1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TÍNH CÁCH MẠNG và KHOA học TRONG lý LUẬN GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG của các mác ý NGHĨA TRONG xây DỰNG và PHÁT TRIỂN nền KINH tế THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA ở nước TA HIỆN NAY

34 365 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 291,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý luận giá trị lao động luôn là vấn đề trung tâm của khoa học kinh tế chính trị trong lịch sử. Quan niệm như thế nào về vấn đề giá trị lao động là tiêu chí quan trọng để xác định tính khoa học của một tư tưởng hay học thuyết kinh tế. Có một sự thật hiển nhiên rằng, trong lịch sử các học thuyết kinh tế, các nhà kinh tế chính trị học, dù bằng cách này hay cách khác, đã luôn cố gắng tìm cách để đi luận giải về nó. Tuy nhiên không có một trường phái nào giải thích một cách khoa học cho đến khi học thuyết về giá trị lao động của C.Mác ra đời

Trang 1

MỞ ĐẦU

Lý luận giá trị - lao động luôn là vấn đề trung tâm của khoa học kinh tếchính trị trong lịch sử Quan niệm như thế nào về vấn đề giá trị - lao động là tiêuchí quan trọng để xác định tính khoa học của một tư tưởng hay học thuyết kinh

tế Có một sự thật hiển nhiên rằng, trong lịch sử các học thuyết kinh tế, các nhàkinh tế chính trị học, dù bằng cách này hay cách khác, đã luôn cố gắng tìm cách

để đi luận giải về nó Tuy nhiên không có một trường phái nào giải thích mộtcách khoa học cho đến khi học thuyết về giá trị - lao động của C.Mác ra đời.Được xây dựng trên cơ sở kế thừa có phê phán những tư tưởng kinh tế của nhânloại, mà trực tiếp là kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh, lý luận giá trị - lao động

có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng, là cơ sở nền tảng của toàn bộ học thuyếtkinh tế của C.Mác Nó là cánh cửa đầu tiên phải vượt qua để đi tới những vấn đề

lý luận kinh tế chính trị khác đồng thời là cơ sở, phương pháp luận, chìa khóacho việc phân tích, giải quyết những hiện tượng kinh tế - xã hội cả về lý luậncũng như hiện thực

Trên cơ sở lý luận giá trị - lao động, C.Mác đã xây dựng thành công lýluận giá trị thặng dư, giải thích một cách khoa học bản chất bóc lột của chủnghĩa tư bản cũng như sự diệt vong tất yếu của nó và thay vào đó là sự ra đờicủa một phương thức sản xuất mới cao hơn: phương thức sản xuất cộng sản chủnghĩa Đó là một trong những phát kiến vĩ đại, là một cuộc cách mạng trongkinh tế chính trị học, đưa kinh tế chính trị học lên một tầm cao mới Theo đó, lý luậngiá trị - lao động của Mác không những chỉ có ý nghĩa khoa học thuần túy mà nó còn

có ý nghĩa lịch sử to lớn và ý nghĩa thời đại sâu sắc Lịch sử đã có nhiều đổi thay kể

từ khi học thuyết giá trị - lao động của C.Mác ra đời nhưng cho đến ngày nay nó vẫncòn nguyên giá trị, là cơ sở để vận dụng vào xây dựng và phát triển nền kinh tế thịtrường của nhiều quốc gia trên thế giới; đặc biệt cần phải được vận dụng sáng tạotrong thực tiễn xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam hiện nay

Với ý nghĩa đó, bài thu hoạch đề cập tóm lược sự phát triển lý luận giá trị - laođộng trong lịch sử tư tưởng kinh tế trước C.Mác đồng thời làm rõ tính cách mạng - khoahọc trong học thuyết giá trị - lao động của C.Mác, trên cơ sở đó vận dụng vào thực tiễn

Trang 2

quá trình xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiệnnay Bài thu hoạch được cấu trúc thành ba điểm nhỏ:

1 Sự phát triển lý luận giá trị - lao động trong lịch sử tư tưởng kinh tế trước C.Mác

2 Tính cách mạng - khoa học trong lý luận giá trị - lao động của C.Mác

3 Vận dụng lý luận giá trị - lao động của C.Mác trong xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Bài thu hoạch mới chỉ là phác thảo nhận thức, quan điểm của tác giả về những vấn

đề được đề cập trong nội dung Do thời gian cũng như khả năng, nhận thức người viết cómặt hạn chế cho nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, khuyết điểm Vì vậy, tácgiả rất mong nhận được sự cảm thông cùng những ý kiến đóng góp chân thành của cácnhà khoa học, các thầy trong khoa chuyên ngành và đồng nghiệp để những nhậnthức về nội dung trong bài thu hoạch thêm sáng, rõ hơn

Trang 3

NỘI DUNG

1 Sự phát triển lý luận giá trị - lao động trong lịch sử tư tưởng kinh tế trước C.Mác

1.1 Quan niệm về giá trị - lao động trong thời kỳ cổ đại, trung đại

Tư tưởng về giá trị - lao động không phải đến giai đoạn tồn tại của kinh tế chính trị

tư sản cổ điển mới xuất hiện mà manh nha của nó đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử.Ngay từ thời cổ đại, từ khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã, chế độ chiếm hữu nô lệ rađời đã xuất hiện các tư tưởng kinh tế về những phạm trù như phân công lao động, giá trịtrao đổi, vai trò tiền tệ, cung- cầu…Tuy nhiên những phạm trù này còn đơn giản, mangtính chất ước lượng chứ không biết các quy luật chi phối chúng Tiêu biểu là các đại biểunhư Xenophon (430- 345 TCN), Platon (427- 347 TCN), Arixtôt (384- 322 TCN)…

Xenophon, trong quan điểm về giá trị - lao động, ông coi giá trị là một cái gì đó có

ích cho con người và con người biết sử dụng được lợi ích đó Ví dụ: cái sáo có giá trị đốivới người biết thổi và không có giá trị đối với người không biết thổi Ông đã thấy đượcvai trò của tiền trong nền kinh tế Theo ông, vàng bạc là tiền có nhu cầu không giới hạn,việc tích trữ được nhiều vàng bạc làm người ta giàu có Từ đó, ông khuyên cách sử dụng

nô lệ tốt nhất là dùng họ vào việc khai thác vàng bạc Hơn nữa, vàng bạc không chỉ làphương tiện thuận lợi cho trao đổi mà còn làm cho chủ nó giàu có lên Vì vậy, C.Mác chorằng, theo Xenophon, tiền không chỉ là phương tiện lưu thông mà còn có chức năng tưbản Xenophon cũng đã thấy được mối liên hệ giữa giá cả hàng hóa với cung- cầu về nó

Từ đó, ông khuyên chủ nô nên mua nô lệ theo nhóm nhỏ để không làm tăng cầu nô lệ,hoặc mở mang sản xuất một cách thận trọng để không làm tăng cung hàng hóa nhanh

Platon, đã giải thích mối liên hệ giữa phân công lao động, thương mại và tiền tệ

với vai trò nổi bật của các thương gia C.Mác đã đánh giá cao ý tưởng này của Platon vàgọi đó là sự nổi bật thiên tài so với thời đại Khi nghiên cứu về tiền tệ, ông chỉ ra tiền tệvới hai thuộc tính quy đinh là thước đo giá trị và kí hiệu giá trị

Arixtôt, đã có tư tưởng manh nha về lý luận giá - trị lao động, theo ông: “của cải

thực tế” (của cải tự nhiên) là toàn bộ các giá trị sử dụng Ông cho rằng, tất cả hoạt độnggắn liền với việc tạo ra giá trị sử dụng là hoạt động kinh tế Mặc dù cách tiếp cận cònmang tính trực cảm nhưng ông là người đầu tiên phân tích giá trị trao đổi thông quaphương trình “5 cái giường = 1 ngôi nhà” Khi đánh giá về ông, C.Mác cho rằng: thiên tài

Trang 4

của Arixtôt là ở chỗ, trong lúc thể hiện giá trị của hàng hoá ông đã khám phá ra quan hệngang giá, có nghĩa là đang bước theo con đường dẫn đến lý luận giá trị lao động.

Thời kỳ Trung cổ, bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ IV, đầu thế kỷ thứ V, tồn tại đến cuối

thế kỷ XV Đây là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ bị tan rã, chế độ phong kiến xuất hiện.Trong thời kỳ này tiêu biểu có tư tưởng của Ibihandul (1332- 1406) người Arập và SaintAugustin (1354- 1430) Những tư tưởng kinh tế trong thời kỳ này đã bị khoác trên mìnhcái áo thần học, bảo vệ cho sự tồn tại của kinh tế tự nhiên, ít chú ý đến những vấn đề cơbản của nền sản xuất hàng hoá như giá trị, tiền tệ Họ lên án hoạt động thương mại và chovay nặng lãi, họ coi tiền chỉ đơn thuần là đơn vị đo lường, chỉ có giá trị danh nghĩa Họchưa hiểu gì về giá trị - lao động Trong xã hội trung đại ở phương Tây, sản xuất hang hóakhông phát triển thậm trí bị bỏ rơi, nên quan niệm của họ về giá trị rất mờ nhạt, nó chỉđược đề cập đến thông qua những quan điểm rất hời hợt về tiền tệ - cái hình thái đã táchrời khỏi nội dung của giá trị Tiền tệ lúc đó chỉ làm một chức năng duy nhất: phương tiệnmua Nó được sử dụng vào việc giao dịch to lớn giữa các tập đoàn phong kiến mỗi khicần thiết như cống nộp, mua chuộc…

1.2 Lý luận giá trị - lao động trong các học thuyết kinh tế từ cuối thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX

Từ cuối thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX chứng kiến một giai đoạn phát triển mớicủa lịch sử văn minh cuả nhân loại Bằng cuộc cách mạng Đại công nghiệp cơ khí ởphương Tây, giai cấp tư sản đã đánh đổ hoàn toàn gốc rễ của chế độ phong kiến mà người

ta vẫn thường nói là “đêm trường trung cổ” vốn tồn tại hơn mười thế kỷ Và thay thế vào

đó là sự hiện diện của một phương thức sản xuất mới: phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa với hai giai cấp cơ bản đối lập nhau là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản

Sự thay thế của máy móc với nhiều kiểu quan hệ sản xuất mới đã giúp cho nềnkinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển vượt bậc, chưa từng có trong lịch sử Trên cơ sở sựphát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, các tư tưởng kinh tế cũng phát triển mạnh mẽ

Từ chỗ nó chỉ là những tư tưởng rời rạc đến nay đã trở thành hệ thống, thành lý thuyết,các tư tưởng, học thuyết phản ánh những lợi ích khác nhau của các giai cấp khác nhau.Trong giai đoạn tan giã của chế độ phong kiến, tích lũy nguyên thủy tư bản những tưtưởng về lý luận giá trị - lao động đầu tiên phải kể đến là hai trường phái: trường pháitrọng thương Anh và trường phái trọng nông Pháp (từ khoảng giữa thế kỷ XV đến nửađầu thế kỷ XVIII)

Trang 5

1.2.1 Lý luận giá trị - lao động của trường phái trọng thương Anh

Trường phái trọng thương, là hệ thống tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư

sản, ra đời vào khoảng giữa thế kỷ XV, phát triển tới giữa thế kỷ XVII Đây là thời kỳphương thức sản xuất phong kiến tan rã, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới rađời, gắn liền với đó là quá trình tích lũy nguyên thủy của tư bản, tước đoạt nền sản xuấtnhỏ, tích lũy tiền tệ… tạo điều kiện cho sự ra đời chủ nghĩa tư bản

Khác với những tư tưởng kinh tế trước đó, học thuyết trọng thương không còn làcác tư tưởng kinh tế giải giác mà nó đã trở thành một hệ thống tư tưởng kinh tế, một họcthuyết kinh tế, chính sách kinh tế của tầng lớp thương nhân trong giai cấp tư sản Họ đánhgiá cao vai trò của tiền tệ (vàng, bạc), đây chính là tư tưởng xuất phát Họ cho rằng tiền lànội dung căn bản của của cải, là tài sản thật sự, là tiêu chuẩn của sự giàu có của một quốcgia Nếu như trước đây người ta coi tư liệu sinh hoạt là của cải, sự giàu hay nghèo đượcđánh giá bằng sự sung túc hay ít ỏi về tư liệu sinh hoạt; thì chủ nghĩa trọng thương lại chorằng: tiêu chuẩn của sự giàu có không phải là hàng hóa mà là tiền, hàng hóa chỉ là phươngtiện để tăng thêm khối lượng tiền mà thôi, sự giầu có tích lũy dưới hình thái tiền tệ là sựgiàu có vĩnh hằng Do vậy, mục đích chủ yếu trong các chính sách kinh tế của một quốcgia là phải tăng được khối lượng tiền tệ Để tích lũy được tiền tệ thì phải thông qua hoạtđộng thương mại, dưới sự bảo hộ của nhà nước phong kiến Khối lượng tiền tệ chỉ có thể

ra tăng bằng con đường ngoại thương, trong hoạt động ngoại thương phải thực hiện chínhsách xuất siêu Họ cho rằng: nội thương là hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm,muốn tăng của cải phải có ngoại thương dẫn của cải qua nội thương

Giai đoạn đầu họ không coi trọng lưu thông hàng hóa mà coi trọng lưu thông tiền

tệ nên họ đề nghị nhà nước cấm xuất khẩu tiền tệ, lập hàng rào thuế quan cấm nhập khẩuhàng hóa, nhất là hàng xa xỉ phẩm nhằm mục đích giữ khối lượng tiền tệ không bị haohụt Giai đoạn sau họ mới coi trọng lưu thông hàng hóa bởi vì họ thấy rằng: lưu thông tiền

tệ được quy định bởi lưu thông hàng hóa, việc điều tiết lưu thông hàng hóa dẫn đến điềutiết lưu thông tiền tệ để thu được khối lượng tiền lớn hơn Những người trọng thương chorằng những hoạt động nào mà không dẫn đến tích lũy tiền tệ là những hoạt động tiêu cựckhông có lợi, theo họ nông nghiệp không làm tăng thêm và cũng không làm tiêu hao củacải, hoạt động công nghiệp không thể là nguồn gốc của của cải (trừ công nghiệp khai thácvàng, bạc) Theo họ, chỉ có hoạt động ngoại thương mới là nguồn gốc thật sự của của cải,lợi nhuận được tạo ra trong lĩnh vực lưu thông, là kết quả trao đổi không ngang giá, mua ít

Trang 6

bán nhiều (H1 - T - H2 trong đó H1>H2) và mua rẻ bán đắt (T1 - H - T2 trong đó T1>T2).

Như vậy, dưới góc độ lý luân giá trị - lao động chủ nghĩa trọng thương đãkhêu gợi ra vấn đề giá trị thặng dư (lợi nhuận), họ đã đưa ra quan điểm tái đầu tư lợinhuận để phát triển kinh tế dân tộc… nhưng đứng trên lĩnh vực lưu thông để giảiquyết Do điều kiện lịch sử nên hạn chế lớn nhất của trường phái trọng thương là coitrọng thương nghiệp, coi lĩnh vực lưu thông, trao đổi là đối tượng nghiên cứu,phương pháp nghiên cứu của họ chỉ dừng lại ở việc mô tả bề ngoài Vì vậy lý luậngiá trị của họ chưa rõ ràng, tính lý luận chưa cao, thiếu khoa học, phản ánh ngây thơthần bí nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa Họ chưa hiểu gì về giá trị, họ chỉthấy hình thức cao nhất của giá trị là tiền, chưa đi sâu tìm hiểu cơ sở của sự trao đổihàng hóa là gì Mặc dù họ đã thấy lưu thông hàng hóa quy định lưu thông tiền tệnhưng lại không biết sản xuất quyết định lưu thông hàng hóa và tiền tệ Từ đó họ chorằng: trong lưu thông tiền đẻ ra tiền Trong một chừng mực nhất định họ cũng hiểutiền là tư bản nhưng không hiểu bản chất của tiền, tiền chỉ có chức năng phương tiệncất trữ, phương tiện lưu thông, thước đo giá trị (thước đo của sự giàu có) Họ chưahiểu gì về quy luật lưu thông tiền tệ, càng không biết gì về quy luật giá trị, họ chorằng lợi nhuận có được là kết quả trao đổi không ngang giá mua rẻ bán đắt và mua ítbán nhiều

1.2.2 Lý luận giá trị - lao động của trường phái trọng nông Pháp

Trường phái trọng nông, xuất hiện cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII khi

trường phái trọng thương bị phá sản Đại biểu xuất sắc nhất của trường phái trọngnông là Francais Quesnay, một trong những công lao to lớn của ông là đã đặt ra mộtcách khoa học vấn đề để nghiên cứu là sản phẩm thuần túy (giá trị thặng dư), mặc dùông chưa giải quyết được triệt để vấn đề này Mác viết: việc làm này vào giữa thế kỷXVIII trong thời kỳ ấu trĩ của chủ nghĩa tư bản là một tư tưởng hết sức thiên tài, rõràng là thiên tài nhất trong các tư tưởng kinh tế cho đến ngày nay Đây là học thuyếttrung tâm và là biểu hiện độc đáo nhất về các tư tưởng kinh tế của trường phái trọngnông, nó đã phản ánh một giai đoạn phát triển mới về lý luận giá trị lao động

Đứng trên lập trường duy vật siêu hình để giải thích các hiện tượng kinh tế, F.Quesnay cho rằng: sản phẩm thuần túy là sản phẩm của đất đai dôi ra còn lại sau khitrừ đi những chi phí lao động và những chi phí cần thiết khác cho việc thực hiệncanh tác ruộng đất Như vậy, sản phẩm thuần túy theo ông sẽ bằng tổng sản phẩm trừ

Trang 7

đi chi phí sản xuất và chỉ nông nghiệp mới tạo ra sản phẩm thuần túy Sở dĩ, chỉtrong sản xuất nông nghiệp mới tạo ra sản phẩm thuần túy vì hai nguyên tắc khácnhau hình thành giá trị tương ứng trong công nghiệp và trong nông nghiệp Trongcông nghiệp thì giá trị hàng hóa bằng tổng chi phí sản xuất (gồm chi phí về nguyênliệu, tiền lương công nhân, tiền lương của nhà tư bản, chi phí bổ sung của tư bảnthương nghiệp)- đó là chi phí thuần túy Còn trong nông nghiệp, giá trị hàng hóabằng tổng chi phí sản xuất (chi phí thuần túy) cộng với sản phẩm thuần túy Bởi vì,

do công nghiệp chỉ là quá trình kết hợp giản đơn các chất cũ, không có sự tăng lên vềchất nên không tạo ra sản phẩm thuần túy Ngược lại, trong nông nghiệp nhờ có tácđộng của tự nhiên nên có sự phát triển về chất, tạo ra chất mới, tạo ra sản phẩm thuầntúy

Như vậy, so với trường phái trọng thương, trường phái trọng nông đã chuyểnđối tượng nghiên cứu nguồn gốc của của cải từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sảnxuất trực tiếp, do đó đã đặt cơ sở cho việc phân tích nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.Đây là bước tiến quan trọng về phương pháp luận, họ đã thấy được mối quan hệ giữasản xuất và lưu thông, cho sản xuất quyết định lưu thông Nếu như trường phái trọngthương cho rằng lợi nhuận (của cải) có được từ lưu thông do mua ít bán nhiều, mua

rẻ bán đắt thì trường phái trọng nông khẳng định: của cải thực sự được sinh ra từ lĩnhvực sản xuất trực tiếp (từ sản xuất nông nghiệp), theo họ sản phẩm ròng do lao độngcủa những người làm ruộng tạo ra và của cải được di chuyển trong lưu thông, họ đãphân chia đời sống kinh tế xã hội thành hai lĩnh vực sản xuất và lưu thông của cải

Họ cũng cho rằng: sản phẩm ròng là thu nhập của xã hội (không phải chỉ là thu nhậpcủa chủ đất theo như quan niệm của W.Petty), điều đó chứng tỏ sản phẩm ròngkhông những là thu nhập của chủ đất mà còn là thu nghập của xã hội Như vậy, sảnphẩm ròng đã phản ánh quan hệ bản chất nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

Họ đã thấy được mối quan hệ lao động sản xuất và sản phẩm thuần túy (giá trịthặng dư) Lao động sản xuất trong nông nghiệp là lao động tạo ra sản phẩm thuầntúy và sản phẩm của người lao động sản xuất được chia thành hai phần: một phần đểtrả công cho người lao động, phần còn lại cấu thành sản phẩm dòng (phần thứ nhấttăng lên thì phần thứ hai giảm xuống và ngược lại)

Mặc dù họ giải thích nguồn gốc sản phẩm thuần túy theo tinh thần tự nhiênchủ nghĩa (đất đai là nguồn gốc của sản phẩm thuần túy), nhưng hạt nhân hợp lý ở

Trang 8

đó là : họ coi sản phẩm thuần túy là sản phẩm lao động của những người công nhânlàm thuê, bộ phận này đã trở thành nguồn thu nhập của giai cấp tư sản và địa chủ.Tuy vậy, bên cạnh những giá trị khoa học trên, lý luận giá trị - lao động của trườngphái trọng nông cũng vẫn chưa vượt qua được điều kiện lịch sử, còn những hạn chếthậm trí còn tụt lùi một bước so với trường phái trọng thương.

Họ đã không tìm thấy được nguồn gốc đích thực cũng như các hình thức biểuhiện của giá trị thặng dư Họ đã chỉ ra rằng sản phẩm thuần túy được tạo ra trong sảnxuất chứ không phải trong lưu thông nhưng lại cho rằng sản phẩm đó do đất đai sinh

ra và là tặng vật của tự nhiên, họ không thấy được đó là sản phẩm của công nhântrong nông nghiệp tạo ra Họ không vạch ra các hình thức biểu hiện của giá trị thặng

dư như lợi nhuận, lợi tức, địa tô

Họ cho rằng chỉ có lao động trong nông nghiệp mới là ngành lao động duynhất tạo ra giá trị thặng dư, còn trong công nghiệp và thương nghiệp không tạo ra giátrị thặng dư Quan điểm này có sự tụt lùi một bước so với trường phái trọng thương.Bởi vì, nếu như trường phái trọng thương đã nắm được bản chất của cải của xã hội

và đã xem xét của cải của xã hội theo quan điểm giá trị; thì trường phái trọng nôngtầm thường hóa khái niệm của cải, không thấy được tính chất hai mặt của của cải làmặt hiện vật và mặt giá trị Họ không hiểu thực thể giá trị (c+v+m) và không thấyđược việc hình thành giá trị là do lao động tạo ra, nên họ giải thích sản phẩm thuầntúy là một tặng vật của tự nhiên, từ đó gán cho giai cấp địa chủ và tư sản chức năngkinh tế to lớn mà trong khi chính họ lại là kẻ ăn bám

Như vậy, lý luận giá trị - lao động trong thời kỳ tan giã chế độ phong kiến,tích lũy nguyên thủy của tư bản mới chỉ có những nét chấm phá ban đầu, vẫn chưa

có thành tựu có ý nghĩa to lớn về giá trị khoa học Tuy nhiên những vấn đề lý luận

mà họ đưa ra cũng có một giá trị nhất định để sau này các nhà kinh tế tư sản cổ điểnnhư W.Petty, A.Smith, D.Ricardo…tiếp tục kế thừa và phát triển lên một tầm caomới, khắc phục những hạn chế mà họ để lại

1.2.3 Lý luận giá trị - lao động trong học thuyết kinh tế tư sản cổ điển

Kinh tế chính trị học tư sản cổ điển là một trường phái đặc biệt có vai trò

và ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển tư tưởng kinh tế chung của nhân loại

Nó xuất hiện từ thế kỷ XVII, trong thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa đã hình thành và phát triển mạnh mẽ ở phương Tây, đặc biệt là nước Anh

Trang 9

và nước Pháp Trường phái này phát triển trong thời kỳ dài, trải qua nhiều giaiđoạn, đạt tới đỉnh cao rực rỡ vào thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX và sau đó dầndần xa rời những nguyên tắc truyền thống trước khi chấm dứt sự thống trị tuyệtđối của mình vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Đặc biệt nổi bật trong hoàn cảnh lịch sử cho sự ra đời của kinh tế học cổđiển là sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản trong lĩnh vực sản xuất, tỏ rõ

ưu thế tất yếu của nó so với lĩnh vực lưu thông vốn là lĩnh vực chiếm ưu thếtrong thời kỳ phát triển của tư tưởng trọng thương trước đó Phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa đang trên đà phát triển, chưa bộc lộ rõ những mâu thuẫncủa bản thân nó là một cơ sở thực tiễn để các đại biểu của trường phái cổ điểntập trung nguyên cứu các quy lụât phát triển của chủ nghĩa tư bản, cổ vũ và đềcao ưu thế của phương thức này

Lý luận giá trị - lao động kinh tế chính trị tư sản cổ điển ra đời trên cơ sở làmột dòng chảy liên tục có sự đan xen, kế thừa những tư tưởng trước đó Các nhàkinh tế học tư sản cổ điển đã có công lao to lớn trong việc nghiên cứu lý luận giá trịlao động

Lý luận giá trị - lao động của W.Petty (1623-1687): nhà kinh tế học người

Anh Ông đã có những cống hiến nhất định trong lịch sử tư tưởng kinh tế, có nhiềuvấn đề lý luận đã vượt ra khỏi khuân khổ của chủ nghĩa trọng thương Theo C.Mác,ông là người mở đầu lịch sử trường phái cổ điển Anh, người sáng lập ra khoa họckinh tế chính trị tư sản với tư cách là một khoa học Ông đã tiếp cận phương phápnghiên cứu mới với quy luật kinh tế khách quan để giải quyết những hiện tượng kinh

tế, tuy nhiên phương pháp của ông mang tính hai mặt chưa triệt để, với thế giới quanduy vật tự phát

Ông đã có công lao lớn trong việc nêu ra nguyên lý giá trị lao động “giá trị là

do lao động tạo ra” tức đã coi lao động là cơ sở của giá trị, chính điều này ông đã trởthành cha đẻ của kinh tế chính trị Ông đã vạch ra nguồn gốc giá trị hàng hoá Coilao động sản xuất hàng hoá giữ vai trò chủ yếu trong việc tạo ra giá trị, tạo ra của cảivật chất Trong tác phẩm “Bàn về thuế khoá và lệ phí” ông đã đưa ra ba phạm trù vềgiá cả hàng hoá đó là: giá cả tự nhiên, giá cả nhân tạo và giá cả chính trị Theo ônggiá cả tự nhiên (tức giá trị) do lao động của người sản xuất hàng hoá tạo ra Lượngcủa giá cả tự nhiên tỷ lệ nghịch với năng suất lao động khai thác ra bạc Ông xác

Trang 10

định giá trị hàng hoá là do số lượng hao phí lao động tạo ra Đây chính là cơ sở đểsau này C.Mác phân tích làm rõ chất và lượng giá trị Nếu như giá cả tự nhiên là giátrị hàng hoá, thì giá cả nhân tạo là giá cả thị trường của hàng hoá, nó thay đổi phụthuộc vào giá cả tự nhiên và quan hệ cung cầu trên thị trường Ông cho rằng giá cảchính trị là loại đặc biệt của giá cả tự nhiên Nó cũng là chi phí lao động để sản xuất

ra hàng hoá, nhưng trong điều kiện chính trị không thuận lợi Vì vậy, chi phí laođộng trong giá cả chính trị thường cao hơn so với chi phí lao động trong giá cả tựnhiên Mặc dù, bị chi phối bởi lập trường giai cấp, điều kiện hoàn cảnh lịch sử chínhtrị lúc bấy giờ, nhưng việc ông phân biệt giá cả tự nhiên với giá cả chính trị là mộtbước tiến lớn đến nay còn nguyên giá trị

W.Petty đặt vấn đề nghiên cứu lao động giản đơn và lao động phức tạp, sosánh lao động trong thời gian dài, lấy năng suất lao động trung bình trong nhiều năm

để loại trừ tình trạng ngẫu nhiên Tuy nhiên, ông chưa làm rõ được

Ông cho rằng tiền không phải lúc nào cũng là tiêu chuẩn của sự giàu có màtiền chỉ là 1% của sự giàu có, nếu đánh giá tiền quá cao sẽ là sai lầm Nguồn gốcgiàu có không phải trong lưu thông mà giàu có được đem lại trong sản xuất Ông đãnhìn thấy hình thái nổi bật nhất của giá trị là tiền Ông nghiên cứu hai loại tiền làvàng và bạc Giá trị của chúng dựa trên cơ sở lao động khai thác ra chúng quyếtđịnh Ông phê phán chế độ song bản vị lấy vàng và bạc làm đơn vị tiền tệ, ủng hộchế độ đơn bản vị (giống nhận xét của Mác) Ông là người đầu tiên đưa ra quy luậtlưu thông tiền tệ, ông cho rằng số lượng tiền cần thiết cho lưu thông được xác địnhtrên cơ sở số lượng hàng hoá và tốc độ chu chuyển của tiền tệ, chỉ ra ảnh hưởng củathời gian thanh toán với số lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông Ông chống lại tưtưởng tích luỹ tiền của chủ nghĩa trọng thương

Từ những công lao trên, có thể khẳng định W.Petty là người đầu tiên trong lịch

sử đặt nền móng cho nghiên cứu lý luận giá trị - lao động Ông đã đúng khi cho rằngchất của giá trị là lao động, năng xuất lao động có ảnh hưởng đến lượng giá trị và giá

cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị Ông cũng đã đặt ra vấn đề nghiên cứu là lao độnggiản đơn và lao động phức tạp, đặt ra các quy luật kinh tế

Tuy nhiên lý thuyết giá trị lao động của ông vẫn còn những hạn chế bởi ảnhhưởng những tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương Ông chỉ thừa nhận lao động khaithác bạc là nguồn gốc của giá trị, còn giá trị các hàng hoá khác chỉ được xác định nhờ

Trang 11

quá trình trao đổi với bạc Ông chưa phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sảnxuất hàng hóa, chưa biết các bộ phận cấu thành giá trị hàng hóa, chưa hiểu lượng giátrị hàng hóa là gì Ông đã có luận điểm nổi tiếng: “lao động là cha còn đất đai là mẹcủa mọi của cải” Về phương diện của cải vật chất, đó là công lao to lớn của ông.Nhưng ông lại xa rời tư tưởng giá trị lao động khi kết luận lao động và đất đai là cơ sởgiá cả tự nhiên của mọi vật phẩm.

Lý luận giá trị - lao động của A.Smith (1723-1790): người Anh; ông là nhà tư

tưởng tiên tiến của giai cấp tư sản, là nhà kinh tế học tổng hợp của công trường thủcông Thế giới quan của ông cơ bản là duy vật, nhưng chủ nghĩa duy vật của ông là tựphát, máy móc, còn xa lạ với phép biện chứng Phương pháp luận - một phương pháphai mặt mâu thuẫn, trộn lẫn các phần tử khoa học và tầm thường Một mặt đi sâu vàomối liên hệ bên trong của chế độ tư bản chủ nghĩa; mặt khác lại chỉ là mô tả, liệt kê.Hai mặt đó không những chúng sống yên ổn bên nhau mà còn xoắn xuýt lấy nhau,thường xuyên mâu thuẫn với nhau Vì vậy, hệ thống lý luận giá trị - lao động của ôngvừa khoa học, vừa tầm thường

So với W.Petty, lý thuyết giá trị - lao động của A.Smith có bước tiến vượt bậc,

đã trở thành hệ thống, thông qua những phân tích về sự khác nhau giữa giá trị và giá trịtrao đổi, giá trị và giá trị sử dụng Trước hết, ông đã chỉ ra lao động sản xuất ở tất cảcác ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp đều tạo ra giá trị Ông cho rằnggiá trị của hàng hóa là do hao phí lao động quyết định và khẳng định lao động là thước

đo cuối cùng của giá trị, là thực thể của giá trị Trong khi W.Petty lại cho rằng chỉ cólao động khai thác ra bạc mới tạo ra giá trị, còn giá trị của các hàng hoá khác nhờthông qua trao đổi với hàng hoá bạc mà được xác định

Công lao lớn của ông là đã phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa giá trị sử dụng

và giá trị trao đổi Ông phê phán lý thuyết tính ích lợi quyết định của Turrgot và chứngminh giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi,vì có những vật mà giá trị sửdụng rất lớn nhưng không có giá trị trao đổi

Khi phân tích giá trị hàng hoá ông cho rằng: giá trị được biểu hiện ở giá trị traođổi của hàng hoá trong quan hệ số lượng với hàng hoá khác; trong nền sản xuất hànghoá phát triển thì nó được biểu hiện ở tiền, từ đó chỉ ra thước đo thực tế của hàng hóa

là lao động và tiền tệ, lượng giá trị hàng hoá là do hao phí lao động trung bình cần thiếtquyết định Lao động giản đơn và lao động phức tạp có ảnh hưởng khác nhau đến

Trang 12

lượng giá trị hàng hoá Trong cùng một thời gian, lao động chuyên môn, phức tạp sẽtạo ra một lượng giá trị nhiều hơn lao động không có chuyên môn hay lao động giảnđơn (mặc dù ông chưa biết đó là lao động cá biệt hay lao động xã hội, chưa biết laođộng giản đơn và lao động phức tạp là gì, chưa biết sự tác động đó ra sao) Ông phânbiệt được giá cả tự nhiên và giá cả thị trường, trong đó giá cả tự nhiên là nội dung bêntrong (giá trị), có tính khách quan, nó thay đổi cùng tỷ xuất tự nhiên cấu thành giá trị.Còn giá cả thị trường là giá bán thực tế của hàng hóa trên thị trường, về bản chất làbiểu hiện bằng tiền của giá trị Giá cả thị trường phụ thuộc vào giá cả tự nhiên ngoài racòn phụ thuộc nhiều yếu tố khác như: cung cầu, các chính sách của chính phủ và cácloại độc quyền.

Ông đã chú ý xác định lượng giá trị và đã đề cập đến các yếu tố cấu thành giátrị (v+m), cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị (bao gồm năng xuất laođộng, cường độ lao động, tính chất lao động mặc dù chưa đề cập sâu) Trong địnhnghĩa thứ nhất về giá trị là: do hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá quyết định Từ

đó cho rằng lao động là thước đo thực thể của giá trị Với định nghĩa này, ông là ngườiđứng vững trên cơ sở lý luận giá trị - lao động Ông cho rằng tiền chỉ là phương tiệncủa trao đổi hàng hoá, là thước đo bề ngoài, là môi giới C.Mác đánh giá cao công laocủa ông khi hiểu tiền là một loại hàng hoá

Tuy nhiên, lý luận giá trị - lao động của A.Smith còn nhiều hạn chế Dophương pháp luận của ông mang tính hai mặt (như đã đề cập) Vì vậy, trong phântích lý luận giá trị lao động, ông đã nhầm lẫn giữa lao động sống và lao động quákhứ, sức lao động và lao động Từ đó kết luận sai lầm rằng: giá trị của hàng hóa bằng

số lượng lao động mà người ta có thể mua được bằng hàng hóa đó Như vây, giá trịcủa hàng hóa do các nguồn thu nhập hợp thành là sai, tức là quy luật giá trị chỉ đúngtrong nền sản xuất hàng hóa trước chủ nghĩa tư bản, còn trong nền sản xuất hàng hóa

tư bản chủ nghĩa thì không vì: ông cho rằng giá trị của hàng hóa do thu nhập tạo lên

do đó tiền công là thước đo lý tưởng của giá trị Trên thực tế, nếu lấy tiền công làmthước đo giá trị của các hàng hoá là sai lầm lớn Ông đã xem thường tư bản bất biến(c) trong cấu thành giá trị hàng hoá, tầm thường hoá chi phí sản xuất vì vậy ông đãgạt bỏ yếu tố (c), trong cấu thành giá trị chỉ có (v+m) Lẫn lộn giữa cấu thành giá trị

và phân phối giá trị Rõ ràng, việc phân phối giá trị không ảnh hưởng gì đến cấuthành giá trị Ông chưa thấy được mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi.Chưa biết bản chất và các chức năng của tiền Từ đó dẫn đến sai lầm trong định

Trang 13

nghĩa thứ hai: giá trị là do lao động mà người ta có thể mua được bằng hàng hoá nàyquyết định Chính từ định nghĩa đó mà ông suy ra giá trị do lao động tạo ra chỉ đúngtrong nền kinh tế hàng hoá giản đơn Còn trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, giá trị

do các nguồn thu nhập tạo thành, nó bằng tiền lương, lợi nhuận và địa tô, (thiếu c).Ông coi (m) là nguồn gốc của những thu nhập đầu tiên là đúng vì là phân phối lầnđầu, nhưng ông lại cho rằng đồng thời (m) là nguồn gốc của mọi trao đổi, điều nàylại sai vì thiếu (c) C.Mác cho rằng đây là tín điều của A.Smith, chính tín điều này

mà không thể tái sản xuất mở rộng, thậm chí cả tái sản xuất giản đơn (thụt lùi hơn cả

F Quesnay, tư tưởng này của ông lại xa rời lý thuyết giá trị lao động, vấn đề này sauđược D.Ricardo khắc phục)

Lý luận giá trị - lao động của D.Ricardo (1772-1823): nhà kinh tế học người

Anh D.Ricardo sống trong thời kỳ đại công nghiệp cơ khí Lúc này xã hội có sựphân hóa giai cấp rõ ràng, máy móc phát triển mạnh, thất nghiệp diễn ra sâu sắc…Ông đứng trên lập trường giai cấp tư sản để bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản Ônglấy học thuyết giá trị làm điểm trung tâm nghiên cứu và là vũ khí để đấu tranh trốnggiai cấp địa chủ, quý tộc phong kiến D.Ricardo có thế giới quan máy móc, siêu hìnhvới phương pháp luận chứa đựng hai mặt mâu thuẫn khoa học và tầm thường; nhưngông hơn A.Smith ở chỗ là sử dụng thành công phương pháp trừu tượng hóa khoa học

và đứng trên lý luận giá trị để phân tích các hiện tượng kinh tế

Hệ thống lý luận giá trị - lao động chiếm vị trí trung tâm trong tư tưởng kinh

tế của ông Trong lý luận giá trị - lao động cũng như các lý thuyết khác, D Ricardodựa vào lý thuyết của A.Smith; kế thừa và phát triển tư tưởng của A.Smith Ôngcông nhận hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi Ông chorằng, giá trị sử dụng cần thiết cho giá trị trao đổi nhưng không phải là thước đo chogiá trị trao đổi Giá trị trao đổi mà D.Ricardo nói ở đây chính là giá trị (Sau nàyC.Mác nói giá trị sử dụng trong nền kinh tế hàng hóa là vật mang giá trị trao đổi, giátrị trao đổi không phải bằng giá trị sử dụng) Ông đã phân biệt rứt khoát giá trị và giátrị sử dụng, bác bỏ lý thuyết giá trị sử dụng quyết định giá trị hàng hoá Tính hữu íchcủa hàng hóa không phải là thước đo giá trị trao đổi mặc dù nó rất cần thiết Theoông, sở dĩ hàng hoá hữu ích có giá trị trao đổi là do hai nguyên nhân: tính khan hiếm

và lượng lao động cần thiết để sản xuất ra chúng

Trang 14

D.Ricardo đã soát xét lại toàn bộ lý luận giá trị của A.Smith và gạt bỏ nhữngmâu thuẫn trong lý luận giá trị của ông Trong hai định nghĩa về giá trị của A.Smith,D.Ricardo chỉ ra định nghĩa “giá trị do lao động hao phí quyết định” là đúng Cònđịnh nghĩa “giá trị lao động mà người ta có thể mua được bằng hàng hoá này quyếtđịnh” là không đúng Bởi vì, lao động không thể mua lao động được và trên cơ sở đóông khẳng định giá trị do lao động quyết định không chỉ đúng trong nền sản xuấthàng hoá giản đơn mà ngay cả trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

Trong cơ cấu giá trị hàng hoá phải bao gồm ba bộ phận là (c+ v + m) chứkhông thể loại (c) ra khỏi giá trị sản phẩm như A.Smith (Mặc dù ông không phát hiện

ra c) Ông nhận thức được lượng giá trị hàng hoá không phải quyết định bởi hao phílao động cá biệt mà do hao phí lao động đồng nhất của con người (hao phí lao động xãhội) quyết định bởi năng suất lao động xã hội

Ông có ý định phân tích lao động giản đơn và lao động phức tạp, quy lao độngphức tạp thành lao động giản đơn trung bình Ông cho rằng lao động xã hội quyết địnhlượng giá trị của hàng hoá và chứng minh dự đoán thiên tài của W.Petty: “giá trị củahàng hoá giảm khi năng suất lao động tăng lên”

D.Ricardo đã định nghĩa giá trị hàng hóa đúng đắn: giá trị hàng hóa là do số laođộng tương đối cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định chứ không phải khoảntiền thưởng lớn hay nhỏ trả cho lao động quyết định Cũng như A.Smith, ông đã phânbiệt rõ ràng hai thuộc tính của hàng hóa và nhấn mạnh: giá trị sử dụng không quyếtđịnh giá trị và không phải là thước đo của giá trị, nó là điều kiện cần thiết cho giá trịtrao đổi Giá trị trao đổi của hàng hóa được quyết định bởi số lượng lao động chứađựng trong hàng hóa đó Số lượng giá trị trao đổi tỷ lệ thuận với hao phí lao động đểsản xuất ra hàng hóa đó, giá trị sử dụng không tăng cùng giá trị trao đổi Ông đã phânbiệt rõ ràng giá trị trao đổi và giá trị, giá trị trao đổi là hình thức biểu hiên chung nhấtcủa giá trị Ông cho rằng, giá cả của hàng hóa là giá trị trao đổi của nó được biểu hiệnbằng tiền, còn giá trị của nó được đo bằng số lượng lao động hao phí để sản xuất rahàng hóa đó Ông đã biết cấu tạo giá trị của hàng hóa (c+v+m), tuy nhiên ông chưabiết c2 ông chỉ biết c1 cũng như quá trình chuyển hóa (c) vào sản phẩm như thế nào,nhưng so với A.Smith thì đó là một bước tiến dài

Ông đã chứng minh một cách sâu sắc rằng năng xuất lao động tăng, tổng giátrị sản phẩm tăng, giá trị trên một đơn vị hàng hóa giảm, ông đã chỉ ra rằng sự tăng

Trang 15

lên của của cải đi kèm với giá trị của nó giảm và đã phê phán khi A.Smith cho rằngchỉ lao động trông nông nghiệp mới có năng xuất cao hơn các ngành khác do tựnhiên giúp đỡ Ông đã phân biệt được giá cả tự nhiên và giá cả thị trường và tiến gầnđến lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất Ông cho rằng giá cả tự nhiên (c+v+m)

do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định (nhưngsai ở chỗ: thời gian lao động xã hội cần thiết trong điều kiên xấu nhất quy định) Ông

đã đúng khi cho rằng giá cả thị trường bị chi phối bởi cung cầu, cạnh tranh và cácyếu tố độc quyền khác, ông đã chứng minh những yếu tố đó chỉ ảnh hưởng đến giátrị trao đổi của hàng hóa còn giá trị của hàng hóa vẫn do lao động quyết định

Tuy nhiên, trong lý luận giá trị lao động của ông vẫn còn nhiều hạn chế do điềukiện lịch sử và do ông không phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hànghóa, chìa khóa để luận giải đưa lý luận giá trị - lao động trở thành khoa học hoànchỉnh Ông không thấy được nguồn gốc và sự thống nhất biện chứng giữa giá trị và giátrị sử dụng, không thấy được mâu thuẫn cơ bản trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn.Ông đã mắc sai lầm khi cho rằng hao phí lao động cần thiết lại được quy định bởi điềukiện sản xuất xấu nhất quyết định, chứ không phải trung bình Nó trái với A.Smith vìA.Smith cho là trong điều kiện tốt nhất quyết định C.Mác nhận xét đối với ruộng đất

là một tiến bộ còn các hàng hoá khác lại là sai lầm (vừa tiến, vừa lùi) Ông cũng sailầm khi cho rằng hàng hóa khan hiếm thì giá trị của hàng hóa do hai nhân tố lao động

và độ khan hiếm của hàng hóa tạo thành Bởi vì, giá cả hàng hóa cao hay thấp do cácyếu tố của thị trường quy định chứ không tạo ra giá trị của hàng hóa Ông đã lẫn lộngiữa giá cả sản xuất và giá trị hàng hóa (c+v+m khác với c+v+p bình quân) Chuchuyển tư bản và sự lên xuống của tiền lương cũng ảnh hưởng đến giá trị là sai, vì giátrị của hàng hóa không phụ thuộc vào các yếu tố đó Ông chưa thấy được c2 và sựchuyển hóa c1 vào sản phẩm như thế nào Ông chưa phân biệt được giá trị của hànghoá với giá cả sản xuất, mặc dù ông đã nhìn thấy xu hướng bình quân hoá tỷ xuất lợinhuận Ông coi giá trị là một phạm trù vĩnh viễn và chưa thoát khỏi giáo điều củaA.Smith, khi cho rằng giá trị hàng hoá bằng các thu nhập (V + P + R) vì ông chorằng giá trị hàng hoá chính là sự phân giải thành các thu nhập Ông đã tiến gần đếnphân biệt lao động cụ thể và lao động trừu tượng nhưng không phát hiện ra C.Mácnhận xét: ông đã biết lao động tạo ra giá trị là một loại lao động mà người ta không

kể đến hình thức cụ thể (chính là lao động trừu tượng) Chưa chỉ ra giá trị là biểuhiện quan hệ xã hội của những người sản xuất hàng hóa Cũng chưa nghiên cứu mặt

Trang 16

lượng và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa Chưa nghiên cứu có

hệ thống các hình thái giá trị nên không biết nguồn gốc, bản chất của tiền

Như vậy, dù có nhiều đóng góp cho khoa học kinh tế chính trị về lý luận

kinh tế nói chung và lý luận giá trị lao động nói riêng; song, trường phải kinh tếhọc cổ điển có những hạn chế nhất định Đó là tính chất hai mặt trong phươngphát luận nghiên cứu Họ cổ vũ một cách mạnh mẽ cho tự do kinh tế của thịtrường và tuyệt đối hóa vai trò tự điều tiết của thị trường, những người cổ điểncũng chưa có thái độ khách quan và thực tế đối với việc xem xét vai trò kinh tếcủa nhà nước - điều mà chính thực tế phát triển của chủ nghĩa tư bản cũngkhông thể phủ nhận được Trong khi cống hiến cho lý luận kinh tế học nhiềuthành tựu xuất sắc, các nhà kinh tế học cổ điển cũng để lại nhiều quan điểm tầmthường mà những người kế thừa họ biến thành trào lưu tầm thường hoá và làmgiảm giá trị của học thuyết cổ điển nói chung

1.2.4 Lý luận giá trị - lao động trong học thuyết kinh tế tư sản tầm thường

C.Mác là người đầu tiên phân biệt kinh tế chính trị tư sản thành kinh tế chính trị tưsản cổ điển và kinh tế chính trị tư sản tầm thường Vào những năm 30 của thế kỷ XIXkinh tế chính trị tư sản rẽ sang một hướng khác Các đại biểu kế tục của kinh tế chính trị

tư sản không duy trì và phát triển nội dung vốn có của các đại biểu kinh tế chính trị tư sản

cổ điển, mà họ lấy việc biện hộ cho chủ nghĩa tư bản làm mục đích Đến đây C.Mác nhậnđịnh: đó là sự “tầm thường hóa kinh tế chính trị tư sản cổ điển” Từ đây kinh tế chính trị

tư sản cổ điển nhường chỗ cho kinh tế chính trị tư sản tầm thường Các đại biểu tiêu biểucho giai đoạn này là: T.R Malthus (1766- 1834), J.B Say (1766- 1832)

T.R Malthus: ông là một mục sư người Anh Theo T.R Malthus, số lượng lao

động có thể mua được bằng một hàng hóa là do chi phí để sản xuất hang hóa đó quyếtđịnh Chi phí đó bao gồm lượng lao động (sống và vật hóa) đã chi phí để sản xuất ra hang

hóa cộng với lợi nhuận của tư bản ứng trước Như vậy, T.R Malthus đã phủ nhận vai trò

của lao động là nguồn gốc tạo ra giá trị, coi lợi nhuận là yếu tố cấu thành khác của giá trị

J.B Say: người Pháp Ông có “thuyết về tính hữu dụng” đối lập với lý luận giá trị

lao động của D Ricacđô Theo J.B Say, sản xuất tạo ra tính hữu dụng (giá trị sử dụng)còn tính hữu dụng lại truyền lại giá trị cho các vật- “ Giá trị là thước đo tính hữu dụng”.Như vậy, ông đã không phân biệt được giá trị sử dụng và giá trị, coi giá trị sử dụng và giátrị là một, do đó đã che đậy cái bản chất đặc thù xã hội của giá trị J.B Say cho rằng giá trị

Trang 17

của vật càng cao thì tính hữu dụng càng lớn, của cải càng nhiều thì giá trị càng lớn Mặtkhác, J.B Say lại cho rằng giá trị của hàng hóa chỉ được xác định trong trao đổi trên thịtrường Nó được quyết định bởi quan hệ cung cầu Như vậy, quan niệm của ông về giá trịhàng hóa là tùy tiện, không xác định được.

Tóm lại, học thuyết kinh tế tầm thường đã đoạn tuyệt với phương pháp luận khoa

học của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Họ áp dụng phương pháp nghiên cứu hời hợt bênngoài các hiện tượng và quá trình kinh tế Xuất phát từ mục đích chủ quan là biện hộ chochủ nghĩa tư bản, cho nên các đại biểu kinh tế chính trị tư sản tầm thường đã không thểtìm kiếm, xây dựng lý luận về giá trị lao động thực sự khoa học

1.2.5 Lý luận giá trị - lao động trong học thuyết kinh tế tiểu tư sản

Kinh tế chính trị học tiểu tư sản là một khuynh hướng phát triển của tư tưởng kinh

tế trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản Nó hình thành trong thời kỳ mà chủ nghĩa tư bản bắtđầu phát triển mạnh mẽ Trào lưu này bắt đầu xuất hiện ở nước Pháp, vào lúc sắp nổ racuộc cách mạng tư sản vĩ đại Di sản lý luận quan trọng nhất của trường phái này thể hiện

ở hai vấn đề: là sự phê phán chủ nghĩa tư bản theo quan điểm tiểu tư sản và dự kiến cảitạo nền sản xuất tua bản theo mô hình sản xuất nhỏ và chế độ kinh tế hàng hóa nhỏ trước

chủ nghĩa tư bản Các đại biêu tiêu biểu là: Sismondi (1773- 1842), Proudhon

(1809-1865)…

Sismondi, nhà kinh tế học người Pháp gốc Thụy Sỹ, đã kế tục lý luận giá trị

lao động của A.Smith, thừa nhận lao động là nguồn gốc của mọi của cải và xác địnhcấu thành giá trị gồm tiền công, lợi nhuận và địa tô; coi tiền tệ là hàng hoá, là sảnphẩm của lao động và là thước đo giá trị Đồng thời dùng lý thuyết giá trị lao động

để giải quyết các vấn đề kinh tế Đã phân biệt rõ hai thuộc tính giá trị và giá trị traođổi có mâu thuẫn

Proudhon, người Pháp Ông đưa ra lý thuyết “giá trị tổng hợp” hay “giá trị

cấu thành” Proudhon cho rằng đó là phát hiện mới, sự phát triển tiếp tục lý thuyết giá trị,

là hòn đá tảng trong hệ thống lý thuyết kinh tế cuả của ông Theo ông, giá trị là một phạmtrù trừu tượng, vĩnh viễn Nó bao gồm hai tư tưởng là tư tưởng giá trị sử dụng và giá trịtrao đổi Hai tư tưởng này đối lập nhau thể hiện hai xu hướng là sự dư thừa và sự khanhiếm Giá trị sử dụng thể hiện sự dư thừa, giá trị trao đổi thể hiện sự khan hiếm Điều đótạo nên sự khó khăn khi trao đổi trên thị trường Để khắc phục ông đưa ra lý thuyết về giátrị cấu thành Theo ông, giá trị cấu thành được tạo ra trong sản xuất và được thị trường

Ngày đăng: 01/03/2018, 22:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w