Xây dựng giải pháp thanh toán di động cho VNPTXây dựng giải pháp thanh toán di động cho VNPTXây dựng giải pháp thanh toán di động cho VNPTXây dựng giải pháp thanh toán di động cho VNPTXây dựng giải pháp thanh toán di động cho VNPTXây dựng giải pháp thanh toán di động cho VNPTXây dựng giải pháp thanh toán di động cho VNPTXây dựng giải pháp thanh toán di động cho VNPTXây dựng giải pháp thanh toán di động cho VNPTXây dựng giải pháp thanh toán di động cho VNPTXây dựng giải pháp thanh toán di động cho VNPTXây dựng giải pháp thanh toán di động cho VNPTXây dựng giải pháp thanh toán di động cho VNPTXây dựng giải pháp thanh toán di động cho VNPT
Trang 1MỞ ĐẦU
Đã từ lâu, các công ty viễn thông đã nhận thấy nền kinh tế di động là một cơ hội tốt để nâng cao vai trò của họ trên thị trường thông qua các sản phẩm và dịch vụ mới ngoài viễn thông cơ bản có khả năng tạo những nguồn doanh thu mới, thu hút đầu tư mới, giảm chi phí hoạt động, giảm gian lận, và tăng sự trung thành của khách hàng
Tính tới năm 2016, Việt Nam có khoảng 90 triệu dân số và gần 140 triệu thuê bao di động Trong đó gần 32% dân cư sống trong vùng đô thị, hơn 22 triệu điện thoại thông minh (smartphone).Với tổng số thuê bao di động lớn do đó rất tốt
để cung cấp các dịch vụ ví, thanh toán và giao dịch ngân hàng di động cho các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp của mình
Ngày nay, với sự phát triển rất nhanh của thị trường ICT, các tổ chức tài chính ngày càng chú trọng tới việc tìm kiếm và duy trì khách hàng bằng cách cung cấp các dịch vụ thương mại di động mới ngoài phạm vi các dịch vụ ngân hàng cơ bản Vì vậy, các tổ chức tài chính này, bao gồm cả các ngân hàng, sẽ mong muốn tham gia vào hệ thống Payment để mang lại cho khách hàng của họ sự tiện lợi thoải mái trong giao dịch
Các tổ chức bán buôn và bán lẻ cũng ngày càng đánh giá cao giá trị của ví di động trong vai trò tìm hiểu hành vi của khách hàng đồng thời tạo ra nguồn doanh thu mới cho các khách hàng bán lẻ hoặc quầy hàng của họ thông qua các công cụ thanh toán hóa đơn, nạp tiền điện thoại, và chuyển tiền cá nhân Do vậy, các tổ chức này cũng sẽ mong muốn được tham gia vào hệ thống Payment
Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT) là Tập đoàn cung cấp các dịch vụ Viễn thông – Công nghệ thông tin hàng đầu Việt Nam Doanh thu của Tập đoàn đạt trên 2 tỉ USD năm 2016 Hiện tại, VNPT chiếm 32% thị phần thuê bao di động Các lĩnh vực kinh doanh chính của Tập đoàn bao gồm:
- Dịch vụ và sản phẩm viễn thông, công nghệ thông tin và truyền thông đa phương tiện;
- Khảo sát, tư vấn, thiết kế, lắp đặt, khai thác, bảo dưỡng, sửa chữa, cho thuê các công trình viễn thông, công nghệ thông tin;
- Nghiên cứu, phát triển, chế tạo, sản xuất thiết bị, sản phẩm viễn thông, công nghệ thông tin;
Trang 2- Thương mại, phân phối các sản phẩm thiết bị viễn thông, công nghệ thông tin;
- Dịch vụ quảng cáo, nghiên cứu thị trường, tổ chức hội nghị hội thảo, triển lãm liên quan đến lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin;
- Kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng;
- Dịch vụ tài chính trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin và truyền thông đa phương tiện;
Dưới sức ép cạnh tranh ngày càng lớn, VNPT cần phải tạo ra những sản phẩm dịch vụ mới để duy trì và mở rộng hệ thống khách hàng, mở rộng lĩnh vực kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững Đề tài “Xây dựng giải pháp thanh toán di động cho VNPT” được thực hiện trong khuôn khổ đề tài thạc sĩ ngành CNTT nhằm xây dựng một hệ thống dịch vụ hợp tác giữa Tập đoàn VNPT và các ngân hàng để cho phép khách hàng là thuê bao di động của VNPT có thể kết nối với tài khoản ngân hàng và thực hiện các giao dịch tiền điện tử theo nhu cầu của họ
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG THANH TOÁN
DI DỘNG
Nội dung chính của chương trình bày tổng quan về thị trường thanh toán di động và một số vấn đề liên quan
1.1 Thị trường thanh toán di động trên thế giới
Những chiếc ATM đang dần trở nên lỗi thời trước sự xuất hiện của nhiều ứng dụng thanh toán điện tử, mà gần đây nhất là Apple Pay Xu hướng này đang đẩy cả thế giới tới viễn cảnh không tiền mặt Với một số quốc gia, tương lai này có
vẻ đang dần biến thành hiện thực, khi tỷ lệ thanh toán truyền thống ngày càng giảm
Hình 1.1 Tổng thị trường thanh toán điện tử
Kể từ tháng 2/2013, Canada đã ngừng sản xuất và cung ứng tiền xu, để tiết kiệm 11 triệu USD mỗi năm Bỉ cũng tương tự Pháp với quy định hạn chế tiêu tiền mặt trên 3.000 Euro Tuy nhiên, tại Bỉ sẽ phạt tới 225.000 Euro nếu vi phạm quy định này
Theo báo cáo của Omlis (một nhà cung cấp giải pháp thanh toán di động toàn cầu), hiện chỉ có 1,3 tỷ tài khoản tín dụng (credit card) và ghi nợ (debit card) đang hoạt động trên toàn cầu, nhưng lại có hơn 5 tỷ tài khoản điện thoại di động đang hoạt động, mở ra một khả năng ứng dụng rộng rãi thanh toán di động Đến cuối năm
2013, đã có khoảng 245 triệu người sử dụng thanh toán di động Và theo dự đoán của Jupiter Research thì con số này sẽ tăng lên 450 triệu vào năm 2017 Về giá trị M-Commerce, hãng Gartner dự đoán rằng tổng các giao dịch thanh toán di động toàn cầu dự kiến sẽ đạt 507 tỷ USD trong năm 2014, đạt 670 tỷ USD vào năm 2015
Trang 4và dự báo đến năm 2017, tổng giá trị của thị trường thanh toán di động sẽ đạt 721 tỷ USD
Theo Gartner, Châu Phi hiện đang dẫn đầu thế giới cho việc sử dụng thanh toán di động chiếm 52% tổng giá trị các dịch vụ tiền tệ di động toàn cầu Tại Kenya
và Uganda, hơn một nửa số người sử dụng điện thoại di động thường xuyên thực hiện thanh toán qua di động; và số người làm như vậy ở Nam Phi và Senegal là một phần tư Có tới 92% người Kenya cho biết họ đã thực hiện các khoản thanh toán di động P2P thông qua hệ thống thanh toán di động M-Pesa Trong năm 2013, đã có
163 sản phẩm thanh toán di động hoạt động ở các nền kinh tế đang phát triển thì 90 trong số đó là tại châu Phi, tiếp theo là 40 ở châu Á-Thái Bình Dương và 17 ở châu
Mỹ
Điện thoại di động là một kênh chiếm ưu thế trong mua sắm bán lẻ trong khu vực Châu Á -Thái Bình Dương, nơi có tới 32% người tiêu dùng mua sắm hàng hóa với điện thoại di động của họ, 21% mua sắm trên máy tính Với sức phát triển mạnh
mẽ hơn cả Bắc Mỹ hay Tây Âu, các thị trường châu Á chiếm 74 tỷ USD doanh thu thanh toán diđộng trong năm 2013 Gartner dự báo rằng vùng Viễn Đông và Trung Quốc sẽ tạo một thị trường thanh toán di động lớn nhất vào năm 2019
Mỹ Latin được dự đoán sẽ có tới 22.310.000 người sử dụng thanh toán di động vào năm 2016 Brazil, Mexico và Chile hiện đang nắm giữ tỷ lệ áp dụng thương mại điện tử cao nhất ở Mỹ Latin là khoảng 30% (theo số liệu của Ericsson ConsumerLabs) Sự phổ biến rộng này đang chủ yếu sử dụng SMS an toàn (secure SMS payment) làm công cụ cho các giao dịch trao đổi tiền tệ Gần 1/2 số người sử dụng ví di động ở Mỹ sử dụng phương thức P2P để thanh toán cho các dịch vụ giải trí và đặc biệt là chia sẻ chi phí khi ăn uống chung Giao dịch qua điện thoại di động tại Bắc Mỹ năm 2013 có tổng doanh số 37 tỷ USD
1.2 Thị trường thanh toán di động ở Việt Nam
Sự giàu có và sự tăng nhanh của dân số trẻ Việt Nam kéo theo nhu cầu của phân khúc ngân hàng bán lẻ nhưng chưa được khai thác một cách tương xứng Hiện nay, theo KPMG, cho vay doanh nghiệp vẫn là hoạt động chính của các ngân hàng tại Việt Nam và nó chiếm gần một nửa tổng số các khoản vay trong khi chỉ có 28%
là các khoản cho vay cá nhân Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chỉ có 20% dân số ở Việt Nam nắm giữ một tài khoản ngân hàng Điều này cho thấy rằng các
Trang 5ngân hàng còn rất nhiều cơ hội tấn công vào các hoạt động ngân hàng bán lẻ để tăng trưởng các khoản cho vay và tiền gửi của họ ở trong nước
Gần đây, nhiều ngân hàng ở Việt Nam đã bắt đầu tăng sự tập trung của họ vào ngân hàng bán lẻ để hỗ trợ các cá nhân với khoản vay mua nhà, cho vay bất động sản hoặc các khoản vay tự động Các ngân hàng trong nước tìm cách phát triển ngân hàng bán lẻ của họ với việc cung cấp dịch vụ chăm sóc khách hàng chất lượng cao, ngân hàng trực tuyến (Internet Banking), và các dịch vụ thẻ sáng tạo mới
để khuyến khích người tiêu dùng thực hiện thanh toán qua thẻ
Dịch vụ ngân hàng di động phát triển: Để mở rộng sang lĩnh vực bán lẻ, các ngân hàng nhắm vào dân số trẻ Việt Nam – những người có thu nhập ngày càng tăng và sức mua lớn Theo nghiên cứu của McKinsey, thanh niên (21–29 tuổi) dễ dàng chấp nhận các kiểu ngân hàng mới hơn những người Việt lớn tuổi Tính đến tháng 12 năm 2014, có tới 43 ngân hàng tại Việt Nam đã cung cấp dịch vụ ngân hàng trực tuyến và 32 ngân hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng di động (Mobile Banking), trong đó, tổng số tài khoản ngân hàng di động được tạo ra là từ một nửa
số tài khoản của nhóm ngân hàng trực tuyến Với lượng dân số trẻ năng động này,
có rất nhiều cơ hội chưa được khai thác cho thị trường thanh toán di động phục vụ bán lẻ ở Việt Nam
Hình 1.3 Sự phát triển của thị trường thẻ
Sự tăng trưởng của kênh thanh toán thẻ: Sự tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam cũng dẫn đến một sự chuyển đổi từ thanh toán bằng tiền mặt sang thanh toán thẻ
Từ năm 2009 đến 2013, số lượng các giao dịch thẻ tại Việt Nam đã tăng lên rất nhiều gần mức 200% Trong cùng thời gian, số lượng thẻ lưu hành tăng từ
Trang 621.700.000 lên 67.800.000 Dezan Shira & Associates ước tính rằng giá trị giao dịch thẻ sẽ tiếp tục tăng khoảng hơn 50% cho đến 2018 Một trong những yếu tố then chốt trong sự gia tăng thanh toán thẻ là sự phổ biến ngày càng tăng của thương mại điện tử trong nước Các ngân hàng cũng có thể nhìn thấy được để khai thác cơ hội này làm tăng các giao dịch thanh toán thẻ thông qua việc sử dụng công nghệ mới
Thương mại điện tử ở Việt Nam Sự phổ biến ngày càng tăng của thương mại điện tử ở Việt Nam phần lớn là do số lượng người sử dụng Internet trong nước ngày càng tăng Hiện nay, ít nhất 43,5% dân số sử dụng Internet, cao hơn mức trung bình 35% ở khu vực Đông Nam Á theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới
1.3 Mobile Banking – Ngân hàng di động
Mobile Banking (tạm dịch là nghiệp vụ ngân hàng di động hay ngân hàng di động) là thuật ngữ để chỉ những hệ thống cho phép khách hàng của các tổ chức tài chính có thể quản lý và thực hiện các giao dịch tài chính thông qua thiết bị di động như điện thoại di động, máy tính bảng
Đa dạng hóa kênh tiếp cận dịch vụ Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng ở mọi tình huống di động, các ngân hàng phải phát triển dịch vụ cho nhiều kênh tiếp cận, kiểu thiết bị, nhiều loại hệ điều hành,… Trong đó phổ biến là SMS Banking cho phép tra số dư, cảnh báo, tra cứu lịch sử giao dịch thông qua SMS Hiện nay hầu hết các ngân hàng đều phát triển các ứng dụng tải về cho từng loại thiết bị, hệ điều hành nhưng vẫn có ngân hàng tối ưu website của họ để khách hàng có thể thực hiện giao dịch mà không cần cài đặt ứng dụng gì thêm
1.4 Tương lai của thanh toán di động ở Việt Nam
Theo dự báo, năm 2015, doanh số thương mại điện tử ở Việt Nam sẽ đạt hơn
4 tỷ USD Các doanh nghiệp trong và ngoài nước đang chạy đua cạnh tranh thị phần với nhiều chiến lược kinh doanh mới; trong đó, kinh doanh trên ứng dụng điện thoại thông minh được dự báo sẽ diễn ra rất sôi động
Theo công bố mới nhất từ Bộ Công Thương, tỷ lệ dân số Việt Nam truy cập Internet có tham gia mua sắm online là hơn 18 triệu người Điều này cho thấy, tiềm năng kinh doanh thương mại điện tử tại Việt Nam là rất lớn Dự báo trong 5 năm tới, thị phần này sẽ tăng gấp 10 lần so với hiện nay lên 40 tỷ USD
Ở thị trường thanh toán điện tử Việt Nam hiện đang tồn tại cả 4 mô hình thanh toán di động điển hình:
Trang 7- Mô hình ngân hàng làm chủ (Bank Led Model): Thường áp dụng cho các dịch vụ Mobile Banking do ngân hàng làm chủ cung cấp dịch vụ
- Mô hình công ty di động làm chủ (Operator Led Model): Thường áp dụng đối với dịch vụ ví di động do nhà mạng (network operator) làm chủ
- Mô hình công ty bản lẻ làm chủ (Retailer Led Model): Thường áp dụng cho các công ty bản lẻ hoặc bán hàng online lớn
- Mô hình nhà cung cấp dịch vụ độc lập (Independent Service Provider Model): Thường áp dụng cho các công ty làm dịch vụ thanh toán chuyên nghiệp Họ thường không cung cấp dịch vụ hàng hóa dịch vụ khác
Tuy nhiên, với thực trạng tại thị trường Việt Nam và nhu cầu của khách hàng, đặc biệt là đối với khách hàng của cả 4 nhóm nói trên, việc kết hợp lai giữa 4
mô hình trên sẽ tận dụng được nhiều ưu điểm và đem lại lợi ích cho các bên tham gia:
- Ngân hàng tiếp cận được cơ sở khách hàng rộng lớn của Công ty viễn thông để cung cấp các giải pháp thanh toán, hướng khách hàng từ chưa sử dụng đến việc sử dụng các dịch vụ tài khoản ngân hàng
- Công ty viễn thông cung cấp thêm các dịch vụ tài chính gia tăng cho khách hàng được ngân hàng hỗ trợ về các giải pháp tài chính, năng lực quản lý giao dịch và hạn chế rủi ro phát sinh ở mức thấp nhất
- Khách hàng có thêm một kênh thanh toán an toàn, tiện lợi với chi phí rẻ hơn so với loại hình giao dịch ngân hàng truyền thống
- Các nhà cung cấp giải pháp hỗ trợ ngân hàng và các công ty viễn thông trong kết nối hệ thống, xử lý giao dịch và hỗ trợ nghiệp vụ, giảm đầu tư chung của xã hội
Với những số liệu nghiên cứu và xu hướng của thị trường thanh toán tại Việt Nam, thanh toán qua di động được xem là giải pháp quan trọng trong việc thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệm chi phí cho xã hội và góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, một giải pháp có tính tổng thể và định hướng theo đúng thực trạng với mô hình chuẩn tại thị trường Việt Nam là điều mà các bên hợp tác như: viễn thông, ngân hàng, nhà cung cấp giải pháp cần nghiên cứu kỹ lưỡng hơn Ngoài ra, người sử dụng thường lo sợ về tính bảo mật của các dịch vụ liên quan đến thanh toán tiền bạc, đặc biệt là những thanh toán có giá trị lớn Chính
Trang 8vì vậy, việc giải quyết các vấn đề bảo mật, an toàn cho dịch vụ để lấy được lòng tin của khách hàng cũng là một vấn đề cần giải quyết
KẾT LUẬN:
Đưa ra được bức tranh tổng thể về thị trường thanh toán di động trên thế giới
và Việt Nam nói chung
Thị trường thanh toán di động của Việt Nam hiện tại mới chỉ có những bước khởi đầu, tiềm năng còn rất lớn Đặc biệt với xu hướng và định hướng của Chính phủ Việt Nam về “Cách mạng công nghiệp 4.0” thì có thể thấy rằng dịch vụ thanh toán di động ở Việt Nam sẽ phát triển vượt bậc trong tương lai
Nghiên cứu tiềm năng phát triển của thị trường thanh toán di động và khẳng định sự cần thiết phải xây dựng hệ thống thanh toán di động cho VNPT
Trang 9CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG CÁC GIAO DỊCH CHO HỆ
THỐNG VNPT PAY
2.1 Giải pháp công nghệ đáp ứng yêu cầu thanh toán di động
Hiện tại, dịch vụ thanh toán di động thế giới được thực hiện thông qua một
số công nghệ SMS (Short Message Service), USSD (Unstructured Supplementary Service Data), Web, WAP (Wireless Application Protocol), Mobile Web, Full Web, App (Mobile Application), STK (SIM Application Toolkit), IVR (Interactive Voice Response) và POS (Point of Sale) Đối với mỗi cộng nghệ, VNPT PAY xây dựng một giải pháp riêng để cung cấp dịch vụ thanh toán cho khách hàng bao gồm nhưng không giới hạn như:
- Giải pháp thanh toán di động dựa vào SMS
- Giải pháp thanh toán di động dựa vào USSD
- Giải pháp thanh toán di động dựa vào Web và App
- Giải pháp thanh toán di động dựa vào STK
- Giải pháp thanh toán di động dựa vào IVR
- Giải pháp thanh toán di động dựa vào POS
2.2 Xây dựng các giao dịch phi tài chính cho VNPT PAY
Thuật ngữ “Các giao dịch phi tài chính” được dùng trong luận văn được hiểu
là những giao dịch chưa liên quan đến tiền của cá nhân hay tổ chức sử dụng dịch vụ của VNPT PAY Các giao dịch phi tài chính của VNPT PAY bao gồm:
- Đăng ký sử dụng dịch vụ VNPT PAY: cung cấp phương pháp đăng ký dịch vụ của VNPT PAY cho khách hàng những cá nhân hoặc tổ chức
- Cấp phát, thay đổi mật khẩu tài khoản VNPT PAY: cung cấp công cụ cho phép cá nhân hoặc doanh nghiệp nhận hoặc thay đổi mật khẩu tài khoản VNPT PAY
- Tra cứu thông tin tài khoản VNPT PAY: cung cấp công cụ cho phép
cá nhân hoặc doanh nghiệp truy cứu thông tin tài khoản họ đang sở hữu
Mô tả, xây dựng kịch bản của các chức năng hệ thống khi thực hiện các giao dịch phi tài chính bao gồm:
Trang 10- Đăng ký sử dụng dịch vụ VNPT PAY
- Quản lý mật khẩu của VNPT PAY
- Chức năng tra cứu thông tin tài khoản VNPT PAY
2.3 Xây dựng các chức năng giao dịch tài chính cho VNPT PAY
Hệ thống VNPT Pay cung cấp các dịch vụ tiện ích cho khách hàng qua các kênh truy cập SMS, USSD, WAP, Mobile Web, Mobile App, IVR, POS, STK Các đối tượng thanh toán được triển khai trên VNPT Pay chủ yếu thuộc dịch vụ của các ngân hàng, nhà mạng viễn thông của VNPT, và các nhà cung cấp dịch vụ khác như các hãng hàng không, các công ty điện lực, các công ty bảo hiểm, các hãng taxi Các giao dịch tài chính được xây dựng cho VNPT PAY bao gồm: Nạp tiền mặt, rút tiền mặt, nạp tiền vào tài khoản dịch vụ, chuyển khoản trong nội bộ VNPT PAY, chuyển khoản giữa VNPT PAY và ngân hàng, thanh toán hóa đơn, thanh toán thương mại Chi tiết chức năng các giao dịch được thực hiện bao gồm:
- Chức năng nạp tiền mặt
- Chức năng rút tiền mặt
- Chức năng nạp tiền vào tài khoản dịch vụ
- Chuyển khoản trong nội bộ hệ thống VNPT PAY
- Chuyển khoản giữa VNPT PAY và Ngân hàng
- Thanh toán hóa đơn
- Thanh toán thương mại
KẾT LUẬN:
Nội dung của chương này tập trung vào nghiên cứu công nghệ và phương pháp xây dựng một hệ thống payment bao gồm: các thành phần của hệ thống, các chức năng của hệ thống và người dùng; nghiên cứu nghiệp vụ thanh toán của ngân hàng và các công nghệ cơ bản để xây dựng hệ thống Từ đó đề xuất giải pháp kỹ thuật cho Mobile VNPT Pay