1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

THIẾT BỊ XƯỞNG CƠ KHÍ Ô TÔ

66 952 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 5,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài các dụng cụ đo thông dụng trên, còn có một số dụng cụ đo khác như: Dưỡng so ca-lip đo trong dùng để đo đường kính trong của một số chi tiết như bạc lót, lỗ trục,… Đồng hồ đo trong

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM

KHOA CƠ KHÍ ĐỘNG LỰC BỘ MÔN KHUNG GẦM

Tài liệu học tập

THIẾT BỊ XƯỞNG Ô TÔ

ThS Huỳnh Phước Sơn

TP.HCM, 06-2007

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM

KHOA CƠ KHÍ ĐỘNG LỰC BỘ MÔN KHUNG GẦM

Tài liệu học tập

THIẾT BỊ XƯỞNG Ô TÔ

ThS Huỳnh Phước Sơn

TP.HCM, 06-2007

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM

KHOA CƠ KHÍ ĐỘNG LỰC BỘ MÔN KHUNG GẦM

Tài liệu học tập

THIẾT BỊ XƯỞNG Ô TÔ

Biên soạn: ThS Huỳnh Phước Sơn

TP.HCM, 06-2007

Trang 4

Lời nói đầu

Trong quá trình đào tạo theo chương trình công nghệ (áp dụng từ khóa 2004), sinh viên ngành Cơ khí Động lực của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh được học môn Thiết bị xưởng ô tô (01 tín chỉ) Mục đích của môn học nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về các thiết bị được sử dụng trong ngành công nghệ sửa chữa ôtô

Nội dung của Tài liệu học tập trình bày các chức năng, đặc điểm, thông số kỹ thuật, cấu tạo và hoạt động cơ bản, cũng như phạm vi ứng dụng, các nguyên tắc cơ bản khi sử dụng thiết bị, giúp cho sinh viên có khả năng chọn lựa thiết bị thích hợp cho công việc, sử dụng và vận hành đúng, chính xác, nâng cao hiệu quả sử dụng các thiết bị trong xưởng

Tài liệu gồm có 3 chương:

Chương 1: Các thiết bị cơ bản

Chương 2: Các thiết bị công nghệ

Chương 3: Một số hình thức bố trí nhà xưởng

Tài liệu chỉ lưu hành nội bộ, và chắc chắn còn nhiều thiếu sót Người viết rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của quí Thầy Cô giáo và các bạn sinh viên, xin liên hệ: Huỳnh Phước Sơn, Bộ môn Khung gầm, Khoa Cơ khí Động lực, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.HCM (email:sonhp@hcmute.edu.vn) Chân thành cảm ơn

Tp Hồ Chí Minh, tháng 06-2007 ThS Huỳnh Phước Sơn

Trang 5

MỤC LỤC

Chương 1: THIẾT BỊ CƠ BẢN 3

Chương 2: THIẾT BỊ CÔNG NGHỆ 23

I.4 Thiết bị đo độ khói đen của khí xả động cơ Diesel 27

I.6 Thiết bị kiểm tra đèn chiếu sáng phía trước 29

I.8 Thiết bị kiểm tra các góc đặt bánh xe 32

Trang 6

Chương 3: MỘT SỐ HÌNH THỨC BỐ TRÍ NHÀ XƯỞNG 44

Trang 7

Chương 1: THIẾT BỊ CƠ BẢN

I CÁC THIẾT BỊ CHUNG

Các thiết bị chung trong xưởng sửa chữa ô tô bao gồm các dụng cụ sửa chữa cầm tay như các bộ cờ-lê, đầu khẩu (đầu tuýp), tuốc-nơ-vít, kềm; các thiết bị đo như thước kẹp, pan-me, so kế, thước lá, đồng hồ đo điện, đồng hồ đo áp suất,… và các thiết bị hỗ trợ công việc gia công sửa chữa như máy mài, máy khoan, bàn nguội,…

I.1 Các dụng cụ sửa chữa cầm tay

Hình 1.1 giới thiệu một số dụng cụ sửa chữa cầm tay thông dụng dùng để tháo và lắp các bộ phận, chi tiết trên ô tô trong quá trình bảo dưỡng và sửa chữa

Hình 1.1: Các dụng cụ sửa chữa cầm tay

a/ Cờ-lê (chìa khóa): dùng để tháo hay siết chặt các bu lông, đai ốc Có

nhiều loại cờ-lê khác nhau (hình 1.2):

Loại 2 đầu hở: giúp thao tác tháo lắp nhanh nhưng dễ bị trượt nếu siết với mô men lớn, loại này thích hợp cho việc giữ hay khóa các bu lông, đai ốc Loại 2 đầu vòng (6 hay 12 cạnh): đầu cờ-lê ôm chặt các mặt bên của đầu bu lông, đai ốc nên khi mở hay siết khó bị trượt Loại 6 cạnh thích hợp cho việc siết với mô men lớn do diện tích tiếp xúc nhiều, loại 12 cạnh siết với mô men nhỏ hơn nhưng có tầm xoay thuận tiện hơn khi thao tác ở các vùng hẹp

Loại tổ hợp một đầu vòng và một đầu hở: được sử dụng phổ biến nhất do thuận tiện trong thao tác

Loại 2 đầu vòng hở miệng: dùng để tháo lắp các đai ốc đầu ống dầu, ống hơi

Trang 8

Hình dáng của cờ-lê cũng có nhiều kiểu khác nhau tùy theo công dụng để đáp ứng các nhu cầu tháo lắp khác nhau

Hình 1.2: Các loại cờ-lê

b/ Bộ đầu khẩu (tuýp): bao gồm các đầu khẩu có kích thước khác nhau, các

loại cần siết, thanh nối, khớp nối (hình 1.3) Chức năng của bộ đầu khẩu tương tự như của cờ-lê đầu vòng nhưng cho mô men siết lớn hơn và có thể thao tác ở những vị trí đặc biệt như vùng hẹp, lỗ sâu, trong nghách…

Đầu khẩu có các loại: 4 cạnh, 6 cạnh, 8 cạnh và 12 cạnh Độ sâu của đầu khẩu có 2 loại: loại tiêu chuẩn và loại sâu (sâu gấp 2÷4 lần so với loại tiêu chuẩn)

Kích thước các đầu nối với cần siết có các cỡ 1/4’’, 3/8’’, 1/2’’, 3/4’’

Kích thước của các đầu khẩu cũng như các đầu cờ-lê được phân loại theo hệ mét (ví dụ 8, 10, 19mm) hay hệ inch (ví dụ 1/2’’, 15/16’’)

Cần siết có nhiều loại như cần thường, cần có cóc xoay một chiều, cần quay nhanh (ma-ni-ven) dùng để mở hay siết nhanh

Đầu khẩu thường có hai màu: loại màu sáng có độ cứng thấp thích hợp cho việc vặn bằng tay, loại màu đen có độ cứng lớn hơn được sử dụng với súng hơi Ngoài ra còn có một số bộ đầu khẩu có dạng đầu khẩu đặc biệt như đầu lục giác lồi, đầu bông bát giác lồi,… để vặn các đầu bu lông hay đai ốc đặc biệt

Hình 1.3: Bộ đầu khẩu

- Tuốc-nơ-vít: gồm có loại đầu bằng, đầu chữ thập và một số đầu đặc biệt

khác với nhiều kích thước khác nhau, được sử dụng chủ yếu trong việc tháo lắp

Trang 9

các bộ phận và chi tiết thuộc hệ thống điện và nội thất xe

Hình 1.3: Các loại tuốc-nơ-vít

c/ Kềm: Có nhiều loại kềm (hình 1.4) có chức năng khác nhau như:

Kềm răng, kềm mỏ quạ, kềm mỏ nhọn: dùng để kẹp, giữ hay kéo và mở một số chi tiết

Kềm cắt để cắt và tuốt dây điện, một số dây thép nhỏ Kềm mở khoen để tháo và lắp các khoen chặn, có hai kiểu kềm bung và kềm bóp khoen chặn Kềm bấm dùng để kẹp giữ chặt hay mở một vài chi tiết đặc biệt cần có lực vặn lớn hơn so với các kềm thường…

Hình 1.4: Các loại kềm

Trên hình 1.5 giới thiệu hai loại

mỏ-lếch thường và mỏ-mỏ-lếch răng Ưu điểm

của mỏ-lếch là có thể thay đổi kích

thước của rãnh ngàm nên thuận tiện

trong việc giữ và mở một số chi tiết thay

cho cờ-lê Riêng mỏ-lếch răng nhờ sự

vấu chặt của ngàm răng nên thường

dùng để mở các chi tiết có kích thước

lớn hay các ống hình trụ

Hình 1.5: Các loại mỏ-lếch

d/ Búa: Tùy theo mục đích sử dụng mà có nhiều loại búa khác nhau được

trang bị trong xưởng sửa chữa ô tô như búa sắt (thép), búa đồng, búa nhựa, búa

Trang 10

cao su với nhiều hình dáng và kích cỡ khác nhau (hình 1.6)

Các loại búa sắt thường được dùng để đóng tạo ra xung lực để tháo và thay thế chi tiết nào đó, sửa chữa bề mặt thân xe, hay kiểm tra độ siết chặt của các

bu lông và gầm xe Đầu búa có nhiều hình dáng khác nhau như đầu tròn, đầu nhọn, đầu bằng, đầu ngang, đầu dọc…

Búa đồng và búa nhựa do có độ mềm nên không phá hỏng bề mặt các chi tiết được đóng

Hình 1.6: Các loại búa

Ngoài một số dụng cụ cơ bản nói trên, còn có một số dụng cụ thuộc nhóm gia công như các loại mũi đục, mũi đột, mũi ta-rô, cưa sắt, các loại giũa,… (hình 1.7)

Hình 1.7: Các dụng cụ gia công

e/ Tủ dụng cụ: Để bảo quản tốt dụng cụ và thuận tiện trong sử dụng, tất cả

các dụng cụ sửa chữa cầm tay thông dụng thường được bố trí đầy đủ và sắp xếp hợp lý trong một tủ dụng cụ Một tủ dụng cụ có thể được trang bị từ vài chục đến vài trăm dụng cụ sửa chữa cầm tay thông dụng và một số dụng cụ hỗ trợ đặc biệt khác đáp ứng nhu cầu sửa chữa

Tủ dụng cụ có thể được treo cố định trên tường hay được thiết kế dưới dạng

xe đẩy để thuận tiện trong sử dụng

Trang 11

Hình 1.8: Tủ dụng cụ

I.2 Các dụng cụ đo

a/ Thước kẹp: dùng để đo đường kính ngoài, đường kính trong, chiều dài và

độ sâu Độ chính xác của phép đo thông thường là 0,05mm Đối với một số thước kẹp có gắn đồng hồ điện tử thì độ chính xác của phép đo có thể đạt 0,02 hay 0,01mm Phạm vi đo của thước gồm có các cỡ: 0∼150, 0∼200, 0∼300 mm Thước kẹp thường được dùng để đo các chi tiết mà không cần độ chính xác cao như đường kính của phốt chắn dầu và lỗ lắp phốt, ổ đỡ, chiều dài cần đẩy,

ly hợp,…

Hình 1.9: Thước kẹp

b/ Pan-me: là dụng cụ dùng để đo chiều dày và đường kính ngoài của các

chi tiết, có độ chính xác phép đo cao: 0,01mm Có nhiều kích cỡ pan-me theo phạm vi đo: 0 ∼ 25mm, 25 ∼ 50mm, 50 ∼ 75mm, 75 ∼ 100mm

Hình 1.10: Pan-me

Trang 12

Trên ô tô, pan-me thường được sử dụng để đo các chi tiết cần có độ chính xác cao như chiều dày đệm chỉnh khe hở xú-páp, đường kính ngoài pít-tông, ắc pít-tông, các cổ trục khuỷu, trục cam,…

Ngoài ra còn có loại pan-me đo đường kính trong

c/ Đồng hồ so (so kế): là dụng cụ đo hiển thị bằng kim Chuyển động lên

xuống của đầu đo được chuyển thành chuyển động quay của kim chỉ ngắn và dài Có hai đồng hồ đo: đồng hồ lớn chia thành 100 vạch, mỗi vạch tương ứng 0,01mm, có kim dài chỉ thị kết quả Đồng hồ nhỏ chia thành 10 vạch, mỗi vạch tương ứng 1mm, được chỉ thị kết quả bằng kim ngắn Khi kim dài quay được một vòng thì kim ngắn quay được một vạch Độ chính xác của phép đo là 0,01mm

Đồng hồ so dùng để đo độ độ lệch hay cong của trục, độ vênh của các bề mặt, ví dụ như độ rơ dọc trục của các trục khuỷu, trục và bánh răng trong hộp số, hành trình của các pít-tông trong hộp số tự động, độ đảo của trục cạc-đăng, độ vênh của bánh đà, đĩa phanh,…

Đầu đo của đồng hồ so có nhiều kiểu:

Loại dài (A): dùng để đo những chi tiết ở những nơi chật hẹp

Loại con lăn(B): dùng để đo những bề mặt lồi lõm, như đo độ vênh của đĩa

ma sát trong bộ ly hợp

Loại bập bênh (C): dùng để đo những chi tiết mà do dao động nên đầu đo không thể chạm trực tiếp vào

Loại phẳng (D): dùng để đo trên bề mặt các vấu lồi

Hình 1.11: Đồng hồ so

Ngoài các dụng cụ đo thông dụng trên, còn có một số dụng cụ đo khác như: Dưỡng so (ca-lip đo trong) dùng để đo đường kính trong của một số chi tiết như bạc lót, lỗ trục,…

Đồng hồ đo trong có độ chính xác phép đo cao (0,01mm) dùng để đo đường kính trong của các xy lanh

Thước lá (bộ lá cỡ) gồm nhiều cỡ lá có chiều dày khác nhau dùng để đo các khe hở như khe hở xú-páp, độ rơ dọc trục của các bánh răng số,…

Trang 13

Đồng hồ đo điện (đồng hồ VOM) loại hiển thị bằng kim hay bằng số dùng để

đo điện trở, hiệu điện thế, cường độ dòng điện, đi-ốt,…

Hình 1.12: Dưỡng so (a), đồng hồ đo trong (b),

đồng hồ đo điện (c), thước lá (d)

I.3 Bàn nguội, bàn rà

Bàn nguội là bàn làm việc chính trong xưởng sửa chữa, phần lớn công việc thao tác, sửa chữa được thực hiện trên bàn nguội Bàn nguội thường được bố trí

ở sát vách xưởng, cách xa khu vực xe đậu Bàn nguội được làm bằng khung sắt, mặt gỗ hay tấm sắt dày Đặc điểm của bàn nguội là có khối lượng lớn, không bị rung động hay xê dịch khi thao tác Trên bàn nguội thường gắn các ê-tô để gá hay kẹp các chi tiết cần kiểm tra, sửa chữa (Hình 1.13)

Hình 1.13: Bàn nguội mặt gỗ và mặt cao su

Trang 14

Một số bàn nguội dùng để thao tác các chi tiết nhỏ, chính xác hay cần vệ sinh sạch sẽ thì mặt bàn thường được bọc một tấm i-nox, nhôm hay một tấm cao su để dễ vệ sinh và bảo vệ các chi tiết Một số khung bàn được gá trên các bánh xe để dễ di chuyển

Bàn rà cho phép thực hiện các thao tác chà nhám, mài rà mặt phẳng chi tiết trên mặt bàn rà, đồng thời cho phép thực hiện một số phép đo, kiểm tra chi tiết trên đó Do yêu cầu như vậy, nên bàn rà phải có độ phẳng cao, láng, không bị giãn nở, cong vênh Do đó, mặt bàn rà thường được làm bằng đá hay hợp kim thép có chiều dày lớn từ 150 – 200 mm, không bị biến dạng bề mặt (Hình 1.14)

Hình 1.14: Bàn rà

I.4 Máy ép

Máy ép tạo ra lực ép lớn dùng để tháo rời hay lắp ghép các chi tiết có độ dôi, ví dụ như ép hay tháo rời các vòng lăn của ỗ đỡ bánh xe, các khớp cao su trong hệ thống treo

Hiện nay, máy ép thủy lực điều khiển bằng tay là loại được sử dụng thông dụng nhất trong các xưởng sửa chữa ô tô Ưu điểm của máy ép loại này là vận hành đơn giản và nhờ nguyên lý truyền động thủy lực có tỉ số truyền lớn nên người sử dụng chỉ cần tác dụng một lực nhỏ lên cần bơm là có thể tạo ra một lực ép lớn ở trụ ép

Hình 1.15: Máy ép thủy lực

Trang 15

Cách sử dụng: Đặt cụm chi tiết cần tháo hay lắp lên bàn ép, điều chỉnh độ

cao bàn ép để đúng tầm với hành trình làm việc của trụ ép, định vị chắc chắn

chi tiết cần ép Dùng tay điều khiển cần bơm dầu nén dầu có áp suất vào xy lanh đẩy trụ ép tác dụng lên cụm chi tiết Nên mang kính bảo hộ và cẩn thận khi thao tác (Hình 1.15)

Thông số cơ bản của một số loại máy ép thủy lực thông dụng:

Model

Tải trọng (sức ép) (tấn)

Aùp suất làm việc (kg/cm2)

Hành trình làm việc (mm)

Kích thước H-D-W (mm)

Khối lượng (kg) 33497-5

32879-8

I.5 Máy khoan

Máy khoan dùng để gia công các lỗ trên các chi tiết bằng kim loại như sắt,

thép, nhôm, gang hay bằng nhựa, gỗ Chúng được phân loại như sau:

- Theo chức năng có máy khoan cầm tay và máy khoan bàn; (Hình 1.16)

- Theo nguồn năng lượng dẫn động có máy khoan điện và máy khoan hơi;

- Theo cỡ mũi khoan lớn nhất mà vấu kẹp có thể kẹp được có máy khoan cỡ

1/2 inch, 1/4 inch,…

Các chú ý khi sử dụng:

- Dùng đục và búa tạo một lỗ nhỏ để đánh dấu vị trí khoan trên chi tiết giúp

cho mũi khoan không bị trượt

- Cố định vật được khoan chắc chắn, tránh bị xê dịch, xoay tròn Tất cả các

khoan điện đều rất rung

- Đối với khoan tay nên giữ khoan tại vị trí thích hợp và tì đủ lực để đâm xuyên vật khoan

- Ngay trước khi khoan đâm thủng, cần giảm bớt lực ép để tránh xóc

- Giữ quần áo, ống tay áo cách xa khỏûi mũi khoan Không được mang găng

tay khi khoan

- Cho vào vị trí khoan một lượng nhỏ dầu cắt sẽ giúp cho việc khoan thép tốt

hơn

- Mũi khoan được mài với góc độ thích hợp sẽ cắt nhanh và êm, tạo ra các

phôi có kích thước đều nhau

- Chú ý tháo dây điện khỏi ổ cắm hay tắt công tắc khi tháo hay lắp mũi khoan vào vấu kẹp, Không được sử dụng khoan điện khi đứng trên vũng nước hay trên sàn ướt

Các thông số cơ bản của máy khoan:

Trang 16

- Điện áp, công suất của mô-tơ điện: thông thường 220VAC; 0.5, 1 HP,…

- Số vòng quay của cần khoan (mũi khoan): thông thường từ 250 đến khoảng 5.000v/p

- Đối với khoan bàn có thể thay đổi được nhiều tốc độ

- Đường kính mũi khoan

- Hành trình mũi khoan (khoan bàn)

Hình 1.16: Các loại máy khoan

I.6 Máy mài

Máy mài được dùng để mài bề mặt của các vật liệu và chi tiết khác nhau, hoặc dùng để mài sắc các mũi đục, đột,…

Máy mài cầm tay có loại sử dụng điện, loại sử dụng khí nén

Máy mài cố định sử dụng điện, có hai đĩa đá mài, thường là một đĩa mài thô và một đĩa mài tinh (Hình 1.17)

Hình 1.17: Các loại máy mài

Khi sử dụng máy mài cần phải thận trọng và tuân thủ theo các nguyên tắc an toàn:

- Sử dụng kính bảo hộ hay kính chắn bảo vệ để tránh bụi đá mài bay vào mắt;

Trang 17

- Không nên sử dụng mặt bên của đá mài;

- Công việc mài cần tránh xa các chất bay hơi gây cháy nổ như xăng, chất pha sơn, ắc quy;

- Khi lắp đặt đá mài mới, cần chắc chắn rằng nó được thiết kế phù hợp với tốc độ quay của máy mài Đồng thời quay đá mài tại tốc độ cao nhất xem nó có tiếng động lạ hoặc bị rung lắc không

Thông số cơ bản của một số loại máy mài cố định:

Model BG1000G Snap-on BG500G Snap-on

50Hz,1HP

220VAC,1 pha,50Hz,

1/2HP

I.7 Máy nén khí

Máy nén khí dùng để cung cấp nguồn khí có áp suất cao phục vụ cho công tác sửa chữa Rất nhiều công việc trong xưởng phải cần đến nguồn khí nén như: các thiết bị dẫn động bằng khí nén như súng vặn bu-lông, máy mài, máy khoan cầm tay loại hơi, xả gió hệ thống phanh, sơn xe, bơm bánh xe, vệ sinh, thổi sạch các chi tiết,…Máy nén khí phải có công suất và dung lượng đủ lớn để có khả năng phục vụ đồng thời nhiều thiết bị và công việc trong xưởng Nguồn khí nén được phân phối đến nhiều trạm trong xưởng thông qua hệ thống lọc (kể cả sưởi nếu cần thiết như khí nén dùng để phun sơn) và các đường ống phân phối khí nén

Hình 1.18: Máy nén khí

Trang 18

Phần lớn các máy nén khí hiện đang sử dụng là loại bơm pít-tông Cấu tạo chung gồm có: một mô-tơ điện dẫn động trục khuỷu của bơm nén pít-tông thông qua dây đai, khí nén được đưa vào bình chứa Ngoài ra còn có các công tắc áp suất, đồng áp suất khí nén, cơ cấu điều chỉnh áp lực khí nén và các van an toàn (Hình 1.18)

Các máy nén khí đều nên đặt ở chế độ tự động và có các van xả an toàn Thông số cơ bản của một số máy nén khí thông dụng:

Model B7000/500CT- ABAC-Ý HANSHIN-KOREA

I.8 Bồn rửa chi tiết

Bồn rửa chi tiết (hình 1.8) sử dụng một dung dịch chất tẩy rửa được đốt nóng và phun ra với một áp suất cao giúp cho quá trình rửa chi tiết được sạch và nhanh, đồng thời tiết kiệm dung dịch chất tẩy rửa Một lượng dung dịch trong bình chứa được lọc sạch và được bơm dầu đưa lên vòi phun rửa chi tiết (áp suất khoảng 300 – 400 PSI) sau đó trở về lại bình chứa

Hình 1.19: Bồn rửa chi tiết

I.9 Các thiết bị khác

a/ Nhóm dụng cụ chuyên dùng: dùng để tháo lắp các chi tiết đặc biệt được

dễ dàng, nhanh chóng và không phá hỏng chi tiết, bao gồm một số vam, cảo

- Nhóm dụng cụ chuyên dùng tháo lắp phần động cơ (hình 1.20):

Kềm tháo và lắp xéc-măng vào pít-tông (a)

Dụng cụ lắp cụm pít-tông, xéc-măng vào xy lanh (b)

Trang 19

Cảo tháo và lắp xú-páp vào nắp máy (c)

Bộ dụng cụ tháo lọc nhớt động cơ có nhiều cỡ khác nhau để mở được nhiều loại lọc nhớt (d)

Cần siết đo lực dùng để siết các bu lông, đai ốc đúng lực siết qui định (e) Cần siết đo lực có nhiều cỡ khác nhau theo phạm vi lực đo và có nhiều cách đo khác nhau như đo bằng đồng hồ, thang đo,…

Hình 1.20: Các dụng cụ chuyên dùng tháo lắp động cơ

- Nhóm vam, cảo sửa chữa hệ thống gầm ô tô (hình 1.21):

Cảo 2 hay 3 chấu (a), cảo đĩa dùng để tháo ổ đỡ, bánh răng,…

Cảo các khớp cầu của hệ thống treo và lái (b)

Cảo nén lò xo: nén và giữ các lò xo của hệ thống treo trong quá trình tháo lắp (c)

Bộ búa giật tạo nên xung lực mạnh để tháo một số chi tiết như bán trục (d)

Hình 1.21: Các dụng cụ chuyên dùng tháo lắp hệ thống gầm

Trang 20

b/ Nhóm dụng cụ phục vụ tháo hộp số, bôi trơn (hình 1.22):

- Đội nâng hạ hộp số điều khiển bằng thủy lực sử dụng khi tháo lắp hộp số lên xe (a)

- Bình hứng và hút dầu thải bằng khí nén (b)

- Thùng bơm mỡ hay dầu nhớt bằng tay hay khí nén (c)

Hình 1.22: Các thiết bị nâng hạ hộp số và bôi trơn

c/ Nhóm thiết bị vệ sinh (hình 1.23):

- Máy súc rửa hệ thống nhiên liệu loại dùng cho động cơ xăng và động cơ diesel, máy chứa hóa chất tẩy rửa đặc biệt và có thể súc rửa hệ thống nhiên liệu khi động cơ đang nổ

- Máy kiểm tra và phun cát vệ sinh bu-gi đánh lửa

Hình 1.23: Máy súc rửa nhiên liệu (a) và vệ sinh bu-gi (b)

II CÁC THIẾT BỊ CỐ ĐỊNH

II.1 Hầm xe

Hầm xe được đào âm xuống dưới mặt nền xưởng và được xem là một thiết bị vạn năng được dùng nhiều ở các xưởng sửa chữa ô tô và dùng để kiểm tra xe ở các trạm đăng kiểm Nó cho phép thực hiện đồng thời nhiều công việc từ mọi phía của xe, đặc biệt là các thao tác ở phía dưới gầm xe

Cấu tạo của hầm xe phụ thuộc vào loại ô tô, các trang thiết bị và nhiệm vụ của hầm Hầm xe có nhiều kiểu kết cấu và bố trí khác nhau (hình 1.24) được phân loại như sau:

Trang 21

- Theo chieău roông haăm: coù haăm roông, haăm hép;

- Theo caùch xe vaøo, ra: coù haăm taôn ñaău vaø haăm thođng qua;

- Theo keât caâu: coù haăm ôû giöõa hai baùnh xe, haăm ôû hai beđn cánh xe, haăm nađng, haăm treo baùnh xe

Caùc loái haăm coù theơ laøm ñoôc laôp hoaịc giöõa caùc haăm coù haøo noâi thođng caùc haăm vôùi nhau

Haăm hép: laø loái haăm coù chieău roông nhoû hôn khoạng caùch giöõa hai meùp trong cụa loâp, chieău roông khoạng 0,7-1,1m, coù theơ duøng cho taât cạ caùc loái xe Haăm roông: laø loái haăm coù khoạng caùch lôùn hôn khoạng caùch giöõa hai meùp ngoaøi baùnh xe thöôøng roông 1,4 – 3m

Ñoâi vôùi haăm roông thöôøng thieât keẫ coù chieău daøi daøi hôn ođ tođ töø 1- 1.2m, haăm phại coù baôc leđn xuoâng Ñeơ an toaøn cho xe di chuyeơn, dóc theo hai thaønh haăm phại coù gôø chaĩn cao khoạng 15 cm baỉng beđ tođng coât theùp hoaịc baỉng kim loái, haăm taôn ñaău phại coù gôø chaịn ôû cuoâi haăm Ñaùy haăm neđn loùt saøn goê ñeơ traùnh aơm öôùt Beđn thaønh haăm coù theơ boâ trí caùc hoôc laøm tụ ñöïng dúng cú, boâ trí ñeøn chieâu saùng, thođng gioù, coù theơ boâ trí caùc thieât bò nađng, tra daău, môõ

Hình 1.24: Keât caâu caùc loái haăm xe

Öu ñieơm cụa haăm xe theơ hieôn ôû tính ván naíng cụa noù, coù theơ tieân haønh cuøng moôt luùc caùc cođng vieôc ôû mói phía ñeău ñạm bạo an toaøn, traùnh beônh ngheă nghieôp cho cođng nhađn

Nhöôïc ñieơm: Khạ naíng chieâu saùng vaø thođng gioù töï nhieđn keùm, toân dieôn tích, cạn trôû ñeân vieôc quy hoách maịt baỉng sạn xuaât

Haăm xe

Trang 22

II.2 Cầu cạn

Cầu cạn là cầu nâng bố trí cao hơn mặt đất từ 0.7 – 1.4m có độ đốc khoảng 20–25% để ô tô lên xuống dễ dàng

Cầu cạn có thể làm bằng gỗ, sắt để di chuyển hoặc xây bằng gạch, bê tông Cầu cạn có ưu điểm là kết cấu đơn giản, có thể di chuyển được, thuận tiện cho việc bảo dưỡng ở phía dưới và hai bên nhưng cũng còn nhược điểm là không nâng bánh xe lên được và có độ dốc để xe lên xuống nên chiếm diện tích lớn

III CÁC THIẾT BỊ NÂNG HẠ

III.1 Kích nâng thủy lực

Kích nâng thủy lực là loại thiết bị di động, dùng để nâng một phần xe lên khỏi mặt đất đến một độ cao nào đó để dễ dàng thao tác, bảo dưỡng hay sửa chữa

Có hai loại kích nâng thường sử dụng:

- Loại xách tay, điều khiển bằng cơ khí, có thể xếp gọn được (thường được gọi là đội xếp), hay loại kích hình trụ, điều khiển bằng thủy lực (thường được gọi là đội dầu)

- Loại kích điều khiển bằng thủy lực, bố trí trên các bánh xe, đẩy di động dễ dàng (có hình dáng gần giống như cá sấu, nên thường được gọi là đội cá sấu, hình 1.25)

Bàn đạp bơm dầu

Cần điềukhiển Bệ đỡ

Trang 23

Hình 1.26: Pa-lăng

III.3 Cầu nâng xe

Cầu nâng là thiết bị dùng để nâng hạ ô tô lên khỏi mặt đất đến một độ cao thích hợp nào đó để dễ thao tác, bảo dưỡng và sửa chữa

Hầu hết các loại cầu nâng hiện nay đều được điều khiển bằng điện và thủy lực Có các loại cầu nâng phổ biến sau:

a/ Cầu nâng 2 trụ: Là loại cầu nâng có 2 trụ, mỗi trụ có 2 càng đỡ dùng để

nâng thân xe, khi đó các bánh xe được treo tự do Loại này thích hợp cho việc bảo dưỡng, sửa chữa các chi tiết thuộc cụm bánh xe như cơ cấu phanh, hệ thống treo, lái, tháo bán trục, hộp số,…

b/ Cầu nâng 4 trụ: gồm có 4 trụ và 2 tấm sàn đỡ, xe được đặt trên 2 tấm

sàn Loại này nâng hay hạ cả xe (tức nâng bánh xe), thích hợp cho việc kiểm tra, bảo dưỡng và sửa chữa gầm xe (hình 1.27)

Có loại cầu nâng 4 trụ kết hợp với thiết bị đo góc đặt bánh xe dùng để cân chỉnh các góc đặt bánh xe

Hình 1.27: Cầu nâng 2 trụ và 4 trụ

Trang 24

QJY-3.2-2C1 (4 trụ)

Hoạt động Điện – thuỷ lực

Chiều cao tổng

Độ rộng trong

Điện áp cung cấp

380V, 50Hz, 2.2KW

c/ Cầu nâng xếp: là loại cầu nâng chỉ có các càng xếp và không có trụ,ï được

thiết kế chìm dưới nền nhà xưởng Khi chưa nâng thì các càng xếp lại, toàn bộ

mặt sàn của cầu nằm sát mặt đất nên xe có thể dễ dàng chạy lên sàn Khi nâng,

nó sẽ bung các càng xếp dựng lên để nâng xe lên cao Loại này có thể nâng

được cả khung xe hay các bánh xe thích hợp cho việc kiểm tra, bảo dưỡng và

sửa chữa gầm xe Cơ cấu khóa an toàn của loại này được sử dụng bằng nguồn

khí nén Ưu điểm lớn của loại cầu nâng xếp là kết cấu gọn, có thể xếp được

dưới nền nhà xưởng, nên không choán diện tích sử dụng như hai loại cầu nâng

kể trên

Hình 1.28: Cầu nâng xếp

Toàn bộ hoạt động của cầu được điều khiển từ bảng điều khiển thông qua hệ

thống điện tử và thủy lực Cơ cấu chấp hành của cầu là các xy lanh thủy lực

nằm ở dưới chân các càng xếp Cầu có cơ cấu khóa an toàn được điều khiển

bằng điện, khí nén hay thủy lực Bề mặt sàn của cầu cũng có thể tăng rộng

Trang 25

thêm trong trường hợp xe có bề rộng lớn hay có bánh kép, hai đầu mặt sàn có tấm chặn để ngăn không cho bánh xe bị trượt Ngoài ra để thuận tiện khi làm việc, trên cầu còn bố trí một đường ống dẫn khí nén để cung cấp khí nén cho các thiết bị sử dụng khí nén như máy mở và siết bu lông, bình hút dầu phanh,… Kết cấu của một vài loại cầu nâng xếp như hình 1.28

Thông số cơ bản của một loại cầu nâng xếp thông dụng:

1P:2.5HP x 4P x 220V/50Hz (60Hz) Nguồn điện

3Ph: 2HP x 4P x 220V/380V/50Hz (60Hz) Điều khiển Bằng bảng điều khiển hoặc Remote (lựa chọn thêm)

Khóa an toàn

Điều khiển Nhấn nút khoá trên

bảng điều khiển

IV CÁC THIẾT BỊ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY

IV.1 Bình chữa cháy

Công tác phòng cháy chữa cháy ở xưởng sửa chữa ô tô cần phải được đầu tư và tổ chức thật tốt, vì đây là nơi tập trung nhiều chất dễ cháy như xăng, dầu, sơn và các chất phụ gia, máy hàn hơi, hệ thống điện,… dễ dẫn đến nguy cơ cháy nổ Thiết bị chữa cháy chủ lực tại chỗ trong các xưởng là các bình chữa cháy Số lượng bình chữa cháy và chủng loại phải đầy đủ theo qui định Vị trí đặt các bình chữa cháy phải hợp lý, ở nơi dễ nhìn thấy Hiện nay có hai loại bình chữa cháy thông dụng được sử dụng trong xưởng là bình CO2 và bình bột

Bình CO 2 dùng để chữa các đám cháy về điện là tốt nhất Nó không chữa

được kim loại cháy, hồ quang và một số chất giàu ô-xy Loại bình này có thể sử dụng được nhiều lần nếu áp suất khí trong bình còn cao

Bình bột dùng để chữa cháy các chất rắn, chất lỏng, chất khí và các chất

khí hóa lỏng dễ cháy như xăng, dầu, các chất tẩy rửa và phụ gia Trên bình bột có gắn đồng hồ đo áp suất trong bình, loại bình này chỉ được sử dụng một lần và phải nạp lại

Có hai loại bình xách tay và bình có xe đẩy như hình 1.29

Trang 26

Hình 1.29: Các loại bình chữa cháy

Một số thông số kỹ thuật của bình chữa cháy:

IV.2 Các thiết bị khác

Ngoài các bình chữa cháy, trong xưởng cần nên có các dụng cụ và thiết bị chữa cháy hỗ trợ như:

- Thùng đựng cát và xẻng;

- Bồn nước dự trữ và máy bơm, hệ thống đường ống nước;

- Lưỡi câu móc có cán gỗ dài, thang leo và bao bố,…

- Các thiết bị báo cháy tự động

X”W

Trang 27

Chương 2: THIẾT BỊ CÔNG NGHỆ

I THIẾT BỊ KIỂM TRA, CHẨN ĐOÁN

Để kiểm tra, chẩn đoán kỹ thuật các tổng thành của ô tô nói chung, đặc biệt là các hệ thống như động cơ, hệ thống truyền lực (hộp số tự động, cơ cấu khóa

vi sai,…), các hệ thống điều khiển điện tử như hệ thống phanh chống bó cứng (ABS), hệ thống điều khiển ổn định ô tô (ESP), hệ thống túi khí bảo vệ (SRS),… người ta thường sử dụng hai loại thiết bị chẩn đoán sau:

- Thiết bị chẩn đoán cầm tay (hand tester, scanner) để chẩn đoán tình trạng kỹ thuật của nhóm, cụm, một hệ thống hoặc một thông số nào đó của ô tô

- Thiết bị chẩn đoán chuyên sâu tổng hợp kiểm tra được nhiều thông số kỹ thuật của nhiều cụm, nhiều hệ thống của một hoặc vài tổng thành cùng một lúc

I.1 Thiết bị chẩn đoán cầm tay

Từ những năm 1980, các nhà sản xuất ô tô đã bắt đầu sử dụng hệ thống điều khiển điện tử để kiểm tra và chẩn đoán các vấn đề hư hỏng của ô tô gọi là hệ thống OBD (On-Board Diagnostic) Các máy chẩn đoán cầm tay được sử dụng kết nối với hệ thống này để phục vụ cho công tác chẩn đoán, kiểm tra và sửa chữa xe

Các chức năng chính của máy chẩn đoán cầm tay:

- Đọc và xóa mã lỗi (Diagnostic Trouble Code);

- Hiển thị dữ liệu hiện thời (Data);

- Đo các tín hiệu xung điện áp;

- Chế độ kích hoạt để kiểm tra trạng thái hoạt động của các cụm bộ phận hay kích hoạt cho một hệ thống nào đó làm việc

Hình 2.1: Máy chẩn đoán cầm tay

Trên hình 2.1 giới thiệu một loại máy chẩn đoán cầm tay, chúng được kết nối với các giắc chẩn đoán trên các xe qua bộ dây và các đầu nối khác nhau tùy theo kiểu xe Loại máy này có ưu điểm là kết cấu nhỏ gọn, đa chức năng, có

Trang 28

tính cơ động cao và dễ sử dụng, giúp chẩn đoán nhanh, chính xác các thông số kỹ thuật và phạm vi hư hỏng của các hệ thống Một máy có thể chẩn đoán được cho nhiều loại xe khác nhau nhờ các phần mềm dữ liệu của từng loại xe được cài đặt trong các card chương trình của máy

Ngoài ra, máy còn có thể được giao tiếp với máy vi tính để dễ phân tích, chẩn đoán, phục vụ giảng dạy và cập nhật các phần mềm dữ liệu, chương trình cho máy

Năm 1995, OBD thế hệ thứ hai ra đời (OBD-II) tạo thành một chuẩn thống nhất áp dụng chung cho các loại xe sản xuất từ năm 1996 trở đi, máy chẩn đoán thế hệ mới cũng được gọi là máy chẩn đoán OBD-II Giắc chẩn đoán của hệ thống OBD-II trên hầu hết các loại xe có dạng chuẩn là 16 chân, ngoại trừ một số xe sản xuất ở châu Aâu có thể khác số chân

I.2 Thiết bị chẩn đoán tổng hợp

Hình 2.2 giới thiệu một loại máy chẩn đoán tổng hợp

Máy được sử dụng để chẩn đoán tổng hợp và đồng thời nhiều thông số kỹ thuật của động cơ và một số hệ thống khác trên ô tô thông qua nhiều đầu đo khác nhau Hiện nay ở Việt Nam đang sử dụng các thiết bị chẩn đoán kỹ thuật của một số hãng chế tạo có uy tín như:John Beam, Snap-on của Mỹ, Tecnotest của Ý, Autodianostis của Australia,… Các thiết bị này về chức năng và nhiệm vụ đều giống nhau nhưng khác nhau chủ yếu là bộ phận xử lý trung tâm và các phần mềm dữ liệu

Cấu tạo chung của một máy chẩn đoán tổng hợp bao gồm các bộ phận: bộ đầu đo, bộ xử lý trung tâm, bộ hiển thị kết quả, lưu trữ và in ra giấy

Hình 2.2: Máy chẩn đoán tổng hợp

Trang 29

Các chức năng chính của máy chẩn đoán tổng hợp:

- Chức năng scan (chẩn đoán và báo lỗi) như một máy chẩn đoán cầm tay;

- Chức năng đo như một đồng hồ VOM;

- Chức năng đo xung (chế độ điện áp thấp và cao (xung đánh lửa));

- Đo các tổn thất về cơ (vị dụ như tình trạng tỉ số nén của động cơ);

- Kết hợp với các bộ chuyển đổi (ví dụ bộ chuyển đổi Vôn-Ampe,…) để chẩn đoán kỹ thuật một số hệ thống đặc biệt

Với các chức năng trên, đồng thời thông qua quá trình phân tích các kết quả

đo được, thiết bị có thể giúp ta chẩn đoán một cách trực tiếp hay gián tiếp tình trạng kỹ thuật của một số hệ thống như:

- Hệ thống điện, hệ thống đánh lửa,…;

- Nhóm trục khuỷu thanh truyền, pit-tông, xéc-măng – xy lanh – xú-páp;

- Hệ thống cung cấp nhiên liệu, thành phần cháy của khí xả…

- Các hệ thống điều khiển ABS, ESP, hộp số tự động, túi khí bảo vệ,…

Cấu tạo cơ bản của một máy chẩn đoán gồm có các cụm chính như:

- Các bộ đầu đo, dây cấp nguồn, tín hiệu

- Bộ xử lý trung tâm: gồm máy tính, bảng điều khiển, remote điều khiển Bộ xử lý trung tâm được cài đặt các phần mềm chuyên dùng cho phép nhận các tín hiệu từ các đầu đo để xử lý và hiển thị các thông tin, có chức năng giao tiếp với máy tính để hướng dẫn giảng dạy

- Phần mềm cơ sở dữ liệu cung cấp các thông số kỹ thuật, các mã lỗi…của các loại ô tô Phần mềm này nên được cập nhật hàng năm

- Phần hiển thị kết quả gồm màn hình hiển thị và máy in kết quả chẩn đoán Các thông số kỹ thuật của ô tô được truyền từ đầu đo đến bộ xử lý, sau đó hiển thị kết quả bằng đồ thị hoặc bằng số trên màn hình, hoặc in ra kết quả trên máy

in

I.3 Thiết bị phân tích khí xả

Theo quy định của Việt Nam, CO và HC là hai hạng mục phải kiểm tra đối với khí xả của phương tiện cơ giới đường bộ lắp động cơ đốt cháy hỗn hợp bằng tia lửa điện (động cơ sử dụng nhiên liệu xăng, gaz)

Thiết bị đo hàm lượng CO và HC trong khí xả làm việc theo một trong các nguyên tắc sau:

- Sử dụng nguồn nhiệt thừa của các chất chưa cháy hết có trong khí xả;

- Dựa vào khả năng truyền dẫn nhiệt của các chất có trong khí xả;

- Sử dụng tia hồng ngoại

a/ Thiết bị đo sử dụng nguồn nhiệt thừa

Ngoài các sản phẩm cháy hoàn toàn như H2O và CO2, trong khí xả còn có một số chất chưa cháy hết như CO, H2, HC… Để xác định hàm lượng các chất cần kiểm tra người ta đã sử dụng phương pháp đốt cháy tiếp các sản phẩm chưa cháy hoàn toàn có trong khí xả Một lượng khí xả xác định được trộn với không

Trang 30

khí và đi qua sợi đốt platin đã được đun nóng từ trước Chất chưa cháy hết có trong khí xả sẽ được đốt cháy tiếp tại đây và làm cho sợi platin nóng thêm, việc thay đổi nhiệt độ của sợi đốt sẽ làm thay đổi điện trở của nó Mức độ thay đổi tỷ lệ thuận với lượng chất cháy chưa hết có trong khí xả

Vì nhiệt của CO và H2 xấp xỉ nhau (CO = 65.7 Kcal/mol, H2 = 68,4 Kcal/mol) nên loại thiết bị này chỉ thích hợp cho trường hợp lượng H2 có trong khí xả thấp

Trong trường hợp HC có trong khí xả cao cũng dễ gây ra sai số lớn khi xác định CO, vì vậy nên mặc dù có kết cấu đơn giản nhưng ngày nay loại thiết bị này ít được sử dụng

b/ Thiết bị đo dựa vào khả năng truyền nhiệt

Nguyên lý làm việc của thiết bị này dựa vào khả năng truyền nhiệt khác nhau của các chất có trong khí xả

Một lượng khí xả xác định được cho đi qua một nhánh của mạch cầu Wheatstone, nhánh còn lại được đặt trong khoang chứa khí chuẩn Cả hai nhánh này đều được làm bằng cùng một vật liệu và có điện trở như nhau Từ sự khác biệt về khả năng truyền dẫn nhiệt của khí xả có lượng các chất chưa cháy hết khác nhau sẽ dẫn đến sự thay đổi về nhiệt độ và điện trở Dựa vào đó, ta có thể biết được lượng các chất cần xác định có trong khí xả

Loại thiết bị này cũng có các nhược điểm như loại thiết bị sử dụng nguồn nhiệt thừa nên hiện nay ít được sử dụng

c/ Thiết bị phân tích khí xả sử dụng tia hồng ngoại

Đây là loại thiết bị có độ chính xác cao, cho phép xác định được nhiều thành phần khí khác nhau có trong khí xả Vì vậy loại thiết bị sử dụng tia hồng ngoại được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước để kiểm tra các thành phần khí xả Thiết bị phân tích khí xả sử dụng tia hồng ngoại dựa vào tính chất hấp thụ ánh sáng của các chất khí khi có tia hồng ngoại chiếu qua Tùy theo kết cấu, thiết bị có thể cho phép xác định được một hoặc nhiều thành phần khí khác nhau, ví dụ CO hoặc CO/HC/CO2

Hình 2.3: Các bộ phận chính của máy phân tích khí xả

Trang 31

Các bộ phận chính của thiết bị (hình 2.3) gồm: bộ phát tia hồng ngoại (1,7), buồng chứa khí chuẩn (3), buồng chứa khí xả (8), bộ cảm ứng (4), bộ vi xử lý (5) và bộ hiển thị (6)

Với nhiệt độ sợi đốt khoảng 7000C, bộ phát tia phát ra tia hồng ngoại chiếu qua các buồng chứa khí tới bộ cảm ứng.Trong buồng chứa khí chuẩn người ta nạp đầy loại khí không có tính chất hấp thụ ánh sáng đối với tia hồng ngoại, thường là khí Nitơ Do tính chất hấp thụ tia hồng ngoại, thành phần khí có trong buồng chứa khí xả sẽ làm thay đổi tính chất của các tia chiếu, kết quả này được so sánh với các tia chiếu qua buồng khí chuẩn Khi đĩa 2 quay với vận tốc đều, các lỗ trên đĩa sẽ làm cho tia chiếu tới bộ cảm ứng biến đổi tuần hoàn, làm thay đổi áp suất và nhiệt độ trong 2 khoang chứa khí của bộ cảm ứng Tùy thuộc vào mức biến đổi, màng ngăn giữa hai khoang sẽ biến dạng nhiều hay ít Các tín hiệu từ bộ cảm ứng được sinh ra do sự biến dạng của màng ngăn được truyền về bộ vi xử lý và chuyển thành các giá trị tương ứng trên bộ hiển thị Hình 2.4 giới thiệu thiết bị phân tích khí xả MHC222 của hãng HERMANN (Đức) là loại thiết bị hiện nay đang được sử dụng rộng rãi ở các cơ sở sữa chữa và trạm đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ MHC 222 là thiết bị để đo các thành phần khí xả từ các động cơ xăng, gồm Carbon monoxide: CO, carbon dioxide: CO2, Hydrocarbon: HC, Oxygen: O2 MHC 222 cũng được dùng để đo hệ số dư lượng không khí, tốc độ quay của động cơ, góc đánh lửa sớm và nhiệt độ dầu bôi trơn động cơ

Hình 2.4: Máy phân tích khí xả MHC 222 – Hermann

I.4 Thiết bị đo độ khói đen của khí xả động cơ Diesel

Các thiết bị đo độ khói đen của khí xả động cơ diesel làm việc theo một trong hai nguyên lý sau đây:

- Dựa vào độ làm đen của giấy lọc khi cho luồng khí xả đi qua;

- Dựa vào độ cản quang của luồng khí xả

a/ Thiết bị đo sử dụng giấy lọc

Loại thiết bị sử dụng giấy lọc thường được các hãng sản xuất thiết bị đo của Nhật và Tiệp Khắc cũ áp dụng Mẫu khí thải cần kiểm tra được lấy từ đường

Trang 32

ống khí thải động cơ, đưa qua giấy lọc, làm đen giấy lọc Có hai cách đánh giá độ làm đen giấy lọc:

- Dựa vào độ phản quang của giấy khi có nguồn sáng chiếu vào;

- Quan sát và so sánh độ bị làm đen của giấy lọc với một bảng màu xám chuẩn

Ưu điểm của loại thiết bị này kết cấu đơn giản, giá thành thấp, nhưng nhược điểm là không cho phép đo liên tục, sau mỗi lần đo phải thay giấy lọc một lần

b/ Thiết bị đo dựa vào độ cản quang của khí xả (hình 2.5)

Thiết bị này sử dụng một nguồn ánh sáng cho chiếu qua phần khí xả trong khoang chứa Phía đối diện với nguồn sáng có đặt đầu đo, dựa vào sự thay đổi của cường độ chiếu sáng, ta có thể xác định được độ đen của khí xả

Phương pháp đo căn cứ trên phương pháp quang học Khí thải được dẫn vào một buồng đo qua ống lấy mẫu, Những hạt muội có trong khí thải sẽ bức xạ với ánh sáng làm cho cường độ sáng của bộ phát đến bộ thu yếu đi Sự giảm cường độ sáng là tiêu chuẩn trực tiếp để đo hàm lượng muội than có trong khí thải Độ khói đen được đo bằng đơn vị: độ đục (độ mờ ) %

Loại thiết bị này cho phép đo liên tục không phải dừng lại để thay giấy lọc như phương pháp trên

Hình 2.5: Máy đo độ khói đen khí xả động cơ diesel

theo phương pháp quang học

I.5 Thiết bị kiểm tra đồng hồ tốc độ

Thiết bị kiểm tra đồng hồ tốc độ dùng để kiểm tra độ chính xác của đồng hồ báo tốc độ xe

Các bộ phận chính của thiết bị bao gồm: hai cặp con lăn, giá đỡ con lăn, khớp nối hai con lăn phía trước của mỗi cặp với nhau, bộ chặn bánh xe, bộ hăm con lăn, bộ cảm ứng và xử lý tín hiệu, hiển thị kết quả đo

Con lăn của thiết bị thử tốc độ thường được làm bằng thép có bề mặt nhẵn và được cân bằng động rất chính xác để hạn chế sự rung động quá mức khi làm việc ở tốc độ cao

Trang 33

Hình 2.6: Bệ thử con lăn của máy kiểm tra đồng hồ tốc độ xe

Khi cài số, bánh xe chủ động quay và sẽ làm các con lăn quay theo Để xác định tốc độ thực tế tại bánh xe, thiết bị tiến hành đo tốc độ quay của con lăn Trên trục của con lăn có lắp một bộ đĩa thép có các lỗ đặt cách đều và đường kính như nhau Tại giá đỡ con lăn có gắn một đầu cảm biến điện từ Khi con lăn quay, cảm biến điện từ sẽ gửi các tín hiệu dạng xung điện áp về bộ xử lý Bộ xử lý sẽ phân tích và chuyển các tín hiệu này ra tốc độ dài tương ứng

Một phương pháp nữa cũng hay được sử dụng là việc đo gián tiếp thông qua các thông số của máy phát điện nhỏ gắn ngay ở đầu trục của con lăn Khi tốc độ quay của con lăn thay đổi sẽ làm biến đổi điện áp ra của máy phát, từ đó có thể chuyển ra thành tốc độ tương ứng

Đối với các loại xe có nhiều cầu chủ động thì ngoài thiết bị thử tốc độ ra phải trang bị thêm con lăn tự do Bộ con lăn này sẽ được đặt bên dưới các bánh

xe của các cầu chủ động còn lại

I.6 Thiết bị kiểm tra đèn chiếu sáng phía trước

Đèn chiếu sáng phía trước cần phải kiểm tra bao gồm đèn chiếu gần (đèn cốt) và đèn chiếu xa (đèn pha) Các nội dung kiểm tra:

- Kiểm tra cường độ chiếu sáng Theo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật, cường độ của đèn chiếu sáng phía trước không được nhỏ hơn 10.000cd

- Kiểm tra tọa độ và các thông số hình học của chùm sáng

Có thể tiến hành kiểm tra các đèn chiếu sáng bằng cách cho đèn chiếu sáng lên một màn kiểm tra hoặc bằng thiết bị kiểm tra đèn chiếu Trong đó, phương pháp kiểm tra bằng thiết bị là được sử dụng phổ biến nhất

Trên hình 2.7 giới thiệu một loại thiết bị kiểm tra đèn chiếu Thiết bị được đặt trên một giá đỡ có các bánh xe để có thể di chuyển thiết bị một cách dễ dàng tới các vị trí mong muốn, thường thì người ta cho nó di chuyển trên hai

Ngày đăng: 28/02/2018, 10:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w