trình sáng tạo của Lưu Quang Vũ chủ yếu làhành trình thơ vì phải đến những năm 80 của thế kỉ XX, người ta mới biết đến nhà viếtkịch Lưu Quang Vũ Chặng đường thơ của ông trải dài từ khoảng thời gian sau nhập ngũđến những năm đất nước bước vào công cuộc đổi mới và dừng lại bất chợt khi ông độtngột qua đời Từ năm 1965 đến năm 1970 là thời kì ông nhập ngũ và thơ ông bắt đầu nở
rộ Tập Hương cây đánh dấu những bước đi đầu tiên của một tài năng đầy triển vọng.
Hăng hái xung phong vào quân đội, Lưu Quang Vũ mang theo bên mình khá nhiều mơmộng Thời kì này, thơ Lưu Quang Vũ hãy còn vương vấn những cảm xúc của tuổi thiếuthời đầy ngây thơ, trong trẻo Và trên mỗi bước đường đi qua, biết bao nỗi niềm về Tổquốc, về nhân dân lại được gợi lên trong tâm thức người chiến sĩ trẻ Những năm tháng
ấy, buồn vui của con người hòa quyện trong tình cảm chung của cả nước, Lưu Quang Vũyên tâm hòa mình vào cái chung của dân tộc, phấn đấu hòa nhập vào toàn thể Ngườithanh niên đó vững tin vào cuộc đời, cho rằng cuộc đời sẽ chẳng bao giờ là cô độc, cứ cấttiếng gọi thì lập tức có tiếng người đáp lại:
Bờ xa lúc nào cũng có tiếng người ơi Tiếng đất nước cất lên cùng sóng vỗ Nghe quen rồi mà mắt cứ rưng rưng
(Gọi đò)
Từ năm 1970 đến năm 1975, cuộc đời đa đoan khiến Lưu Quang Vũ tìm đến thơnhư một sự giải tỏa nỗi niềm Sau những mộng mơ của một thời tuổi trẻ, chàng thanhniên đó đã trải qua những năm tháng long đong giữa cuộc đời vô định Trước một xã hộiđầy rẫy những tiêu cực, cái mộng mơ bị xóa nhòa đi hết, tâm hồn Lưu Quang Vũ như trởnên già cỗi Thơ những năm này của ông mang đầy tính chiêm nghiệm, mang đầy nhữngdằn vặt, lo âu, trăn trở cùng những thất vọng về cuộc đời Sự khốc liệt của hiện thực đãchiếm lĩnh tâm hồn của một nhà thơ từng một thời “đắm đuối” Thơ Lưu Quang Vũ đãmang một cái nhìn khác, với chất thơ hoàn toàn khác và lệch ra khỏi quỹ đạo của cả nềnthơ Cả nước với công cuộc kháng chiến chống Mĩ vĩ đại xứng đáng được nhận những lời
Trang 6ngợi ca ngọt ngào, nhưng Lưu Quang Vũ không vậy, qua rồi cái thời bồi hồi “hương câyhương đất”, thoảng mùi “lá bưởi lá chanh”, ông lên tiếng chất vấn:
Những tuổi thơ không có tuổi thơ Những đôi mắt tráo trơ mà tội nghiệp Chúng ăn cắp, đánh nhau, chửi tục Lang thang hè đường tàu điện quán bia Những bông hoa chưa nở đã tàn đi Những cành cây chưa xanh đã cỗi
Sao mọi người có thể dửng dưng Nhìn em đi trên đường tối Mọi người đều có tội Trước tuổi thơ đã chết của em.
(Những tuổi thơ)Giai đoạn này với nhiều mất mát từ chính cuộc đời của mình, Lưu Quang Vũ thểnghiệm một nỗi buồn ám ảnh, đầy bế tắc:
Có những lúc tâm hồn tôi rách nát Tôi biết làm gì, tôi biết đi đâu!
(Quán cà phê ngoại ô) Tuyệt vọng đến tận cùng, con người đó cô đơn, hoài nghi và trở nên trơ trọi Muốnkhát khao yêu người thì lại không sao yêu được Muốn nương tựa vào tình yêu thì tìnhyêu lại tan vỡ Con người ấy như kẻ bất đắc chí, đành trở về với thứ tình cảm nguyên
Trang 7thủy trong mình, nhìn cuộc chiến ở một góc độ khác mà do cổ động chiến đấu, ta sẽchẳng bao giờ thấy được:
Cuộc chém giết lặng dần Các dũng sỹ thân tàn ma dại Ðập nát những cây đàn quý Ngồi nướng thịt cóc ăn Con mèo đi hai chân Kêu lên tiếng trẻ khóc.
(Chiều cuối)
1.1.3 Phong cách nghệ thuật
Để nói về phong cách nghệ thuật của Lưu Quang Vũ thì ta phải khai thác trên hailĩnh vực mà ông đều để lại dấu ấn, đó chính là thơ và kịch Ở mỗi một mảng, ông đều cómột phong cách rất riêng không lẫn vào đâu được
Ông làm thơ từ thuở còn học cấp ba Rời ghế nhà trường vào bộ đội thì ông viếtnhiều hơn và bắt đầu đăng báo Có thể nói rằng, đắm đuối chính là đặc điểm suốt đời thơLưu Quang Vũ Đó là nét riêng mà không phải nhà thơ nào cùng thời với ông cũng có.Ông cảm nhận đời sống không chỉ bằng nhận thức mà bằng cả giác quan Cảm giác là hạtnhân đầu tiên của cảm hứng thơ Lưu Quang Vũ và cũng chính cảm giác gọi những ý thơtuôn chảy Thế giới trong thơ ông là thế giới của tưởng tượng và vì là tưởng tượng nênmới thành đắm đuối Đó là bản sắc cảm xúc, là đặc trưng cảm xúc của thơ Lưu Quang
Vũ, tạo nên sức lối cuốn đến kì lạ nơi thơ ông Chúng tôi nhận thấy rằng sự say đắm nơinhững vần thơ của ông cũng xuất phát từ chính con người ông Lưu Quang Vũ là conngười làm gì cũng hết mình, cũng nhiệt thành và cả với tình yêu cũng thế Tố Uyên,người vợ đầu của ông từng kể: “Giữa bao chàng trai hâm mộ, tôi chọn Vũ vì chúng tôithân thiết từ bé Tôi nhận thấy Vũ có tài từ những ngày đó Trong tình yêu, hiếm có aiyêu cuồng nhiệt và thiết tha như Vũ” Thật vậy, đối với bất cứ chuyện gì ông cũng dồnhết tâm sức Cuối năm 1969 ông và bà Tố Uyên làm lễ thành hôn sau đó bà mang bầu bé
Trang 8Kít (nhà báo Lưu Minh Vũ), mỗi ngày Lưu Quang Vũ đều đèo vợ đi làm bằng chiếc xeđạp cà tàng Hai vợ chồng thường ghé quán cà phê ngồi nhâm nhi và ông thích ngắmnhìn vợ mình say đắm rồi làm thơ tặng bà Đó chính là sức hấp dẫn do chính ông tạo ra
và có thể thấy rằng sự đắm đuối của hồn thơ Lưu Quang Vũ là phát xuất từ chính conngười ông, rất thật nên càng có sức hút Nhưng đó là hồn thơ Lưu Quang Vũ những ngàyđầu cầm bút, sau vì cuộc đời trải qua quá nhiều biến cố mà sức mạnh hiện thực đã xâmchiếm và thấm vào tâm hồn nhiều mộng mơ ấy “Mùi lá bưởi lá chanh nên thơ và phùphiếm sẽ không bao giờ còn quay lại tô điểm cho cái hiện thực dữ dằn của chiến tranhnữa” (dùng của Vũ Quần Phương) Nhưng nhiều người lại cho rằng thời gian này mới làđỉnh điểm trong đời thơ Lưu Quang Vũ bởi ông không chỉ khác trước mà còn có thể làmbật lên ở nhân vật trữ tình trong thơ một cảm xúc, một nhận thức, một tâm trạng và khiếncho nó rất khó nắm bắt
Ở lĩnh vực kịch, Lưu Quang Vũ được xem như là một hiện tượng bởi lẽ ông đếnvới sân khấu khi mà sân khấu đang đòi hỏi hết sức khẩn thiết là phải đổi mới Hiện thựccuộc sống được phơi bày một cách khắc nghiệt và trần trụi Cái xấu có, cái tốt cũng có;cái lí tưởng đang dần phai nhạt, mờ nhòe, còn cái tầm thường, giả dối lại đang có nguy cơtrỗi dậy và lấn lướt,…Khi ấy ông còn đang là một kịch giả mới và trẻ nhưng đến năm
1985 thì có thể nói “hiện tượng Lưu Quang Vũ” là một phát hiện hiếm thấy Hầu hết mọingười đều nhận thấy ông là người có khả năng quan sát, nắm bắt những vấn đề nóngbỏng của đời sống rất nhanh nhạy, sắc sảo và tinh tế Kịch của Lưu Quang Vũ ngoài sựphát hiện còn xây dựng nên những nhân vật mang dáng dấp con người hôm nay và ngàymai bởi ông rất tài trong việc đưa những chi tiết có thật trong cuộc sống thành những chitiết mang sức khái quát, đưa tác phẩm kịch thành tác phẩm có sức phổ biến trong đờisống một cách thoải mái như cuộc sống đang được trung thực tái hiện lại
Khi nghệ thuật đồng hành cùng với “tâm trạng xã hội” hay cùng với con ngườithật của mình thì tác dụng của nó đối với đời sống to lớn biết chừng nào Lưu Quang Vũ
đã làm được điều ấy, gửi lời nhắn gửi rằng hãy tin tưởng vào cuộc đời, vào con người và
Trang 9đó chính là điểm khác biệt, là phong cách riêng của ông – nhà thơ và nhà viết kịch tàinăng của thế kỉ XX.
1.2 “Cái khác” của thơ Lưu Quang Vũ trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975
1.2.1 Khái niệm “Cái khác”
Theo Đỗ Lai Thúy, “Cái Khác đồng nghĩa với cái tiểu ngạch (nhỏ, lẻ, phụ), chonên luôn có nguy cơ bị cái chính ngạch (to lớn, đồng bộ, chính thức) đồng hóa Cho nên,cái Khác, một mặt phải chống lại sức hút của quyền lực trung tâm của cái chính thống vàchính thức để bảo vệ sự tồn tại độc lập của mình Mặt khác, nó phải chống lại chính bảnthân nó Bởi lẽ, cái Khác, sau một thời gian bị nghi kị, ghẻ lạnh, bắt đầu được chấp nhận,rồi quảng diễn ra đại chúng, thì đã trở thành quen mòn, không còn là khác nữa Vì thế, đểbảo vệ mình mãi là một cái Khác, thơ trong tiến trình của nó, phải luôn luôn đổi khác.”
“Cái khác” được thể hiện qua tư duy nghệ thuật Giai đoạn 1945 – 1975 là giaiđoạn cứ ngỡ rằng chỉ là văn học của khuynh hướng ngợi ca một chiều, tuy nhiên đó làkhuynh hướng chính lưu và bên cạnh còn có một bộ phận tách mình ra khỏi dòng chảychung, tạo bước rẽ mới trong tư duy Ở đấy tồn tại sự lạc điệu trong cảm quan đời tư, làviết về chiến tranh dưới góc nhìn của mặt trái chiến tranh, là sự lạc lõng trong cái tôi tinhthần khi không thể hòa chung nhịp vào nhịp thơ dân tộc Chính sự lạc điệu này góp phầnlàm cho văn học Việt giai đoạn này không chỉ có dòng chủ lưu mà còn có bộ phận phụlưu đào sâu vào bi kịch cá thể Còn về phương diện nghệ thuật, “cái khác” được biểu hiệnkhông chỉ trong ngôn ngữ mà còn hiện diện trong lối viết, trong phương thức biểu đạt sovới lối viết “quy chuẩn”
1.2.2 Đặc điểm nổi bật của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975
Cách mạng tháng Tám 1945 mở ra trên đất nước ta một thời kì lịch sử mới: thời kìđộc lập tự do, đi lên chủ nghĩa xã hội Cùng với sự kiện trọng đại ấy thì một nền văn họcmới của dân tộc ra đời và phát triển qua hai giai đoạn, giai đoạn 1945 – 1975 và từ 1975
Trang 10đến hết thế kỉ XX Giai đoạn 1945 – 1975 là đoạn đầu của nền văn học mang nhiều đổithay so với trước
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 tồn tại và phát triển trong một hoàn cảnhlịch sử hết sức đặc biệt Đó là đất nước trải qua cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vôcùng ác liệt kéo dài suốt 30 năm: “Chín năm làm một Điện Biên” và 21 năm kháng chiếnchống Mĩ cứu nước, điều kiện giao lưu văn hóa với nước ngoài gặp nhiều hạn chế vì sựtiếp xúc với văn hóa và văn học thế giới chủ yếu thông qua các nước xã hội chủ nghĩagần kề mà trước hết là Liên Xô và Trung Quốc Trong bối cảnh ấy, nền văn học vẫn pháttriển, vẫn tiếp nối, phát huy những truyền thống lớn của văn học nước nhà trước Cáchmạng và mang những đặc điểm riêng nổi bật
Trước hết, nền văn học giai đoạn này phải là nền văn học phục vụ cách mạng, cổ
vũ chiến đấu Đáp ứng yêu cầu của lịch sử, văn nghệ nói chung và văn học nói riêng bắtbuộc phải thực hiện nhiệm vụ hàng đầu đó là phục vụ cho cách mạng, cổ vũ tối đa chomặt trận chiến đấu Văn học lúc này trước nhất phải là một thứ vũ khí Không khí cáchmạng và kháng chiến đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần chiến sĩ của những người cầm bút,nhà văn nhà thơ đồng thời cũng là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng Thứ hai, nền vănhọc phải hướng về đại chúng, về quần chúng nhân dân lao động Bởi lẽ họ vừa là đốitượng thể hiện, vừa là công chúng của văn học và cũng vừa là nguồn cung cấp lực lượngsáng tác cho văn học Hướng về đại chúng có nghĩa là nhà văn, nhà thơ phải viết về cuộcsống và chiến đấu của nhân dân, là giúp họ hiểu được những phẩm chất tinh thần và sứcmạnh của họ trong cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc Để phù hợp với nhu cầu thẩm
mĩ của đại chúng, người cầm bút phải tìm đến những hình thức nghệ thuật quen thuộctrong kho tàng văn học truyền thống, kho tàng văn hóa dân gian và cũng phải thể hiệnbằng thứ ngôn ngữ gần gũi, bình dị và dễ hiểu đối với nhân dân Và thứ ba là nền văn họcgiai đoạn 1945 – 1975 phải là nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảmhứng lãng mạn Giai đoạn này là giai đoạn không có chỗ cho những cái thuộc về cá nhân
và văn học cũng theo thế, không phải là văn học của những số phận cá nhân mà là tiếngnói của một cộng đồng dân tộc trước thách thức quyết liệt: Tổ quốc còn hay mất, độc lập
Trang 11tự do hay ngục tù nô lệ ! Người cầm bút phải là những người nhân danh cộng đồng màngưỡng mộ, ngợi ca người anh hùng với những chiến công chói lọi
Tuy nhiên, đó là những đặc điểm của dòng văn học chính lưu Giai đoạn 1945 –
1975, văn học Việt Nam còn có những hiện tượng rẽ dòng khác, tạo nên dòng phụ lưu
Đó là những vần thơ “lạc điệu”, “nhầm đường rẽ lối” mà chúng tôi vừa đề cập đến ở trên.Đấy là những “cái khác” thực sự, không thể hòa chung nhịp đập, nhịp tiến của toàn dântộc nên có một thời kì nó không được đón nhận, phải bị loại bỏ Nhưng thời gian càngngày càng chứng minh rằng không cứ phải nói đến khí thế hào sảng, tinh thần chiến đấuquật cường thì sẽ tạo động lực cho chiến đấu mà ngay giữa những cái bi thương cũng cóthể là nguồn động lực, làm sôi sục thêm lòng căm thù đánh giặc Lưu Quang Vũ là hiệntượng “cái khác” đó giữa ba mươi năm oanh oanh liệt liệt của dân tộc
1.2.3 “Cái khác” của Lưu Quang Vũ trong giai đoạn 1945 – 1975
Ở trên chúng tôi cũng đã nói rất nhiều về “cái khác” của Lưu Quang Vũ trong giaiđoạn này Vậy cuối cùng, “cái khác” của hồn thơ “lạc điệu” đó là gì ? Là ở việc ông cókhuynh hướng thể hiện cái nhìn đời tư của mình và cách ông nhìn nhận về chiến tranh.Trong thời điểm mà mọi yếu tố thuộc về tính chất riêng tư, cá nhân đều nhường chỗ chomột mục đích cao cả và lí tưởng hơn: sự sống còn của dân tộc thì việc ông đưa các yếu tốthuộc về đời tư của mình vào trong thơ đã là điểm khác Nó cho thấy Lưu Quang Vũ quádũng cảm và sự thật thì không mấy ai dũng cảm được như ông !
Sự dũng cảm của hồn thơ yêu mãnh liệt và sống cũng mãnh liệt, sống hết mìnhkhông chỉ thể hiện ở việc đưa các yếu tố đời tư vào thơ mà còn ở cách nhìn nhận chiếntranh của ông Vì yêu nước, vì yêu Tổ quốc nên ông phải nói rõ những khó khăn, nhữngnỗi đau mà người người đang gánh chịu Bản thân ông không cho phép mình giấu đinhững gì mình thấy, rằng những gì trông thấy đều phải chuyển tải vào thơ vì đó mới đúng
là con người Lưu Quang Vũ Trong hào hùng cũng có những bi thương, trong khúc khảihoàn cũng có những mất mát, chia li Đó là những gì mà ông muốn nói, muốn truyền tải
và gửi gắm qua thơ của mình Dẫu biết rằng ca ngợi anh hùng, ngợi ca chiến công là cần
Trang 12thiết để tiếp tục tiến lên nhưng nhìn rõ bộ mặt của chiến tranh cũng là điều rất cần Vàđến với thơ ông, ta sẽ có dịp để chiêm nghiệm nhiều hơn Hai “cái khác” này chính là
“cái khác” về mặt nội dung trong thơ ông mà chúng tôi sẽ trình bày rõ hơn ở chương 2
Trang 13CHƯƠNG 2 KHUYNH HƯỚNG THẾ SỰ ĐỜI TƯ VÀ CÁCH NHÌN NHẬN VỀ CHIẾN TRANH TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ GIAI ĐOẠN 1945 – 1975
2.1 Khuynh hướng thế sự đời tư trong thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn 1945 – 1975
2.1.1 Thể hiện qua lăng kính đời tư
2.1.1.1 Bi kịch đổ nát đời tư
Một tài năng đầy triển vọng đang tự tin sải những bước chân trên hành trình sángtạo nhưng cuộc đời lại xô đẩy Lưu Quang Vũ rơi vào bi kịch đẫm nước mắt trong đời tư
Đó là sự tan vỡ trong hôn nhân với nữ diễn viên điện ảnh Tố Uyên: “Những gì em cần,
anh chẳng có/ Em không màng những ngọn gió anh trao” Ông rơi vào bi kịch của tình
yêu với những vỡ òa, tan nát cõi lòng:
Anh cũng thương em suốt đời trên sóng nước Cướp được tàu anh tưởng có ngọc vàng Ngờ đâu chỉ là ván nát sàn hoang Còn trơ lại một hồn thơ tai ác quá
(Bầy ong trong đêm sâu)Niềm đau ấy đã làm cho tâm hồn ông như “già” đi trong những nhận thức đaubuồn về đời:
Có những lúc tâm hồn tôi rách nát Tôi biết làm gì, tôi biết đi đâu!
(Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi)Những câu thơ như giằng xé tâm hồn, như một lời than thân khi mà mọi thứ đang quaylưng với nhà thơ Muốn nương tựa vào tình yêu thì tình yêu lại tan vỡ, muốn khao khátgiao cảm với đời thì bị cuộc đời từ chối Lưu Quang Vũ cứ như một cánh chim lạc lõnggiữa cuộc đời vô định Và mọi buồn vui, mọi nỗi niềm chôn giấu không thể nói của cuộcđời ông chỉ có thể giãi bày trên những trang giấy
Vì cái nghèo và gánh nặng mưu sinh mà ông đành lòng để lại đứa con của mình vàdứt áo ra đi Lưu Quang Vũ từng nói với con rằng:
Con ơi! Con hãy tha thứ cho cha Cha chẳng thể nào sống cùng mẹ được
Đời cha nắng gắt
Trang 14Mà mẹ con cần suối mát của đồng vuông
(Nói với con cuối năm)Những vết thương, những tổn thất tinh thần ấy cứ ám ảnh mãi và xâm nhập vào thơ củaông sau này:
Mất hạnh phúc rồi ư nhưng anh cần chi hạnh phúc
Hai tiếng xa vời hiểu rõ từ lâu
Ừ thì ngẩn ngơ anh đành nhận thế Giọt lệ trong không tủi hổ gì đâu
(Anh đã mất chi, anh đã được gì)
Và như bù đắp cho tất cả những đau thương, những mất mát nơi trái tim đã hằnhàng nghìn vết thương, vết sẹo chằng chịt ấy, người phụ nữ thứ hai của cuộc đời đã đếnbên Lưu Quang Vũ, thắp lên lại cho ông niềm tin nơi chốn đời, mang đến cho ông niềmvui, niềm hạnh phúc, sự hòa hợp và đồng điệu từ suy nghĩ đến tình yêu Đó chính là nữthi sĩ Xuân Quỳnh Nếu Lưu Quang Vũ ngổn ngang với sự đổ vỡ trong hôn nhân thì mái
ấm của nhà thơ Xuân Quỳnh cũng không khá hơn là mấy Chính vì lẽ đó, mà họ đã phảilòng nhau, yêu thương cho hoàn cảnh của nhau và khi hai tâm hồn hòa chung nhịp đập,
họ đã cùng nhau vượt qua, cùng nhau xây nên một mái nhà hạnh phúc Nhưng thật khôngmay, trong chuyến đi ở bãi biển Đồ Sơn cả hai bị tai nạn, họ ra đi trong niềm tiếc thươngkhôn xiết của mọi người
2.1.1.2 Cái tôi cô đơn tuyệt vọng
Cuộc đời nhiều đa đoan, phiền phức này như một định mệnh gắn liền với LưuQuang Vũ để vô tình ông lại mang nó vào trong những vần thơ của mình Trái tim củangười nghệ sĩ đầy những tổn thương ấy đã được giãi bày một cách tự nhiên trên tranggiấy Những lúc mở lòng ra với cuộc đời thì Lưu Quang Vũ lại có thơ, những lúc tình yêuchớm nở hay đến những lúc cô đơn quay về một mình đơn độc ông lại cũng chỉ tìm đếnthơ:
Tôi là đứa cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ.
Thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào Bàn chân hồ nghi giữa đường phố xôn xao
Trang 15(Mấy đoạn thơ)Hình ảnh “thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào” ấy chính là sự đơn độc, lạc loài của nhà thơgiữa dòng đời sôi nổi.
Hay là những câu thơ chứa đầy sự dằn vặt:
Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh Thắp một ngọn đèn hồng như ánh lửa Đêm sâu quá đêm nào biết ngủ Chỉ con người đến ngủ giữa đêm thôi
(Bầy ong trong đêm sâu)Nếu ai đã từng trải qua những tổn thương, mất mát và không thể vượt qua được thì sẽ tựcảm thấy bản thân như ngày càng bị xã hội ruồng bỏ, rồi họ trở nên bi lụy Đầu tiên đó là
sự dằn vặt bản thân Khi màn đêm buông xuống là lúc con người ta sống thật với bảnthân mình nhất, họ suy nghĩ về mình Ban ngày kìm nén bao nhiêu thì ban đêm khi ở mộtmình, bản thể con người lại dễ dàng để lộ nỗi niềm thầm kín bấy nhiêu Bởi trong tâmthức ấy đã quá tải và đang rên rỉ một cách nhọc nhằn Con người tự hòa mình vào mànđêm u uẩn “chỉ con người đến ngủ giữa đêm thôi” Dĩ vãng kéo ta về, tương lai gọi tađến, nỗi buồn và sự cô đơn cứ dai dẳng xảy đến Và Lưu Quang Vũ đã phải chịu đựng
như thế, cái tôi ấy cứ rơi vào cái cảm giác cảm bị lạc loài giữa hàng vạn con người:
Tôi chỉ là cây trong nỗi buồn bão gió Lòng tôi trắng mà mùa thu gió độc Bao giấc mộng gió đuổi vào dĩ vãng
Đôi lúc ông tự thân hòa nhập vào thiên nhiên, nhưng lại bế tắc rồi cảm thấy mình lạclõng “Lòng tôi trắng mà mùa thu gió độc” là hình ảnh toát lên sự chân chính, cái tôivững chãi giữa cuộc đời rối ren Trong thời cuộc này, mọi mơ ước, khát khao không thểhiện thực hóa được mà chỉ biến nó thành giấc mộng và buồn hơn là đưa vào dĩ vãng Vàcon người sống trong xã hội ấy không thể không lạc loài, chơi vơi giữa cuộc đời củachính họ
Ông hoài niệm lại những kí ức xa xưa, một nửa tình yêu của ông thật sự quantrọng đến nhường nào Những người cô đơn, đa cảm thường tự chuốc lấy nỗi buồn của
Trang 16đời tư, của nhân tình thế thái, của những nỗi đau và hoài niệm Nỗi buồn ấy đâu chỉ làngây dại, đâu chỉ là quay quắt mà đó là nỗi cô độc khi con người ta tìm kiếm mãi màkhông có lối ra:
Đêm nay tôi chẳng biết lối về Phía nào cũng hàng rào trước mặt Thế giới có bao nhiêu tường vách Ngăn cản con người đến với nhau.
(Mấy đoạn thơ)Mảnh đất tình yêu được gieo vào hạt giống buồn thương man mác, cái tôi dỗi hờndường như rơi vào cõi đơn độc Ông khắc khoải giữa tình yêu và số phận, đó là tiếng thơlặng lẽ thương đời:
Anh là con ong bay giữa đời lận đận Trời đêm dài chẳng có một ngôi sao.
(Bầy ong trong đêm sâu)Lưu Quang Vũ luôn trải qua những dằn vặt, đau xót, lầm lỡ của cuộc đời cô đơnđến tuyệt vọng nhưng cũng có lúc ông vẫn nhen nhóm lên ngọn lửa của sự khát khao,niềm tin và hy vọng muốn vượt lên trên mọi hoài nghi, đau khổ để tồn tại Mọi cung bậccảm xúc được Lưu Quang Vũ gói trọn trong những bài thơ nồng đượm đến say đắm, ngọtdịu đến chạnh lòng Mỗi bài thơ để lại cho ta những cảm xúc khác nhau nhưng vẫn gặpnhau bởi nỗi buồn, nỗi cô đơn lan tỏa trong không gian thơ đầy tình yêu dang dở Bởiông vốn đã mang trong mình nhiều nỗi đau, nhiều niềm day dứt trong lòng, là một người
đa sầu, đa cảm, lại thêm những địa chấn đời tư trong quá khứ, càng phần nào khiến ôngnhạy cảm với tất cả mọi thứ xung quanh hơn và cũng dễ bị tổn thương hơn
2.1.2 Thể hiện qua sự bận tâm đến những thân phận nhỏ bé
Lưu Quang Vũ tin rằng “khi một tiếng gọi cất lên thì bao giờ cũng có tiếng thưa,
không tiếng gọi nào lại rơi vào im lặng đáng sợ cả” Luôn tồn tại trong mình quan niệm
sống ấy nên ông đã lắng mình xuống để nghe, để quan sát và để thấu hiểu những số phận,những con người nhỏ bé trong thời kì lửa đạn đau thương của dân tộc Phải là người trăntrở nhiều về thực tại cho nên ông mới có thể cho ra đời những bài thơ mang hiện thực xù
Trang 17xì, thô nhám nhưng tươi rói bởi những gam màu đa dạng được chắt lọc từ những mảnhđời bất hạnh như thế ?
Sống trong dòng chảy của thời kì văn học cách mạng, Lưu Quang Vũ cũng giốngnhư những nhà thơ khác, ông mơ đến ngày hòa bình lập lại, mơ đến ngày mà những mấtmát, cùng cực vì chiến tranh sẽ không còn Tuy nhiên giấc mơ đó còn cách thực tế những
gì đang diễn ra trước mắt ông xa lắm ! Nhà thơ tự ý thức được điều này và ông bộc lộchất tự sự trong con người ông một cách tự nhiên và mạnh mẽ:
Những tuổi thơ không có tuổi thơ Những đôi mắt tráo trơ mà tội nghiệp Chúng ăn cắp, đánh nhau, chửi tục Lang thang hè đường, tàu điện quán bia Những bông hoa chưa nở đã tàn đi Những cành cây chưa xanh đã cỗi
[ ]
Sao mọi người có thể dửng dưng Nhìn em đi trên đường tối Mọi người đều có tội Trước tuổi thơ đã chết của em.
(Những tuổi thơ)Cái nhìn của Lưu Quang Vũ là cái nhìn đa chiều và rất thực tế Ông mượn nhiềuhình ảnh gần gũi với đời sống sinh hoạt hằng ngày để bày tỏ tâm tư của mình trước cuộcsống Và hơn bao giờ hết, vần thơ của ông thường ẩn chứa sự nấc nghẹn bên trong và cótính chất tự vấn cao Việc quan tâm đến những mảnh đời bất hạnh ở nhiều chiều, nhiềuhướng, nhiều góc độ đã cho thấy cái nhìn cuộc sống và con người trong thơ Lưu Quang
Vũ đạt đến độ sâu sắc, đầy chiêm nghiệm đúc kết của một nhà thơ từng trải Ông luôn cótrách nhiệm với ngòi bút, sống và viết hết mình Ông luôn trăn trở, băn khoăn cho nhữngphận người đau khổ, chịu nhiều thiệt thòi Dường như chưa bao giờ nhà thơ lo âu, suynghĩ nhiều cho kiếp người như lúc này, nhưng cũng chưa bao giờ Lưu Quang Vũ mất điniềm tin và khát vọng về con người Phơi bày những số phận đáng thương, bất hạnh, ông
Trang 18không nhằm mục đích lên án hay oán trách gì mà chỉ là để cảm thông, để yêu thương và
để chia sẻ Do đó bên cạnh giá trị hiện thực, thơ Lưu Quang Vũ còn mang đậm giá trịnhân văn:
Em gái mười lăm đã không còn thiếu nữ Dưới mái tóc quăn trơ bụi vai gầy
Em đi đâu đêm nay
Để lòng tôi se lại
Em lăn lóc trong bùn lội
Mà tôi chẳng biết làm gì Lặng đứng nhìn em đi
Cổ tôi chừng nghẹn đắng
[ ]
Đôi môi em không trong vắt nụ cười
Em chẳng biết yêu đương mà mơ ước Không được đọc những trang sách đẹp Không biết tin vào những bài ca.
(Những tuổi thơ)Lưu Quang Vũ là một nhà thơ luôn muốn chia hồn mình cho nhân sinh Có lúcông thấy bất lực trước thời đại tuy nhiên vẫn nặng lòng với con người và số phận Chặngđường ông trải qua và chiêm nghiệm là hành trình đã cho và đã lấy đi của ông rất nhiều
và đó là một trong những lí do giải thích vì sao thơ của ông có những “cái khác” nhưngvẫn đảm bảo được sự rung cảm từ thơ mang lại Những điều trông thấy này đã làm kếtđọng trong lòng Lưu Quang Vũ một nỗi buồn ám ảnh, nỗi buồn không dễ dàng nguôingoai Liên tưởng của ông càng đắp thêm vào những cái “bi thương” hơn nữa và có lúcông đã rơi vào tâm thế bế tắc:
Có những lúc tâm hồn tôi rách nát Như một chiếc lá khô, như một chồng gạch vụn
Trang 19Một tấm gương chẳng biết soi gì Một đáy giếng cạn không một hốc mắt đen sì Trời chật chội như chiếc lồng trống rỗng
Thành phố đầy bụi bặm Những mặt người lì nhẵn chen nhau.
(Có những lúc)Ông luôn luôn băn khoăn một câu hỏi giữa con người với con người rằng conngười là gì đối với nhau, có nên tin vào đôi mắt của mình không hay là chỉ tin theo niềmtin có sẵn, niềm tin đã được định trước Có khá nhiều nhà thơ sống trong những nămkháng chiến ấy đã chọn cách thứ hai, tiện và lợi đi đôi nhưng cũng không ít những nhàthơ đã chọn cách thứ nhất: đau trong tâm hồn và có khi còn khổ cả thân xác Ở một góc
độ nào đấy, có thể cảm nhận được sự bi lụy trong thơ ông, nhưng nếu đặt đúng vị trí banđầu thì có thể nói thơ ông đã dám thoát li và nói lên được nỗi lòng của một con ngườiđang “chơi vơi” giữa thời đại Và trên tất cả thì thơ của Lưu Quang Vũ đã truyền cảmhứng và lay động tâm hồn độc giả một cách sâu sắc khi mà cảm xúc trong thơ ông đến từ
từ, không vội vã nhưng đủ da diết và xé cào tâm can:
Em biết chăng ngọn cỏ thơm kia Con ghé ăn vào bỗng nhiên nhớ mẹ Quẫy sóng trên sông là con cá mè Hay đậu theo bầy là con chim dẽ Con tép nhỏ thường kho với khế Con bồ nông trên cát ướt lao xao
Chuyện xóm chuyện nhà em chưa biết đâu Trên bến sông này có một chiều năm ấy
Mẹ đã tiễn cha đi bộ đội
(Chuyện nhỏ bên sông)
Ý thức về quan niệm nghệ thuật của Lưu Quang Vũ rất rõ ràng, ở ông, “sự vận
động con người quần chúng đến con người đặt mình trong mối quan hệ cộng đồng, đại diện cho những số phận của thế hệ, của dân tộc” [4] Ông hiểu được cuộc sống chỉ đẹp