ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG VÕ NHƯ TÙNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN – Đ N CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM Y T TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KH
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
VÕ NHƯ TÙNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN – Đ N CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM Y T TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.03.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 15
Trang 2Công trình đƣợc hoàn thành tại ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Đoàn Thị Ngọc Trai
Phản biện 1: TS Đoàn Ngọc Phi Anh
Phản biện 2: TS Hồ Văn Nhàn
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản trị kinh doanh họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 19 tháng 12 năm 2015
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm toán là một chủ đề nghiên cứu rộng và được nhiều đối tượng quan tâm vì tính chất vô cùng quan trọng của vấn đề này đối với nhiều đối tượng, bao gồm: nhà đầu tư, các tổ chức tài chính, ngân hàng, các cơ quan chính phủ… Kiểm toán quan trọng vì nó là cách thức hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề đại diện giữa quyền sở hữu
và quản lý doanh nghiệp, phát sinh từ sự bất đối xứng thông tin và xung đột lợi ích giữa hai đối tượng trên Trong các nội dung rộng lớn của kiểm toán thì chất lượng kiểm toán là một vấn đề phức tạp, khó khăn để xác định và đo lường một cách chính xác và hiệu quả Nghiên cứu chất lượng kiểm toán có ý nghĩa quan trọng không chỉ đánh giá xem các ý kiến kiểm toán chính xác có được ban hành hay không mà còn xem xét xem liệu hoạt động kiểm toán được tiến hành
có nhằm hướng tới mục đích giải quyết các vấn đề đại điện giữa người sở hữu và người quản lý doanh nghiệp hay không
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ năm 2007 với cuộc khủng hoảng nhà đất tại Mỹ và lan rộng ra toàn cầu, tác động nghiêm trọng tới mọi tổ chức, doanh nghiệp, định chế tài chính, kinh
tế khác nhau, gây nên cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu Khủng hoảng tài chính toàn cầu cùng với sự đổ vỡ của các công ty dẫn đến khủng hoảng đã làm gia tăng mức độ chỉ trích chất lượng kiểm toán
và gia tăng áp lực nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán Việt Nam với đặc thù là một nền kinh tế non trẻ, đang phát triển và hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới đã chịu những ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng tài chính đối với mọi mặt của nền kinh tế Khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng đặt ra những áp lực to lớn tương tự đối với kiểm toán viên, công ty kiểm toán trong việc duy trì chất lượng
Trang 4kiểm toán trong bối cảnh khó khăn tác động chung tới các doanh nghiệp tại Việt Nam Câu hỏi được đặt ra rằng liệu các công ty kiểm toán, các kiểm toán viên tại Việt Nam ứng xử như thế nào trong khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán tại Việt Nam
Từ những vấn đề nêu trên, nhận thấy thực tiễn cần có một nghiên cứu về chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong khủng hoảng tài chính, tác giả xin được thực hiện nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – đ n chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm y t trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của nghiên cứu là nghiên cứu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Mục tiêu khác của nghiên cứu liên quan đến vấn đề đại diện đó
là nghiên cứu nhằm làm rõ xem liệu kiểm toán có thực hiện được vai trò của mình trong việc giải quyết vấn đề đại diện trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu hay không
3 Câu hỏi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đã nêu dẫn đến câu hỏi nghiên cứu của đề
tài là: “ Chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm y t
trên thị trường chứng khoán Việt Nam bị ảnh hưởng như th nào bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu?”
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính
Trang 5Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện đối với kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (ngoại trừ các công ty thuộc nhóm tài chính – ngân hàng) + Về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện dựa trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2009
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đi theo hướng tiếp cận thực chứng bằng cách sử dụng
mô hình hồi quy tuyến tính đa biến nhằm chứng minh giả thuyết nghiên cứu Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện bằng việc đưa ra giả thuyết nghiên cứu, sau đó tiến hành thu thập số liệu báo cáo tài chính sau kiểm toán, báo cáo kiểm toán trong phạm vi đối tượng và thời gian nghiên cứu Tiếp theo, tác giả tiến hành tính toán các dữ liệu thu thập được và phân tích, mô tả mối quan hệ giữa các đối tượng trong
mô hình nghiên cứu dựa trên cơ sở dữ liệu tính toán, thu thập được Kết quả phân tích, mô tả này sẽ được sử dụng để đưa ra kết luận về
giả thuyết nghiên cứu
6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm giúp các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính tại Việt Nam, bao gồm: Nhà đầu tư, cơ quan nhà nước, các tổ chức tài chính, ngân hàng … nhận rõ được tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp qua đó có những biện pháp phù hợp khi mà khủng hoảng được nghiên cứu rằng mang tính chu kỳ
Ngoài ra, nghiên cứu cũng cung cấp một cơ sở thực tiễn về vấn
đề đại diện trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu
Trang 67 Cấu trúc luận văn
Cấu trúc luận văn bao gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chất lượng kiểm toán và đo lường chất lượng kiểm toán
- Chương 2: Giả thuyết và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Phân tích và trình bày kết quả
- Chương 4: Kết luận từ kết quả nghiên cứu và một số kiến nghị nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 7Có nhiều đối tượng sử dụng thông tin, do đó kiểm toán nhằm phục vụ cho các loại đối tượng này cũng được chia thành nhiều loại khác nhau Nghiên cứu này tập trung vào đối tượng chính đó là kiểm toán báo cáo tài chính được thực hiện bởi các kiểm toán viên độc lập
1.2 CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
1.2.1 Định nghĩa chất lượng kiểm toán
Defond và Zhang (2013) định nghĩa chất lượng kiểm toán là sự phản ánh liên kết giữa kiểm toán với chất lượng báo cáo tài chính, hệ thống kế toán tài chính và các đặc điểm vốn có của khách hàng và chất lượng kiểm toán cao hơn là một sự đảm bảo cao hơn rằng báo cáo tài chính đã kiểm toán phản ánh thực tế tình hình hoạt động kinh
tế, hệ thống kế toán tài chính, đặc điểm vốn có của công ty
Francis (2011), Svanstrom (2013), Defond và Zhang (2013) xem chất lượng kiểm toán như một sự biến đổi liên tục
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán
a Phí kiểm toán
b Dịch vụ phi kiểm toán
Trang 8c Khuôn khổ pháp lý
d Văn phòng thực hiện kiểm toán
e Nhiệm kỳ kiểm toán
f Nhiệm kỳ đối tác kiểm toán
g Tính độc lập của kiểm toán viên
h Quy mô khách hàng
i Các yếu tố khác
Các yếu tố khác được nghiên cứu cho rằng ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán bao gồm: Mức độ tăng trưởng của công ty, quỹ thời gian kiểm toán, năng lực và khả năng phán đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên…
1.2.3 Mối quan hệ giữa chất lƣợng kiểm toán và chất lƣợng báo cáo tài chính
a Mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và chất lượng báo cáo tài chính
Chất lượng kiểm toán là một phần của chất lượng báo cáo tài chính (trong nghiên cứu này tác giả ngầm định báo cáo tài chính là báo cáo tài chính sau kiểm toán) vì chất lượng kiểm toán làm tăng chất lượng báo cáo tài chính (Defond và Zhang, 2013) Tuy nhiên chất lượng kiểm toán không phải là thành phần duy nhất của chất lượng báo cáo tài chính, chất lượng báo cáo tài chính còn bị ảnh hưởng bởi chất lượng báo cáo tài chính trước kiểm toán được quyết định bởi hệ thống báo cáo tài chính hay hệ thống thông tin tài chính của công ty Chất lượng kiểm toán có thể được suy ra từ chất lượng lợi nhuận, chất lượng kiểm toán cao hơn là sự giảm bớt mức độ điều chỉnh lợi nhuận và gia tăng tính thông tin của báo cáo tài chính
Trang 9b Chất lượng lợi nhuận
Chất lượng lợi nhuận có được khi báo cáo lợi nhuận đảm bảo cung cấp thông tin trung thực về chỉ tiêu lợi nhuận cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Quản trị lợi nhuận liên quan chặt chẽ đến việc điều chỉnh mức độ dồn tích kế toán và các nhà quản lý thường điều chỉnh mức độ dồn tích kế toán để đạt hay vượt mục tiêu lợi nhuận đề ra Quản trị lợi nhuận được nhiều nghiên cứu cho rằng
là một cách thức logic để đo lường cho chất lượng lợi nhuận
1.2.4 Đo lường chất lượng kiểm toán
Các nghiên cứu trước đây về chất lượng kiểm toán sử dụng nhiều biến quan sát khác nhau để đo lường chất lượng kiểm toán Phần dưới đây trình bày các quan sát đại diện để đo lường chất lượng kiểm toán Các quan sát đại diện này được chia làm hai loại là đo lường dựa vào yếu tố đầu vào và đo lường dựa vào yếu tố đầu ra
a Phép đo dựa vào yếu tố đầu vào
Đo lường dựa vào các yếu tố đầu vào được sử dụng cho các nghiên cứu chú ý đến yếu tố đầu vào của kiểm toán Nhưng vì đầu vào kiểm toán không đảm bảo rằng chúng tương ứng với kết quả kiểm toán và do đó quan sát này khá không ổn để do lường chất lượng kiểm toán (Defond & Zhang, 2013) Dưới đây là các yếu tố đầu vào dùng để đo lường chất lượng kiểm toán:
- Đặc điểm kiểm toán
- Phí kiểm toán
b Phép đo dựa vào yếu tố đầu ra
Phép đo dựa vào các yếu tố đầu ra sử dụng các yếu tố đầu ra của quá trình kiểm toán nhằm đo lường chất lượng kiểm toán Dưới đây
là các quan sát theo yếu tố đầu ra dùng để đo lường chất lượng kiểm toán:
Trang 10- Sai sót trọng yếu
- Ý kiến kiểm toán
- Đánh giá của người sử dụng thông tin
- Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) để đo lường cho chất lượng kiểm toán vì những lợi thế của phép đo này bao gồm: Có thể điều chỉnh nắm bắt được sự thay đổi nhỏ trong chất lượng kiểm toán và đồng nhất với nhận định của tác giả về chất lượng kiểm toán là một biến biến đổi liên tục nên tác giả cho rằng phù hợp khi sử dụng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) để đo lường cho chất lượng kiểm toán trong nghiên cứu này Ngoài ra một lợi thế khác của phép đo này mà tác giả cũng cho rằng phù hợp trong nghiên cứu của tác giả là phép đo chất lượng kiểm toán thông qua biến kế toán dồn tích (DA) phù hợp với một cỡ mẫu nhỏ và một khung thời gian ngắn
c Các mô hình đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
Có nhiều mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận thông qua đo lường biến toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trên thế giới nhưng những mô hình phổ biến nhất bao gồm: The Healy Model (1985), The DeAngelo Model (1986), The Jones Model (1991), Modified Jones Model (1995), The Friedlan (1994)
Mô hình Modified Jones (1995) được xem là mô hình phổ biến nhất và hiệu quả nhất để đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) hay phát hiện hành vi quản trị lợi nhuận (Tianran, 2010), tuy nhiên việc áp dụng mô hình này hay mô hình Jones (1991) đòi hỏi một cơ sở dữ liệu quá khứ lâu dài cần thiết để ước lượng các tham số trong mô hình Đối tượng của nghiên cứu này là các công ty
Trang 11niêm yết tại Việt Nam mà hầu hết đều hết sức non trẻ trong bối cảnh non trẻ chung của thị trường chứng khoán Việt Nam Việc thu thập đầy đủ cơ sở dữ liệu quá khứ lâu dài để áp dụng mô hình Modified Jones (1995) hay Jones (1991) là vô cùng khó khăn hay thậm chí không khả thi Mô hình Industry Jones (1991) lại không phù hợp với nghiên cứu này khi đối tượng nghiên cứu của tác giả là toàn bộ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động trong giai đoạn nghiên cứu Tổng hợp các điều kiện thực tế đó, tác giả cho rằng phù hợp khi sử dụng mô hình Friedlan (1994) là một biến thể cải tiến của mô hình DeAngelo (1986) để áp dụng tính toán biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trong điều kiện Việt Nam cũng như điều kiện của nghiên cứu này
1.3 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN
2008 – 2009
1.3.1 Khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ nước Mỹ cuối năm 2007 và là cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất trong lịch sử kể từ cuộc đại khủng hoảng (Friedman & Friedman, 2009) Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 là một
sự điều chỉnh lại giá nhà đất tại Mỹ sau thời gian thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng và điều kiện tín dụng rộng rãi đối với thị trường nhà đất tại Mỹ, nơi mà các khoản tín dụng này được chứng khoán hóa và bán đi dưới dạng các công cụ tài chính phức tạp trên toàn thế giới Khi bong bóng thị trường nhà tại Mỹ vỡ ra, các khoản cho vay tín dụng nhà đất dưới chuẩn tan biến, các ngân hàng phải gánh chịu những tổn thất kinh tế to lớn, kéo theo niềm tin vào hệ thống ngân hàng suy giảm nghiêm trọng Mỹ là trung tâm của hệ thống tài chính
Trang 12toàn cầu đo đó toàn bộ hệ thống tài chính toàn cầu bị cuốn vào khủng hoảng
Khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra những khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp bao gồm nguy cơ hiệu quả hoạt động suy giảm, kết quả kinh doanh thu lỗ, tình hình sản xuất đình đốn do đó dẫn đến rủi ro kiểm toán cao hơn đối với kiểm toán viên
1.3.2 Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới Việt Nam
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động mạnh tới nền kinh tế Việt Nam với tư cách là nền kinh tế đang hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu Việt Nam vừa mở rộng cánh cửa với thế giới vào năm 2007 với việc trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO thì năm 2008 Việt Nam đã phải đón nhận cơn khủng hoảng kinh tế thế giới Giai đoạn tăng trưởng GDP liên tục trên mức 7% của kinh tế Việt Nam kết thúc, và suy giảm liên tục trong hai năm khủng hoảng Sự suy giảm này bao quát nhiều mặt của nền kinh tế bao gồm: sản xuất kinh doanh, tiêu thụ, xuất khẩu, thị trường chứng khoán…
Những khó khăn mà các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam gặp phải trong bối cảnh khủng hoảng đặt ra cho các kiểm toán viên, công ty kiểm toán một rủi ro kiểm toán lớn hơn Cách thức các kiểm toán viên, công ty kiểm toán tại Việt Nam đối phó với những rủi ro này còn là dấu hỏi trong bối cảnh hoạt động kiểm toán trên thế giới
bị chỉ trích mạnh mẽ bởi những thất bại trong kiểm toán và sự nghi ngờ về tính độc lập của các kiểm toán viên, công ty kiểm toán trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu
Trang 13CHƯƠNG GIẢ THU T VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHI N CỨU 2.1 GIẢ THUY T NGHIÊN CỨU
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 gây những khó khăn hết sức nghiêm trọng cho các doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu trong đó có Việt Nam Các doanh nghiệp, đặc biệt
là các công ty niêm yết khi đối mặt với những khó khăn của khủng hoảng tài chính toàn cầu, ảnh hưởng đến hoạt động, đến lợi nhuận của công ty thì thường tìm mọi cách nhằm giảm thiểu tác động này trong đó có việc trình bày các báo cáo tài chính tốt hơn thực tế nhằm che dấu hiệu quả kinh doanh tồi tệ thực tế trong khủng hoảng Khủng hoảng tài chính toàn ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán vì tình trạng khó khăn của các doanh nghiệp tạo ra rủi ro kiểm toán lớn hơn
và cách thức mà các kiểm toán viên và công ty kiểm toán đối phó với các rủi ro này quyết định sự thay đổi của chất lượng kiểm toán trong bối cảnh khủng hoảng Đặc biệt đối với các công ty niêm yết thì động cơ điều chỉnh lợi nhuận của nhóm này rõ ràng hơn khi mà tác động của hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận được trình bày trên báo cáo tài chính ảnh hưởng mạnh tới giá trị thị trường, nguồn vốn, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do đó rủi ro về việc đưa ra ý kiến kiểm toán không chính xác hay rủi ro chất lượng kiểm toán đối với nhóm công ty niêm yết suy giảm là nghiêm trọng hơn Liệu chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam đã suy giảm dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Giả thuyết nghiên cứu được đặt
ra là: