1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tê CHÍNH TRỊ xây DỰNG QUAN hệ sở hữu về tư LIỆU sản XUẤT TRONG THỜI kỳ QUÁ độ lên CHỦ NGHĨA xã hội ở VIỆT NAM

23 462 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 325,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là một trong những đặc trưng cơ bản nhất, phản ánh bản chất nhất của một phương thức sản xuất nhất định. C.Mác và Ph.Ăngghen quan niệm: mọi cuộc cách mạng xã hội nhằm lật đổ chế độ xã hội cũ và thiết lập chế độ xã hội mới bao giờ cũng phải đưa vấn đề sở hữu lên hàng đầu và coi đó là vấn đề cơ bản của phong trào. C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng: trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, việc xoá bỏ chế độ tư hữu, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là một đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội.

Trang 1

độ công hữu về tư liệu sản xuất là một đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội.Thực tiễn, mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực được xây dựng trên cơ sởchế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu với hai hình thức sở hữu là sở hữutoàn dân và sở hữu tập thể đã lâm vào tình trạng thoái trào như ở các nước xãhội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa đế quốc vàcác thế lực thù địch, phản động quốc tế lại ra sức tìm mọi cách để chống pháchủ nghĩa Mác - Lênin và cho rằng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là

lý luận về chế độ sở hữu đã trở nên lỗi thời lạc hậu Mặt khác, sau hơn 30 nămthực hiện đường lối đổi mới đất nước, nhất là khi nước ta chủ trương thực hiệnphát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thực tiễn đã vàđang nẩy sinh nhiều vấn đề mới, trong đó có vấn đề sở hữu về tư liệu sản xuấtđòi hỏi cần phải tiếp tục được tìm tòi nghiên cứu bổ sung làm sáng tỏ và pháttriển hơn cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn Với lý do đó tác giả lựa chọn

“Xây dựng quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội ở Việt Nam” làm chuyên đề khoa học cá nhân của mình.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của chuyên đề

* Mục đích: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng quan hệ sở

hữu về tư liệu sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Namhiện nay Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp kiến nghị góp phần hoàn thiệnquan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội lênchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trang 2

- Đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện quan hệ sở hữu về tư liệusản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

3 Phương pháp nghiên cứu của chuyên đề

Chuyên đề được trình bày dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam xoay quanh vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất; đồng thời chuyên đề kế thừakết quả của các công trình khoa học có liên quan đã công bố trước đó

-Chuyên đề sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử;phương pháp trừu tượng hóa khoa học của kinh tế chính trị Ngoài ra, còn sửdụng phương pháp thống kê, so sánh; phân tích, tổng hợp đề làm sáng tỏ vấn

đề nghiên cứu

4 Kết cấu của chuyên đề

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm

2 phần, 4 tiết

Phần 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG LÝ LUẬN QUAN HỆ SỞ HỮU

VỀ TƯ LIỆU SẢN XUẤT

1.1 Lý luận quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là một trong những nội dung trung tâm của kinh tế chính trị học

Trong lý luận kinh tế mác xít, khi đề cập đến phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa; phạm trù phương thức sản xuất nói chung và quan hệ sản xuất nóiriêng có vị trí quan trọng trong việc phân tích nhằm rút ra những tính quy luậtvận động của xã hội TBCN Theo quan điểm mác xít, quan hệ sản xuất là quan

hệ giữa người với người trong sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng củacải vật chất Các mối quan hệ này do LLSX quyết định Mỗi sự thay đổi củaquan hệ sản xuất đều là sự biến đổi của LLSX và đến lượt mình sự thay đổicủa quan hệ sản xuất sẽ tác động trở lại đối với LLSX

QHSX là hình thức xã hội của sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa ngườivới người trên ba mặt cơ bản: Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ

Trang 3

chức và quản lý sản xuất, quan hệ phân phối kết quả sản xuất Mỗi mặt có một

vị trí, vai trò khác nhau và có mối quan hệ tác động qua lại với nhau Trong

đó, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là mặt giữ vai trò quyết định; vì ai nắm

tư liệu sản xuất thì người đó chi phối quá trình tổ chức quản lý và phân phốisản phẩm làm ra Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở, là nội dung thenchốt của một loại hình quan hệ sản xuất nhất định Quan hệ sở hữu về TLSX

là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm của QHSX Quan hệ

sở hữu đóng vai trò quyết định bản chất của QHSX Nó quyết định mục đích,hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, phương thức quản lý và phân phối kếtquả sản xuất; quyết định địa vị của các tập đoàn người trong hệ thống sản xuất

xã hội Giai cấp sở hữu những TLSX chủ yếu có quyền chi phối tổng sảnphẩm xã hội, nắm quyền thống trị xã hội

Tuy nhiên, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối lại có tácđộng trở lại đối với quan hệ sở hữu Quan hệ tổ chức quản lý tuy phụ thuộcvào quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, nhưng quan hệ tổ chức quản lý cóvai trò rất quan trọng Cụ thể, khi quan hệ sở hữu chưa có gì thay đổi, như-

ng nếu có phương thức quản lý hợp lý thì sản xuất vẫn có bước phát triển.Trong nhiều trường hợp nó còn quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ vàhiệu quả nền sản xuất xã hội Quan hệ tổ chức quản lý đ ược điều chỉnh đểgiải quyết mâu thuẫn lợi ích giữa người lao động với chủ sở hữu về tư liệusản xuất; quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất mang tính hợp tác và dân chủhơn sẽ phát huy tính chủ động, sáng tạo của người lao động hơn Quan hệphân phối kết quả sản xuất là cách thức phân phối kết quả sản xuất chonhững người có quan hệ với quá trình sản xuất và sự phân phối đó phụthuộc vào quan hệ của họ đối với TLSX Trong chế độ sở hữu tư nhân vềTLSX thì quan hệ phân phối là không bình đẳng Trong chế độ sở hữu côngcộng về TLSX chủ yếu thì định hướng tới sự phân phối công bằng, bìnhđẳng - phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế trong CNXH và phânphối theo nhu cầu trong chủ nghĩa cộng sản

Vì vậy, trong 3 mặt đó chúng ta cần tránh tuyệt đối hoá hoặc xem nhẹ mộtmặt nào Trong lịch sử có hai loại sở hữu cơ bản đó là sở hữu công cộng và sởhữu tư nhân Do LLSX ngày càng phát triển và phân công lao động xã hội ngàycàng sâu sắc nên các hình thức sở hữu ngày càng đa dạng, phong phú

Như vậy, quan hệ sở hữu là một trong những vấn đề mấu chốt, nó có liên quanđến vấn đề nền tảng nhất, cơ sở kinh tế của một xã hội Bởi vậy, sự đúng sai của vấn

Trang 4

đề này có ảnh hưởng trực tiếp, mạnh mẽ tới việc giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xãhội - chính trị của quá trình phát triển và đổi mới của mỗi quốc gia.

Sở hữu là hình thức xã hội của chiếm hữu trong một hình thái kinh tế

-xã hội nhất định, gắn liền với một tổ chức kinh tế - -xã hội nhất định.

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: sở hữu là quan

hệ giữa người với người về chiếm hữu những vật phẩm Khác với quan điểmcủa các nhà kinh tế học tư sản cho rằng sở hữu là quan hệ giữa người với vật

Sở hữu là một phạm trù lịch sử thay đổi theo sự phát triển của LLSX, sự biếnđổi của hình thái kinh tế xã hội Sở hữu là một quan hệ kinh tế khách quanđược hình thành phù hợp với trình độ nhất định của LLSX Xét về bản chất thì

sở hữu chỉ có thể là công hữu hay tư hữu

Sở hữu là một phạm trù vừa xuất phát vừa cơ bản của kinh tế chính trị Nó làhình thức nhất định được hình thành trong lịch sử về chiếm hữu của cải vật chất xãhội Phạm trù sở hữu khi được luật hoá thành quyền sở hữu và quyền sở hữu đượcthực hiện qua một cơ chế nhất định gọi là chế độ sở hữu Đây là vấn đề căn bản nhấtcủa chế độ kinh tế xã hội, chỉ có giải quyết đúng đắn vấn đề sở hữu mới có cơ sở đểgiải quyết các vấn đề khác như: động lực, lợi ích kinh tế, chính trị, pháp quyền

Quan hệ sở hữu thể hiện dưới những hình thức nhất định có tính chấtpháp lý gọi là chế độ sỡ hữu Chế độ sở hữu xác định các quyền cơ bản đốivới tư liệu sản xuất cụ thể như: quyền sở hữu, quyền quản lý, quyền sử dụng,quyền phân phối Trong bốn quyền đó thì quyền chiếm hữu và quyền sử dụng

là cơ bản nhất, hai quyền này có thể thống nhất hoặc tách rời nhau; hai quyềnsau là hai quyền phát sinh Giữa các quyền đó có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau Sự thống nhất thể hiện ở chỗchúng có thể gắn liền với nhau đối với một chủ thể kinh tế Sự mâu thuẫn thểhiện ở chỗ giữa các quyền có khả năng tách rời nhau đối với một chủ thể kinh

tế Việc phân biệt các quyền này giúp chúng ta nhận thức rõ hơn và sử dụng

có hiệu quả tư liệu sản xuất

Chế độ sở hữu vừa mang tính pháp lý vừa mang tính khách quan Tính

pháp lý thể hiện ở chỗ quan hệ sở hữu phải được giai cấp thống trị thừa nhận,

được thể chế hoá thành pháp luật và do pháp luật bảo vệ Tính khách quan thể

hiện ở chỗ quan hệ sở hữu nó hình thành phụ thuộc vào sự phát triễn củaLLSX, con người không thể tuỳ tiện lựa chọn chế độ sở hữu này hay chế độ sởhữu khác Việc chuyển hoá quan hệ sở hữu là một quá trình lịch sử tự nhiênphụ thuộc vào sự phát triễn của LLSX, chứ không phải theo ý muốn chủ quan

Trang 5

của con người Đại hội VII của Đảng khẳng định: “ phù hợp với sự phát triểncủa LLSX, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất từ thấp đến cao, với sự đadạng về hình thức sở hữu”.

Cần phân biệt rạch ròi giữa chiếm hữu và sở hữu, đây là vấn đề hết sứccần thiết để nhận thức khoa học về phạm trù sở hữu tư liệu sản xuất Chiếmhữu phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và là một phạm trùvĩnh viễn; còn sở hữu lại là mặt xã hội của chiếm hữu phản ánh mối quan hệgiữa con người với con người trong việc chiếm hữu, quan hệ sở hữu là mộtphạm trù lịch sử Lý luận kinh tế học tư sản đã lợi dụng cách hiểu lập lờ giữahai phạm trù nói trên để biện hộ cho sự tồn tại “vĩnh viễn” của chế độ tư hữu

tư bản chủ nghĩa Họ cho rằng, sở hữu là quan hệ giữa người với vật, đồngnhất sở hữu với chiếm hữu, họ đã không thấy hoặc cố tình không thấy quan hệgiữa người với người thông qua chiếm hữu vật và mang tính đặc thù trong mỗihình thái kinh tế - xã hội, không thấy trình độ chiếm hữu tự nhiên của conngười gắn liền với hình thức xã hội nhất định của con người, cái hình thứckhông phụ thuộc vào ý chí của con người Chính quan hệ sở hữu biến đổi là

“sóng ngầm” bên trong quyết định sự biến đổi của chế độ kinh tế chính trị

-xã hội Sở hữu là quan hệ kinh tế chứ không phải là quan hệ ý chí của con ngườitrong xã hội Sở hữu quyết định hệ thống chính trị chứ không phải ngược lại Chỉkhi mối quan hệ giữa người với người độc lập với quan hệ ý chí thì vật sở hữumới trở thành đối tượng sở hữu thực tế, mới đem lại quyền lợi thực tế của conngười sở hữu cho giai cấp nhất định và cho một hệ thống chính trị nhất định

Đối tượng sở hữu thuộc về một chủ thể nhất định, nó phản ánh quan hệngười với người về quyền chiếm hữu đối với đối tượng sở hữu đó Đối tượng

sở hữu bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động Đối tượng sở hữu cóthể là: TLSX, TLTD, vốn.v.v Trong đó sở hữu về TLSX là quan trọng nhất.Lịch sử cho thấy đối tượng của sở hữu đã từng phát triển qua nhiều nấc thang

từ sở hữu vật tự nhiên quý hiếm; rồi sở hữu nô lệ; đất đai tiến đến sở hữu tưbản thể hiện dưới dạng vốn, sức lao động mua được… Đối tượng của sở hữungày càng được mở rộng cùng với sự phát triển của LLSX bao gồm cả nhữngvật phẩm hữu hình và vô hình Ngày nay, dưới tác động của cách mạng khoahọc - công nghệ, đối tượng sở hữu không chỉ sở hữu về tư liệu sản xuất, vậtphẩm tiêu dùng mà còn xuất hiện những nhân tố mới như: sở hữu thương hiệu,thông tin, trí tuệ chất xám…

Trang 6

Trí tuệ cũng là đối tượng của sở hữu, bời vì: ngày nay khoa học và côngnghệ đã thực sự trở thành LLSX trực tiếp, cùng với sự phát triển của LLSX vàkhoa học - công nghệ, xuất hiện nền kinh tế tri thức đã làm cho cơ cấu giá trịtrên một đơn vị sản phẩm hàng hóa có sự thay đổi với sự gia tăng giá trị hàmlượng chất xám ngày càng cao; giá trị nguyên, nhiên vật liệu có xu hướngngày càng giảm Hơn thế, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoahọc và công nghệ hiện đại cùng với quá trình toàn cầu hóa đã làm cho khoahọc - công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực trở thành nhân tố quan trọnghàng đầu đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Đại hội X, Đảng ta khẳngđịnh: nâng cao chất lượng và khả năng thương mại của các sản phẩm khoa học

và công nghệ; đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp NhàNước khuyến khích các hoạt động sáng tạo, hoàn thiện và ứng dụng côngnghệ mới, công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Việc tiền tệ hoá các đối tượng sở hữu chủ yếu là một bước tiến bộ lớn sovới quan niệm đối tượng sở hữu hiện vật cụ thể, đặc biệt là sở hữu trí tuệ Ởnước ta, đối tượng chủ yếu của sở hữu còn là những tư liệu sản xuất quantrọng như đất đai, tài nguyên, nhà máy, hầm mỏ, tiền vốn, các phương tiện kỹthuật hiện đại v.v Vì thế làm chủ những đối tượng sở hữu ấy là những điềukiện tiên quyết cho việc làm chủ các quan hệ kinh tế khác Điều quan trọng làphải biết nắm đối tượng sở hữu chủ yếu để tác động, điều chỉnh quan hệ kinh

tế theo những định hướng xã hội nhất định

Khi đề cập đến chế độ tư hữu C.Mác cho rằng chế độ tư hữu không phải

là loại quan hệ giản đơn, tuyệt đối; không phải là kinh nghiệm và nguyên lýtrừu tượng mà là tổng hoà các quan hệ sản xuất tư sản; sự chiếm hữu tư nhân

tư bản chủ nghĩa là dùng quyền sở hữu để làm phương tiện bóc lột, nô dịch,thống trị người khác và sự vận hành của toàn bộ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

chính là dựa trên cơ sở chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa “giai cấp những nhà

tư bản lớn… là những người độc chiếm mọi tư liệu sinh hoạt và cả nguyên liệu, công cụ (máy móc, nhà xưởng v.v) cần thiết để sản xuất ra những tư liệu đó”1, muốn biến đổi hình thái kinh tế xã hội này phải bắt đầu từ biến đổiquan hệ sản xuất mà đặc biệt là quan hệ sở hữu Trong “Tuyên ngôn Đảng

Cộng sản” C.Mác và Ph.Ăngghen xác định: “đặc trưng của xã hội cộng sản

không phải là xoá bỏ chế độ sở hữu nói chung mà là xoá bỏ chế độ sở hữu tư sản” 2 Bởi vì, “chế độ tư hữu tư sản hịên thời là đại biểu cuối cùng và đầy

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H 1995, tr 458.

2 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H 1995, tr 615.

Trang 7

đủ nhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột người kia”3 Vì vậy,chủ nghĩa cộng sản thực hiện việc xoá bỏ tư hữu tư sản cũng có nghĩa là xoá

bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa với tư cách là biểu hiện cuối cùng và hoàn

bị nhất của chế độ tư hữu nói chung, mở ra thời đại cộng sản chủ nghĩa dựatrên chế độ công hữu

Có thể nói, lý luận về chế độ sở hữu được C.Mác lấy làm tiền đề để tạo lậpnền móng cho toàn bộ lý luận kinh tế của mình; quy luật phát sinh, phát triển vàdiệt vong của chủ nghĩa tư bản cũng được xây dựng trên cơ sở phân tích bảnchất chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, nó là hạt nhân và bản chất của lý luận kinh

tế mác xít Trong suốt quá trình hình thành quan niệm về chủ nghĩa xã hội, vấn

đề sở hữu là một trong những vấn đề luôn giành được sự quan tâm chú ý củacác nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin

Theo quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác- Lênin, vấn đề xácđịnh các hình thức sở hữu trong chủ nghĩa xã hội, nhất là trong giai đoạn quá độ

từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội phải tính đến những sự thay đổi về trình

độ của LLSX, của sự phân công lao động và tính đến lợi ích của người lao độngnhằm tạo ra động lực cho quá trình phát triển sản xuất, phát triển xã hội Theo

C.Mác: “Vấn đề sở hữu biểu hiện ra dưới một hình thức rất khác biệt, tương ứng

với những giai đoạn phát triển khác nhau của công nghiệp nói chung và với những giai đoạn phát triển đặc biệt của nó ở các nước khác nhau”4

C.Mác cũng cho rằng, mỗi một hình thái kinh tế - xã hội có đặc trưng bởimột kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng được quy định bởi chế độ sở hữu chủ đạocủa xã hội Lịch sử phát triển của nhân loại gắn liền với sự thay đổi chế độ sởhữu Chế độ cộng sản nguyên thuỷ dựa trên cơ sở chế độ công hữu của thờihoang sơ; lao động tập thể; phân phối bình quân, nguồn sống chủ yếu dựa vào tựnhiên Vào cuối chế độ cộng sản nguyên thuỷ, chế độ nô lệ xuất hiện tư hữu, đãđưa loài người thoát khỏi tình trạng mông muội hoang sơ, bước sang một giaiđoạn mới Chế độ nô lệ, tư hữu trở thành động lực vươn lên trong mỗi con người

và là động lực phát triển xã hội Tuy nhiên tư hữu nô lệ trong chế độ chiếm hữu

nô lệ là tư hữu dã man, không chỉ bị chiếm đoạt của cải làm ra mà nô lệ còn làđối tượng sở hữu của chủ nô Chế độ phong kiến đã giải phóng nô lệ, nông dânđược sở hữu một phần sản phẩm của mình, tạo nội lực cho chế độ phong kiến

3 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H 1995, tr 615.

4 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H 1995, tr 427.

Trang 8

phát triển cao hơn chế độ nô lệ Cuộc cách mạng tư sản đã đem lại bước tiến mới,xoá bỏ tính chất độc quyền sở hữu của Nhà nước, khẳng định sở hữu tư nhân.Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, con người được pháp luật thừa nhận và bảo

vệ quyền sở hữu tài sản của mình Con người được tự do, của cải làm ra đượcbảo vệ Năng lực sáng tạo của hàng triệu con người được phát huy Chế độ tưhữu đã tạo động lực to lớn cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Sự phát triểnvượt trội về kinh tế, khoa học công nghệ và một số mặt về xã hội có nguồn gốccủa chế độ sở hữu tư nhân - động lực to lớn dưới chủ nghĩa tư bản Nhưng chính

sự phát triển ấy đã ngày càng làm sâu sắc thêm mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa

tư bản, trình độ bóc lộc ngày càng tăng, phân hoá ngày càng lớn, từ sức mạnhkinh tế chuyển hoá thành sức mạnh chính trị: thống trị, áp đặt - nguyên nhân chủyếu của các cuộc chiến tranh phi lý tàn khốc, băng hoại tự do, dân chủ của tuyênngôn lúc ban đầu

Như vậy, lịch sử đã ghi nhận sở hữu có vai trò to lớn, tạo bước ngoặttrong tiến trình phát triển nhân loại, nhưng cũng tạo ra rất nhiều thách thức đốivới xã hội Sự xuất hiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa là một cuộc cáchmạng trong lịch sử xã hội loài người Vì đặc trưng của quan hệ sản xuất xã hộichủ nghĩa là tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu xã hội Sự hình thành chế độcông hữu về tư liệu sản xuất tạo ra mối quan hệ hợp tác tương trợ giữa nhữngngười lao động đã thoát khỏi bóc lột và sản xuất được tổ chức khoa học nhằmthoả mãn nhu cầu vật chất và văn hoá của mọi thành viên trong xã hội Tuynhiên, xây dựng chế độ công hữu như thế nào, dưới những hình thức, bước đi

và nhịp độ phát triển ra sao là một vấn đề kinh tế và chính trị cực kỳ phức tạp,không thể đem ý chí chủ quan nôn nóng áp đặt một cách tuỳ tiện Giống nhưmọi kết cấu kinh tế của xã hội, quan hệ sở hữu thay đổi phụ thuộc vào sự pháttriển của LLSX Khi LLSX còn thấp thì ngay như chế độ tư hữu cũng chưa thểxuất hiện Cùng với sự phát triển của LLSX thì chế độ sở hữu tư nhân về tưliệu sản xuất cũng ra đời và phát triển từ thấp đến cao Chế độ chiếm hữu nô

lệ, chế độ phong kiến và đỉnh cao của chế độ tư hữu là chế độ chiếm hữu tưnhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Tuy chế độ tư hữu có nhiều khuyếttật nhưng loài người không thể tuỳ ý lựa chọn, xoá bỏ nó khi mà trình độ pháttriển của LLSX chưa cho phép Nếu chế độ tư hữu là một tất yếu kinh tế gắn bóvới một trình độ phát triển nhất định của LLSX thì chế độ công hữu, đến lượt nócũng trở thành một tất yếu kinh tế khi LLSX đã phát triển đến một trình độ pháttriển nhất định, khi nền sản xuất xã hội đạt đến một trình độ xã hội hoá cao

Trang 9

Lịch sử xã hội loài người từ khi có giai cấp đều diễn ra sự đối khánggiai cấp và sự đối kháng ấy mang những hình thức khác nhau tuỳ theo từng

thời đại, và “dù những đối kháng ấy mang hình thức nào đi nữa thì hiện

tượng một bộ phận này của xã hội bóc lột một bộ phận khác cũng vẫn là một hiện tượng chung cho tất cả các thế kỷ trước kia… Cách mạng XHCN là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với những quan hệ sở hữu kế thừa của quá khứ; không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó,

nó đoạt tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng kế thừa của quá khứ” 5 Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những hìng thức

sở hữu mới được xác lập (toàn dân, tập thể) thì hình thức sở hữu tư nhân vẫnchưa mất đi Ăngghen cho rằng: Liệu có thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tứcđược không? không, không thể được cũng y như không thể làm cho LLSXhiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế

công hữu Ph.Ănghen cũng chỉ rõ: “Bất cứ một sự thay đổi nào của chế độ

xã hội, bất cứ một sự cải biến nào về mặt quan hệ sở hữu cũng đều là kết quả tất yếu của việc tạo nên những LLSX mới, không còn phù hợp với các quan hệ sở hữu cũ nữa” Bởi vậy, trước hết phải phát triển LLSX, phải thừa

nhận bất cứ hình thức sở hữu nào còn thúc đẩy sự phát triển LLSX, khôngthể nóng vội xoá ngay chế độ tư hữu, kể cả hình thức sở hữu tư nhân tư bảnchủ nghĩa Đồng thời phải thực hiện nhiều hình thức phân phối, kể cả phânphối theo tư bản Chính vì thế, Đại hội X của Đảng đã đặt ra các nhiệm vụchủ yếu là giải phóng và phát triển mạnh mẽ LLSX, phát huy tiềm năng củacác thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu, thực hiện nhiềuhình thức phân phối

Điểm nổi bật trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tếcòn tồn tại nhiều hình thức sở hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tưnhân Các loại hình sở hữu này đan xen tạo nên một loại hình hỗn hợp Sự tồntại nhiều loại hình sở hữu tong thời kỳ quá độ là do yêu cầu quan hệ sản xuấtphải phù hợp với tính chất trình độ phát triển của LLSX Trong thời kỳ quá

độ, LLSX với nhiều cấp độ khác nhau, nên trong quan hệ sở hữu về tư liệu sảnxuất cũng tồn tại nhiều loại hình tương ướng

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Lênin cũng chỉ rõ sự tồn tạikhách quan lâu dài của các thành phần kinh tế, các loại hình sở hữu, phải sửdụng ngay cả tư hữu tư bản chủ nghĩa để xây dựng xã hội mới Và Lênin cho

5 C Mác và Ph Ăngghen Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H 1995, tr 626.

Trang 10

rằng, cải biến tư hữu nhỏ phải là quá trình lâu dài, kiên trì theo nguyên tắc “tự

nguyện” Đây là vấn đề cốt lõi để đưa nông dân đi lên chủ nghĩa xã hội Xây dựng

chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa mà không xoá bỏ quan hệ hàng hoá - tiền tệ, tráilại cần phải sử dụng quan hệ đó làm phương thức quản lý của chính ngay doanhnghiệp nhà nước, biết tổ chức hạch toán kinh tế và vận dụng quy luật giá trị Cần

sử dụng nhiều hình thức sở hữu hỗn hợp, trong đó đặc biệt chú ý đến mức độkhác nhau của hình thức tư bản nhà nước… Những điều đó đòi hỏi nhà nướcphải biết vận dụng cả một hệ thống công cụ để quản lý kinh tế hàng hoá vậnđộng theo cơ chế thị trường

Như vậy, việc thủ tiêu chế độ tư hữu chỉ có thể thực hiện dần dần, và chỉkhi nào đã tạo ra được một LLSX hiện đại, xã hội hoá cao độ với năng suấtlao động rất cao thì khi đó mới xoá bỏ được chế độ tư hữu Sự phát triển tớimột trình độ cao ấy là điều kiện làm cho mỗi thành viên trong xã hội đều có

cơ hội phát triển như nhau Khi đó, sự phát triển tự do của mỗi người là điềukiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người C.Mác đã sử dụng quan hệ

sở hữu, trong đó chủ yếu là sở hữu đối với tư liêu sản xuất như là sợi chỉ đỏxuyên suốt trong toàn bộ học thuyết cách mạng của mình

2 Thực tiễn về quá trình xây dựng quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất.Quan hệ sản xuất gồm có 3 mặt đó là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan

hệ tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm Mỗi mặt có vị trí, vaitrò khác nhau và có mối quan hệ tác động qua lại với nhau Trong đó, quan hệ

sở hữu về tư liệu sản xuất là mặt cơ bản quyết định Song, thực tiễn xây dựngchủ nghĩa xã hội trước thời kỳ đổi mới, chúng ta có những nhận thức khôngđúng về quan hệ sở hữu và về quan hệ sản xuất Điểm nổi bật ở đây là chúng ta

đã tuyệt đối hoá mặt sở hữu về tư liệu sản xuất, nên chúng ta đã đẩy nhanh quátrình cải tạo xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ hình thức sở hữu tư bản tư nhân và cáchình thức sở hữu khác để xác lập chế độ công hữu với hai hình thức sở hữu toàndân và sở hữu tập thể Trước hội nghị TW6 khóa IV (8-1979), nền kinh tế nước

ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung Đây là cơ chế kinh tế được hìnhthành ở Liên Xô trong những năm tiến hành công nghiệp hóa và sau đó được ápdụng trong tất cả các nước XHCN Mặc dù có những khiếm khuyết vốn có,nhưng trong điều kiện phát triển kinh tế theo chiều rộng, tăng trưởng về sốlượng là chủ yếu, cơ chế kinh tế này đã tạo nên những kết quả quan trọng trong

Trang 11

quá trình công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Khinền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ

sở áp dụng những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ; cơ chế kinh

tế này đã bộc lộ những khuyết điểm của nó và đã làm cho nền kinh tế trì trệ rơivào khủng hoảng, trong đó có nước ta

Thực chất chế độ công hữu ở nước ta chỉ là hình thức, nhưng chúng talại lầm tưởng rằng chúng ta đã có quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Từtuyệt đối hoá mặt sở hữu về tư liệu sản xuất, chúng ta đi đến tuyệt đối hoáquan hệ sản xuất, đi ngược lại quy luật kinh tế khách quan là đẩy mạnh việcxây dựng quan hệ sản xuất để mở đường cho LLSX phát triển mà trái lại đãkìm hãm LLSX Từ những luận điểm, lý thuyết như vậy, ở các nước xã hộichủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, đã áp dụng những biện pháp cực đoan về

sở hữu, coi việc xác lập chế độ công hữu là mục đích của chính sách, thậmchí coi đó là tiêu chuẩn đánh giá trình độ xã hội hoá, trình độ phát triểnkinh tế - xã hội

Như vậy, với chế độ công hữu hình thức áp đặt, chúng ta đã nhanh chóngxoá bỏ các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa,

đã triệt tiêu động lực kinh tế làm cho nền kinh tế phát triển tiêu cực, sản xuấtkhông phát triển, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn

Sự vận dụng lý luận chế độ sở hữu của Đảng ta trước đổi mới đã cónhững kết quả nhất định góp phần vào công cuộc kháng chiến giải phóngđất nước Tuy vậy, quá trình vận dụng đó đã có những sai lầm, khuyết điểm

nhất định như cương lĩnh xây dựng đất nước năm 1991 chỉ rõ: “Trong cách

mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xác định đúng mục tiêu và phương hướng xã hội chủ nghĩa Nhưng Đảng đã phạm phải sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan: nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần”6

Từ sau hội nghị TW6 khóa IV đến trước đại hội VI, dưới áp lực củatình thế khách quan; nền kinh tế nước ta đã có cải tiến theo hướng thịtrường chủ yếu ở cấp vi mô, mang tính cục bộ, không triệt để và thiếuđồng bộ Những bước cải tiến mới như khoán sản phẩm trong nông nghiệptheo chỉ thị 100 – CT/TW của ban bí thư khóa IV, nghị quyết TW8 khóa V

về giá, lương, tiền (1985)… là những căn cứ thực tế để Đảng ta đi tới

6 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb ST, H, 1991, Tr: 4

Ngày đăng: 01/03/2018, 21:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w