Cách day 10 - 15 năm một hoạt động nào đó mang tính chất quốc tế, hay khu vực diễn ra tại nước ta đã trở thành sự kiện bất ngờ, lạ lẫm đối với người dân Việt Nam thì ngày nay, qua báo chí, truyền thanh truyền hình hàng ngày chúng ta có thể thấy các tổ chức quốc tế, khu vực, các hoạt động văn hoá thể thao, chính trị, đặc biệt là kinh tế diễn ra tại Việt Nam. Chính trị ngoại giao có sự kiện: Tổng thống Mỹ Biclintơn và gia đình đến Việt Nam vào tháng 4 - 2001 (bây giờ là cựu tổng thống). Văn hoá thể thao có: Liên hoan quốc tế tại Việt Nam, thể thao Việt Nam quen thuộc với các huy chương vàng, bạc ngang tầm với khu vực quốc tế. năm 2002 Seagame 22 diễn ra tại nước ta... Nổi bật nhất là kinh tế: Các Hội nghị khu vực, quốc tế tại Việt Nam, đó là hội nghị EMM - 3 và ASM - 33, Việt Nam là thành viên của ASEAN, Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ ký kết... Đồng thời nhìn ra thế giới ta cũng có thể thấy các quốc gia ngày càng gần nhau hơn: ta có ASEAN 10 thành viên đầy đủ, các quốc gia Châu Âu hình thành đồng tiền chung ERO. Trung Quốc gia nhập WTO,... toàn cầu hoá hay hội nhập quốc tế không còn xa lạ với chúng ta nữa. Và hơn bao giờ hết, bài toán hội nhập kinh tế quốc tế đã làm đau đầu không chỉ Chính phủ mà đối với mỗi một doanh nghiệp, mỗi một chủ thể tham gia vào nền kinh tế nước ta. Chúng ta không thể không hội nhập kinh tế quốc tế nhưng chung ta hội nhập như thế nào, chúng ta đang có những thuận lợi và phải khắc phục khó khăn nào để hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế. Đảng và Nhà nước ta đã và đang từng bước đề ra phù hợp đúng đắn cho vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế. Năm 1997 Luật Đầu tư nước ngoài ra đời cũng thể hiển chủ trương của Đảng được xác định qua đại hội VIII (1996) "đẩy nhanh quốc tế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới". Đại hội Đảng (4/2001) vừa qua cũng đã xác định bối cảnh quốc tế trong giai đoạn 2000 - 2010, đó là "Toàn cầy hoá kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước... vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế" cũng chính vì vậy Đại hội Đảng IX cũng khẳng định quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế: "Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế".
Trang 1Sự phát triển của thương mại Việt Nam v nh à nh ững điều chỉnh trong chính sách thương mại của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế v khu v à nh ực
Lời nói đầu
Cách day 10 - 15 năm một hoạt động nào đó mang tính chất quốc tế, hay khuvực diễn ra tại nước ta đã trở thành sự kiện bất ngờ, lạ lẫm đối với người dân ViệtNam thì ngày nay, qua báo chí, truyền thanh truyền hình hàng ngày chúng ta có thểthấy các tổ chức quốc tế, khu vực, các hoạt động văn hoá thể thao, chính trị, đặcbiệt là kinh tế diễn ra tại Việt Nam
Chính trị ngoại giao có sự kiện: Tổng thống Mỹ Biclintơn v gia à gia đình đếnViệt Nam v o tháng 4 - 2001 (bây già gia ờ l cà gia ựu tổng thống)
Văn hoá thể thao có: Liên hoan quốc tế tại Việt Nam, thể thao Việt Nam quenthuộc với các huy chương vàng, bạc ngang tầm với khu vực quốc tế năm 2002Seagame 22 diễn ra tại nước ta
Nổi bật nhất là kinh tế: Các Hội nghị khu vực, quốc tế tại Việt Nam, đó là hộinghị EMM - 3 và ASM - 33, Việt Nam là thành viên của ASEAN, Hiệp địnhThương mại Việt - Mỹ ký kết
Đồng thời nhìn ra thế giới ta cũng có thể thấy các quốc gia ngày càng gầnnhau hơn: ta có ASEAN 10 thành viên đầy đủ, các quốc gia Châu Âu hình thànhđồng tiền chung ERO Trung Quốc gia nhập WTO, toàn cầu hoá hay hội nhậpquốc tế không còn xa lạ với chúng ta nữa Và hơn bao giờ hết, bài toán hội nhậpkinh tế quốc tế đã làm đau đầu không chỉ Chính phủ mà đối với mỗi một doanhnghiệp, mỗi một chủ thể tham gia vào nền kinh tế nước ta Chúng ta không thểkhông hội nhập kinh tế quốc tế nhưng chung ta hội nhập như thế nào, chúng tađang có những thuận lợi và phải khắc phục khó khăn nào để hội nhập kinh tế vớikhu vực và quốc tế
Trang 2Đảng và Nhà nước ta đã và đang từng bước đề ra phù hợp đúng đắn cho vấn
đề hội nhập kinh tế quốc tế
Năm 1997 Luật Đầu tư nước ngoài ra đời cũng thể hiển chủ trương của Đảngđược xác định qua đại hội VIII (1996) "đẩy nhanh quốc tế hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới" Đại hội Đảng (4/2001) vừa qua cũng đã xác định bối cảnh quốc tếtrong giai đoạn 2000 - 2010, đó là "Toàn cầy hoá kinh tế là xu thế khách quan, lôicuốn các nước vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộclẫn nhau giữa các nền kinh tế" cũng chính vì vậy Đại hội Đảng IX cũng khẳng địnhquan điểm hội nhập kinh tế quốc tế: "Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tựchủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế"
Như vậy ta có thể thấy nghiên cứu vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế của ViệtNam hiện nay đã trở thành mối quan tâm chung của tất cả mọi người, những người
mà trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào nền kinh tế quốc dân
Là một sinh viên kinh tế tôi không dám đưa ra một cách nhìn tổng quát đầy
đủ, sâu sắc về vấn đề chủ nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Đây mới chỉ là cáchnhìn còn mang nhiều ý kiến chủ quan, một kiến thức còn nhiều thiếu sót, rất mongđược sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Mai Hữu Thực đã hướng dẫn, giúp tôihoàn thành đề án này
Trang 3Nội dung
I Tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế
1 Xu thế toàn cầu hoá hiện nay
1.1 Khái niệm chung về toàn cầu hoá
Ngày nay, cụm từ "toàn cầu hoá" không còn xa lạ đối với chúng ta đặc biệt làgiới tri thức trẻ và những người quan tâm đến các vấn đề của thế giới Tuy nhiên córất nhiều cách nhìn nhận về toàn cầu hoá ở nét khái quát nhất, tổ chức OECD (Tổchức hợp tác và phát triển kinh tế) đã coi toàn cầu hoá là quá trình mở rộng tới
"một hoạt vấn đề cũng mang lại sự đổi thay cho nền chính trị và kinh tế ngày naytrên quy mô toàn cầu" Đó là các vấn đề: Khả năng có thể tồn tại của hệ thốngthương mại thế giới, nhu cầu ngày càng tăng của sự hội nhập có "chiều sâu" vềchính sách quốc tế và sự giám sát rõ ràng tính độc lập tự chủ trong chính sách kinh
tế quốc gia; sự tác động của cuộc cách mạng công nghệ; tầm quan trọng của sự đổithay trong các hệ thống quản lý các tập đoàn Công ty lớn, hay trong hệ thống tổchức công nghệ hoá là cơ sở cho sức cạnh tranh của các nước, các Công ty; sự đadạng hoá ngày càng tăng giữa các nước phát triển, nạn đói nghèo và nguy cơ một tỷ
lệ lớn dân số trên trái đất bị loại trừ; những vấn đề nghiêm trọng về nạn thất nghiệp
và những khác biệt về tiền lương về mức thu nhập đang ngày càng tăng lên ởnhững nước phát triển nhất, sự thay đổi của vai trò Chính phủ
Để có cái nhìn rõ ràng hơn ta có thể hiểu quá trình toàn cầu hoá bao gồm: Thứ nhất: là sự gia tăng mạnh mẽ, vượt khỏi các đường biên giới quốc gia tớiquy mô quốc tế, của các luồng giao lưu hàng hoá, dịch vụ thương mại, đầu tư, tàichính, công nghệ, công nghệ nhân lực
Thứ hai là: sự hình thành và phát triển các thị trường thống nhất trên phạm vitoàn cầu và khu vực, cũng như sự hình thành và phát triển các định chế và các cơchế điều tiết quốc tế để quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế
Thực tế không phải bây giớ toàn cầu hoá mới bắt đầu hình thành và phát triển,
Trang 4mà nó đã có tiền đề từ rất lâu trong lịch sử Có người cho rằng những tiền đề này đã
có từ thời kỳ mở đầu của chủ nghĩa tư bản, trên cơ sở quá trình xã hội hoá của lựclượng sản xuất trên qui mô thế giới Chính vì thế phải khẳng định lại rằng toàn cầuhoá là một quá trình Hơn nữa, đây là một xu thế khách quan là quy luật tất yếutrong sự phát triển của xã hội loài người Khẳng định trên dựa vào những căn cứ,
cơ sở thực tế sau:
1.2 Tất yếu của toàn cầu hoá:
Một là, một nền chủ nghĩa toàn cầu đang xuất hiện
Thế giới đã trải qua 3 cuộc cách mạng công nghiệp : lần thứ I: từ thế kỷXVIII, lần thứ II từ cuối thế kỷ XIX và lần thứ III từ nửa cuối thế kỷ XX trở lạiđây Những tiến bộ về khoa học - kỹ thuật và công nghệ của ba cuộc cách mạngnày đã làm giảm chi phí vận tải quốc tế xuống cả chục lần và giảm chi phí liên lạcviễn thông xuống vài trăm lần; đã có tác động cực kỳ quá trình đến toàn bộ quan hệkinh tế quốc tế, đã biến các công nghiệp mang tính quốc gia thành công nghiệptoàn cầu Lấy công nghiệp may mặc làm ví dụ Trước đây với một máy may dù cóhiện đại đến đâu thì sản phẩm cũng chỉ bán trong một địa phương, một quốc giahay một khu vực chi phí vận chuyển liên lạc quá cao đã làm mất hết lợi thế so sánhnếu đưa sản phẩm này đến thị trường xa xôi Nhưng ngày nay, Công ty NIKE chỉnắm hai khâu: sáng tạo, thiết kế và phân phối toàn cầu, còn sản xuất do Công ty cácnước thực hiện cũng đã làm cho công nghiệp may mặc có tính toàn cầu Hàng loạtcông nghệ sản xuất xe máy, ô tô, máy tính điện tử máy bay ngày càng toàn cấuhoá sâu rộng Tính toàn cầu ở đây thể hiện ngay từ khâu sản xuất, đó là phân côngchuyên môn hoá cho nhiều nước, đến khâu phân phối; tiêu thụ trên toàn cầu Từviệc giảm chi phí và cước phí giao thông liên lạc, vận chuyển nhờ vào việc tạo rađường sắt, tàu hoả, và tàu biển chạy bằng hơi nước, ô tô, máy bay cho đến nhữngthập niên gần đây một cuộc giảm cước phí giao thông liên lạc và viễn thông mới lạidiễn ra dựa trên cơ sở điện toán, số hoá, truyền thông vệ tinh, soi quang học mạng
Trang 5Internet đã khuếch đại mạnh mẽ lân sóng toàn cầu hoá đang diễn ra trong mọi lĩnhvực đời sống xã hội, đặc biệt là kinh tế.
Như vậy, nhờ có công nghệ toàn cầu phát triển, sự hợp tác giữa các tập đoànkinh doanh, các quốc gia có thể mở rộng từ sản xuất đến phân phối trên phạm vitoàn cầu, những quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau cùng có lợi phát triển Đây là cơ sở đầutiên của nền kinh tế toàn cầy thống nhất
Hai là: các quan hệ kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển:
Chính nền công nghệ toàn cầu phát triển mạnh mẽ đã trở thành cơ sở cho cácquan hệ kinh tế toàn cầu Trước hết là quan hệ thương mại, chi phí vận tải liên lạcgiảm đi thì khả năng buôn bán trao đổi giữa địa phương quốc gia, khu vực tăng lên.Cùng với nó quá trình phân công chuyên môn hoá sản xuất diễn ra giữa các quốcgia, liên tục càng dễ dàng Các linh kiện của máy bay Boing, ô tô, máy tính đãkhông phải là sản phẩm của một bước mà của rất nhiều nơi trên thế giới
Thương mại toàn cầu, sản xuất chuyên môn hoá toàn cầu đã kéo theo đồngvốn, tiền tệ, dịch vụ vận động trên phạm vi toàn cầu Ngày nay, lượng buôn bántiền tệ toàn cầu đã vượt xa con số 1500 tỷ USD Trong đó, ta thấy rằng, thương mạiđiện tử xuất hiện và phát triển với tốc độ chóng mặt
Sự phát triển của công nghệ toàn cầu và các quan hệ kinh tế toàn cầy đã ngàycàng xung đột với các thể chế quốc gia, rào cản quốc gia Các quốc gia các khuvực, xích lại gần nhau hơn qua các tổ chức liên kết kinh tế mang bản chất chính trịnhiều hơn, những thập niên 40, xuất hiện khối liên kết kinh tế giữa Mỹ - Tây Âu -Nhật và Hội đồng tương trợ kinh tế SEV giữa các quốc gia xã hội chủ nghĩa Chođến nay lại hình thành nên các tổ chức như APEC, AFTA, NAFTA, Đặc biệt quátrình quốc tế hoá về tài chính đẩy mạnh nhanh chóng: hình thành nên Quỹ tiền tệQuốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Liên nước kinh tế và tiền tệ Châu Âu gần
11 nước thành viên với đồng tiền chung là đồng EURO Cùng với các tổ chức liênkết kinh tế là sự ra đời các cam kết này đã, đang và sẽ công kích mạnh mẽ vào các
Trang 6bức tường thành quốc gia, rào cản quốc gia Các nước thành viên của tổ chứcthương mại thế giới (WTO) cũng đã cam kết một lộ trịnh giảm bỏ hàng rào Ngay
cả đối với Mỹ, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay gây sức ép thương mại đối vớicác nước có vẻ như đã mất hiệu lực, với dấu hiệu là Mỹ đã ký tối huệ quốc (MFN)đối với Trung Quốc
Ba là: những vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều trở nên bứcxúc và ngày càng đòi hỏi phải có sự phối hợp toàn cầu Không có khó khăn gì để cóthể nhận ra các vấn đề nổi cộm hiện nay của kinh tế toàn cầu Môi trường ngàycàng bị phá hoại, tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt; dân số thế giới tăngnhanh đến mức nảy sinh nguy cơ bùng nổ dân số; đồng vốn toàn cầu vận động tự
do không có sự điều tiết là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các cuộc khủng hoàngliên tiếp Châu Âu, Châu Mỹ, Châu á trong thời gian vừa qua; chiến tranh lạnhchấm dứt, đồng nghĩa với nó là kết thúc sự đối đầu giữa các siêu cường, mở ra thời
kỳ hợp tác, hoà bình, phát triển mới
Những vấn đề này đã trở thành tất yếu khách quan đẩy đến toàn cầu hoá kinh
tế với những đặc trưng chủ yếu: Thứ nhất là, các hàng rào quan thuế và phi thuếquan đang giảm dần và sẽ bị xoá bỏ theo các cam kết quốc tế đa phương và toàncầu, tức là các biên giới quốc gia về thương mại đầu tư đang tiên vong Thứ hai là,các Công ty của các quốc gia có quyền kinh doanh tự do ở mọi quốc gia, trên cáclĩnh vực cam kết, không phân biệt đối xử; thực chất là sự xoá bỏ các biên giới vềđầu tư, dịch vụ và các lĩnh vực kinh tế khác
Tuy nhiên, đến đây chúng ta lại phải đối mặt với hàng loạt câu hỏi: làm thếnào để giải quyết sự trói buộc của hệ thống tiền tệ quốc gia với hàng trăng đồngtiền khác nhau, trao đổi theo các tỷ giá thả nổi bấp bênh? Làm thế nào để dung hợpđược với hệ thống luật pháp các quốc gia thủ cựu? Có cấn đến "một bàn tay hữuhình toàn cầu" không? Và như vậy toàn cầu hoá kinh tế không thể tránh khỏi toàncầu hoá về chính trị, an ninh, văn hoá, xã hội ?
Trang 71.3 Hai mặt của toàn cầu hoá.
Có người đã cho rằng: toàn cầu hoá là con dao hai lưỡi Thực tế cũng đã chothấy khi diễn ra hội nghị, diễn đàn bàn về vấn đề đẩy mạnh toàn cầu hoá thì bêncạnh sự ủng hộ của một bộ phận quần chung là thái độ kịch liệt phản đối, biểu tìnhgay gắt của không ít người lao động khác Tại sao vậy? Quả thực, toàn cầu hoákhông mang lại cơ hội phát triển cho tất cả quốc gia, tất cả người lao động trên thếgiới Toàn cầu hoá không hẳn là một tương lai rực sáng không phải là một thiênđường cho các nền kinh tế mà toàn cầu hoá là lò lửa, là một quá trình thử thách,đấu tranh sinh tồn Mỗi mặt tích cực mà nó mang lại luôn đi với mặt hạn chế nảysinh từ đó
Toàn cầu hoá đưa ra một thị trường tiêu thụ mở rộng cho hàng hoá dịch vụ.Thị trường không hạn chế một nước, một khu vực, hay một châu lục nữa mà đã làthị trường toàn cầu Lúc này không ai khác chính bản thân sản phẩm quyết định sựtồn tại của nó Mỗi hàng hoá và dịch vụ phải đứng trước một môi trường cạnh tranhgay gắt Nền kinh tế của các quốc gia riêng lẻ chịu sức ép vô cùng lớn từ bên ngoài.Không nhìn đâu xa, Việt Nam là một ví dụ phù hợp cho vấn đề này Quả thực, hànghoá Việt Nam ngày nay đã có mặt nhiều nơi trên thế giới và ban đầu đã gây uy tínkhông nhỏ thị trường nước ngoài ở Việt Nam không chỉ là gạo, cà phê, thuỷ hảisản mà còn là sản phẩm may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ không ít các Công tyTNHH tư nhân Việt Nam có nhiều chi nhánh ở nước ngoài Đây là dấu hiệu củakhả năng cạnh tranh lành mạnh của hàng hoá, dịch vụ nước ta Bên cạnh đó, thịtrường Việt Nam đã đang và sẽ xuất hiện ngày càng nhiều hàng hoá mang nhãnhiệu của các nước khu vực và thế giới, đặc biệt là Trung Quốc Việt Nam đang phảicạnh tranh với những ưu thế của người bạn láng giềng "khổng lồ", đó là: giá rẻ,mẫu mã đẹp, phong phú đa dạng và với cả tâm lý "thích dùng đồ ngoại" của ngườidân nước ta Với những khó khăn đang phải đối mặt liệu các doanh nghiệp ViệtNam có đứng bên bờ "phá sản" hay không?
Trang 8Một tác động tích cực của toàn cầu hoá mà không thể không nhắc đến Có thểnói đây là lợi ích hiện diện rõ ràng nhất đối với các nước đang phát triển và chậmphát triển Đó là dòng chuyển vốn, công nghệ, kỹ thuật, phương pháp quản lý tiêntiến từ các nước phát triển Cơ hội này mở ra khả năng cho các nước nhận rút ngắnkhoảng cách về thời gian và tiết kiệm tiền bạc cho giai đoạn từ nghiên cứu cho đếnkhi triển khai, ứng dụng Đây cũng là lợi thế cho các nước đang phát triển có điềukiện đi tắt, đơn đầu mọi phương tiện Nhưng cũng chính dòng chảy vốn, côngnghệ, kinh tế, phương pháp quản lý tiên tiến này tạo ra một thế lực cạnh tranh đốivới các nền kinh tế quốc gia trì trệ, kém hiệu quả Trong một giới hạn nào đó, dòng
di chuyển này là nguyên nhân đẩy các doanh nghiệp Nhà nước vào tình trạng phásản, đi kèm là tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, nảy sinh hàng loạt vấn đề cho xã hộiChính phủ cần giải quyết
Một biểu hiện của toàn cầu hoá hiện nay là hình thành các khối liên kết kinh
tế cùng với cam kết, thoả thuận nhằm dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan Đây là điềukiện quá trình thực hiện nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong kinh tếtrong các quan hệ mua bán và giao lưu quốc tế Không những thế các nước chậmphát triển được hưởng ưu đãi đặc biệt, chế độ tối huệ quốc, được cung cấp thông tin
tự do mậu dịch, liên minh thuế quan, được bảo đảm các quyền thông qua các tổchức quám sát, giám định quốc tế Chính vì vậy, các nước chậm phát triển có điềukiện cải thiện quốc tế hoá không, liệu các chính sách tài chính có bắt kịp yêu cầucủa xu thế thời đại? Các cuộc khủng hoảng Đông Nam á, Brazin, Nga, trong nhữngnăm 1997 - 1998 vẫn còn là những bài học sâu sắc cảnh báo cho các nước có tìnhhình tương tự
Điểm cuối cùng như phần tất yếu của xu thế toàn cầu hoá đã trình bày, đó làcác vấn đề mang tính toàn cầu mà không một quốc gia nào có thể tự mình giảiquyết đơn lẻ Xu thế toàn cầu hoá tạo nền sự liên kết, hợp tác giữa các quốc gia đểcùng có lợi, tạo ra sức mạnh tổng hợp chống lại sự phân biệt đối xử sự đan xen phụ
Trang 9thộc lẫn nhau có còn có tác động hai mặt, các nền kinh tế sẽ nhạy cảm hơn với cácbiến động quốc tế, nhưng đồng thời những rủi ro có tính chất cá biệt cũng đượcphân tán Do đó các nước đang phát triển có thể đạt được sự ổn định tương đối vốnhết sức cần thiết.
Trong thương mại và giải quyết tranh chấp dựa trên những định chế kinh tế tàichính bình đẳng Đây là điều kiện để các nước chậm phát triển phát huy tối đa lợithế của mình Tuy nhiên nền kinh tế toàn cầu hoá sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vàocác tổ chức quốc tế và khu vực: các hiệp định đa phương, Công ty xuyên quốc gia,liên minh kinh tế, tài chính mà trong một chừng mực nhất định nằm ngoài tầmkiểm soát của các Chính phủ Như vậy, mặt khác, một mặt trái của nền kinh tế tàichính là sự suy giảm bản sắc dân tộc, chủ quyền kinh tế song lại gia tăng sức épkinh tế, chính trị Sự hạn chế về khả năng kiểm soát của các cổ phần còn biểu hiện
ở tình trạng tội phạm xuyên quốc gia, việc truyền bá nền văn hoá phi nhân bản Toàn cầu hoá là con dao hai lưỡi, nhưng là xu thế tất yếu khách quan mà bất
kỳ nền kinh tế nào cũng không thể đứng ngoài cuộc Vì vậy việc sử dụng nó nhưthế nào để mang lại hiệu quả cao nhất là cả một nghệ thuật tinh xảo
2 Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
2.1 Việt Nam tất yếu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Trong xu thế toàn cầu hoá ngày một phát triển mạnh mẽ, các quốc gia nhậpkinh tế quốc tế ngày càng phụ thuộc lẫn nhau ở mức độ này hay mức độ khác, thìviệc đóng cửa với thế giới là đi ngược xu thế thời đại và khó tránh khỏi tình trạnglạc hậu, chậm phát triển Trái lại, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, tuy có thểphải trả giá nhất định (như chúng ta đã xem xét mặt trái của toàn cầu hoá) song đó
là yêu cầu tất yếu hướng tới sự phát triển của mỗi nước Việt Nam cũng không nằmngoài quy hoạch chung này
Hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung căn bản của toàn cầu hoá, nội dungthứ hai là tự do hoá kinh tế Như vậy, nên hiểu toàn cầu hoá là một quá trình quốc
Trang 10tế kinh tế bao gồm hai quá trình phát triển song song (đã nêu trên tự do hoá kinh tế
và hội nhập kinh tế quốc tế) thì toàn cầu hoá có nghĩa là các quan hệ kinh tế khôngnhững được tự do phát triển trên phạm vi toàn cầu mà còn phải tuân theo nhữngcam kết toàn cầu đa dạng Do đó Đảng và Nhà nước ta đã xác định tư tưởng đúngđắn cho nền kinh tế nước ta Chủ động hội nhập, chỉ có chủ động hội nhập thì nước
ta mới giữ gìn được bản sắc dân tộc trong tốc độ toàn cầu hoá hiện nay Chỉ có chủđộng hội nhập mới đón bắt được những nguy cơ tiềm ẩn và giành lấy những cơhội quý báo để phát triển kinh tế trong nền kinh tế toàn cầu đa dạng, phong phú.Chỉ có chủ động hội nhập, Đảng và Nhà nước mới có được những quyết định sángsuốt trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế gắn liền với toàn cầu hoá về chính trị, vănhoá, xã hội
Khi nghiên cứu cuộc khủng hoàn kinh tế Thái Lan năm 1997, các nhà kinh tếhọc cho rằng: toàn cầu hoá tự bản thân nó không là nguyên nhân của cuộc khủnghoảng mà chính là cái cách thức người ta điều hành quá trình của cuộc khủnghoảng toàn cầu hoá Tham gia vào một nền kinh tế thế giới rộng lớn hơn có thể làmột sự trợ giúp cho nền kinh tế trong nước phát triển song chắc chắn rằng: thànhcông hay thất bại của các nước chủ yếu dựa vào công nhân của nước đó dựa bàocác chính sách và đầu tư của Chính phủ Các nhà kinh tế học cũng đã khẳng định:các nước mà hiện nay đang vấp phải vô vàn khó khăn trong quá trình hội nhập thìkhông phải là họ không biết lợi dụng hiện tượng toàn cầu hoá mà bởi vì họ đãkhông thể trang bị cho mình một cách kịp thời những thể chế và những cán bộ điềuhành cần thiết để làm chủ quá trình hội nhập toàn cầu Lấy Thái Lan làm ví dụ Mộttrong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ nền kinh tế năm 1997 là do Thái Lan
đã không làm chủ được dòng vốn từ nước ngoài Từ những năm 1990 Thái Lan đã
dỡ bỏ hết mọi hàng rào kiểm soát ngặt nghèo sự dịch chuyển tư bản qua biên giới,
do đó dòng chảy tư bản đã ào ạt vào Thái Lan dưới hình thức đầu tư ngắn hạn, vàsau đó lại rút ra hết sức nhanh chóng gây nên sự rối loạn thị trường tài chính Do đó
Trang 11các nhà kinh tế đã đưa ra các biện pháp chủ yếu để cần thiết, tiếp tục một chínhsách kinh tế vĩ mô lành mạnh, cải cách thể chế và làm chủ dòng chảy tư bản quốc
tế Như vậy có nghĩa là Thái Lan phải tham giatt quốc tế một cách ổn định tốc độvừa phải và thực sự chủ động trong quá trình hội nhập đó bằng những hành lang thểchế Bởi vì nếu không chủ động thì sự tự do hoá sẽ dẫn đến tình trạng vô Chínhphủ, nền kinh tế không tồn tại và phát triển lâu dài được
Bởi vì Thái Lan cũng là một quốc gia thuộc Châu á, cùng chung những điềukiện tự nhiên và xã hội với Việt Nam, cũng vấp phải những khó khăn mà nước tađang trải qua Cho nên nền kinh tế Thái Lan là một bài học đắt giá đối với nước ta
về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế Và cũng từ đó để thấy rằng chủ động hội nhậpkinh tế toàn cầy là con đường đúng đắn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triểncủa nước ta
2.2 Nội dung và hình thức hội nhập kinh tế quốc tế
Với kim chỉ nam như trên, việc nghiên cứu nội dung và hình thức hội nhậpkinh tế quốc tế không chỉ là nhu cầu cấp bách mà còn là nhiệm vụ quan trọng sựphát triển kinh tế đất nước
2.2.1 Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) hiện nay có thể là một tổ chức kinh tếtoàn cầu có sức mạnh nhất với các Hiệp nghị có nội dung có tính chất chi phối cáckinh tế quốc tế thể hiện rõ nhất nội dung hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Cácvấn đề mang tính nguyên tắc được rút từ được cam kết ông đàm phán (diễn ra từkhi hiệp định chung về thương mại và thiếc quan GATT năm 1947 tại Genevơi chođến nay) Đó là:
Về thương mại hàng hoá
Thứ nhất là, giảm thuế nhập khẩu và bỏ hàng rào phi quan thuế Thuế nhậpkhẩu cao và các biện pháp phi quan thuế thực tế là hàng rào ngăn cản quá trình hộinhập quốc tế của các quốc gia Các biện pháp phi quan thuế đã phát triển hết sức
Trang 12tinh vi và đa dạng và không có cách nào định lượng được các hàng rào đa dạngnày ở không ít các nước, mức thuế nhập khẩu thấp nhưng hàng rào phi quan thuếtinh vi đã không cho hàng hoá nhập vào Chính vì vậy, người ta đã kết luận là phảisớm xoá bỏ hàng rào này và quy về biện pháp bảo hộ duy nhất là thuế nhập khẩu.Với hàng rào này, người ta có thể định lượng cao thấp, cam kết hạ dần hàng rào vàquan trọng là có thể kiểm soát việc thực hiện cam kết Mức thuế suất đối với hàngnhập khẩu từ các nước công nghiệp sẽ giảm từ 6,3% xuống 3,9% Đối với mứcgiảm thuế quan các thành viên WTO (tức là GATT) cam kết thực hiện tự do hoáthương mại và dịch vụ, chống bán phá giá, đảm bảo quyền sở hữu trí tựu
Thứ hai là công nhận quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của các chủ thể và cánhân trong và ngoài nước trên lãnh thổ của mình
Lấy Mỹ và Việt Nam làm ví dụ Nguyên tắc này cho phép các Công ty ViệtNam sang Mỹ kinh doanh xuất nhập khẩu và ngược lại với tất cả mọi quyền nhưCông ty của nước sở tại, có nghĩa là sẽ thiết lập một môi trường kinh doanh bìnhđẳng ở mọi quốc gia, tạo ra một thế giới tương đối thống nhất với các chsủ thể kinhdoanh và quyền hoạt động toàn cầu Đây là con đường phát triển bởi áp lực cạnhtranh sẽ tăng lên, động lực phát triển sẽ tăng cường Bởi vì sự xuất hiện của cácCông ty nước ngoài hùng mạnh vào hoạt động thì buộc các Công ty trong nướcphải vươn mình để tồn taị và phát triển
Về thương mại dịch vụ:
Hiệp định dịch vụ của WTO quy định các nước mở cửa thị trường dịch vụ chonhau theo 4 phương thức: (1) cung cấp dịch vụ qua biên giới từ lãnh thổ của nướcthành viên này sang lãnh thổ thành viên khác (2) tiêu dùng ngoài lãnh thổ (3) hiệndiện thương mại của Công ty một nước thành viên lãnh thổ một thành viên khácvới các hình thức lập liên doanh, chi nhánh, Công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài.(4) hiện diện chủ nhân, di chuyển tư nhân WTO cũng đã quy định: khi đàm phán
mở cửa thị trường dịch vụ, các nước phát triển theo phương pháp loại trừ tức là
Trang 13không chấp nhận dịch vụ nào thì đưa ra đàm phán, còn các nước đang phát triểnđược quyền chỉ đưa ra đàm phán lĩnh vực nào được chọn mở cửa
Về đầu tư, WTO chưa có được một hiệp định chung mà mới chỉ có một sốquy đọnh về đầu tư có liên quan đến thương mại
WTO cũng đã có những quy định trong các lĩnh vực khác
Hiệp định về bảo vệ quyền sở hữu trì trệ
Quy định không phân biệt đối xử, nguyên tắc đối xử quốc gia áp dụng cho cácđầu tư và dịch vụ tức là không phân biệt đối xử hàng nhập khẩu hàng sản xuấttrong nước
Quy định về việc công bố công khai và minh hạch tất cả các chính sách kinh
tế, thương mại của các nước thành viên
Cho phép các nước có hành động tự vệ trong trường hợp cần thiết để bảo vệcán cân thanh toán, ngành công nghiệp non trẻ bị bên ngoài tấn công
Quy định về chế độ ưu đãi cho các nước đang phát triển, những nước có nềnkinh tế chuyển đổi về lộ trình thực hiện cam kết, có thể kéo dài 5 năm
Các quốc gia muốn tham gia nhập WTO phải đàm phán, nội dung chủ yếu củađàm phán là lộ trình dài, ngắn thực hiện các vấn đề có tính nguyên tắc nêu trênchung không thể đàm phán không thực hiện
2.2.2 Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế
Với sự phát triển ngày càng đa dạng, phức tạp của các quan hệ kinh tế thìcũng thể hiện ngày càng nhiều các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế ở đây chỉnêu lên ba hình thức cơ bản, chủ yếu hiện nay
1 - Các hiệp nghị kinh tế thương mại song phương
Đây là hình thức hội nhập quốc tế phổ biến nhất và quan trọng nhất không chỉđối với các nước phát triển mà đối với cả các nước đang phát triển Mỹ là nước cónền kinh tế phát triển nhất, hội nhập kinh tế quốc tế với vai trò chi phối song chủyếu và trước hết vẫn đưa vào các hiệp nghị kinh tế thương mại hai bên: Mỹ - Nhật,
Trang 14Mỹ - Châu Âu Nhật Bản hay các nước NIESS cũng vậy Các quốc gia này, taykhông tham gia vào các khối kinh tế song các quan hệ hai bên của họ cũng đủ sứctạo ra cạnh tranh những lợi thế so sánh có lợi cho họ trong cạnh tranh quốc tế Ví
dụ, các quốc gia ký hiệp định kinh tế, thương mại với Mỹ, dù chỉ là quan hệ giữahai nước nhưng tổng lượng thị trường hàng hoá dịch vụ đầu tư đã không thua kémbất kỳ một khối kinh tế nào Mặc dù vậy các hiệp định kinh tế dù có rộng lớn đếnđâu vẫn có những hạn chế, đó là khi phải đối diện với các vấn đề mang tính toàncầu, những khối kinh tế hùng mạnh
2 - Các khối kinh tế khu vực
Hiện nay, trên thế giới có thể kể đến hàng chục khối kinh tế khu vực khácnhau, nhưng hoạt động nổi bật hơn cả là: EU (Liên minh Châu Âu) NAFTA (Khốikinh tế Bắc Mỹ), AFTA (khu vực mậu dịch tự do ASEAN), APEC (Diễn đãn kinh
tế Châu á - Thái Bình Dương) Tuy nhiên mức độ hợp tác của các khối kinh tếnày khác nhau Có khi chỉ dừng lại ở mức độ thỏa thuận buôn bán, có khối đã thoảthuận xoá bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong khối, có khối đãlập ra liên minh thuế quan, tạo lập ra cả một thị trường chung cho phép tự dothương mại hàng hoá, dịch vụ vốn, lao động Nấc thang phát triển cao nhất hiệnnay của các khối kinh tế là liên minh kinh tế Liên minh Châu Âu (EU) bắt đầuhoạt động từ năm 1992 với các chính sách: tiền tệ, tài chính, thương mại côngnghệ, an ninh chung, quốc hội, toà án, đồng tiền chung
Việc ra đời các khối kinh tế có tác động quan trọng, thúc đẩy tự do hoáthương mại đầu ra, thúc đẩy quá trình mở cửa thị trường các quốc gia, tạo lập ranhững khu vực thị trường rộng lớn, thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá tiên tiến
3 - Những tổ chức kinh tế toàn cầu:
Thứ nhất là các tổ chức kinh tế có tác dụng điều chỉnh các quan hệ kinh tếtoàn cầu hiện có: Tổ chức Thương mại thế giới (WTO); Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF),Ngân hàng thế giới (WB), một số tổ chức kinh tế của Liên hiệp quốc: VNDP, G8
Trang 15(G7 Nga), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế DECD Hoạt động nổi bật nhấthiện nay vẫn là WTO, IMF, WB Tuy nhiên, cho đến nay mới chỉ có những camkết quốc tế về thương mại hàng hoá là tương đối có hiệu lực, còn các lĩnh vựcchính sách tiền tệ, đầu tư chu chuyển vốn, bảo vệ, tiêu chuẩn về lao động và dichuyển lao động quốc tế, chống tham nhũng vẫn cần có luật lệ toàn cầu hữu hiệuhơn Ngay cả hoạt động của IMF và WB cũng chỉ kiểm soát một phần dòng vốn,tiền tệ chính thức của Nhà nước, còn việc buôn bán tiền tệ, và dòng vốn tư nhânvẫn vận động ngoài vòng kiểm soát Do đó việc cải tổ thích hợp những tổ chức này
là điều cần thiết trong thời gian tới
Thứ hai là các tổ chức kinh doanh toàn cầu: đó là các Công ty xuyên quốc giavới các con số đáng kể: 60.000 Công ty xuyên quốc gia với 500.000 chi nhánh,nắm 25% sản xuất thế giới, 50% mậu dịch quốc tế, 90% với đầu tư trực tiếp, trên80% bản quyền kỹ thuật và công nghệ mới Các đặc trưng mới hiện nay của cácCông ty xuyên quốc gia là: (1) làn sóng sát nhập gia tăng, chứng tỏ sức cạnh tranhtoàn cầu ngày càng mạnh, đòi hỏi vốn, công nghệ mạng lưới phân phối ngày càngcao; (2) các Công ty nhỏ và vừa cũng gia tăng hoạt động xuyên quốc gia, đặc biệttrong dịch vụ; (3) ở các nước đang phát triển xuất hiện các Công ty xuyên quốc giacủa mình hoạt động ở nhiều nước; (4) các Công ty xuyên quốc gia ở các nước pháttriển Nếu không có các Công ty xuyên quốc gia thì sự hội nhập chỉ dừng lại hoạtđộng xuất nhập khẩu, thu hút nước ngoài vào nước mình Do đó có thể dự báo:các Công ty xuyên quốc gia sẽ là hình thức doanh nghiệp cơ bản trong tương lai.2.3 Một số lợi ích bước đầu nước ta đạt được trong tiến trình hội nhập kinh tếquốc tế
Mặc dù vấp phải rất nhiều khó khăn, song nhìn lại những năm qua, tiến trìnhhội nhập kinh tế quốc tế vẫn không ngừng được mở rộng và bước đầu đã đưa lạinhững lợi ích đáng kể, không thể phủ nhận cho đất nước
Một là, thông qua các hiệp ước song phương và đa phương, cho đến nay, nước
Trang 16ta đã có quan hệ với 165 nước trên thế giới (tại thời điểm năm 2000 là 154 nước),kim ngạch xuất khẩu tăng từ 677,8 núp/USD năm 1986 lên 14,3 tỷ USD năm 2000,năm 2001 tăng 4,5% Trong cùng thời gian kim ngạch nhập khẩu tăng tương ứng từ1,83 tỷ núp/USD lên 15,2 tỷ USD Từ chỗ nhập siêu tương đối lớn vào nửa nhữngnăm 80 đến nay cán cân xuất - nhập gần đạt cân bằng, từ cuối những năm 90, nước
ta đã có những mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD như: dầu thô, gạo, hàng dệtmay, giày dép, chế biến thuỷ sản
Cuối năm 2001, hiệp định thương mại Việt - Mỹ chính thức hiệu lực mở racho hàng hoá dịch vụ Việt Nam một thị trường rộng mở và đầy thách thức cùngthời gian này việc Trung Quốc gia nhập WTO, tạo điều kiện cho Việt Nam xâmnhập thị trường với 1,3 tỷ dân và chắc chắn cơ hội mở rộng thị trường ra khu vựctừng bước thế giới vẫn chưa dừng ở đó
Hai là, song song với việc xâm nhập thị trường quốc tế, Việt Nam đã tăng khảnăng thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài Kể từ khi có luật đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam được chính thức ban hành đầu năm 1988 và từng bước được điều chỉnhđến cuối năm 2000 đã có trên 700 Công ty thuộc 62 nước và vùng lãnh thổ đầu tưtrực tiếp vào nước tă với hơn 3.000 dự án, có tổng số vốn đăng ký trên 36 tỷ USDtrong đó vốn đã thực hiện 17 tỷ USD
Mặc dù do khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực và sự chậm đổi mớitrong chính sách kinh tế, song sự đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài vẫn có xu hướng gia tăng những năm gần đây, cụ thể là tỷ trọng của khu vựcnày trong GDP tăng lên, 6,3% năm 1995; 7,4% năm 1996; 9,1% năm 1997; 9,8%năm 1998; 10% năm 1999; trên 10% năm 2000 và đến hết ngày 30/10/2001 cảnước thêm 1,9 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài tăng 200% về vốn so với cùng kỳnăm 2000 Bên cạnh đó, ngoài thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các dự án có vốn đầu
tư nước ngoài tạo ra khoảng 35 việc làm trực tiếp và hàng chục vạn việc làm giántiếp
Trang 17Hiện nay Việt Nam được đánh giá là đặc điểm an toàn nhất khu vực Châu á Thái Bình Dương Đây có phải là cơ hội cho dòng chảy vốn đầu tư nước ngoàivào Việt Nam tăng lên?
-Ba là, không chỉ các dòng vốn trực tiếp, nhiều tiến bộ kỹ thuật và công nghệmới được đưa vào nước ta Trong những dự án liên doanh hoặc 100% vốn nướcngoài thuộc các ngành bưu chính viễn thông, dầu khí, điện, điện tử, dệt may, dagiày các công nghệ được chuyển giao là tương đối hiện đại Mặc dù vẫn có nhữngcông nghệ trung bình không còn phù hợp với các nước Mỹ, Nhật nhưng vẫn cóhiệu quả ở nước ta trong một số ngành sự khác do yêu cầu sử dụng lao động củacác công nghệ đó cao, có khả năng tạo thêm nhiều việc làm mới
Quả thực thu hút vốn đầu tư trực tiếp đồng thời tiếp nhận chuyển giao côngnghệ và sử dụng nó có hiệu quả là con đường thích hợp với trình độ Việt Nam hiệnnay hơn cả, mặc dù nước ta vẫn có khả năng nhập khẩu công nghệ từ bên ngoàivào
Bốn là, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế còn tạo điều kiện giao lưu cácnguồn lực giữa nước ta và thế giới trong đó nguồn nhân lực trí tuệ và tay nghề cao
có tầm quan trọng đặc biệt trong sự phát triển Nguồn nhân lực Việt Nam khá dồidào: song lại đang có những hạn chế nên đã đưa đến tình trạng hiện nay là: thừanhiều lao động giản đơn chưa được đào tạo nhưng lại thiếu nghiêm trọng lao động
kỹ thuật biết kinh doanh Trong tình hình này, thông qua con đường hội nhập kinh
tế quốc tế, mối năm nước ta xuất khẩu từ 24 - 25 ngàn lao động đồng thời thực hiệnhợp đồng gia công chế biến xuất khẩu Do đó đã giảm bớt sức ép về việc làm trongnước lại vừa học hỏi những kinh nghiệm về quản lý điều hành công nghệ tiên tiến
Cả bốn thành quả bước đầu trong tiến trình chủ động hội nhập nói trên đều lànhững nhân tố mới của tăng trưởng kinh tế, đồng thời mang lại những lợi ích quantrọng cho nền kinh tế đất nước Chúng lại tiếp tục khẳng định tư tưởng đúng đắnchủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, Nhà nước, là nguồn cổ đông cho
Trang 18những bước đi tiếp theo trong tiến trình hội nhập, tham gia toàn cầu hoá.
II ti
n trình thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1 Tiến trình hội nhập trong thời gian vừa qua của Việt Nam
Nghiên cứu vấn đề này ta mới nhận thấy rằng: chính sách mở cửa hội nhậpkinh tế quốc tế để phát triển đất nước không phải là một điều hoàn toàn mới mẻđối với Đảng và Nhà nước ta Nó chính là sự kế thừa, phát triển và vận động sángtạo và từng hoàn cảnh, từng giai đoạn của đất nước những luận điểm mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh nêu lên ngay từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vừa mới ra đời.Trong bài trả lời phỏng vấn của các nhà báo ngày 23 tháng 10 nă, 1945, Người đãnói: "Chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản xứ ta khai thácnhững nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác Chúng ta sẽ mời những nàhchuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu đến đây giúp việc cho chúng tatrong việc kiến thiết quốc gia " cuối năm 1946 trong "Lời kêu gọi Liên hiệpquốc" Người lại viết "Trong chính sách đối ngoại của mình, nhân dân Việt Nam sẽtuân thủ những nguyên tắc dưới đây":
1) Đối với Lào và Miên (Campuchia), nước Việt Nam luôn tôn trọng nền độclập của hai nước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệtđối giữa các nước có chủ quyền
2) Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mởcửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
Một là nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của nhà tư bản,nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình
Hai là, nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường xá giaothông cho việc buôn bán quá cảnh quốc tế
Ba là, nước Việt Nam tham gia một tổ chức hợp tác quốc tế dưới sự lãnh đạo
Trang 19của Liên hiệp quốc.
Tuy nhiên trong thời gian đó, do hoàn cảnh lịch sử, quan hệ quốc tế của nước
ta chỉ giới hạn trong Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) khối liên kết kinh tế xã hộichủ nghĩa Có nghĩa là Việt Nam chỉ có quan hệ kinh tế với các nước xã hội chủnghĩa, mà chủ yếu là nước ta dựa vào sự giúp đỡ của họ, đặc biệt là Liên Bang XôViết
Tiếp theo đó là hai cuộc kháng chiến trường kỳ thần thánh chống Pháp vàchống Mỹ của dân ta Mọi nguồn lực, sức người, sức của đểu được tập trung tối đacho chiến tranh, các vấn đề khác tạm thời gác lại
Đến khi đất nước hoàn toàn giải phóng, nước ta lại tập trung khôi phục nềnkinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung có sự giúp đỡ to lớn của xã hội chủnghĩa trong Hợp đồng tương trợ kinh tế (SEV)?
Đồng thời nhận thấy xu thế toàn cầu hoá đang ngày càng tăng lên, các quốcgia ở mức độ này hay mức độ khác đều tuỳ thuộc vào nhau, do đó nếu nước nàođóng cửa với thế giới là đi ngược xu thế của thời đại mà mở cửa và hội nhập kinh
tế quốc tế là yêu cầu tất yếu hướng tới sự phát triển Đại hội VI của Đảng (12 1986), trong khi quyết định chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung quanliêu bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì cũngđồng thời chủ trương: Việt Nam phải tham gia ngày càng rộng rãi vào sự phân cônglao động quốc tế, tích cực phát triển quan hệ kinh tế và khoa học, kỹ thuật với cácnước, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng cùng cólợi
-Tuy nhiên trong tình hình cuộc chiến tranh lạnh lúc đó tiếp diễn, Mỹ vẫnngoan cố kéo dàu việc bao vây, cấm vận chống lại nước ta thì việc thực hiện chínhsách mở cửa và hội nhậ kinh tế quốc tế của Việt Nam những năm tiếp theo đó chủyếu nghiêng về một phía - Liên Xô và các nước chủ nghĩa xã hội trong Hội đồngtương trợ kinh tế (SEU)
Trang 20Phải trải qua gần 5 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta bắt đầu vận hành có kết quả, đồng thời đứng trước thực tế của cácnước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã sụp đổ, Liên Xô cũng đang trượt dài tới bờ vựccủa sự tan rã, đại hội VII của Đảng (6 - 1991) mới đề ra các luận điểm có ý nghĩaphương châm chỉ đạo, tổng quát cho việc thị trường chính sách mở cửa và hội nhậpkinh tế quốc tế rộng rãi ở nước ta "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nướctrong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển"; "Đa dạnghoá, đa phương hoá quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh tế trênnguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền bình đẳng và cùng có lợi".
Đại hội Đảng lần thứ VIII ( 6- 1996) tiếp tục cụ thể hoá các luận điểm trên vàquyết định "đẩy nhanh quá trình hội nhậ kinh tế khu vực và thế giới" Nghị quyếthội nghị Trung ương lần thứ IV khoá VIII (12 - 1997) cũng đã đưa ra nguyên tắchội nhập kinh tế quốc tế của nước ta
Một là, trên vấn đề phát huy nội lực, thực hiện nhất quán lâu dài chính sáchthu hút nguồn lực bên ngoài
Hai là, tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán Hiệp định Thươngmại Việt - Mỹ, gia nhập APEC và WTO
Ba là, có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khu vựcAFTA
Gần đây nhất, Đại hội IX của Đảng (4 - 2001) tiếp tục vạch ra phương châmcho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian 10 năm tới 2001 - 2010: " nâng lên một bước mới gắn với việc thực hiện các cam keets quốc tế đòi hỏi chúng
ta phải ra sức nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh và khả năng độc lập tự chủ của nềnkinh tế, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế" Nghị quyết Đại hộiĐảng lần này lại nhấn mạnh thêm: "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vựctheo tinh thần tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tựchủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ
Trang 21gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường".
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và những luận điểm có ý nghĩa phươngchâm chỉ đạo hành động của Đảng, 15b năm qua cùng với việc đẩy mạnh sựnghiệp đổi mới toàn diện đất nước, Nhà nước ta lần lượt thi hành một loạt biệnpháp để thúc đẩy tiến trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế
Tháng 12 - 1987, Quốc hội nước ta thông qua Luật đầu tư nước ngoài ViệtNam và cho đến nay vẫn liên tục được bổ sung, sửa đổi để phù hợp với tình hìnhtrong nước và quốc tế từng giai đoạn
Năm 1989, Việt Nam đã mở các cuộc đàm phán để nối lại quan hệ quỹ tiền tệquốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) và đến tháng 10 - 1993 đã bình thườnghoá quan hệ tín dụng với hai tổ chức tài chính, tiền tệ lớn nhất thế giới này
Tháng 7/1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, và từ ngày 01/01/1999bắt đầu thực hiện cam kết trong khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do ASEAN tứcAFTA, cũng tháng 7 này, Việt Nam đã ký kết Hiệp định chung về hợp tác kinh tế,khoa học, kỹ thuật, và một số lĩnh vực khác với cộng đồng Châu Âu (nay là Liênminh Châu Âu EU), đồng thời bình thường hoá quan hệ với Mỹ
Tháng 3/1996 Việt Nam tham gia với tư cách thành viên sáng lập diễn đànhợp tác kinh tế á - Âu (ASEM)
Tháng 11/1998, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã được ký kết vàsau bao nhiêu nỗ lực, Hiệp định chính thức có hiệu lực vào ngày 10/12/2001 màkhông kèm theo cái gọi là Đạo luật nhân quyền nghị viện và tổng thống Mỹ đưa ra.Đây là bước tiến thuận lợi trong quá trình gia nhập WTO của nước ta Mà trước đó,cuối năm 1994, Nhà nước ta đã gửi đơn xin gia nhập vào tổ chức này, hiện đangtrong quá trình đàm phán để được kết nạp
Tháng 9 /2001, tại Hà Nội đã diễn ra hội nghị Bộ trưởng kinh tế các nước á
-Âu lần thứ 3 (EMM - 3) và Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 33 và điềuphối viện Châu á của EMM - 3 và đã hoàn thành một cách tốt đẹp bạn bè đã biết