1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ toàn cầu hóa kinh tế và tác động của toàn cầu hóa kinh tế đến việt nam

29 241 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 191 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lịch sử tư tưởng vấn đề toàn cầu hóa kinh tếMặc dù phải đến ngày nay dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất xã hội loài người mà trước hết là ở các nước tư bản phát triển đạt tới trình độ rất cao thì quá trình toàn cầu hóa kinh tế mới nảy sinh. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng: đó phải là kết quả phát triển lâu dài của lịch sử sản xuất xã hội loài người gắn với vấn đề phân công lao động xã hội và giao lưu hàng hóa giữa các địa phương, dân tộc và các quốc gia với nhau. Vì vậy, trải qua các thời đại kinh tế khác nhau, các nhà tư tưởng đã ít hoặc nhiều, đầy đủ hoặc chưa đầy đủ, nông hoặc sâu phản ánh những khía cạnh, hình thức khác nhau của những mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, những hình thức quan hệ kinh tế quốc tế đầu tiên của toàn cầu hóa kinh tế.

Trang 1

Toàn cầu hóa kinh tế và tác động của toàn cầu hóa kinh tế đến Việt Nam

1 Lịch sử tư tưởng vấn đề toàn cầu hóa kinh tế

Mặc dù phải đến ngày nay dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa công nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất xã hội loài người mà trước hết là ở cácnước tư bản phát triển đạt tới trình độ rất cao thì quá trình toàn cầu hóa kinh tế mớinảy sinh Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng: đó phải là kết quả phát triển lâu dàicủa lịch sử sản xuất xã hội loài người gắn với vấn đề phân công lao động xã hội vàgiao lưu hàng hóa giữa các địa phương, dân tộc và các quốc gia với nhau Vì vậy,trải qua các thời đại kinh tế khác nhau, các nhà tư tưởng đã ít hoặc nhiều, đầy đủhoặc chưa đầy đủ, nông hoặc sâu phản ánh những khía cạnh, hình thức khác nhaucủa những mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, những hình thức quan

học-hệ kinh tế quốc tế đầu tiên của toàn cầu hóa kinh tế

a Các nhà tư tưởng trước C.Mác

* Thời cổ đại (chủ yếu là Hy Lạp cổ đại)

Một số nhà triết học đã phản ánh những tư tưởng kinh tế trong quan niệm triếthọc của mình

- Xênophon (430-345TCN), trong tư tưởng về phân công lao động ông chorằng: Phân công lao động có vai trò thúc đẩy giao lưu hàng hóa giữa các vùng, nhờphân công lao động mà nâng cao được chất lượng hoạt động Giữa phân công laođộng và quy mô thị trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ở những nơi trao đổiphát triển mạnh thì phân công lao động phát triển mạnh

- Platon (427-347 TCN), ông đã giải thích mối quan hệ giữa phân công lao động,thương mại và tiền tệ với vai trò nổi bật của các thương gia C.Mác đã đánh giá cao ýtưởng này của Platon và gọi đó là sự nổi bật thiên tài đối với thời đại

- Aristoleles (384-322TCN), ông đã chia kinh doanh làm hai loại Loại “kinhtế” nhằm mục đích giá trị sử dụng; loại “sản xuất của cải”, mục đích của hoạt độngkinh doanh này là làm giàu Loại này có quan hệ với trao đổi làm giàu T - H - T(đại thương nghiệp), ông cho rằng loại này không phù hợp cần loại bỏ

* Thời trung cổ, trong tư tưởng kinh tế của Thomasd Aquin (1225-1274)người ITALIA, ông đã sử dụng quan điểm của Aristoteles về ba loại thươngnghiệp và cho rằng: Đại thương nghiệp có thể theo đuổi một mục đích chân lý haycần thiết (thu lợi nhuận không mâu thuẫn với lòng từ thiện)

Trang 2

* Thời cận đại

- Chủ nghĩa trọng thương thế kỷ thứ XV- XVI, tư tưởng xuyên suốt của chủnghĩa trọng thương là: Khối lượng tiền (vàng) chỉ có thể gia tăng bằng con đườngngoại thương; trong hoạt động ngoại thương phải thực hiện chính sách xuất siêu(xuất nhiều, nhập ít) Họ hiểu: của cải là số sản phẩm dư thừa được sản xuất ra ởtrong nước, sau khi đã thỏa mãn tiêu dùng thì phải được chuyển thành tiền thôngqua thị trường nước ngoài

Montchectien (1575-1622) cho rằng: nội thương là hệ thống ống dẫn, ngoạithương là máy bơm, muốn tăng của cải phải có ngoại thương nhập dần của cải quanội thương

Thomas Mun (1571-1641) cho rằng: thương mại là hòn đá thử vàng đối với

sự phồn thịnh của quốc gia.Ông đưa ra thuyết cân đối ngoại thương “bán ra với sốtiền lớn hơn là mua vào”

Kolbert (1619-1683) cho rằng: ngoại thương có thể làm cho thần dân đượcsung túc và thỏa mãn được nhu cầu của vua chúa Sự vĩ đại và hùng cường của mộtquốc gia là do số lượng tiền tệ quyết định

- Thế kỷ thứ XVII, sau khi chủ nghĩa trọng thương suy tàn, Đudley North 1695) người Anh đã kiến nghị bãi bỏ sự ủng hộ của nhà nước và đề ra tư tưởng mậudịch tự do Có thể nói ông là người đầu tiên đề xuất tư tưởng này

(1641 Các nhà tiền bối của C.Mác (Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh)

Ađamsmit cho rằng: Các bên tham gia thương mại đều có lợi Theo ông, mỗiquốc gia cần chuyên môn hóa vào những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối

và tiêu chuẩn quyết định sự lựa chọn ngành cần chuyên môn hóa trong phân cônglao động quốc tế là những điều kiện về tự nhiên, địa lý, khí hậu mà chỉ nước đó cólợi thế, Đó là lợi thế tuyệt đối Theo lý thuyết này, quốc gia nào có nhiều nguồn lực

và tận dụng một cách hiệu quả nhất thì tổng sản phẩm của quốc gia đó tăng lên vàthông qua thương mại quốc tế sẽ có lợi thế hơn so với các quốc gia khác có ít hoặckhông có các nguồn lực nhất là các nguồn lực gắn với điều kiện tự nhiên Hạn chếtrong lý thuyết của ông là không giải thích được hiện tượng một nước có lợi thếhơn hẳn các nước khác hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối nào thì chỗđứng của nước đó trong phân công lao động quốc tế là ở đâu và thương mại quốc

tế sẽ xảy ra như thế nào với các nước này

Trang 3

Ricácđô, kế thừa và phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Ađamsmit, ôngđưa ra lý thuyết lợi thế tương đối hay còn gọi là lợi thế so sánh Theo đó, chuyênmôn hóa sản xuất quốc tế không nhất thiết phải có lợi thế tuyệt đối mà chỉ cần cólợi thế tương đối Một quốc gia không nên sản xuất tất cả mọi sản phẩm mà chỉ nêntập trung vào sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm họ làm ra với chi phí tương đốithấp và nhập khẩu những sản phẩm có chi phí tương đối caơ hơn so với sản phẩmcùng loại của nước khác Hạn chế của lý thuyết lợi thế so sánh là dựa trên hàngloạt các giả thiết đơn giản hóa như không tính chi phí vận tải, bảo hiểm hàng hóa,hàng rào thuế quan Vì vậy, nếu xem xét trong trạng thái động sẽ không giải thíchđược nguồn gốc phát sinh lợi thế so sánh của một nước đối với một loại sản phẩmnào đó Vì vậy, nó không giải thích được nguyên nhân sâu xa của quá trình thươngmại quốc tế.

- Say (1766-1832) nhà kinh tế chính trị tư sản tầm thường, một trong nhữngkết luận của ông đưa ra trong “thuyết tiêu thụ” là việc nhập khẩu sản phẩm nướcngoài tạo điều kiện để bán sản phẩm trong nước, qua đó ông chứng minh tác hạicủa chế độ thuế quan, bảo hộ và sự cần thiết phải từ bỏ nó

b C.Mác và Ph.Ăngghen

Hơn 160 năm trước, trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộngsản” và “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” các ông đã chỉ ra rằng đại công nghiệp

đã tạo ra thị trường thế giới Ph.Ăngghen viết: “Nền đại công nghiệp đã gắn liền tất

cả các dân tộc trên trái đất lại với nhau, đã thống nhất tất cả các thị trường địaphương nhỏ bé thành thị trường toàn thế giới, đã chuẩn bị ở khắp nơi cho văn minh

và tiến bộ, đã làm cho tất cả những gì xảy ra trong các nước văn minh đều ảnhhưởng tới tất cả các nước khác” Các ông đều cho rằng quốc tế hóa kinh tế là mộttrong những đặc trưng của sự phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa Bản thânphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có sức mạnh nội tại đủ khả năng vượt rakhỏi biên giới quốc gia, bành trướng ra phạm vi toàn cầu để kiếm lợi nhuận tối đa.Đồng thời các ông dự báo rằng: trong tương lai chủ nghĩa cộng sản sẽ quốc tế hóatoàn bộ đời sống của nhân loại

C.Mác không xây dựng học thuyết riêng về lợi thế so sánh, nhưng trong bộ tưbản ông đã so sánh mối quan hệ giữa tiền công dân tộc và tiền công quốc tế; giữanăng suất lao động dân tộc với năng suất lao động quốc tế Nguyên lý này đã giải

Trang 4

thích hết sức tổng quát, chính xác cơ chế xuất hiện lợi ích khi tham gia phân công vàtrao đổi quốc tế Ông cho rằng: những tư bản đầu tư vào ngoại thương có khả năngđem lại một tỷ suất lợi nhuận cao hơn Vì trước hết ở đây người ta cạnh tranh vớinhững hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện ít thuận lợi hơn, thành thửnước tiên tiến sẽ bán được hàng hóa của mình cao hơn giá trị của chúng, mặc dù cácnước ấy bán rẻ hơn các nước cạnh tranh với họ Tỷ suất lợi nhuận tăng lên vì laođộng ở các nước tiên tiến hơn được đánh giá là lao động có tỷ trọng cao hơn Vìngười lao động đó không được trả công với tư cách là người lao động có chất lượngcao hơn lại được bán ra với tư cách là lao động như thế Đối với những nước màngười ta trở hàng đến bán cũng giống như đối với nước người ta rút hàng ra, đều cómối quan hệ như vậy Thực chất của lãi đó chính là biết lợi dụng sự chênh lệch củatiền công và năng suất lao động của các bên tham gia phân công lao động quốc tế

c V.I.Lênin

Trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”,Ông đã chỉ ra bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn đế quốc chủnghĩa là sự thống trị của các tổ chức độc quyền, được thể hiện ở 05 đặc điểm kinh

tế nổi bật:

- Tập trung sản xuất và sự ra đời của các tổ chức độc quyền

- Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính

- Xuất khẩu tư bản

- Sự phân chia thị trường thế giới của các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia và

đa quốc gia

- Sự phân chia lãnh thổ thế giới của các cường quốc đế quốc

Đây chính là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩadưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại

Trong quá trình trực tiếp chỉ đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nướcNga, Lê nin đã tiên đoán rằng: Toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, tinh thần của nhânloại ngày càng quốc tế hóa ngay cả dưới chế độ tư bản chủ nghĩa và trong tương laichủ nghĩa xã hội sẽ hoàn tàn quốc tế hóa đời sống của nhân loại

2 Thực chất của toàn cầu hóa kinh tế

a Thuật ngữ “toàn cầu hóa” và quá trình toàn cầu hóa.

Trang 5

* Thuật ngữ “toàn cầu hóa”(Globalisation), nó mới dược xuất hiện và phổ cập vàonhững thập niên cuối của thế kỷ XX Nó được Georg Modelski lần dầu tiên nêu ra vàonăm 1972 trong tác phẩm “Principle of the World Politics” khi nói về liên minh châu

Âu lôi kéo các nước khác vào hệ thống thương mại toàn cầu

* Quá trình toàn cầu hóa

- Vấn đề toàn cầu hóa đã được dự báo từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời vào thế

kỷ thứ XVI và lúc đó gọi là quá trình “quốc tế hóa” Quá trình quốc tế hóa đượcphát triển mạnh mẽ nhờ sự phát triển về địa lý, những cuộc chiến tranh xâm lượcthuộc địa, sự phát triển của đại công nghiệp, sự phát triển sản xuất trên cơ sở ápdụng những thành tựu khoa học- công nghệ, sự mở rộng thị trường quốc tế, mởrộng giao lưu quốc tế Chính sự phát triển đó đã phá vỡ tính chất cát cứ, biệt lập,khép kín trong phạm vi quốc gia, đưa đến sự mở rộng phạm vi hoạt động quốc tế.Quá trình quốc tế hóa không ngừng phát triển và được đánh dấu bằng các cột mốclớn là: Chiến tranh thế giới thứ Nhất, Chiến tranh thế giới thứ Hai, Thập kỷ 80,Thập kỷ 90 của thế kỷ XX và giai đoạn gần đây xu thế quốc tế hóa được gọi bằngcái tên toàn cầu hóa

b Khái niệm toàn cầu hóa và toàn cầu hóa kinh tế

* Nhận thức về vấn đề toàn cầu hóa

Có nhiều ý kiến khác nhau về toàn cầu hóa Vì toàn cầu hóa là vấn đề mới, do

đó hiện nay còn nhiều cách hiểu khác nhau, tùy theo góc độ nghiên cứu Một số họcgiả xem toàn cầu hóa, coi nó như một khái niệm chính trị, một công cụ chính trị.Một số khác lại cố gắng làm sáng tỏ khái niệm toàn cầu hóa trong phạm vi phát triểnkinh tế, toàn cầu hóa không có tính từ Lại có những người chỉ chủ trương phân tíchtác động tích cực và tiêu cực của toàn cầu hóa Còn Đảng cộng sản Việt Nam khôngcho rằng toàn cầu hóa mọi mặt và cũng không cho rằng toàn cầu hóa về chính trị, cái

mà Đảng ta, những người cộng sản Việt Nam quan tâm là một số vấn đề ngày càngmang tính toàn cầu, trước hết là lĩnh vực kinh tế, trong đó chủ yếu là vấn đề kinh tế-

kỹ thuật (lực lượng sản xuất), chứ không phải là vấn đề kinh tế- xã hội (quan hệ sảnxuất)

Tuy nhiên, dù đánh giá, nhìn nhận thế nào, từ góc độ nào thì cuối cùng cũng

đi tới một quan niệm chung nhất cho rằng: Toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau

Trang 6

của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, làm nổi bật hàng loạt những biến đổi có quan hệ lẫn nhau mà từ đó có thể phát sinh hàng loạt những điều kiện mới Toàn cầu hóa khiến cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt làm sâu sắc hơn sự chuyên môn hóa và phân công lao động quốc tế, kích thích gia tăng sản xuất không chỉ ở cường độ quốc gia mà mở rộng ra trên phạm vi toàn thế giới.

* Khái niệm toàn cầu hóa kinh tế

Hiện nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về toàn cầu hóa kinh tế Cácnhà kinh tế học phương tây cho rằng: Toàn cầu hóa kinh tế là sự vận động tự

do của các yếu tố sản xuất nhằm phân phối tối ưu các nguồn lực Quỹ tiền tệQuốc tế (IMF) cho rằng: Toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng không ngừngnguồn vốn, kỹ thuật, mậu dịch với quy mô, hình thức phong phú, tăng sự phụthuộc của các nền kinh tế thế giới Các học giả khác lại cho rằng: Toàn cầu hóakinh tế là một cuộc chơi; ở đó ai khôn ngoan, lanh lợi sẽ được nhiều hơn mất,

ai dại khờ thì mất nhiều hơn được; không ai mất hết hoặc được hết, chỉ cótrường hợp chắc chắn mất hết là đóng cửa không tham gia vào quá trình toàn

cầu hóa Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: thực chất của toàn cầu hóa kinh tế là quá trình xã hội hóa lực lượng sản xuất trên phạm vi quốc tế, các quan hệ kinh tế vượt ra khỏi biên giới quốc gia, dân tộc lan tỏa ra phạm vi toàn cầu, trong đó hàng hóa, dịch vụ, vốn, tiền tệ, thông tin, lao động vận động thông thoáng; sự phân công lao động mang tính quốc tế; mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia, khu vực đan xen, tùy thuộc lẫn nhau Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi kéo ngày càng nhiều nước tam gia, xu thế này đang bị các nước phát triển và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫm, vừa có tích cực, vừa có tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh

Tuy nhiên, cần phải phân biệt toàn cầu hóa, toàn cầu hóa kinh tế với cáckhái niệm “quan hệ kinh tế quốc tế”, “quốc tế hóa đời sống kinh tế” Các kháiniệm này chỉ các quan hệ kinh tế giữa các quốc gia, các nhóm quốc gia và sự

mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia ra khu vực và trên thếgiới Còn toàn cầu hóa, toàn cầu hóa kinh tế lại được coi là rộng hơn quan niệmquốc tế hóa đời sống kinh tế Trong những năm 80 của thế kỷ XX, người tadùng khái niệm “những vấn đề toàn cầu” để chỉ những vấn đề vượt ra khỏi

Trang 7

phạm vi quốc gia, đòi hỏi phải có sự nỗ lực hợp tác của nhiều nước để giảiquyết các vấn đề như: Dân số, môi trường, ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, cáccăn bệnh hiểm nghèo Từ đó mà xuất hiện một số quan niệm hết sức sai lầmcoi vấn đề toàn cầu quan trọng hơn vấn đề dân tộc, đấu tranh giai cấp Tư duychính trị kiểu này thực chất là từ bỏ vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp và đócũng là một trong những căn nguyên góp phần làm sụp đổ chủ nghĩa xã hội ởĐông Âu và Liên Xô cũ

Toàn cầu hóa kinh tế là giai đoạn phát triển cao hơn của quốc tế hóa đời sốngkinh tế Quốc tế hóa đời sống kinh tế gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp thìtoàn cầu hóa gắn liền với những thành tựu mới nhất của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại Toàn cầu hóa cũng khác với vấn đề toàn cầu Nó diễn tả mộtquá trình làm giảm bớt sự khác biệt giữa các quốc gia, cốt lõi của toàn cầu hóa làtoàn cầu hóa kinh tế Từ lĩnh vực kinh tế, với sự hỗ trợ của các phương tiện truyềnthông hiện đại, toàn cầu hóa lan đến các lĩnh vực khác như văn hóa, xã hội đemđến cho các quốc gia trên thế giới cả những điều tốt và điều xấu như các tệ nạn matúy, mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em Cần phải lưu ý một vấn đề là: Toàn cầuhóa của ai và vì ai? Toàn cầu hóa dưới góc nhìn của giai cấp vô sản hay giai cấp tưsản của các nước tư bản phát triển hay các nước đang phát triển Rõ ràng có hai tưtưởng đối lập nhau về toàn cầu hóa và từ đó trong thế giới ngày nay có hai cáchhành xử đối lập nhau trước xu thế toàn cầu hóa Theo quan điểm của C.Mác: xãhội hóa hay rộng hơn là quốc tế hóa là một trong những biểu hiện của quá trìnhphát triển lịch sử tự nhiên của xã hội loài người tiến tới chủ nghĩa cộng sản, mộtthế giới đại đồng cả về kinh tế lẫn văn hóa của những người lao động tự do và pháttriển toàn diện Dự báo về xã hội tương lai (thế giới đại đồng) của C.Mác có cơ sởvật chất thực tiễn từ chính bản chất tất yếu của quá trình phát triển lực lượng sảnxuất sẽ dẫn tới xã hội hóa sản xuất trên phạm vi toàn cầu Những vấn đề lý luậnnày C.Mác đã trình bày trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” và trong

bộ “Tư bản” Các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã đưa lý luận này vào thực tiễnthành lập Hội đồng Tương trợ Kinh tế Lý luận toàn cầu hóa kinh tế của giai cấp tưsản chính là lý luận kinh tế của “Chủ nghĩa tự do mới” với khẩu hiệu: Tự do hóathương mại toàn cầu, tự do đầu tư, tự do luân chuyển vốn trên thị trường tài chínhtoàn cầu Hiện nay, cùng với việc tuyên truyền lý thuyết tự do kinh tế, các nước tưbản chủ nghĩa đang tìm mọi cách sử dụng các thể chế kinh tế quốc tế để thực hiệnmột thứ chủ nghĩa thực dân kiểu mới tinh vi hơn, hoàn hảo hơn lên các nước đang

Trang 8

phát triển đó là: “Chủ nghĩa thực dân thương mại”, “Chủ nghĩa thực dân thôngtin”, “Chủ nghĩa thực dân công nghệ”, “Chủ nghĩa thực dân văn hóa” Vì vậy, hiểu

rõ thực chất của toàn cầu hóa, nhận thức đầy đủ về nó là một việc hệ trọng cả về lý

luận và thực tiễn Do đó, toàn cầu hóa dù xét nó dưới nhãn quan gì, ở góc độ nào? cũng bao hàm sự khác biệt về lợi ích của các chủ thể tham gia; lợi ích của giai cấp này với giai cấp khác, của dân tộc này với dân tộc khác, của khu vực này với khu vực khác Tính không thuần nhất về lợi ích đó đang buộc các quốc gia phải chủ động tham gia và có cách ứng xử thích hợp để tận dụng thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, thách thức do toàn cầu hóa mạng lại.

3 Các nhân tố làm nảy sinh và thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa kinh tế

Quá trình toàn cầu hóa kinh tế nảy sinh do những nhân tố sau đây tác động:

Một là, sự phát triển của kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường.

Ngược dòng lịch sử chúng ta thấy cùng với sự phát triển của phân công lao động

là sự ra đời của sản xuất hàng hóa, nó đã xuyên thủng vòng tuần hoàn khép kín củakinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc Kinh tế hàng hóa đã rỡ bỏ tính chất cát cứ của vùngmiền trong từng quốc gia, dân tộc đến một mức độ nhất định vượt ra khỏi biên giớiquốc gia Các quan hệ thương mại giữa các nước được khởi động và ngày càng pháttriển cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa Việc hình thành các con đường tơlụa từ Trung Quốc xuyên qua vùng Trung A đến Trung Cận Đông, việc giao lưu buônbán giữa Châu Âu và Châu A đã chứng minh điều đó Đến khi chủ nghĩa tư bản rađời, cùng với sự phát triển của đại công nghiệp và cùng với việc đưa quân đội viễnchinh đi xâm chiếm, cướp bóc thuộc địa đã đẩy nhanh tốc giao lưu hàng hóa trên thếgiới Với đà phát triển của chủ nghĩa tư bản, thương mại toàn cầu ngày càng được mởrộng Xu thế này đã được C.Mác dự báo cách đây hơn 160 năm, trong tác phẩm:

“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” Ông đã khẳng định: Đại công nghiệp đã tạo ra thịtrường thế giới và do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất

và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới Thực tiễn đã chứng minh từnhững năm 1950 của thế kỷ XX trở lại đây thương mại thế giới đã tăng lên rất nhanh.Nếu 1950 giá trị xuất khẩu của thế giới đạt 69,7 tỷ USD thì đến năm 1990 con số này

đã đạt con số 4000 tỷ USD, năm 2000 là 7360 tỷ USD và hiện nay đã đạt tới con sốgần 20.000 tỷ USD

Cùng với sự phát triển của thương mại thế giới là sự mở rộng cơ cấu thịtrường quốc tế, thị trường tài chính ngày càng có vai trò quan trọng tạo ra một nền

Trang 9

kinh tế ảo mà những biến động của nó tác động trực tiếp đến nền kinh tế toàn cầu.Hiện nay, mức giao dịch ngoại hối và luân chuyển vốn trên thị trường chứng khoántoàn cầu đạt khoảng 375.000 tỷ USD/ngày Đầu tư trực tiếp vào các nước đangphát triển đạt 200 đến 250 tỷ USD/năm.

Hai là, sự phát triển của khoa học và công nghệ.

Vào thế kỷ thứ XV- XVI sự phát triển của các phương tiện hàng hải đã tìm ranhững châu lục mới, giúp cho hàng hóa từ Châu Âu vượt đại dương sang Châu A,Châu Phi, Châu Mỹ Sự ra đời của động cơ hơi nước, sự phát triển của công nghệluyện kim tạo ra hệ thống đường sắt, sự ra đời của xe hơi, tàu thủy chạy bằng động

cơ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Sự ra đời của điện tín, điện thoại, của máy bayvào đầu thế kỷ XXđẫ làm cho nền sản xuất vật chất có điều kiện vượt biên giớiquốc gia và khu vực Đặc biệt là sự phát triển của cuộc cách mạng khoa hoc- côngnghệ hiện đại trong nửa cuối thế kỷ XX, nhất là công nghệ thông tin, hệ thốngInternet bao trùm toàn cầu làm cho quá trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng

Ba là, phân công lao động xã hội và nền sản xuất vật chất phát triển.

Cùng với sự phát triển của khoa học- công nghệ và thị trường, một sản phẩmsản xuất ra với sự đóng góp của nhiều công ty trên thế giới như:Một chiếc ô tôFord Mỹ sử dụng sản phẩm của 162 công ty đặt ở nhiều nước và khu vực khácnhau trên thế giới.Sự phân công lao động quốc tế và mạng lưới sản xuất toàn cầu

đã làm tăng thêm tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các công ty ở nhiều quốc gia khácnhau trên thế giới

Bốn là, sự ra đời và phát triển của các công ty xuyên quốc gia.

Bàng việc thiết lập hệ thống các công ty con, cháu, chắt ở nhiều quốc gia, cáccông ty xuyên quốc gia đã thúc đẩy các hoạt động thương mại, đầu tư, dịch chuyểnvốn liên kết các quốc gia với nhau trong các hoạt động kinh tế Hiện nay trên thếgiới có 60.000 công ty xuyên quốc gia, chiếm 25% giá trị sản xuất toàn cầu, 65%kim ngạch mậu dịch quốc tế, 70% đầu tư nước ngoài, 90% công nghệ cao

Năm là, sự ra đời và vai trò ngày càng tăng của các tổ chức kinh tế quốc tế,

hình thành các thể chế toàn cầu và khu vực

Sự ra đời của Tổ chức Thương Mại thế giới (WTO); Liên minh Châu Âu (EU);Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu A Thái Bình Dương (APEC), Khu vực Mậu dịch tự

do ASEAN (AFTA); Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA); Quỹ tiền tệ Quốc

Trang 10

tế (IMF); Ngân hàng Thế giới (WB); Ngân hàng Châu A (ADB) Xu thế toàn cầuhóa kinh tế được thể chế hóa trong nhiều định chế quốc tế và phát triển mạnh cả vềchiều rộng và chiều sâu, thông qua nhiều hoạt động của nhiều tổ chức tài chính,thương mại quốc tế và khu vực Nó có tác dụng đẩy nhanh quá trình quốc tế hóakhông chỉ trong lĩnh vực thương mại mà cả trong lĩnh vực sản xuất, dịch vụ tàichính, đầu tư, lan sang lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường.

4 Tác động của toàn cầu hóa kinh tế đến Việt Nam

a Các quan niệm khác nhau về tác động có tính hai mặt của toàn cầu hóa kinh tế.

Do toàn cầu hóa kinh tế mang tính mặt vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêucực đã làm tổn thương nền kinh tế nhỏ yếu của các nước đang phát triển nên cónhiều quan điểm khác nhau về tác động của toàn cầu hóa đối với các nước này Một số người cho rằng với các nước đang phát triển thì toàn cầu hóa kinh tếđem lại thách thức tối đa, lợi ích tối thiểu Quan điểm khác lại xem cả lợi ích vàthách thức là tương đối lớn Nhiều nguyên thủ quốc gia các nước đang phát triểncảnh báo nguy cơ đe dọa độc lập chủ quyền các nước này từ tác động của toàn cầuhóa kinh tế

Trên quan điểm Mác- xít khi xem xét tác động của toàn cầu hóa kinh tế đến

sự phát triển của các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng khôngnên tuyệt đối hóa mặt tích cực hoặc tiêu cực mà phải thấy rằng cả cơ hội và tháchthức đều rất lớn Vấn đề quan trọng là mỗi nước có tranh thủ lấy cơ hội được haykhông? Bởi cơ hội và thách thức có thể chuyển hóa cho nhau

b Những tác động tích cực của toàn cầu hóa đối với Việt Nam

* Thứ nhất, Mở rộng thị trường

Nước ta có quy mô dân số khoảng 86 triệu người Thu nhập bình quân đầungười năm 2006 khoảng 729 USD, năm 2008 ước đạt 1030 USD ( tiêu chíchung nước nghèo kém phát triển có thu nhập bình quân đầu người là dưới 960USD/năm) Như vậy, dù đứng thứ 13 trên thế giới về dân số đông, nhưng dunglượng thị trường nội địa đối với nước ta thực tế là nhỏ do thu nhập của dân cưthấp Việt Nam đã tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới Làthành viên của AFTA, hàng hóa của Việt Nam có thể vào thị trường các nướcASEAN với số dân trên 500 triệu người Là thành viên thứ 150 của WTO, Việt

Trang 11

Nam sẽ được hưởng ưu đãi tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với các nướcthành viên còn lại Theo sự thỏa thuận chung bắt đầu từ năm 2020, hàng ràothuế quan của các nước thuộc diễn đàn hợp tác kinh tế Châu A- Thái BìnhDương (hiện có 21 nước thành viên) sẽ được rỡ bỏ, hàng hóa Việt Nam có thể

dễ dàng vào các nước thành viên APEC Tuy nhiên, hàng hóa Việt Nam bánđược hay không lại tùy thuộc vào khả năng cạnh tranh, chất lượng, mẫu mã, giá

cả, khả năng tiếp thị

* Thứ hai, Tăng khả năng thu hút các nguồn vốn, khả năng mở rộng thị

trường sẽ quyết định khả năng mở rộng đầu tư

Việc mở rộng thị trường bên ngoài và thị trường nội địa là một trong nhữngyếu tố hấp dẫn nhất đối với các nhà đầu tư Lợi thế về thị trường do toàn cầu hóamang lại sẽ kéo theo lợi thế về thu hút đầu tư nước ngoài và nguồn vốn đầu tưnước ngoài vào nước ta qua đó sẽ thúc đẩy việc sử dụng các nguồn vốn trong nước

có hiệu quả Vốn FDI đầu tư của nước ngoài vào nước ta năm 2006 là13,5 tỷ USD,năm 2007 là 20,3 tỷ USD, năm 2008 là 64 tỷ USD Năm 2007, các nhà tài trợ camkết cho Việt Nam vay 5,7 tỷ USD

* Thứ ba, tạo cơ hội để Việt Nam có thể tiếp nhận công nghệ mới của thế

độ công nghệ của nền sản xuất xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chínhsang sử dụng lao động với công nghệ tiên tiến, hiện đại

* Thứ tư, Thúc đẩy nhanh các bước điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong nước

nhằm phát huy có hiệu quả các nguồn lực trong nước, khai thác và phát huyđược các lợi thế so sánh của nước ta, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.Nói cách khác là khai thông sự giao lưu các nguồn lực giữa nước ta và thếgiới

Trang 12

Trong các nguồn lực để phát triển, nguồn nhân lực (con người và trí tuệ) ngàycàng có tầm quan trọng đặc biệt Nước ta có nguồn nhân lực dồi dào, tuy tỷ lệ cóvăn hóa phổ thông cao hơn cả Thái Lan và Trung quốc nhưng đào tạo tay nghềchuyên môn kỹ thuật lại kém Đào tạo đại học thì nặng về lý thuyết, nhẹ về thựchành Sự hiểu biết về thị trường và nghiệp vụ kinh doanh thấp dẫn đến lao độngphổ thông và tỷ lệ lao động thất nghiệp khá cao; thiếu lao động kỹ thuật và cácchuyên gia đầu ngành Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ giúp Việt Nam khai thôngnguồn lực Chúng ta có thể xuất khẩu lao động sang các nước, có thể sử dụng laođộng trong nước thông qua hợp đồng gia công chế biến xuất khẩu, chuyển dịch cơcấu lao động theo hướng phát huy lợi thế so sánh Đồng thời, nước ta có thể nhậpkhẩu các loại lao động kỹ thuật, chuyên gia ở các ngành, các lĩnh vực mà nước tachưa có hoặc còn thiếu.

* Thứ năm, Tạo thế đan cài lợi ích giữa các nước- điều kiện để duy trì sự ổn

định cho phát triển của mỗi nước, cho phép các nước đang phát triển như nước talợi dụng cơ chế giải quyết các tranh chấp quốc tế để bảo vệ lợi ích của mình, tránh

bị phân biệt đối xử

Về mặt chính trị, quốc phòng, an ninh, quá trình toàn cầu hóa kinh tế cũng tạo

ra thế đan cài lợi ích, tùy thuộc lẫn nhau, có lợi cho cuộc đấu tranh bảo vệ chủquyền, cho hòa bình, hợp tác và phát triển Ngay cả các nước phát triển cũng tùythuộc đáng kể vào các nước đang phát triển, Do lợi ích của các nước phát triển, của

ba trung tâm kinh tế Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản không phải lúc nào cũng thống nhất nêncác nước đang phát triển có thể lợi dụng sự chế ước lẫn nhau giữa các nước nàytrong quan hệ đa phương để duy trì hòa bình, chủ quyền quốc gia dân tộc Tuy nhiêncác cơ hội tích cực trên lại luôn tồn tại đan xen với các thách thức Do vậy, mỗinước có khai thác được cơ hội thuận lợi nhiều hay ít lại tùy thuộc rất quyết định vào

sự nỗ lực chủ quan của mỗi nước trong xây dựng chiến lược quốc phòng của mìnhphù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hay không?

c Những tác động tiêu cực (thách thức) của toàn cầu hóa đến Việt Nam

* Thứ nhất, Sức ép của những biến động kinh tế thế giới sẽ gây áp lực ngày

càng lớn đối với các nước đang phát triển như Việt Nam do tính tùy thuộc lẫn nhaugiữa các quốc gia tăng lên trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế hay nói cách khác lànền kinh tế toàn cầu hóa là nền kinh tế dễ bị tổn thương

Trang 13

Thực tế đã chứng tỏ, bất kỳ có một sự trục trặc nào ở một khâu hay ở mộtquốc gia nào đó cũng có thể lan rộng và nhanh ra toàn cầu Cuộc khủng hoảng tàicính tiền tệ ở Thái Lan tháng 8 năm 1997, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thếgiới bắt đầu bùng phát từ cuộc khủng hoảng cho vay để đầu tư vào thị trường bấtđộng sản Mỹ cuối năm 2007 đầu năm 2008; cuộc khủng hoảng năng lượng do cuộcchiến tranh ở Nam Tư, I Rắc đã cho thấy rõ điều đó Năm 2009 bị tác động bởicuộc khủng hoảng tài chính thế giới tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta chậmlại, để kích cầu đầu tư nhà nước phải chi 1 tỷ USD; những nền kinh tế lớn phải chivài trăn tỷ đến cả 1000Tỷ USD (Mỹ phải chi tới 830tỷ USD) để cứu vãn nền kinhtế.

* Thứ hai, nguy cơ thôn tính do cạnh tranh không cân sức với các công ty

khổng lồ của các nước phát triển cũng tăng lên

Tự do hóa thương mại đem lại lợi ích lớn hơn cho các nước công nghiệpphát triển Vì các sản phẩm của họ chất lượng cao, giá thành hạ, mẫu mã đẹp

do đó có sức cạnh tranh cao, dễ chiếm lĩnh thị trường Mặt khác, các nướcngày càng áp dụng những hình thức bảo hộ công khai (áp dụng hạn ngạch)hoặc trá hìng như tiêu chuẩn lao động, môi trường, an sinh xã hội ), hoặc cácrào cản về kỹ thuật (quy cách, mẫu mã, dư lượng kháng sinh, thuốc bảo vệthực vật trong các sản phẩm chế biến của nông nghiệp ) Cấm chuyển giaonhững thành tựu công nghệ mới, họ dùng chiêu bài “sở hữu công nghiệp, sởhữu trí tuệ” để ngăn cản các nước nghèo tiếp cận công nghệ mới, công nghệtiên tiến Ngày nay thị trường đang thực sự trở thành chiến trường, trong khi

đó tiềm lực kinh tế của Việt Nam còn quá mỏng, chất lượng lao động, trình độcông nghệ, năng lực quản lý còn non kém và những điều đó đã dẫn đến sứccạnh tranh của nền kinh tế nước ta còn thấp Sự thua thiệt trên thị trường làđiều chúng ta phải hết sức quan tâm nhất là khi chúng ta đã là thành viên củaWTO

Một lĩnh vực của toàn cầu hóa kinh tế là toàn cầu hóa thị trường tài chính,một lọai thị trường còn mới mẻ với Việt Nam và chúng ta chưa có nhiều kinhnghiệm, đặc biệt là thị trường chứng khoán, ở đó buôn bán các tư bản giả Đâycũng là một thách thức với nước ta khi tham gia thị trường này

Trang 14

* Thứ ba, lợi dụng toàn cầu hóa kinh tế, các nước đế quốc đứng đầu là Mỹ sẽ

luôn lợi dụng sự bất ổn đó về kinh tế để can thiệp, thực hiện chiến lược “can dự”,

áp dụng các hình thức chủ nghĩa thực dân kinh tế để khuất phục các nước theo kiểuMỹ; thủ tiêu chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại; bản sắcvăn hóa của dân tộc dễ bị đe dọa

II Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ở Việt Nam

1 Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình mở cửa nền kinh tế nhằm kết hợp các nguồn lực trong nước với ngoài nước để phát triển và chiếm lĩnh vị trí phù hợp nhất có thể có được trong quan hệ kinh tế quốc tế Đó là quá trình thực hiện những điều chỉnh về chính sách, luật lệ trong nước cho thích hợp với tình hình và thông lệ quốc tế; đồng thời thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nhằm phát huy lợi thế so sánh, nâng cao sức cạnh tranh của mình trong quan hệ kinh tế quốc tế Nói cách khác hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình mở rộng giao lưu kinh tế và khoa học- công nghệ giữa các nước trên quy mô toàn cầu; là quá trình tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế- xã hội

có tính chất toàn cầu như vấn đề dân số, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống là quá trình loại bỏ các hàng rào trong thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế và việc di chuyển các nhân tố sản xuất giữa các nước.

Hiện nay, trên thế giới có nhiều hình thức và mức độ khác nhau về hội nhậpkinh tế quốc tế như: Hiệp hội thương mại, liêm minh thuế quan, thị trường chung,liên minh tiền tệ

Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế kháchquan, xuất phát từ các lý do sau đây:

* Thứ nhất, Xuất phát từ chính tính khách quan của xu thế toàn cầu hóa kinh

tế, một xu thế lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia mà nước ta không thể đứngngoài cuộc Bản thân xu thế toàn cầu hóa không chỉ có mặt tiêu cực, nó có cảnhững mặt tích cực mà các nước có thể khai thác để củng cố nền độc lập tự chủcủa mình Vì vậy nếu biết tận dụng cơ hội toàn cầu hóa kinh tế thì hội nhập kinh tếquốc tế sẽ đem lại cho mỗi nước một sức mạnh mới

Ngày đăng: 01/03/2018, 21:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w