1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thuế Giá trị gia tăng được hoàn lại, được giảm và thuế Giá trị gia tăng của hàng bán nội địa

31 461 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thuế Giá Trị Gia Tăng Được Hoàn Lại, Được Giảm Và Thuế Giá Trị Gia Tăng Của Hàng Bán Nội Địa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại Đề Án
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 150 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay, một doanh nghiệp muốn hoạt đông hiệu quả và trở thành người chiến thắng trên thương trường thì doanh nghiệp đó phải biết rõ mình là ai? hoạt động như thế nào? hiệu quả kinh tế và tình hình tài chính ra sao? Để làm được điều đó thì họ phải có trong tay những công cụ quản lý hữu hiệu. Một trong những công cụ đó là các thông tin trên báo cáo tài chính. Sau mỗi chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiêp phải lập báo cáo tài chính nhằm tổng hợp đánh giá một cách khái quát tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn và tình hình tài chính. Trên cơ sở những số liệu phản ánh trên báo cáo tài chính, doanh nghiệp sẽ đánh giá được thực trạng tình hình tài chính của mình đồng thời phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và tìm ra những giải pháp thích hợp để khắc phục cho những kỳ kinh doanh tiếp theo. Báo cáo tài chính không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp mà nó còn là đối tượng quan tâm của các nhà đầu tư, các nhà cho vay, các nhà cung cấp, ngân hàng, người lao động... Mỗi đối tượng quan tâm đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp dưới một góc độ khác nhau. Song tất cả đều có một mục đích chung là nắm được thực trạng của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để dưa ra quyết định cuối cùng của mình.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦUTrong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay, một doanh nghiệpmuốn hoạt đông hiệu quả và trở thành người chiến thắng trên thươngtrường thì doanh nghiệp đó phải biết rõ mình là ai? hoạt động như thếnào? hiệu quả kinh tế và tình hình tài chính ra sao? Để làm được điều đóthì họ phải có trong tay những công cụ quản lý hữu hiệu Một trongnhững công cụ đó là các thông tin trên báo cáo tài chính Sau mỗi chu kỳhoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiêp phải lập báo cáo tàichính nhằm tổng hợp đánh giá một cách khái quát tình hình tài sản, công

nợ, nguồn vốn và tình hình tài chính Trên cơ sở những số liệu phản ánhtrên báo cáo tài chính, doanh nghiệp sẽ đánh giá được thực trạng tìnhhình tài chính của mình đồng thời phân tích những nhân tố ảnh hưởng tớiquá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và tìm ra những giải pháp thíchhợp để khắc phục cho những kỳ kinh doanh tiếp theo Báo cáo tài chínhkhông chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp mà nó còn là đốitượng quan tâm của các nhà đầu tư, các nhà cho vay, các nhà cung cấp,ngân hàng, người lao động Mỗi đối tượng quan tâm đến báo cáo tàichính của doanh nghiệp dưới một góc độ khác nhau Song tất cả đều cómột mục đích chung là nắm được thực trạng của hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp để dưa ra quyết định cuối cùng của mình

Tuy nhiên, các thông tin trên báo cáo tài chính chỉ thực sự có ýnghĩa khi nó phản ánh chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp Vìvậy, việc kiểm tra báo cáo tài chính là công việc cần thiết đầu tiên để đảmbảo cơ sở pháp lý cho việc xét duyệt báo cáo quyết toán, đồng thời tạoniềm tin cho người sử dụng báo cáo tài chính Về thực chất, kiểm tra báocáo tài chính bao gồm những phương pháp phân tích, khảo sát, so sánhđối chiếu một cách có hệ thống các thông tin, dữ liệu qua các tài liệu, báocáo và sổ sách kế toán nhằm phát hiện và sửa chữa những sai lầm, bảo

Trang 2

Có thể nói, so với hệ thống báo cáo tài chính áp dụng trong cácdoanh nghiêp trước đây, hệ thống báo cáo tài chính hiện hành là mộtbước đột phá căn bản Hệ thống biểu mẫu đã được xây dựng trên cơ sởcác nguyên tắc và chuẩn mực kế toán quốc tế Số lượng báo cáo kế toángiảm đáng kể, việc lâp và xét duyệt đơn giản ít tốn kém về thời gian tuynhiên hệ thống báo cáo tài chính hiện hành vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh,biểu mẫu vẫn còn quá cồng kềnh, phức tạp, chưa thực sự phù hợp vớitrình độ quản lý của Việt Nam.Trong phạm vi đề án này, em xin đi sâuvào việc lập và kiểm tra báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Trang 3

Phần I: Cơ sở lý luận về báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính không chỉ là đối tượng nghiên cứu của kế toán tàichính mà còn là đối tượng nghiên cứu của khoa học phân tích hoat độngkinh doanh Để tiến hành phân tích tình hình tài chính, người phân tíchphải sử dụng rất nhiều tài liệu khác nhau, trong đó chủ yếu là các báo cáotài chính Báo cáo tài chính là nguồn thông tin hữu ích đối với việc quảntrị doanh nghiệp và cũng là nguồn thông tin quý giá đối với người ngoàidoanh nghiệp báo cáo tài chính không những cho biết tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp tại một thời điểm mà còn cho biết những kết quả màdoanh nghiệp đó đạt được trong một kỳ kinh doanh Thông qua việc phântích tình hình tài chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềmnăng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai Bởivậy, việc phân tích tình hình tài chính là mối quan tâm của nhiều nhómngười khác nhau Mục đích quan trọng nhất của phân tích báo cáo tàichính là giúp những người sử dụng thông tin tài chính đưa ra quyết địnhtối ưu

Tuy nhiên, đối với môn học “kế toán công trong các đơn vị hànhchính sự nghiệp” thì báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp thôngtin về tình hình tài sản, tình hình cấp phát, tiếp nhận ngân sách của nhànước, kinh phí viện trợ và tình hình sử dụng từng loại kinh phí Ngoài ra,các đơn vị sự nghiệp kinh tế và các đơn vị có tiến hành hoạt động kinhdoanh còn phải tổng hợp tình hình thu chi và kết quả của từng hoạt động

sự nghiệp, hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán Nói cách khác, báo cáotài chính là những phương tiện trình bày việc tiếp nhận và sử dụng kinhphí cũng như khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của đơn vị chonhững người quan tâm

Bên cạnh đó, báo cáo tài chính còn cung cấp các thông tin kinh tế

Trang 4

nguồn kinh phí, cung cấp thông tin cho việc quản lí tài sản của nhà nước,tổng hợp, phân tích, đánh giá các hoạt động của mỗi đơn vị nói riêng vàtoàn xã hội nói chung Từ đó, chính phủ có cơ sở để khai thác các nguồnthu, điều chỉnh các khoản chi một cách hợp lý đồng thời định ra đường lốiphát triển xã hội lành mạnh và đúng đắn Đối với các đơn vị cơ sở, báocáo tài chính là nguồn thông tin đáng tin cậy, là cơ sở cho việc lập kếhoạch kinh phí cho mỗi kỳ hoạt đông một cách hợp lý Ngoài ra nó còngiúp cho các đơn vị phân tích được xu hướng phát triển, từ đó định rachiến lược phát triển và biện pháp quản lý tài chính ở đơn vị.

Tuy nhiên, chúng ta hãy cùng xem xét báo cáo tài chính dưới giác

độ là đối tượng nghiên cứu của kế toán tài chính

I Khái quát chung về hệ thống báo cáo tài chính.

1.Khái niệm, nội dung, bản chất của báo cáo tài chính

Báo cáo kế toán là kết quả của công tác kế toán trong một kỳ kếtoán Nó cung cấp thông tin một cách toàn diện về tình hình tài sản,nguồn vốn cũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ kếtoán đó Báo cáo kế toán là nguồn thông tin quan trọng không chỉ chodoanh nghiệp mà còn cho nhiều đối tượng khác ở bên ngoài có quyền lợitrực tiếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động của doanh nghiệp trong đó cócác cơ quan chức năng của nhà nước Báo cáo kế toán của doanh nghiệpđược phân thành báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị

Báo cáo tài chính là một phân hệ thuộc báo cáo kế toán cung cấpthông tin về tài sản, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động của doanhnghiệp để phục vụ cho yêu cầu quản lý của doanh nghiệp cũng như củacác đối tượng khác ở bên ngoài nhưng chủ yếu là phục vụ cho các đốitượng ở bên ngoài Báo cáo tài chính là báo cáo bắt buộc được nhà nướcthống nhất về danh mục các báo cáo, biểu mẫu, hệ thống chỉ tiêu, phươngpháp lập, nơi gửi báo cáo, thời gian gửi các báo cáo Báo cáo tài chính

Trang 5

- Bảng cân đối kế toán.

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

- Thuyết minh báo cáo tài chính

* Bảng cân đối kế toán: là báo cáo kế toán chủ yếu phản ánh tổng quáttình hình tài sản, nguồn vốn chủ yếu của doanh nghiệp tại một thời điểmnhất định dưới hình thái tiền tệ

Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện cócủa doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản: nguồn vốn và cơ cấu nguồnvốn hình thành các tài sản đó Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thểnhận xét đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp

* Báo cáo kết quả kinh doanh: là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánhkhái quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của doanhnghiệp, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước về thuế và cáckhoản phải nộp khác

Báo cáo kết quả kinh doanh gồm 3 phần chính:

+ Phần I: Báo cáo lãi lỗ

+ Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước.+ Phần III: Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuếGTGT được giảm, thuế GTGT hàng bán nội địa

* Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: là báo cáo tài chính tổng hợp và phản ánhviệc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh theo các hoạt động khácnhau

* Thuyết minh báo cáo tài chính: là một bộ phận hợp thành hệ thống báocáo tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích và bổ sung thôngtin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính củadoanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo tài chính khác không thểtrình bày rõ ràng, chi tiết được Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày

Trang 6

kế toán được doanh nghiệp chọn để áp dụng, tình hình và lý do biến độngcủa một số đối tượng tài sản và nguồn vốn quan trọng, phân tích một sốchỉ tiêu tài chính chủ yếu và các kiến nghị của doanh nghiệp.

2 - Mục đích, ý nghĩa của báo cáo tài chính:

- Sau mỗi chu kỳ hoạt động sản suất kinh doanh, các doanh nghiệp lậpbáo cáo tài chính nhằm tổng hợp, đánh giá một cách khái quát tình hìnhtài sản, công nợ, nguồn vốn và tình hình tài chính của doanh nghiệp

- Báo cáo tài chính không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với chủ doanhnghiệp mà còn là nguồn thông tin chính đối với các chủ ngân hàng, cácnhà đầu tư, nhà cung cấp

Mỗi nhóm người có nhu cầu thông tin khác nhau do vậy họ có xu hướngtập trung vào những khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của doanhnghiệp

+ Đối với chủ doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là kinhdoanh có lãi và thanh toán được những khoản nợ đến hạn Vì một doanhnghiệp nếu lỗ liên tục trong nhiều năm thì rốt cuộc cũng sẽ khánh kiệt vàtất yếu dãan tới phá sản Ngược lại, dú doanh nghiệp đó kinh doanh có lãi

mà không thanh toán kịp các khoản nợ đến hạn thì cũng sẽ bị đóng cửa.Không những thế, các chủ doanh nghiệp còn phải giải quyết các vấn đề

về nâng cao chất lượng sản phẩm, cung cấp hàng hoá với chi phí thấp,giải quyết công ăn việc làm cho công nhân Như vậy, hơn ai hết, chínhnhững người chủ doanh nghiệp cần phải nắm rõ các thông tin để có thểđánh giá thực trạng tình hình tài chính của mình, xem xét khả năng thanhtoán, khả năng sinh lời, đánh giá những rủi ro có thể xảy ra trong quátrình hoạt động và dự đoán tình hình tài chính nhằm đề ra quyết địnhđúng đắn

+ Đối với các chủ ngân hàng, những người cho vay tín dụng thì mối quantâm của họ là khả năng trả nợ của doanh nghiệp Không có một chủ ngân

Trang 7

tiền của họ sẽ được thanh toán khi đến hạn Vì vậy, họ đặc biệt chú trọngtới lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền Đồngthời, so sánh với số nợ ngắn hạn họ sẽ xác định được khả năng thanh toántức thời của doanh nghiệp Như vậy, các thông tin trên báo cáo tài chính

đã giúp những người cho vay tín dụng, các chủ ngân hàng đưa ra quyếtđịnh liệu có nên cho doanh nghiệp vay tiền hay không

+ Đối với nhà cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hoá, dịch vụ họ phải đánhgiá khẳ năng tài chính của khách hàng để quyết định xem liệu có chophép khách hàng được thanh toán chậm hay không

+ Đối với các nhà đầu tư, điều mà họ quan tâm là liệu số tiền họ đầu tưvào doanh nghiệp có đem lại cho họ thu nhập không Vì vậy, các nhà đầu

tư rất quan tâm tí khả năng điều hành hoạt động của các nhà quản trị, tínhhiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh các kỳ trước Những điều đó

sẽ giúp các nhà đầu tư tránh được rủi ro đồng thời phát huy hiệu quả củađồng vốn mà mình bỏ ra

+ Đối với các cơ quan chủ quản tài chính, cơ quan thuế, cục thống kê, báocáo tài chính của doanh nghiệp là tài liệu quan trọng trong việc kiểm tra,giám sát, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện các chính sách, chế độ, thể

lệ về tài chính kế toán

Có thể nói, báo cáo tài chính là một công cụ quan trọng trong quản

lý kinh tế của các doanh nghiệp, các ngành và toàn bộ nền kinh tế quốcdân

3 - Tiêu chuẩn của thông tin trên báo cáo tài chính:

Để thông tin trên báo cáo tài chính thực sự hữu ích thì báo cáo tàichính phải đạt được các tiêu chuẩn sau:

- Tính dễ hiểu: đây là đặc tính chủ yếu của thông tin trên báo cáo tàichính Người sử dụng báo cáo tài chính đều là những người có kiến thức

về kinh doanh và hoạt động kinh tế Tuy nhiên, những thông tin về các

Trang 8

vấn đề phức tạp được trình bày trên báo cáo tài chính phải rõ ràng, tránhlẫn lộn khó hiểu.

- Tính thích hợp: các thông tin phải thích hợp với những nhu cầu đề raquyết định kinh tế của người sử dụng Các thông tin chỉ thích hợp khichúng giúp người sử dụng đánh giá được các sự kiện quá khứ, hiện tại,tương lai hoặc chỉnh lý xác nhận các đánh giá trong quá khứ của họ Tínhthích hợp của thông tin còn chịu ảnh hưởng bởi tính trọng yếu của thôngtin đó Các thông tin được coi là trọng yếu nếu bỏ sót hoặc xác định sainhững thông tin đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyết định kinh tếcủa người sử dụng thông tin

- Tính đáng tin cậy: thông tin có chất lượng đáng tin cậy khi chúng khôngmắc những sai lầm nghiêm trọng hoặc phản ánh méo mó một cách cố ý

Để đảm bảo tính đáng tin cậy, thông tin trên báo cáo tài chính phải thoảmãn những tính chất sau:

+ Trình bày trung thực: cấc thông tin phải được trình bày một cách trungthực về những giao dịch và các sự kiện khác có liên quan

+ Khách quan: các thông tin trên báo cáo tài chính phải khách quan,không bị xuyên tạc, bóp méo Các báo cáo tài chính sẽ không được coi làkhách quan nếu như bằng việc lựa chọn hoặc trình bày chúng có ảnhhưởng đến việc ra quyết định

+ Thận trọng: Người lập báo cáo tài chính thường phải trình bày các nộidung về nhiều sự kiện, tình thế không chắc chắn Ví dụ như khả năng thuhồi các khoản nợ khó đòi, đánh giá thời gian sử dụng của thiết bị máymóc Các yếu tố đó cần được trình bày một cách thận trọng Thận trọngbao gồm cả mức độ lường trước các sự kiện cần xét đoán trong quá trìnhhạch toán trên cơ sở những dữ liệu không thật chắc chắn

+ Đầy đủ: các thông tin phải được phản ánh đầy đủ trong phạm vi củatính trọng yếu Các thông tin sẽ không được coi là tin cậy nếu có sự bỏ

Trang 9

sót dẫn đến sai lệch về bản chất của thông tin, ảnh hưởng đến việc raquyết định của người sử dụng báo cáo tài chính.

- Tính so sánh được: những người sử dụng thông tin phải có khả năng sosánh các thông tin trên báo cáo tài chính giữa các kỳ với nhau để phântích xu hướng phát triển của doanh nghiệp Ngoài ra, người sử dụng báocáo tài chính còn phải so sánh số liệu giữa các doanh nghiệp với nhau đểđánh giá mối tương quan về tình hình tài chính, kinh doanh và sự biếnđộng của chúng giữa các doanh nghiệp Vì vậy việc xây dựng, tính toán

và trình bày các sự kiện kinh tế lên báo cáo tài chính phải được tiến hànhmột cách nhất quán giữa các kỳ trong phạm vi một doanh nghiệp và giữacác doanh nghiệp với nhau

4 - Trách nhiệm, thời hạn lập và gửi báo cáo tài chính:

- Tất cả các doanh nghiệp hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân đềuphải lập và nộp báo cáo tài chính theo quy định của bộ tài chính Riêngđối với báo cáo lưu chuyển tiền tệ, tạm thời chưa bắt buộc phải lập và gửinhưng khuyến khích các doanh nghiệp lập và sử dụng báo cáo này

- Báo cáo tài chính được lập và gửi vào cuối mỗi quý để phản ánh hoạtđộng sản xuất kinh doanh đã diễn ra trong quý đó

- Báo cáo tài chính được gửi đi chậm nhất là sau 15 ngày kể từ ngày lậpbáo cáo tài chính quý và sau 30 ngày đối với báo cáo tài chính năm

- Các doanh nghiệp đều phải gửi báo cáo tài chính tới cơ quan thuế vàthống kê Riêng đối với doanh nghiệp nhà nước, báo cáo tài chính cònđược gửi tới cơ quan tài chính còn doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài phải gửi báo cáo tới bộ kế hoạch và đầu tư

II - Phương pháp lập báo cáo kết quả kinh doanh:

1 - Phần 1: Lãi, lỗ

- Cột “ kỳ trước “ lấy số liệu từ cột “ kỳ này “ của Báo cáo hoạt động kinhdoanh lập ở kỳ trước

Trang 10

- Cột “ kỳ này “ lấy số liệu từ các tài khoản tổng hợp và chi tiết thuộc loại

V, VI, VII, VIII, IX và tài khoản 421, 3334 thuộc kỳ này để ghi

* Tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: số liệu ghi vào chỉ tiêunày là tổng phát sinh bên có tài khoản 521 “ Doanh thu bán hàng nội bộ “

* Các khoản giảm trừ: phản ánh tổng hợp các khoản giảm trừ vào tổngdoanh thu kỳ báo cáo gồm chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán,hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế Giá trị giatăng ( đối với Doanh nghiệp

+ Chiết khấu thương mại là số luỹ kế phát sinh Có tài khoản 521 “Chiếtkhấu bán hàng” trong kỳ báo cáo

+ Giảm giá hàng bán lấy số phát sinh Có của tài khoản 532

+ Giá trị hàng bán bị trả lại: phản ánh tổng số giảm giá hàng bán theochính sách bán hàng của Doanh nghiệp Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là

số luỹ kế phát sinh Có của tài khoản 581

+ Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp: Số liệu để ghi vào chỉtiêu này là tổng luỹ kế phát sinh Có của tài khoản 3332, 3333

* Doanh thu thuần: chỉ tiêu phản ánh số doanh thu bán hàng hoá thànhphẩm sau khi đã trừ các khoản giảm trừ

* Giá vốn hàng bán: chỉ tiêu này phản ánh tổng giá trị của hàng hoá, giáthành sản xuất của thành phẩm Số liệu để ghi vào chỉ tiêu vào chỉ tiêunày là luỹ kế số phát sinh Có tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán”

* Lợi nhuận gộp về hàng bán và cung cấp dịch vụ: chỉ tiêu này phản ánh

số chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn

* Doanh thu hoạt động tài chính: chỉ tiêu này phản ánh các khoản thu từhoạt động tài chính trong kỳ kế toán Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là luỹ

kế phát sinh Nợ tài khoản 711

* Chi phí tài chính: số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là phần phát sinh Có tàikhoản 811

Trang 11

* Chi phí bán hàng: chỉ tiêu này phản ánh tổng chi phí bán hàng phân bổcho thành phẩm, hàng hoá đã bán trong kỳ Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này

là tổng phát sinh tài khoản 641 “Chi phí bán hàng” với phát sinh Có tàikhoản 1422 chi tiết phần chi phí bán hàng đối ứng với nợ tài khoản 911

* Tổng chi phí quản lý doanh nghiêp: Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này làtổng cộng số phát sinh Có tài khoản 642 với phát sinh Có tài khoản 1422chi tiết phần chi phí quản lý Doanh nghiệp đối ứng nợ tài khoản 911

* Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh: chỉ tiêu này được tính toántrên cơ sở lợi tức gộp trừ đi chi phí bán hàng và chi phí quản lý phân bổcho hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ báo cáo

* Thu nhập khác: Chỉ tiêu này phản ánh các khoản thu nhập bất thườngngoài hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính phát sinh trong kỳ báocáo Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là phát sinh nợ tài khoản 721 đối ứngbên Có tài khoản 911

* Chi phí khác: Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là phát sinh Có tài khoản821

* Lợi nhuận khác: Chỉ tiêu này phản ánh chênh lệch giữa khoản thu nhậpbất thường với chi phí bất thường

* Tổng lợi nhuận trước thuế: chỉ tiêu này phản ánh tổng số lợi nhuậntrước khi trừ thuế thu nhập từ hoạt động kinh doanh và các hoạt động bấtthường khác

* Thuế thu nhập: Phản ánh số thuế mà Doanh nghiệp phải nộp tính trênlợi nhuận chịu thuế Chỉ tiêu này căn cứ và phát sinh Có tài khoản 3334đối ứng bên Nợ tài khoản 421

* Lợi nhuận sau thuế: là phần giá trị còn lại của tổng lợi nhuận thuần từhoạt động của Doanh nghiệp sau khi trừ đi thuế thu nhập Doanh nghiệpphải nộp phát sinh kỳ báo cáo

2 - Phần 2: Tình hình thực hiện nghĩa vụ của Nhà nước.

Trang 12

Phần này gồm các chỉ tiêu về thuế và các khoản phải nộp khác mà Doanhnghiệp phải nộp, đã nộp và còn phải nộp đến cuối kỳ.

Mục I: Thuế là chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh tổng số tiền thuế phải nộp đãnộp và còn phải nộp theo từng loại thuế sau:

1 Thuế Giá trị gia tăng

+ Thuế Giá trị gia tăng hàng nội địa căn cứ vào số phát sinh bên Nợ, Cótài khoản 33311

+ Thuế Giá trị gia tăng hàng nội địa căn cứ vào số phát sinh bên Nợ, Cótài khoản 33312

2 Thuế tiêu thụ đặc biệt căn cứ vào số phát sinh tài khoản 3332

3 Thuế xuất nhập khẩu căn cứ vào số phát sinh tài khoản 3333

4 Thuế thu nhập Doanh nghiệp số phát sinh Nợ tài khoản 3334 để ghivào cột 5, số phát sinh bên Có tài khoản 3334 để ghi vào cột 4

5 Thu trên vốn căn cứ vào số phát sinh Nợ, Có tài khoản 335

6 Thuế tài nguyên căn cứ vào số phát sinh Có tài khoản 3336

7 Thuế nhà đất căn cứ số phát sinh Nợ và Có tài khoản 3337

8 Tiền thuê đất căn cứ số phát sinh Nợ và Có tài khoản 3337 chi tiết

9 Các loại thuế khác căn cứ số phát sinh Nợ và Có tài khoản 3338.Mục II: Các khoản phải nộp khác

Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các khoản phải nộp, đã nộp, còn phải nộp

về các khoản khác theo quy định của Nhà nước, chi tiết theo các khoảnsau:

Trang 13

Tổng số thuế phải nộp khác năm trước chuyển sang kỳ này: là chỉ tiêuphản ánh số thuế phải nộp của năm trước đến đầu kỳ báo cáo vẫn chưanộp trong đó chi tiết riêng cho chỉ tiêu thuế thu nhập Doanh nghiệp.

3 - Phần III: Thuế Giá trị gia tăng được trừ, thuế Giá trị gia tăng được hoàn lại, thuế Giá trị gia tăng được miễn giảm, thuế Giá trị gia tăng hàng bán nội địa.

a - Mục I: Thuế Giá trị gia tăng được khấu trừ:

Chỉ tiêu 1: Số thuế Giá trị gia tăng còn được khấu trừ còn được hoànlạiđầu kỳ: ssó liệu để ghi vào chỉ tiêu này được căn cứ vào số dư Nợ điềukhoản của tài khoản 133

Chỉ tiêu 2: Số thuế Giá trị gia tăng được khấu trừ phát sinh: căn cứ vào sốphát sinh bên nợ tài khoản 133 để xác định số thuế Giá trị gia tăng đượckhấu trừ trong kỳ báo cáo

Chỉ tiêu 3: Số thuế Giá trị gia tăng đã khấu trừ, đã hoàn lại, thuế Giá trịgia tăng hàng mua trả lại và không được khấu trừ trong kỳ Số liệu ghivào chỉ tiêu này căn cứ vào số phát sinh bên Có tài khoản 133

Trong đó:

* Số thuế Giá trị gia tăng đã khấu trừ căn cứ vào số phát sinh bên Có tàikhoản 133 đối ứng Nợ tài khoản 33311

* Số thuế Giá trị gia tăng đã hoàn lại dựa vào Sổ kế toán chi tiết tài khoản

133, chi tiết thuế Giá trị gia tăng hoàn lại, phần phát sinh bên có tài khoản

133 đối ứng Nợ tài khoản 111, 112

* Số thuế Giá trị gia tăng hàng mua trả lại, giảm giá hàng mua số liệu ghivào chỉ tiêu này căn cứ vào số phát sinh bên Có tài khoản 133 đối ứng Nợtài khoản 1111, 112, 331

* Số thuế Giá trị gia tăng không được khấu trừ: căn cứ vào số phát sinh

Có tài khoản 133 đối ứng Nợ tài khoản 142,632

Chỉ tiêu 4: Số thuế Giá trị gia tăng còn được khấu trừ còn được hoàn lại

Trang 14

b - Mục II: Thuế giá trị gia tăng được hoàn lại.

- Số thuế Giá trị gia tăng còn được hoàn lại đầu kỳ: căn cứ vào chỉ tiêu

mã số 2 - 3 của Báo cáo kết quả kinh doanh - P3 kỳ trước

- Số thuế Giá trị gia tăng được hoàn lại phát sinh dựa vào thông báo đượchoàn thuế trong kỳ hoặc căn cứ vào Sổ kê toán chi tiết thuế Giá trị giatăng được hoàn lại

- Số thuế Giá trị gia tăng đã hoàn lại: căn cứ vào Sổ kế toán chi tiết tàikhoản 133, chi tiết phần thuế Giá trị gia tăng đã hoàn lại, phần phát sinh

Có tài khoản 133 đối ứng với bên Nợ tài khoản 111,112 hoặc căn cứ vào

sổ kế toán chi tiết thuế Giá trị gia tăng được hoàn lại

c - Mục III: Thuế Giá trị gia tăng được giảm:

- Số thuế Giá trị gia tăng được giảm đầu kỳ: căn cứ số liệu ghi trong sổchi tiết thuế Giá trị gia tăng được giảm

- Số thuế Giá trị gia tăng được giảm phát sinh: căn cứ vào sổ kế toán chitiết thuế Giá trị gia tăng được miễn giảm

- Số thuế Giá trị gia tăng được giảm : căn cứ vào sổ kế toán chi tiết thuếGiá trị gia tăng được giảm hoặc căn cứ vào số phát sinh Nợ tài khoản

13331 đối ứng với bên có tài khoản 721 hoặc số phát sinh Nợ tài khoản

111, 112 đối ứng bên Có tài khoản 721

- Số thuế Giá trị gia tăng còn được giảm cuối kỳ: căn cứ vào sổ kế toánchi tiết thuế Giá trị gia tăng được giảm

d - Mục 4: Thuế Giá trị gia tăng hàng bán nội địa

- Thuế Giá trị gia tăng hàng bán nội địa còn phải nộp đầu kỳ: số dư Cócuối kỳ trước tài khoản 33311

- Thuế Giá trị gia tăng đầu ra phát sinh: phản ánh toàn bộ số thuế Giá trịđầu ra của hàng bán nội bộ đã phát sinh trong kỳ luỹ kế đến cuôí kỳ Sốliệu ở chỉ tiêu này là số phát sinh Có tài khoản 33311

- Thuế Giá trị gia tăng đầu vào đã khấu trừ là số phát sinh có tài khoản

Trang 15

- Thuế Giá trị gia tăng hàng bán bị trả lại, bị giảm giá là số phát sinh Cótài khoản 111, 112, 131 đối ứng nợ tài khoản 33311.

- Thuế Giá trị gia tăng được giảm trừ vào số thuế phải nộp là số phát sinh

Có tài khoản 721 đối ứng Nợ tài khoản 33311

- Thuế Giá trị gia tăng hàng bán nội địa đã nộp vào ngân sách nhà nước là

số phát sinh có tài khoản 111, 112 đối ứng nợ tài khoản 33311 chi tiếtthuế giá trị gia tăng đã nộp ngân sách trong kỳ

- Thuế Giá trị gia tăng hàng bán nội địa còn phải nộp cuối kỳ: chỉ tiêu nàycăn cứ vào số dư có tài khoản 33311

Như vậy, so với hệ thống báo cáo tài chính của các nước phát triển nhưPháp và Mỹ thì hệ thống báo cáo taì chính của chúng ta có rất nhiều điểmkhác biệt

ở Mỹ, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được gọi là báo cáo thu nhậpđược lập theo mẫu sau:

Lợi nhuận trước thuế

Thuế thu nhập Doanh nghiệp

Lợi nhuận sau thuế

Lãi ( lỗ ) đặc biệt

Lợi nhuận giữ lại

Ngày đăng: 31/07/2013, 10:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w