1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo ở việt nam những vấn đề và giải pháp (tt)

27 508 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 181 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1.Mục đích nghiên cứu của luận án Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận về CBXH và thực hiệnCBXH trong giáo dục ở Việt Nam hiện

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHÙNG THANH THỦY

THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM: NHỮNG VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Khoa học Xãhội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Dương Xuân Ngọc

PGS.TS Nguyễn Viết ThôngPhản biện 1:………

Phản biện 2:………

Phản biện 3:………

Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận án Tiến sĩ cấp

cơ sở họp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học

Quốc gia Hà NộiVào hồi:… giờ … ngày… tháng … năm …

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nhiều năm qua ở Việt Nam, CBXH trong giáo dục được hiểulà sự ngang bằng nhau về cơ hội học tập, mọi người đều được họctập, phát huy khả năng học tập của mình

Tuy nhiên, trong điều kiện KTTT, xã hội tất yếu có sự phân hoá giàunghèo, trong xã hội tồn tại các tầng lớp khác nhau Đặc biệt từ khiNhà nước thực hiện xoá bỏ một phần bao cấp trong GDĐT thì một sốngười tỏ ra băn khoăn lo ngại về vấn đề bảo đảm CBXH trongGDĐT Bởi, một số người có khả năng về kinh tế sẽ có cơ hội họctập để nâng cao trình độ của bản thân Ngược lại, một số người cónhu cầu nâng cao trình độ học vấn, tay nghề nhưng không có khảnăng về kinh tế sẽ rất khó khăn để tham gia vào quá trình học tập Vìvậy, có một số quan điểm cho rằng chúng ta phải quay về thời kỳ baocấp toàn phần cho GDĐT mọi người mới thực sự có công bằng Mộtsố quan điểm khác cho rằng chúng ta phải hy sinh tăng trưởng kinh

tế, hoặc điều tiết thu nhập để tạo mặt bằng chung của xã hội nhưnhau, khi đó mọi người cùng có cơ hội ngang nhau trong học tâp,như vậy mới có công bằng Vậy, quan niệm đúng về CBXH trongGDĐT là như thế nào? Làm gì và làm như thế nào để bảo đảmCBXH trong GDĐT? Để góp phần trả lời cho câu hỏi này, NCS lựachọn đề tài “Vấn đề công bằng xã hội trong GDPT ở Việt Nam hiệnnay” làm Luận án tiến sĩ Triết học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1.Mục đích nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận về CBXH và thực hiệnCBXH trong giáo dục ở Việt Nam hiện nay, Luận án làm rõ thựctrạng và những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện CBXH trong GDPTở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra những phương hướng và giải pháp

cơ bản nhằm tạo cơ hội tiếp cận bình đẳng trong GDPT ở Việt Namhiện nay

2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Trang 4

- Phân tích làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về CBXH, CBXH trongGDĐT và thực hiện CBXH trong GDPT ở Việt Nam.

- Phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việcthực hiện CBXH trong GDPT ở Việt Nam hiện nay

- Để xuất một số nguyên tắc và các nhóm giải pháp nhằm tiến tớithực hiện CBXH trong GDPT ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.Đối tượng nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là đánh giá vấn đề thực hiệnCBXH trong GDPT của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay

3.2.Phạm vi nghiên cứu của luận án

Luận án nghiên cứu thực trạng thực hiện CBXH trong GDPT ở ViệtNam hiện nay Luận án tập trung nghiên cứu phân tích, đánh giá thựctrạng việc thực hiện CBXH trong GDPT từ khi triển khai KTTT, địnhhướng xã hội chủ nghĩa đến nay trong đó tập trung nghiên cứu kếtquả thực hiện từ năm 2010 đến 2015

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận án thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩaMác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối củaĐảng Cộng sản Việt Nam về CBXH và CBXH trong giáo dục ở ViệtNam; đồng thời luận án cũng kế thừa kết quả nghiên cứu có giá trịcủa các công trình nghiên cứu khoa học khác có liên quan

- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp luận cơ bản được sử dụngđể nghiên cứu trong Luận án này là phương pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử; nghiên cứu CBXH trong tiếp cận giáo dụctrong mối quan hệ biện chứng với các nhân tố khác (chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội….)

5 Đóng góp mới của luận án

Đánh giá một cách khoa học thực trạng thực hiện CBXH trongGDPT ở nước ta hiện nay; nêu ra một số phương hướng, giải phápnhằm thực hiện CBXH trong GDĐT nói chung cũng như trongGDPT ở nước ta trong thời gian tới nhằm thực hiện Nghị quyết BanChấp hành Trung ương khóa XI về ”Đổi mới căn bản, toàn diện giáo

Trang 5

dục, đào tạo Việt Nam” và tạo cơ hội tiếp cận về GDPT cho trẻ trongđộ tuổi.

6 Ý nghĩa khoa học của luận án

6.1.Ý nghĩa lý luận

Luận án góp phần hệ thống hóa, khái quát hóa, làm rõ một số vấn đề

về CBXH và CBXH trong giáo dục

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy vànghiên cứu về CBXH, KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, về giáodục, quản lý giáo dục và về nguồn nhân lực

Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạtđộng thực tiễn trong việc xây dựng chính sách xã hội nói chung vàđặc biệt trong lĩnh vực GDĐT

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,luận án bao gồm 4 chương

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về thực hiện CBXH trong GDPT ở Việt Nam

1.1.1 Một số công trình nghiên cứu về CBXH và thực hiện CBXH

Ở Việt Nam đã có một số công trình khoa học có những đóng góp quantrọng vào việc làm sáng tỏ nhiều phương diện cụ thể khác nhau củaCBXH đặc biệt là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và CBXH nhưnhững công trình sau:

- Tác giả Phạm Hảo (2000), Tăng trưởng kinh tế và CBXH - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở một số tỉnh miền Trung, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, đã luận giải về mặt lý luận mối quan hệ giữa tăngtrưởng kinh tế với CBXH, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm thựchiện tăng trưởng kinh tế và CBXH ở nước ta hiện nay

- Tác giả Trịnh Quốc Tuấn, Đề tài khoa học cấp Bộ của Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2001) Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và CBXH trong tiến trình CNH, HĐH, phát triển KTTT

Trang 6

theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, từ cách tiếp cận chính

trị- xã hội, đề tài đã trình bày mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tếvới phát triển theo định hướng XHCN ở Việt Nam, trong đó có mốiquan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và CBXH; mối quan hệ và nhữngtác động, thách thức của tiến bộ, CBXH đến tăng trưởng kinh tế Từđó, đề tài khẳng định, Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vữngthì điểm mấu chốt phải giải quyết được vấn đề kết hợp tăng trưởngkinh tế với tiến bộ, CBXH

- Tác giả Nguyễn Minh Hoàn (2006) CBXH trong tiến bộ xã hội do

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, ngay ở lời mở đầu tác phẩm, tác giảviết “Ngay từ những ngày đầu tiên bước vào xây dựng chủ nghĩa xãhội, toàn Đảng, toàn dân ta đã khẳng định, một trong những mục tiêumà chúng ta phải phấn đấu đạt tới là xoá bỏ mọi áp bức, bóc lột, bấtcông, thực hiện CBXH Tác giả hy vọng, với kinh nghiệm của 20năm đổi mới, chúng ta sẽ ngày càng tìm ra những giải pháp hữu hiệuhơn để kết hợp được đồng thời việc thực hiện cả CBXH và trongchừng mực nhất định bình đẳng xã hội, đáp ứng ngày càng tốt hơnnhu cầu, nguyện vọng của nhân dân

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về GDPT liên quan đến đề tài luận án

- Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam (năm 2010) là mốc quan trọng trong quá trình nghiên cứu, ghi chép tài liệu, phân tích

và tìm hiểu về tình hình trẻ em Việt Nam

Phân tích này lấy cách tiếp cận dựa trên quyền con người, xem xéttình hình trẻ em dựa trên quan điểm các nguyên tắc chính về quyềncon người như bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệmgiải trình Giá trị của cách tiếp cận này là ở chỗ phân tích các vấn

đề ở cấp độ sâu hơn, nguyên nhân việc các quyền không được đápứng được tìm hiểu cặn kẽ, thấu đáo hơn Do đó phân tích này làđóng góp đáng chú ý cho việc hiểu tình hình trẻ em- nam và nữ,nông thôn và thành thị, dân tộc Kinh và DTTS, trẻ em giàu và trẻ

em nghèo hiện nay ở Việt Nam

Những phát hiện của báo cáo đã khẳng định những tiến bộ đáng kểcủa Việt Nam trong việc đảm bảo các quyền cho trẻ em trong đó có

Trang 7

quyền được học tập Đồng thời cũng chỉ ra những lĩnh vực mà ở đócần phải có nhiều tiến bộ hơn nữa, và tính cấp bách của nó Nhữnglĩnh vực này bao gồm: giảm sự chênh lệch ngày càng gia tăng, thúcđẩy giáo dục hòa nhập và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khókhăn Mặc dù tập trung vào những kết quả quan trọng đạt được chotrẻ em, bản phân tích cũng nghiên cứu những chương trình chưađược hoàn thành và những vấn đề mới này sinh từ quá trình chuyểnđổi kinh tế và xã hội chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam.

Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và thứ hai trên thế giới phêchuẩn Công ước về Quyền trẻ em Đây là cam kết rất rõ ràng củaViệt Nam đối với trẻ em, và sau đó đã được thực hiện bằng sự đầu

tư và ưu tiên cho trẻ em trong những năm qua Báo cáo phân tích đãghi nhận những thành tựu đó, và kêu gọi Việt Nam tiếp tục tiênphong trong việc thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam UNICEF,cùng với tất cả các cơ quan UN, sẽ vẫn là đối tác kiên định trong nỗlực này

Báo cáo chuyên khảo “Giáo dục ở Việt Nam: Phân tích các chỉ số chủ yếu”, Tổng cục Thống kê, 2011.

Báo cáo này là một trong các chuyên khảo được phân tích dựa trên sốliệu của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, vớimục đích đưa ra một bức tranh khái quát về thực trạng giáo dục ởViệt Nam và mối tương quan giữa giáo dục với biến động dân số.Bên cạnh số liệu mẫu 15% của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm

2009, báo cáo cũng sử dụng số liệu từ 2 cuộc Tổng điều tra trước, đólà mẫu 5% của Tổng điều tra dân số năm 1989 và mẫu 3% của Tổngđiều tra dân số và nhà ở năm 1999 Báo cáo chuyên khảo này sử dụngcác kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích các mối tương quan, trình bàykết quả dưới dạng biểu, hình và bản đồ

1.2 Các công trình nghiên cứu thực trạng và giải pháp thực hiện CBXH trong GDPT ở Việt Nam

1.2.1 Các công trình nghiên cứu thực trạng và vấn đề đặt ra về thực hiện CBXH trong GDPT ở Việt Nam

Trang 8

- Nguyễn Tiến Hùng (2011), Bản chất và định hướng chính sách đảm bảo CBXH trong giáo dục, Báo cáo kết quả nghiên cứu cá nhân

Báo cáo đã chỉ ra bản chất của đảm bảo CBXH trong giáo dục:

Một mặt, đảm bảo để tất cả người dân/HS với các điều kiện khác nhau

về giới tính, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, dân tộc,chính trị đều có thểphát huy hết tiềm năng giáo dục của mình Mặt khác, đảm bảo cácchuẩn giáo dục cơ bản tối thiểu cho tất cả người dân đều có thể biếtđọc, biết viết và tính toán

- Đỗ Thị Bích Loan, CBXH trong giáo dục ở Việt Nam Mục tiêu hướng đến sự phát triển bền vững - Kỉ yếu Khoa học giáo dục Việt Nam đổi mới và phát triển (tập 1).

Báo cáo đề cập đến việc thực hiện CBXH trong giáo dục được thểhiện trong cơ hội tiếp cận giáo dục của các giới (nam và nữ), cácnhóm thu nhập, thành thị và nông thôn và các nhóm dân tộc Báo cáođã khẳng định các thành tựu nổi bật về thực hiện CBXH trong giáodục ở Việt Nam

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về giải pháp thực hiện CBXH trong GDPT ở Việt Nam

- Nguyễn Danh Bình, Báo cáo chuyên đề: “Đảm bảo CBXH trong giáo dục - Một yếu tố cơ bản đảm bảo nguyên tắc công bằng và tiến

bộ nhằm phát triển xã hội”, Đề tài khoa học xã hội 03.06, Hà Nội, 1998.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: (1) Góp phần làm rõ khái niệm vềCBXH trong giáo dục trong điều kiện nền KTTT ở nước ta hiện nay.(2) Xác định các căn cứ khoa học và thực tiễn của việc đề xuất cácgiải pháp nhằm thực hiện CBXH trong giáo dục, chủ yếu là côngbằng giữa các vùng miền, xem xét hệ thống các giải pháp đã và đangthực hiện, đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện CBXH trong GDPTcủa Việt Nam giai đoạn hiện nay

- Thực hiện CBXH trong giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số của nước ta hiện nay (Luận án TS của tác giả Phạm Văn Dũng)

Luận án đi sâu vào nghiên cứu, phân tích thực trạng thực hiện CBXHtrong giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đổi

Trang 9

mới đất nước… Trên cơ sở phân tích thực trạng, luận án đã đề ra mộtsố giải pháp nhằm tực hiện CBXH trong giáo dục ở một số vùng dântộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Tây NamBộ (đến năm 2009).

1.2.3 Một số công trình nghiên cứu về CBXH trong giáo dục của một số học giả trên thế giới

- Irina Pervova, University of St Petersburg với bài báo “A View on the Current Situation in Russian Education” - “Thực trạng giáo dục Nga”.

Bài báo khẳng định giáo dục cung cấp cho các xã hội cần thiết cho sựsống còn trong một xã hội Đồng thời bài báo cũng phân tích, phản ánhtình trạng hiện nay trong giáo dục Nga trong đó có một tương quanmạnh mẽ với cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội Tác giả cho rằng:Trách nhiệm giáo dục tổ chức một phần của nhà nước và một phần củacác tổ chức xã hội khác, như một toàn thể, tất cả các chúng tạo thành hệthống giáo dục Để cứu hệ thống giáo dục Nga từ một cuộc khủnghoảng, Nhà nước phải có chính sách mạnh mẽ cho giáo dục và hệ thốnggiáo dục để mọi công dân Nga có quyền và cơ hội được tiếp cận giáodục

- Giáo sư A Furlong, and F Cartmel, (Press, Maidenhead, 2009, 13:978-033522362-6) với công trình “Higher education and social justice” Society for Research into Higher Education and Open University.

ISBN-Trong cuốn sách, các tác giả đã nêu ra thực trạng nghiên cứu của các tácgiả trước đó đã chạm vào sự bất hòa giữa các tầng lớp lao động có liênquan với việc đi phổ thông, các khía cạnh phi vật chất của CBXH cầnđược khai thác sâu hơn Đáng ngạc nhiên, với vai trò trung tâm của kháiniệm lập luận, cuốn sách đưa ra nội dung thảo luận về những gì xã hội đòihỏi phải công bằng trong giáo dục

1.2.4 Một số chính sách về CBXH trong giáo dục của một số tổ chức, một

số nước trên thế giới

- Quan điểm của UNICEF: Theo một báo cáo của UNICEF, vào

tháng 12 năm 2006, nhân dịp kỉ niệm 60 năm ngày thành lập của tổchức này, việc loại bỏ sự phân biệt đối xử về giới và nâng cao vị thếcủa phụ nữ sẽ tạo ra một sự tác động sâu sắc và tích cực đến sự sống

Trang 10

còn và phát triển của trẻ em Theo báo cáo này, mặc dù trong nhữngthập kỉ gần đây đã có một số tiến bộ về vị thế của phụ nữ nhưng cuộcsống của hàng triệu “trẻ em gái và phụ nữ vẫn bị đe dọa bởi sự phânbiệt đối xử, việc bị tước quyền và nghèo khổ Hậu quả của sự phânbiệt đối xử là trẻ em gái ít có cơ hội được học hơn Ở các nước đangphát triển, gần như 1/100 trẻ em gái đi học ở trường tiểu học sẽkhông theo học được hết cấp”

- Thụy Điển: Chế độ giáo dục của Thụy Điển quy định rõ, không

những tất cả mọi người đi học không mất tiển suốt đời mà luật phátcòn quy định đối với bậc phổ thông, nếu trong lớp có một học sinhngười nước ngoài, thì nhà trường phải bố trí bố trí một giáo viên biếttiếng mẹ đẻ của em đó (đây là giáo viên kiêm nhiệm), mỗi tháng phảilên lớp một số giờ nhất định bằng tiếng mẹ đẻ cho HS này

- Trung Quốc: Chính sách CBXH của Trung Quốc được thể hiện trong Luật giáo dục Trung quốc 1995: Nhà nước giúp đỡ về GV, tài chính

để vùng DTTS thực hiện giáo dục bắt buộc Nhà nước căn cứ vào đặc điểm và nhu cầu của các DTTS để giúp đỡ các vùng DTTS phát triển

sự nghiệp giáo dục

Để giúp cho đồng bào các DTTS tiếp cận với CBXH trong giáo dục,Chính phủ Trung Quốc đã ban hành các chính sách miễn giảm họcphí và trợ cấp học bổng cho HS là người DTTS

- Malaixia: Thực hiện CBXH trong giáo dục với tất cả các dân tộc Nhà

nước tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc khác nhau đều được họctập Giáo dục tiểu học là giáo dục miễn phí và bắt buộc cho mọi trẻ em ởtất cả các nhóm dân tộc Để xóa bỏ các rào cản về ngôn ngữ đối với HSDTTS, Malaixia có 4 loại hình trường khác nhau cho phép dạy các ngônngữ khác nhau

- Campuchia: Thực hiện CBXH trong giáo dục đối với người DTTS

thông qua các chính sách học bổng Với những hỗ trợ này, đã giúpcho các hộ gia đình người DTTS ở Campuchia tháo gỡ được các khókhăn về kinh tế khi họ không có khả năng tự trang trải về mặt tàichính cho các khoản đóng góp Nhà nước hỗ trợ học bổng cho HSngười DTTS ở 3 năm cuối (đến lớp 9) còn góp phần hạn chế tình

Trang 11

trạng bỏ học của HS DTTS ở những năm cuối Các suất học bổng cấpcho HS DTTS không cào đều mà được chia thành 3 loại dựa trênkhoảng cách đến trường và điều kiện tập tục văn hoá của huyện sở tạicủa HS.

- Australia: Để tạo cơ hội cho HS dân tộc được tiếp cận giáo dục có

chất lượng và bình đẳng trong giáo dục, trong hai thập kỷ qua, chínhphủ Australia đã xây dựng chính sách hỗ trợ giáo dục dân tộc Năm

1989, Chính phủ Australia thông qua Hội đồng giáo dục Australiađưa ra Tuyên bố Hobart về việc đi học trong đó nêu các mục tiêuquốc gia chung cần đạt được đối với việc đến trường cho trẻ ởAustralia Chính sách giáo dục dành cho DTTS cũng đưa ra 21 mụctiêu dài hạn với mục đích đạt được sự bình đẳng trong giáo dục đếnnăm 2000

1.3 Đánh giá những thành tựu cơ bản và những vấn đề đặt ra trong luận án cần tiếp tục giải quyết

1.3.1 Đánh giá chung các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Một cách khách quan, liên quan đến đề tài, cho đến nay, có nhiềucông trình nghiên cứu đã công bố có giá trị tham khảo, tuy nhiên, cònnhiều nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện:Chưa có một công trình nghiên cứu độc lập về CBXH trong GDPT với

tư cách là một chủ thể nghiên cứu dựa trên mối quan quan hệ biện chứngvới những điều kiện kinh tế xã hội, những nhân tố chủ quan, khách quantác động đến việc thực hiện CBXH trong lĩnh vực này

1.3.2 Định hướng nghiên cứu của đề tài

Từ những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án đượccác nhà khoa học trong nước, nước ngoài và các tổ chức quốc tế đề cậpở trên đã gợi mở cho tác giả luận án những vấn đề cần tiếp tục giảiquyết trong luận án

- Về lý luận, vấn đề lý luận đặt ra trong luận án cần tiếp tục giải quyết

chính là làm rõ nội hàm của CBXH trong giáo dục và CBXH trongGDPT, áp dụng trong điều kiện thực tiễn ở Việt Nam hiện nay

- Về thực tiễn, khảo sát và đánh giá cụ thể vấn đề CBXH trong GDPT

ở Việt Nam hiện nay chưa được nghiên cứu Do đó, khảo sát thực

Trang 12

trạng, chỉ ra những vấn đề bất cập, cấp bách cần giải quyết để thựchiện CBXH trong GDPT ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa đặc biệtquan trọng, nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất thực hiệnhệ thống chính sách đối với giáo dục và GDPT nói riêng một cáchthiết thực và hiệu quả

- Về phương hướng và giải pháp, giải quyết nhiệm vụ đã đặt ra thông

qua việc xác định những phương hướng và nhóm những giải pháp cơbản nhằm thực hiện CBXH trong GDPT ở Việt Nam hiện nay

- Những nhiệm vụ cụ thể: Những vấn đề đặt ra trên đây là mảng trống

mà tác giả phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ trong đề tàiluận án

Một là, làm rõ thêm khái niệm CBXH đưa ra quan điểm về CBXH

trong GDPT trong nền KTTT có sự quản lý của nhà nước ở nước tahiện nay

Hai là, dựa trên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin,

cần đưa ra các tiêu chí để đánh giá, đồng thời trên cơ sở những tiêuchí đánh giá, luận án phân tích đưa ra những nguyên nhân của nhữngthành công cũng như hạn chế trong việc thực hiện CBXH trongGDPT ở Việt Nam hiện nay

Ba là, trên những phân tích lý luận và thực tiễn, cần nêu lên một số

phương hướng, giải pháp nhằm thực hiện CBXH trong GDPT ở nước

ta trong thời gian tới nhằm thực hiện Nghị quyết Ban Chấp hànhTrung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đàotạo Việt Nam” và tạo cơ hội tiếp cận về giáo dục cho mọi người

CHƯƠNG II NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở VIỆT NAM 2.1 Quan niệm về CBXH và CBXH trong giáo dục

Trang 13

Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, CBXH được định nghĩa dướigóc độ ý thức đạo đức, ý thức pháp quyền, chỉ điều chính đáng,tương ứng với bản chất con người và quyền con người Khác với kháiniệm thiện và ác dùng để đánh giá những hiện tượng riêng rẽ, kháiniệm công bằng nêu ra sự tương quan giữa một số hiện tượng theoquan điểm phân phối phúc và họa, lợi và hại giữa người với người.Công bằng đòi hỏi sự tương xứng giữa vai trò của cá nhân (nhữnggiai cấp) với địa vị của họ; giữa hành vi với sự đền bù (lao động vàthù lao, công và tội, thưởng và phạt); giữa quyền lợi và nghĩa vụ [Hộiđồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam

(1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Trung tâm Từ điển Bách khoa

Việt Nam, Hà Nội, tr.580]

Căn cứ vào phương diện nghiên cứu, mục tiêu, nhiệm vụ của luận

án, tác giả cho rằng: CBXH là một phạm trù lịch sử, phản ánh sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa năng lực và cơ hội, điều kiện phát triển, giữa tội phạm và sự trừng phạt của cá nhân hay nhóm xã hội CBXH thể hiện khát vọng của con người và là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội.

Với quan niệm trên, CBXH có những đặc trưng cơ bản sau:

- CBXH là một phạm trù lịch sử: CBXH là sản phẩm của đời sống xã

hội, nó phản ánh quan hệ giữa người với người xung quanh vấn đềlợi ích Vấn đề phân phối lợi ích trong mỗi chế độ xã hội luôn gắnvới một phương thức sản xuất nhất định, phụ thuộc vào trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động xã hội, và quantrọng nhất là tính chất của các quan hệ sản xuất trong phương thứcsản xuất đó Hơn nữa, không chỉ chịu sự tác động bởi điều kiện kinh

tế, quan niệm về CBXH còn chịu sự chi phối của các hình thái ý thứcxã hội như ý thức chính trị, đạo đức, văn hóa của xã hội trong từnggiai đoạn lịch sử nhất định Do vậy CBXH luôn có tính lịch sử Ởmỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, CBXH được nhìn nhận và giải quyếtkhác nhau Đánh giá về vấn đề này, Ăngghen viết: “Công bằng củanhững người Hy Lạp và La Mã là sự công bằng của chế độ nô lệ Côngbằng của giai cấp tư sản năm 1789 là những đòi hỏi phải xóa bỏ chế độ

Ngày đăng: 01/03/2018, 09:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w