1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng vê tình hình triển khai chính sách và thực hiện chương trình quốc gia về NCT giai đoạn 2010 – 2015

20 218 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 141 KB
File đính kèm 8.rar (28 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Liên Hợp Quốc đã dự báo, thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ già hóa. Dự báo cho thấy, tỷ lệ NCT trên thế giới là 9% (1995) sau 30 năm tăng lên 14,9% (2025). Già hóa dân số, một hiện tượng mang tính toàn cầu xảy ra ở khắp nơi và ảnh hưởng đến mọi quốc gia, dân tộc. Do vậy, nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang quan tâm đến vấn đề già hóa dân số. Việt Nam là quốc gia có dân số trẻ, cả trong khu vực và trên phạm vi toàn thế giới, đến nay gần 10% dân số của Việt Nam đã ở độ tuổi 60 và trên 60. Sau năm 2010, Việt Nam đã không còn là nước có dân số trẻ khi có người cao tuổi chiếm trên 10% dân số và theo dự báo, năm 2025 khoảng 18% và năm 2050 chiếm gần 30% dân số cả nước. Với Việt Nam, một quốc gia đang phát triển, dân số già hóa nhanh tạo áp lực cho hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có, hệ thống dịch vụ sức khỏe, giao thông đi lại, hệ thống hưu trí cho NCT cũng như quan hệ gia đình, tâm lý, chăm sóc NCT và đảm bảo chất lượng cuộc sống NCT…chắc chắn sẽ làm cho những vấn đề kinh tế xã hội, môi trường thêm trầm trọng và có nhiều biến động không thể lường trước. Từ đó tạo ra những khó khăn, thách thức đối với nhà nước, xã hội, gia đình với NCT. Để thích ứng với già hóa dân số, việc chuẩn bị các điều kiện cần và đủ để đáp ứng nhu cầu của dân số già là một thách thức lớn đối với nhà lập kế hoạch và hoạch định chính sách khi Việt Nam đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa các dịch vụ y tế trong môi trường cuộc sống của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước và địn hướng xã hội chủ nghĩa.Những năm gần đây Đảng ta đặc biệt quan tâm chăm sóc NCT nhất là NCT có công với đất nước, người về hưu, NCT không nơi nương tựa thông qua việc ban hành chính sách, văn bản, quy phạm pháp luật, quy định chăm sóc NCT và mới đây nhất là Luật NCT đã được ban hành tạo cơ sở pháp lý để nhà nước và toàn xã hội quan tâm đầy đủ, đồng thời phát huy ngày càng tốt hơn vai trò của NCT trong đời sống xã hội. Mặc dù Luật Người cao tuổi đã chú trọng rất nhiều đến những quyền lợi mà người cao tuổi được hưởng, như chính sách phụng dưỡng, chăm sóc sức khỏe NCT, chính sách bảo trợ xã hội… nhưng kết quả thực hiện trên thực tế chưa cao, còn nhiều hạn chế, chưa đảm bảo được cuộc sống cho NCT. Bởi vậy, em đã chọn đề tài “Thực trạng vê tình hình triển khai chính sách và thực hiện chương trình quốc gia về NCT giai đoạn 2010 – 2015” là đề tài cho bài tiểu luận này.

Trang 1

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Liên Hợp Quốc đã dự báo, thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ già hóa Dự báo cho thấy, tỷ

lệ NCT trên thế giới là 9% (1995) sau 30 năm tăng lên 14,9% (2025) Già hóa dân số, một hiện tượng mang tính toàn cầu xảy ra ở khắp nơi và ảnh hưởng đến mọi quốc gia, dân tộc Do vậy, nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang quan tâm đến vấn đề già hóa dân số Việt Nam là quốc gia có dân số trẻ, cả trong khu vực

và trên phạm vi toàn thế giới, đến nay gần 10% dân số của Việt Nam đã ở độ tuổi 60 và trên 60 Sau năm 2010, Việt Nam đã không còn là nước có dân số trẻ khi có người cao tuổi chiếm trên 10% dân số và theo dự báo, năm 2025 khoảng 18% và năm 2050 chiếm gần 30% dân số cả nước

Với Việt Nam, một quốc gia đang phát triển, dân số già hóa nhanh tạo áp lực cho hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có, hệ thống dịch vụ sức khỏe, giao thông đi lại,

hệ thống hưu trí cho NCT cũng như quan hệ gia đình, tâm lý, chăm sóc NCT và đảm bảo chất lượng cuộc sống NCT…chắc chắn sẽ làm cho những vấn đề kinh

tế - xã hội, môi trường thêm trầm trọng và có nhiều biến động không thể lường trước Từ đó tạo ra những khó khăn, thách thức đối với nhà nước, xã hội, gia đình với NCT Để thích ứng với già hóa dân số, việc chuẩn bị các điều kiện cần

và đủ để đáp ứng nhu cầu của dân số già là một thách thức lớn đối với nhà lập

kế hoạch và hoạch định chính sách khi Việt Nam đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa các dịch vụ y tế trong môi trường cuộc sống của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước và địn hướng xã hội chủ nghĩa.Những năm gần đây Đảng

ta đặc biệt quan tâm chăm sóc NCT nhất là NCT có công với đất nước, người về hưu, NCT không nơi nương tựa thông qua việc ban hành chính sách, văn bản, quy phạm pháp luật, quy định chăm sóc NCT và mới đây nhất là Luật NCT đã được ban hành tạo cơ sở pháp lý để nhà nước và toàn xã hội quan tâm đầy đủ, đồng thời phát huy ngày càng tốt hơn vai trò của NCT trong đời sống xã hội Mặc dù Luật Người cao tuổi đã chú trọng rất nhiều đến những quyền lợi mà người cao tuổi được hưởng, như chính sách phụng dưỡng, chăm sóc sức khỏe

Trang 2

NCT, chính sách bảo trợ xã hội… nhưng kết quả thực hiện trên thực tế chưa cao, còn nhiều hạn chế, chưa đảm bảo được cuộc sống cho NCT Bởi vậy, em đã chọn đề tài “Thực trạng vê tình hình triển khai chính sách và thực hiện chương trình quốc gia về NCT giai đoạn 2010 – 2015” là đề tài cho bài tiểu luận này

I Cơ sở lý luận CTXH với NCT

1. Khái quát chung về NCT

1.1 Khái niệm NCT

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay “người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, “người cao tuổi” là thuật ngữ mang tính tích cực

và thể hiện thái độ tôn trọng

Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể

Về mặt pháp luật: Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2010 quy định: Người cao tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”

Theo WHO: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên

Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ… lại quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau

1.2 Đặc điểm của NCT

Người cao tuổi thường ít nhiều có rối loạn về tâm lý, hoặc có những ưu tư, phiền muộn khi cuộc sống thay đổi, đôi khi có biểu hiện tự xa lánh người khác Những trở ngại về tinh thần ở NCT thường biểu hiện bằng mặc cảm về giá trị của mình

Trang 3

trong đời sống và mặc cảm về việc phải nhờ đến sự giúp đỡ của người khác Người cao tuổi, do không còn tiếp tục làm công việc đã gắn bó trong nhiều năm, nên thường có cảm giác hẫng hụt, trống trải Với nhiều người, nghỉ hưu cũng đồng nghĩa với sự thay đổi về địa vị xã hội, về vai trò trong xã hội và có thể trong chính gia đình Lúc này, Hội Người cao tuổi là tổ chức gắn bó mật thiết nhất của những NCT Hiện nay, 100% xã, phường, thị trấn có Hội Người cao tuổi với 86% số người tham gia Tổ chức hội tạo điều kiện cho NCT tham gia các hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và khởi xướng nhiều mô hình hoạt động phong phú, phát huy vai trò NCT như Câu lạc

bộ dưỡng sinh, Câu lạc bộ thơ, Nhóm vận động khuyến học, Hội Bảo thọ, v.v Các hội khác mà NCT tham gia (như Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân) cũng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động chăm sóc NCT và nhận được sự ủng hộ của cộng đồng, của những người trẻ tuổi, người tình nguyện Tham gia xã hội và duy trì các mối quan hệ thân tình là một trong những nhu cầu rất chính đáng của NCT Tuy nhiên, với các mối quan hệ ngoài gia đình, thân tộc, thì số NCT không có bạn bè thân thiết chiếm một tỷ lệ khá cao Người cao tuổi cũng nhận được sự tôn kính, biết ơn của thế hệ trẻ và họ còn xem việc dành sự tôn trọng đối với thế hệ cha ông cũng chính là phương châm sống với những câu thành ngữ như “kính lão đắc thọ” hay “thương già, già để tuổi cho” Điều này cũng khẳng định rằng, truyền thống đạo đức, nền tảng gia đình, thuần phong mĩ tục của người Việt Nam vẫn được bảo tồn và phát huy

1.3 Vấn đề già hóa dân số

Dân số nước ta đang già hóa với tốc độ nhanh do tuổi thọ bình quân ngày càng tăng, trong khi tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm Nếu năm 2009, số người cao tuổi (NCT) từ 60 tuổi trở lên là 9% thì đến năm 2010, con số này là 9,4% (tăng 0,4%) Tốc độ này sẽ là thách thức lớn đối với các cấp, các ngành có liên quan trong việc bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi Theo TS Dương Quốc

Trang 4

Trọng, Tổng Cục trưởng Dân số (Bộ Y tế), số NCT tăng là thành tựu của sự phát triển nhưng cũng đang đặt ra những khó khăn, thách thức

Thứ nhất, già hóa dân số sẽ khiến cấu trúc gia đình thay đổi Con người sống lâu hơn, sinh ít con hơn và cũng ít quyền được lựa chọn chăm sóc hơn Hiện tại, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tinh thần cho người cao tuổi ở nước ta chưa phát triển, đa số người cao tuổi vẫn sống nương tựa vào con cháu Các chuyên gia lo lắng, nếu nhịp độ già hóa dân số vẫn tăng nhanh đều như hiện nay thì chỉ trong khoảng vài chục năm tới, người cao tuổi ở nước ta sẽ gặp khó khăn về vấn đề chỗ ở

Thứ hai, già hóa dân số khiến thời gian sống sau nghỉ hưu tăng lên, làm gia tăng

áp lực lên hệ thống y tế và hệ thống trợ cấp lương hưu Đồng nghĩa với việc hệ thống bảo trợ xã hội cần được cải thiện Tuy nhiên việc này không dễ thực hiện bởi ngân quỹ quốc gia còn hạn chế, hệ thống khám chữa bệnh chuyên khoa cho người già chưa phát triển Tuổi thọ trung bình của người dân cao, nhưng số năm khỏe mạnh thấp cũng đang khiến người cao tuổi phải chịu gánh nặng về bệnh tật Trong khi đó, chi phí chăm sóc y tế cho một NCT cao gấp tám lần trẻ em Thứ ba, già hóa dân số sẽ khiến những thách thức kinh tế mới nổi lên Cơ cấu dân số trong độ tuổi lao động giảm đi, cơ cấu nghề nghiệp sẽ thay đổi, gánh nặng kinh tế cho người lao động trẻ cũng cao hơn Tất cả những hệ lụy đó nếu không được giải quyết thỏa đáng sẽ là thách thức to lớn cho sự phát triển toàn diện của đất nước trong tương lai không xa

Ðáng chú ý, nước ta đang già hóa với một tốc độ chưa từng có trong lịch sử do tuổi thọ bình quân ngày càng tăng, trong khi tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm Theo kết quả Tổng Ðiều tra dân số và Nhà ở ngày 1-4-2009, số người cao tuổi

từ 60 tuổi trở lên là 9% thì đến năm 2010, con số này là 9,4% (tăng 0,4%) Tại thời điểm này, nước ta đã chính thức bước vào giai đoạn ‘già hóa dân số’ Trong tương lai, tốc độ già hóa tăng sẽ không phải 0,4% nữa mà sẽ là 0,5% – 0,6% và đến năm 2025, nước ta sẽ bước vào thời kỳ dân số ‘già’ Theo thống kê, số

Trang 5

lượng NCT đang tăng nhanh hơn bất kỳ nhóm dân số nào khác Năm 1999, số người già trên 100 tuổi là ba nghìn cụ thì năm 2009 là 7.200 cụ Thời gian để chuyển đổi từ cơ cấu dân số ‘già hóa’ sang cơ cấu dân số ‘già’ ở nước ta sẽ ngắn hơn so với các quốc gia có trình độ phát triển cao Thí dụ: Nếu Thụy Ðiển phải mất tới 85 năm, Nhật Bản 26 năm, Thái-lan là 22 năm để chuyển từ ‘già hóa’ sang ‘già’ thì dự báo ở nước ta, thời gian này là khoảng 20 năm

Già hóa dân số là xu hướng tất yếu khi kinh tế – xã hội mỗi quốc gia ngày một phát triển Theo quy luật phát triển đó, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc cải thiện đáng kể về y tế, dinh dưỡng và phát triển kinh tế – xã hội Tuy nhiên, theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), già hóa dân số nhanh chóng cũng sẽ tạo ra những thách thức to lớn đối với Việt Nam Ở nước ta, cơ cấu dân số già đến sớm, khi kinh tế đất nước mới đang trong thời kỳ thoát nghèo Do đó, các chế độ, chính sách nhằm bảo đảm cho NCT sống vui, sống khỏe, sống có ích, được chăm sóc chu đáo là một bài toán khó khăn

2. Công tác xã hội với người cao tuổi.

2.1 Công tác xã hội với người cao tuổi trên thế giới

Có thể thấy tình trạng NCT ở các nước đang phát triển và các nước phát triển có

sự khác nhau đáng kể về phân bố dân số: trong khi ở các nước phát triển thì số NCT sống ở thành thị, còn số NCT ở các quốc gia đang phát triển chủ yếu sống

ở nông thôn Như dự báo vào năm 2025, các nước phát triển thì tỷ lệ NCT sống

ở thành thị sẽ tăng lên 82%, còn các nước đang phát triển chỉ chiếm 50% số NCT sống ở thành thị Từ sự khác nhau về phân bố dân số sẽ dẫn đến sự khác nhau về chính sách đối với NCT ở các nước phát triển và đang phát triển

Trong thực hiện các chính sách xã hội, trợ giúp những đối tượng khó khăn, các nước phát triển trên thế giới đã sớm áp dụng các phương pháp khoa học, mang tính chuyên nghiệp và vì vậy, kết quả đạt được cũng mang tính bền bững, hiệu quả cao Phương pháp này được thực hiện đầu tiên ở các nước đi trước hàng trăm năm nay và ngày càng phát triển và hoàn thiện Đó là công tác xã hội

Trang 6

chuyên nghiệp Điểm khác nhau cơ bản ở Công tác xã hội chuyên nghiệp với các phương pháp trợ giúp truyền thống, nhân đạo ở chỗ đây chính là "Nghề giúp người khác tự giúp mình"

Trên thế giới, nhất là ở các nước phát triển, nghành công tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia vào xây dựng chính sách và điều hành các hoạt động an sinh cho NCT thông qua hai hình thức sau:

Hình thức thứ nhất: chăm sóc NCT trong các cơ sở chăm sóc người già hoặc trung tâm dưỡng lão ở các nước cũng giống như hình thức chăm sóc NCT cố đơn trong các cơ sở Bảo trợ xã hội tại Việt Nam nhưng các dịch vụ chăm sóc phong phú Việc thực hiện các dịch vụ ngoài NVCTXH còn có sư tham gia của nhiều nhân viên chuyên nghiệp khác như bác sĩ, cán bộ điều dưỡng, cán bộ dinh dưỡng, chuyên viên tham vấn tâm lý…

Hình thức thứ hai là cung cấp dịch vụ chăm sóc NCT tại gia đình và cộng đồng gần đây xu hướng thứ hai được quan tâm nhiều hơn Trong các dịch vụ này thường là cơ sở xã hội tiếp nhận NCT và cử NVCTXH đến gia đình họ để trực tiếp thực hiện các phương pháp như vãng gia, đánh giá, xác định vấn đề, giúp xây dựng kế hoạch thiết lập mối quan hệ giữa NCT và các thành viên gia đình, giúp họ gắn bó và tự giác tham gia các sinh hoạt cộng đồng; tham vấn, điều chỉnh các mối quan hệ giữa NCT và các thành viên trong gia đình, cung cấp các dịch vụ tập huấn, nâng cao kiến thức, kỹ năng chăm sóc NCT cho các thành viên trong gia đình…

2.2 Công tác xã hội với NCT ở Việt Nam

Mặc dù là quốc gia có dân số trẻ, cả trong khu vực và trên phạm vi toàn thế giới, đến nay gần 10% dân số của Việt Nam đã ở độ tuổi 60 và trên 60 Sau năm

2010, Việt Nam đã không còn là nước có dân số trẻ khi có người cao tuổi chiếm trên 10% dân số và theo dự báo, năm 2025 khoảng 18% và năm 2050 chiếm gần 30% dân số Người cao tuổi có những ưu thế về những đóng góp của họ với gia

Trang 7

đình, xã hội, về kinh nghiệm sống và khả năng tiếp tục đóng góp vào quá trình phát triển Tuy nhiên, người cao tuổi cũng có nhiều vấn đề cần được quan tâm như: vấn đề sức khỏe, đời sống vật chất, tham gia giao thông, nuôi cháu thay cha

mẹ trẻ do các nguyên nhân khác nhau…Vì vậy, để trợ giúp người cao tuổi cần

có cán bộ xã hội được đào tạo một cách chuyên nghiệp qua trường, lớp.cả nước

Để Nghề Công tác xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam được phát triển và phổ biến rộng rãi về lâu dài cần nằm trong tiến trình chung phát triển công tác

xã hội và được coi như một nghề ở Việt Nam, theo các bước đi của đề án đã được Chính phủ phê duyệt

Bước đi đầu tiên có thể là các hoạt động nâng cao năng lực cho những người đang làm việc với người cao tuổi, cung cấp cho họ một số kiến thức, kỹ năng cơ bản trong làm việc với người cao tuổi

Bên cạnh đó, có thể xem xét, kết hợp đào tạo cán bộ xã hội trong lĩnh vực y tế với công tác xã hội với người cao tuổi Chú trọng công tác quản lý ca và tham vấn trong làm việc với người cao tuổi Đa dạng hóa các loại dịch vụ trợ giúp người cao tuổi Đồng thời thiết kế các chương trình đào tạo chuyên sâu về công tác xã hội với người cao tuổi

Trong điều kiện già hóa dân số, nhiều vấn đề đặt ra đối với người cao tuổi trong điều kiện kinh tế- xã hội đặc thù ở Việt Nam, cần sớm nhận thức về sự cần thiết phát triển Công tác xã hội với người cao tuổi và tạo các điều kiện cần thiết cho

sự phát triển này

II Cơ sở thực tiễn

1 Quan điểm và định hướng của chính phủ về vấn đề NCT

Sau khi Hội người cao tuổi Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban Bí thư

TW đã ban hành Chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc người cao tuổi”, quy định: “ Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội Hội người cao tuổi Việt Nam mới được

Trang 8

thành lập, cần được nhanh chóng ổn định về tổ chức và mở rộng hoạt động ở cơ

sở Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các ban đảng, các đoàn thể nhân dân cần giúp

đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phối hợp với Hội trong việc vận động gia đình và xã hội chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy người cao tuổi phục vụ công cuộc đổi mới Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban của Đảng, các ban cán sự đảng Chính phủ, Bộ Lao động- Thương binh và

Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp phối hợp với Hội nghiên cứu, soát xét các chính sách luật pháp hiện hành, đề xuất những văn bản pháp quy của nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc và phát huy người cao tuổi Nhà nước cần dành ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề chăm sóc người cao tuổi Trước hết cần quan tâm chăm sóc những người cao tuổi có công, cô đơn không nơi nương tựa, tàn tật và bất hạnh, nhanh chóng xoá bỏ tình trạng người già lang thang trên đường phố, ngõ xóm Đề nghị Chính phủ hỗ trợ Hội người cao tuổi Việt Nam về kinh phí và điều kiện hoạt động”

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã nêu: “Đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, các cán bộ nghỉ hưu, những người cao tuổi thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất trong điều kiện mới; đáp ứng nhu cầu thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xã hội; nêu gương tốt, giáo dục lí tưởng và truyền thống cách mạng cho thanh niên, thiếu niên…”

Thông báo số 12-TB/TW ngày 13 tháng 6 năm 2001 đã khẳng định Hội người cao tuổi Việt Nam là tổ chức xã hội của người cao tuổi, có các nhiệm vụ đã được quy định cụ thể tại Pháp lệnh người cao tuổi; Hội có Ban đại diện ở cấp tỉnh và cấp huyện; Cấp tỉnh có từ 2 đến 3, cấp huyện có từ 1 đến 2 cán bộ chuyên trách đồng thời khẳng định: “ Nhà nước tiếp tục trợ cấp kinh phí họat động cho Hội Các cơ quan có chức năng của Nhà nước tạo thuận lợi, bảo đảm cấp kinh phí kịp thời cho Hội”

Trang 9

Trong bài phát biểu tại cuộc gặp mặt nhân ngày quốc tế NCT (01.10.2002) do

TW Hội người cao tuổi Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nói: “…Chưa bao giờ lực lượng người cao tuổi nước ta lại đông đảo như hiện nay Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tự hào về lớp người cao tuổi nước

ta Với uy tín cao, sự mẫu mực về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống cùng với vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng lao động và nghiệp vụ phong phú, đa dạng của mình, người cao tuổi thực sự là một bộ phận hợp thành nguồn lực nội sinh quý giá của cả dân tộc Chúng ta tôn trọng, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực ấy”…

Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng ghi rõ: “Vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lão thành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách xã hội Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô đơn, không nơi nương tựa…”

Như vậy, từ Chỉ thị 59, các văn kiện Đại hội Đảng và Thông báo số 12 của Ban

bí thư TW Đảng đều khẳng định: Người cao tuổi là nền tảng của gia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội, vì thế, Chăm sóc và phát huy tốt vai trò người cao tuổi là thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

2 Luật pháp, chính sách, chương trình, dịch vụ với NCT ở Việt Nam đang hiện hành

2.1 Luật pháp liên quan đến người cao tuổi

Quan điểm trên của Đảng và Bác Hồ được thể hiện trong Hiến pháp năm 1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ” Điều 32 của Hiến pháp 1959 ghi rõ: “Giúp đỡ người già, người đau yếu và tàn tật Mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khoẻ và cứu trợ xã hội…” Điều 64 của Hiến pháp 1992 quy định: “…Cha mẹ có trách nhiệm nuôi

Trang 10

dạy con cái Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ… ”.

Và Điều 87 Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ”

Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 36 quy định:“Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật…Và khoản 2 Điều 47 Luật này quy định: “Cháu có bổn phận… chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ngoại”

Luật bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã dành một chương riêng: Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi … trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật này quy định:“người cao tuổi … được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của mình”

Luật Lao động quy định tại Điều 124: “Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ người lao động cao tuổi, không được sử dụng

ngư-ời lao động cao tuổi làm Điều 151 của Bộ luật hình sự quy định: “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” và Điều 152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” Bên cạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội

là người già”

2.2 Chính sách của nhà nước Việt Nam về người cao tuổi

Giai đoạn từ năm 1945 – 1995: sự quan tâm đến NCT được thể hiện ở trong một

số nội dung của các văn bản pháp quy có liên quan như Hiến pháp năm 1946,

1980, 1992, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật lao động, Pháp lệnh về người có công với cách mạng Chính phủ cũng đã ban hành một số chính sách có nội dung liên quan đến NCT như: Nghị định 218/CP năm

1961 về thành lập chế độ bảo hiểm xã hội cho khu vực nhà nước, Nghị định 05/

CP năm 1994 về điều chỉnh trợ cấp phúc lợi xã hội cho người cô đơn không nơi nương tựa…

Ngày đăng: 28/02/2018, 13:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w