Từ năm 1986 (Từ Đại Hội VI) đến nay, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nước ta đã bước vào thời kỳ đổi mới chuyển từ nền kinh tế theo cơ chế bao cấp tràn lan và tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Một chủ trương rất quan trọng của giai đoạn này là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, để khai thác có hiệu quả các nguồn lực của đất nước, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Trong đó thương mại dịch vụ có vị trí rất quan trọng, vừa tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, vừa đáp ứng nhu cầu cơ bản và ngày càng nâng cao đời sống kinh tế xã hội. Đặc điểm và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa đã khẳng định thương mại – dịch vụ tăng dần. Hiệu quả sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường phụ thuộc vào chất lượng của hoạt động thương mại – dịch vụ.
Trang 1THƯƠNG MẠI TRONG SỰ NGHIỆP CNH-HĐH
NƯỚC TA HIỆN NAY
LỜI NÓI ĐẦU
Từ năm 1986 (Từ Đại Hội VI) đến nay, thực hiện đường lối đổi mới doĐảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nước ta đã bước vào thời kỳ đổi mới chuyển từnền kinh tế theo cơ chế bao cấp tràn lan và tập trung quan liêu sang nền kinh tế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Một chủtrương rất quan trọng của giai đoạn này là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần, để khai thác có hiệu quả các nguồn lực của đất nước, thúc đẩy nềnkinh tế phát triển nhanh chóng Trong đó thương mại dịch vụ có vị trí rất quantrọng, vừa tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, vừa đáp ứng nhu cầu cơ bản vàngày càng nâng cao đời sống kinh tế xã hội
Đặc điểm và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệphoá, hiện đại hóa đã khẳng định thương mại – dịch vụ tăng dần Hiệu quả sản xuấtkinh doanh theo cơ chế thị trường phụ thuộc vào chất lượng của hoạt động thươngmại – dịch vụ
Tỷ trọng giá trị thương mại trong GDP đang có xu hướng ngày càng tăngtrong nền kinh tế quốc dân đặc biệt là trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước được Chính Phủ và Quốc Hội đề ra từ Đại hội VII, VIII và IX từ mộtquốc gia nhập siêu trong những năm 1990-1999 thành quốc gia xuất siêu 2000-
2001 đưa nước ta ngày càng phát triển và hội nhập với các nước trong khu vực vàtrên thế giới
Trong quá trình nghiên cứu và viết đề án không tránh khỏi những sai sót vàvướng mắc, mong cô giúp em để đề án được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2PHẦN I: THƯƠNG MẠI VÀ VAI TRÒ CỦA THƯƠNG MẠI ĐỐI
VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT QUỐC GIA.
1 Cơ sở ra đời của thương mại.
Sản xuất hàng hoá là sản xuất những vật phẩm, cung cấp những dịch vụkhông phải để cho người sản xuất trực tiếp tiêu dùng mà để trao đổi, hay nói ngắngọn sản xuất hàng hoá và sản xuất để bán
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, sản xuất hàng hoá ra đời từlâu, từ khi tan rã chế độ công xã nguyên thuỷ; nó tồn tại và phát triển trong xã hộinông nô, trong xã hội phong kiến và đạt tới đỉnh cao trong xã hội tư bản chủ nghĩa.Sản xuất hàng hoá ắt phải có trao đổi hàng hoá, và khi tiền tệ xuất hiện thì trao đổihàng hoá trở thành lưu thông hàng hoá là những hiện tượng chung cho nhiềuphương thức sản xuất khác nhau
Do phân công lao động xã hội và gắn liền với nó là chuyên môn hoá nhữngdạng thức sản xuất riêng biệt, sản xuất những giá trị sử dụng không phải cho mình
mà cho những người khác (tức là sản xuất những giá trị sử dụng cho sản xuất ).Theo Mac phân công lao động xã hội là cơ sở chung của mọi nền sản xuất hànghoá V.I Lênin cũng khẳng định: cơ sở của nền kinh tế hàng hoá là phân công laođộng xã hội Tuy nhiên, chỉ riêng phân công lao động thì chưa đủ cho sự tồn tạicủa sản xuất hàng hoá CMác và Ph Ănghen đã chỉ ra rằng, trong các công xã cổđại ở Ấn Độ đã từng có phân công lao động, nhưng không có sản xuất hàng hoá.Phân công lao động là điều kiện bắt buộc của sản xuất hàng hoá,nhưng sản xuấthàng hoá không phải là điều kiện cần thiết cho sự phân công lao động xã hội
Có sự tách biệt tương đối về kinh tế của các chủ thể kinh doanh làm xuấthiện nhu cầu trao đổi sản xuất với nhau theo nguyên tắc:Một lương lao động ngangnhau dưới hình thức này đem trao đổi với một lượng lao động ngang nhau dươíhình thức khác Sự trao đổi hàng hoá tất yếu dẫn đến các cầu nối trung gian giữaDoanh nghiệp thương mại ra đời thúc đẩy các Doanh nghiệp sản xuất phát triển vàđáp ứng đầy đủ,đồng bộ cho người tiêu dùng
Trang 32 Quan niệm về thương mại và ích lợi của thương mại
Khái niệm: Thương mại là quá trình mua bán hàng hoá,dịch vụ trên thị
trường
Lợi ích của thương mại : Thương mại là khâu hoạt động trung gian là câunối giữa người sản xuất và người tiêu dùng.Hàng hoá được từ phía người sản xuấtđến tay người tiêu dùng nhằm mục đích đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người tiêudùng về mặt hàng hoá,chủng loại,mẫu mã,…
Thương mại thúc đẩy các ngàng sản xuất phát triển giúp các doanh nghiệpsản xuất tăng năng xuất của người lao động ,của máy móc,tạo ra những sản phẩm
có chất lượng cao,đa dạng hoá về chủng loại tạo công ăn việc làm cho người laođộng
Thương mại phát triển đảm bảo cung cấp hàng hoá dịch vụ tận tay ngườitiêu dùng đầy đủ.Khi mà nhu cầu của con người không ngừng được nâng nên vìvậy vai trò thương mại – dịch vụ trong thời gian tới đóng vai trò ngày càng quantrọng
Giúp hàng hoá trên thị trường ổn định giá cả ổn định , người tiêu dùngkhông bị ép giá.Khi thương mại phát triển tăng ngân sách nhà nước (từ đó nhànước tăng doanh thu từ các loại thuế , thuế VAT , thuế thu nhập , thuế tiêu thụ đặcbiệt … ) góp phần tăng GDP của đất nước Tỷ lệ đóng góp của thương mại trongtổng thu nhập quốc dân của đất nước đang có xu hướng ngày càng tăng trongnhững năm tới Điếu đó cho thấy thương mại đang ngày càng được phát triển vàphát triển mạnh mẽ Được đại hội Đảng Quốc Hội Khoá IX đưa thương mại là mộttrong những ngành phát triển mũi nhọn của đất nước
Thương mại phát triển góp phầp sử dụng được nguồn lao động trẻ của đấtnước (nước ta là nước có dân số trẻ chiếm tỷ lệ rất đông điều đó cho thấy vai tròcủa thương mại rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường ).Góp phần tăng năngsuất lao động , tăng thu nhập giúp người dân ổn định cuộc sống gia đình , xã hội
từ đó nó lại tác động ngược trở lại đối với thương mại thúc đẩy thương mại pháttriển
3 Nội dung và các hình thức thương mại :
Nội dung :
Nghiên cứu,xác định nhu cầu và cầu của thị trường về các loại hàng hoá,dịch vụ.Đây là quá trình đầu tiên trong hoạt đông kinh doanh thương mại
Trang 4Đối với các nhà kinh doanh thương mại ,điều quan trọng là phải nắm nhucầu hàng hoá ,dich vụ,đặc biệt là nhu cầu cho tiêu dùng sản xuất và nhu cầu đặtmua của xã hội và dân cư.
Xác định và khai thác các nguồn hàng để thoả mãn các nhu cầu của xãhội.Trong điều kiện vẫn còn tồn tại nhu cầu về hàng hoá kinh tế,việc tạo nguồnhàng là công việc rất quan trọng
Thực hiện cân đối giữa nhu cầu và nguồn hàng tìm các biện pháp bảo đảmcân đối như tăng cường sản xuất trong nước,tìm các nguồn hàng thay thế…
Tổ chức các mối quan hệ giao dịch thương mại ở khâu công tác này,giảiquyết các vấn đề về kinh tế, tổ chức và luật pháp phát sinh giữa các doanh nghiệptrong quá trình mua bán hàng hoá
Tổ chức hợp lý các kênh phân phối hàng hoá.đây là quá trình liên quan đếnviệc điều hành và vận chuyển hàng hoá ,dịch vụ sản xuất đến người sử dụng nhằmđạt đươc hiệu quả tối đa.Qúa trình này qiải quyết các vấn đề:Thay đổi quyền sởhữu tài sản,di chuyển hàng dự trữ,boả quản đóng gói,bốc dỡ…cung cấp thông tinthị trường cho nhà sản xuất,tránh rủi ro trong kinh doanh
Quản lý hàng hoá và xúc tiến mua bán hàng hoá.Đối với các doanh nghiệpthương mại,đây là công tác quan trọng kết thúc quá trình kinh doanh hànghoá.Thương mại thường sử dụng các hình thức:bán buôn,bán lẻ,thương mại trựctiếp và thương mại qua trung gian
Các hình thức thương mại:
Người (1) sản
dùng
hoặc (2) (*) nhập Người bán lẻ
Trang 5Hình thức bán hàng 1: Mua bán trực tiếp hàng hoá giữa người sản xuất haynhập khẩu hàng hoá với người tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho cá nhân Hình thức phân phối này đảm bảo cho hàg hoá lưu chuyển nhanh, giảm được chiphí lưu thông, quan hệ giao dịch mua bán đơn giản , thuận tiện Tuỳ theo tính chấtcủa từng loại đặc điểm, mục đích sử dụng khối lượng mua bán nhiều hay ít , điềukiện giao nhận , vận chuyển hàng hoá giữa người mua và người bán để vậnchuyển kênh phân phối
- Hình thức bán hàng 2: Việc lưu thông hàng hoá phải qua trung gian (ngườibán lẻ ).Đó là loại kênh ngắn , thuận tiện cho người tiêu dùng, hàng hoá cũng đượclưu chuyển nhanh , người sản xuất hay người nhập khẩu được giải phống khỏichức năng bán lẻ Hình thức này chỉ thích hợp với những doanh nghiệp bán lẻ lớn(các siêu thị , cửa hàng lớn ) có điều kiện quan hệ trực tiếp với người sản xuất vàngười nhập khẩu, thuận tiện giao nhận, vận chuyển
- Hình thức bán hàng 3: Việc mua bán hàng hoá qua nhiều khâu trung gian –bán buôn và bán lẻ Kênh này thuộc loại kênh dài, từng khâu của quá trình sản xuất
và lưu thông được chuyên môn hoá tạo điều kiện để phát triển sản xuất mở rộng thịtrường sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất và tiền vốn Hàng hoá lưu thông quahình thức này chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ khối lượng hàng hoá lưu chuyểncủa nền kinh tế quốc dân Các doanh nghiệp tuỳ theo điều kiện sản xuất và kinhdoanh mà xác định mặt hàng
- Hình thức bán hàng 4:Sự vận động của hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơitiêu dùng như hình thức 3, nhưng trong quan hệ giao dịch mua bán xuất hiện khâumôi giới trung gian Người môi giới mua bán cần thiết khi xuất hiện cung hoặc cầu
về loại hàng hoá nào đó, mà người bán hoặc người mua thiếu các kênh thông tinhoặc khó khăn về tiếp cận, giao dịch mua bán
Trong kênh này người môi giới hoạt động rất năng động giữa người bánngười mua khi vai trò của họ được chấp nhận và đem lại hiệu quả cho các bêntham gia
4 Vai trò của thương mại :
a.Vai trò của thương mại trong nền kinh tế quốc dân :
Trang 6Vai trò của thương mại đã được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn nước
ta Thương mại là mũi nhọn đột kích quan trọng để phá vỡ cơ chế quản lý tậptrung quan liêu bao cấp , hình thành cơ chế thị trường
Thương mại thúc đẩy hàng sản xuất hàng hoá phát triển, chấn hưng cácquan hệ hàng hoá tiền tệ qua hoật động mua bán tạo ra động lực kích thích đối vớingười sản xuất thúc đẩy phân công lao động xã hội, tổ chức lại sản xuất, hìnhthành nên các vùng chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá lớn
.Phát triển thương mại cũng có nghĩa là phát triển các quan hệ hàng hoátiền tệ Đó là con đường ngắn nhất để chuyển từ sản xuất tự nhiên thành sản xuấthàng hoá
Thương mại kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất Lợi nhuận làmục đích của hoạt động thương mại Người sản xuất tìm mọi cách để cải tiến côngtác quản lý, áp dụng khoa học vào công nghệ mới, hạ chi phí để thu lợinhuận Đồng thời cạnh tranh trong thương mại bắt buộc người sản xuất phải năngđộng , không ngừng nâng cao tay nghề , chuyên môn và tính toán thực chất hoạtđộng kinh doanh , tiết kiệm các nguồn lực , nâng cao năng suất lao động Đó lànhững nhân tố tác động làm cho lực lượng sản xuất phát triển Thương mại kíchthích nhu cầu và luôn tạo ra nhu cầu mới Người tiêu dùng mua bán không suấtphát từ tình cảm mà bằng lý trí Lợi ích của sản phẩm hay mức độ thoả mãn nhucầu của sản phẩm sẽ tạo ra khả năng tái tạo nhu cầu Yhương mại một mặt làm chocầu trên thị trường trung thực với nhu cầu , mặt khác bộc lộ tính đa dạng phongphú của nhu cầu.Thương mại buộc các nhà sản xuất phải đa dạng về loại hình, kiểudáng, mẫu mã, chất lượng sản phẩm Điều này tác động ngược lại người tiêu dùng ,làm bật dậy các nhu cầu tiềm năng Tóm lại, thương mại làm tăng trưởng nhu cầu
và là gốc rễ cho sự phát triển sản xuất kinh doanh
Thương mại góp phần mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, làm cho quan hệthương mại giữa nước ta với các nước khác không ngừng phát triển.Điều đó giúpchúng ta tận dụng được ưu thế của thời đại phát huy được lợi thế so sánh, từngbước đưa thị trường nước ta hội nhập với thị trường thế giới Biến nước ta thành bộ
Trang 7phận của phân công lao động quốc tế Đó cũng là con đường để kinh tế nước ta cóbước phát triển nhảy vọt, nhân dân ta có cuộc sống ấm no hạnh phúc.
b.Vai trò của thương mại ở doanh nghiệp :
Vai trò của thương mại đối với doanh nghiệp được thể hiện ở những mặtsau:
Trước hết,thương mại boả đảm cho quá trình sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục Qúa trình tái sản xuất ở đây đượckhởi đầu bằng việc đầu tư vốn cho mua sắm các yếu tố sản xuất ,tiếp theo là quátrình sản xuất ra hàng hoá,kế tiếp là bán hàng hoá để thu về những giá trị.Trongchu kỳ tái sản xuất đó,thương mại có mặt ở hai khâu :bảo đảm cho các yếu tố vậtchất cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.Hai khâu này không thực hiện được thì sẽdẫn tới sự đình đốn ,trì trệ của sản xuất và quá trình tái sản xuất của doanh nghiệpkhông thực hiện được
Thứ hai, thương mại bảo đảm thực hiện mục tiêu lợi nhuận của doanhnghiệp Doanh nghiệp muốn tồn tại được phải có lợi nhuận Để thu hút được lợinhuận ít ra phải bán được hàng hoá.Bán hàng có ý nghĩa quyết định tới hiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Thương mại có chức năngchuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá từ hàng thành tiền và thêm chênh lệch(t)
Thứ ba, thương mại có tác động quan trọng tới vị thế của doanh nghiệp trênthương trường.Thương mại phát triển, thị trường được mở rộng, vị thế của Doanhnghiệp được đề cao Tích luỹ lớn tạo dựng được uy tín thông qua hoạt động muabán trên thương trường sẽ làm cho thế và lực của doanh nghiệp ngày càng tăngtrưởng mạnh mẽ
Thư tư, thương mại có vai trò điều tiết hướng dẫn sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Qua hoạt động thương mại sẽ có những thông tin từ phía ngườimua,từ thị trường Trên cơ sở đó ,hướng dẫn sản xuất phù hợp với nhu cầu thườngxuyên thay đổi của thị trường hướng vào khu vực mà doanh nghiệp có lợi thế, bảođảm an toàn cao
Trang 8Cuối cùng, thương mại góp phần mở rộng các quan hệ của doanhnghiệp ,bảo đảm thực hiện các quan hệ với bạn hàng thông qua mua bán hàng hoácủng cố quan hệ liên minh khai thác các quan hệ với các cơ quan quản lý và pháttriển quan hệ thương mại quốc tế.
Trang 9PHẦN II: THƯƠNG MẠI TRONG SỰ NGHIỆP CNH-HĐH ĐẤT
Hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước (không phân biệt chế
độ chính trị khác nhau ) trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình, thúc đẩyquá trình bình thường hoá quan hệ hợp tác Việt – Trung và quan hệ thương mại vớiHoa Kỳ Tiếp tục mở rộng quan hệ xuất khẩu theo phương đa dạng hoá và đaphương hoá thị trường
Đẩy mạnh các hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu huy động các nguồn ngoại
tệ để nhập khẩu các vật tư, hàng hoá thiết yếu cho sản xuất và đời sống tích cựcthanh toán cân đối quốc tế, góp phần duy trì các cân đối quốc tế góp phần duy trìcác cân đối lớn của nền kinh tế
Đa dạng hoá mặt hàng khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia cáchoạt động xuất khẩu
Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý xúât nhập khẩu nhằm thúc đẩy xuất khẩutrên cơ sở phát triển quan hệ với thị trường đã có, khai thông những thị trường đã
bị ách tắc , mở rộng thêm thị trường mới với tất cả các nước
Trang 10Điêu chỉnh tỷ giá chính thức sát với thị trường, tăng cường quản lý ngoại hốibằng các giải pháp kinh tế, các biện pháp quản lý hành chính và ổn định tỷ giá hốiđoái
Cải cách hệ thống ngân hàng để phục vụ tốt cho các hoạt động xuất khẩu ,
sử dụng các công cụ của chính sách tài chính – tiền tệ như áp dụng lãi xuất ưu đãithúc đẩy xuất khẩu và nâng cao hiệu quả nhập khẩu
Thực thi các biện pháp nhằm chống buôn lậu, kiểm xoát các hoạt động xuấtkhẩu tiểu ngạch
Nâng cao thuế nhập khẩu, phát huy hiệu quả sử dụng các công cụ về thuế,hạn ngạch cấp giấy phép …
Trong thời gian này Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởngcao.Trong năm 1995 , lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới (1986), tốc
độ tăng GDP đạt đến 9,5% Hai năm sau đó tốc độ tăng GDP liên tục đạt mức trên7%/năm Năm 1998 dù gặp nhiều khó khăn về kinh tế do cuộc khủng khoảng tàichính tiền tệ ở khu vực nên mức tăng GDP vẫn đạt khoảng 6-7% Tăng trưởngkinh tế chung được thúc đẩy bởi tốc độ tăng đạt trên hai con số của công nghiệp vàdịch vụ Bên cạnh tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định thành công có ý nghĩa nhấtcủa công cuộc đổi mới là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô Lạm phát được giữ vững
ở một con số
Bên cạnh đó Việt Nam đã tiết được những bước dài trên con đường hội nhậpvào khu vực và trên thế giới với những sự kiện nổi bật như :việc bình thường hoáquan hệ với Mỹ , trở thành thành viên chính thức của ASEAN, đang là ứng cửviên có triển vọng gia nhập các tổ chức APEC và WTO
Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế xã hội năm 2000 sẽ có ý nghĩa to lớn
vì năm 2000 không chỉ năm cuối của kế hoạch 5 năm 1996-2000 mà còn là nămtạo tiền đề vật chất và tinh thần để bước vào xây dựng và triển khai các kế hoạchphát triển kinh tế xã hội tung hạn và dài hạn tiếp theo Trong đó có kế hoạch 5 năm2001-2005 và kế hoạch 10 năm 2001 – 2010
Tổng sản phẩm trong nước năm 2000 tăng 6.7% so với năm 1999, khu vựcnông lâm và thuỷ sản tăng 4%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,1%, khu
Trang 11vực dịch vụ tăng 5.6% Tốc độ tăng trưởng năm 2000 của nền kinh tế không chỉcao hơn tốc độ tăng 5.8% của năm 1998 và 4.8% của năm 1999 mà còn vượt mụctiêu kế hoạch đề ra đầu năm là 5.5-6% và đứng vào hàng các nền kinh tế đạt tốc độtăng trưởng tương đối cao của khu vực (theo tạp chí ASEANWEEK,năm 2000kinh tế Hàn Quốc tăng 8.3% , Trung Quốc tăng 7.5%, Ấn Độ tăng 7.1% …).Điềunày cho thấy , tuy nền kinh tế nước ta chưa thật vững chắc nhưng đã chặn được xuhướng dảm xút tốc độ tăng trưởng và đang xuất hiện dần những yếu tố mới, tạotiền đề cho nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao và bền vững
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước năm 1998 là 5.1%, năm 1999
là 2.3% năm 2000 là 5.6% của các ngành dịch vụ phân theo khu vực kinh tế Khốilượng hàng hoá vận chuyển tăng 7.1% so với năm 1999 khối lượng hàng hoá luânchuyển tăng 8.6% so với năm 1999
T ng m c bán l h ng hoá v doanh thu d ch v n m 2000 ổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2000 ức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2000 ẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2000 àng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2000 àng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2000 ịch vụ năm 2000 ụ năm 2000 ăm 2000
Tổng mức bán lẻnăm 2000(tỷ đồng)
Cơ cấu(%)
Tổng mức bán lẻ hàng lương thức thực thực phẩm năm 2000 so với năm
1999 đạt 109.3% ước tính 46300tỷ đồng Trong khi đó hàng phi lương thực tăng107.6% so với năm 1999 tăng so với năm 1999 7623 tỷ đồng Nhìn chung năm
2000 các ngành :khách sạn ,nhà hàng, dịch vụ , du lịch đều tăng so với năm 1999điều đố cho thâý nền kinh tế năm 2000 tăng trưởng nhanh và ổn định ở tất cả cácngành thương mại và dịch vụ
Trang 12Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá dịch vụ trong thời kỳ này cũng đãđạt những kết quả nổi bật Trong khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả thời kỳnăm 1990-1994 chỉ đạt 26342 triệu USD (xuất khẩu đạt 11714 triệu USD , nhậpkhẩu :14628 triệu USD) thì tổng kim ngạch thời kỳ 1995 1997 tăng 48% đạt 51109triệu USD (xuất khẩu 21315 triệu USD , nhập khẩu 29794 triệu USD )năm 1998tổng kim ngạch là 9361 triệu USD năm 1999 tổng kim ngạch 11523 triệu USDnăm 2000 tổng kim ngạch 14308 triệu USD
2 Thực trạng thương mại Việt Nam những năm qua
Hoạt động thương mại và dịch vụ trong nước nhìn chung sôi động hơn nămtrước Sức mua của dân cư đã tăng so với 1998 và 1999.mặc dù năm nay một sốtỉnh miền trung và đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng của lũ lụt song đãkhông xảy ra hiện tượng khan hiếm hoặc sót một mặt hàng nào ,kể cả một số mặthàng thiết yếu như lương thực,thực phẩm ,vật liệu xây dựng …
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính cả năm
2000 đạt 214.9 nghìn tỷ đồng tăng 9.1% so với năm 1999 trong đó khu vực kinh tếđạt 216.13 nghìn tỷ đồng ,chiếm 98.6%,khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài3.1 nghìn tỷ đồng ,chiếm 1.4% kinh doanh thương nghiệp chiếm 70.7% khách sạn
và nhà hàng 12.2% ,dịch vụ 4.9%,du lịch nữ hành 0.8% và các cơ sở sản xuất trựctiếp bán lẻ 11.4%
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2000 tăng 0.1% so với tháng trước trong
đó nhóm phương tiện vận tải, bưu điện giảm 0.1% nhóm hàng hoá và dịch vụ kháctăng 1.7% ;các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại không ta3ưng hoặc chỉ tăng từ0.1-0.5%.tính chung cả năm 2000,chỉ số giá tiêu dùng dỉam 0.6%so với năm
1999 ,trong đó nhóm hàng lương thực, thực phaamr giảm 2.3%(lương thực giảm7.9%,thực phẩm giảm 0.7%,nhà ở ,vật liệu xây dựng tăng 4.7%, giáo dục và nhómhàng hoá ,dịch vụ khác tăng 4.1% ,dược phẩm y tế tăng 3.6%,thiết bị và đồ dùnggia đình tăng 2.3% phương tiệ và bưu điện tăng 1.9% ,các loại hàng hoá và dịch
vụ tăng 0.3-0.9%
Hoạt động ngoại thương phát triển tương đối khá tổng kim ngạch xuất khẩu
cả năm ước tính đạt 14308triệu USD,tăng 24.0% sobvới năm 1999 trong đó khu
Trang 13vực kinh tế trong nước xuất khẩu 704.6 triệu USD ,tăng 8.0% ;khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài (kể cả dầu thô) ,xuất khẩu 6902 triệu USD tăng 4.04% kim ngạchnăm nay đạt mức tăng khá một phần do giá dầu thô trên thị trường thế giới liên tục
ở mức cao bên cạnh đó một số mặt hàng khác cũng có mức tăng mạnh về trị giá;hải sản tăng 51.9% ;hàng điện tử và máy tính tăng35%,hàng thủ công mỹ nghệtăng39.9%,rau quả tăng 95.2%.ngoài ra năm nay còn nhiều sản phẩm mới cuấtkhẩu như sữa sản phẩm gỗ cơ khí riêng số mặt hàng mơí này đã đóng góp 26.8%
mứ tăng trưởng
Kim ngạch nhập khẩu năm 2000 đạt 15200 triệu USD tăng 30,8% so năm
1999 ,trong khu vực trong nước nhập khẩu 10856 triệu USD tăng 31.7%, khu vực
có vốn đaauf tư nước ngoài nhập khẩu 4344 triệu USD tăng 28.4% kim ngạchnhập khẩu tăng mạnh chủ yếu do giá của nhiều mặt hangtf trong năm tăng caonhất là giá xăng dầu ,ngoài ra còn một số mặt hàng nhập khẩu khác tăng cả vềlượng và giá trị như xe máy gấp 3.1 lần về lượng và tăng 76.9%về giá trị ô tô tăng70.8% -72.3%,sắt thép tăng 17.5%-30.9%.nhập siêu cả năm tăng 892triêụUSD,bằng 6.2% kim ngạch xuất khẩu,trong đó khu vực kinh tế trong nướcnhập siêu 3450 triệu USD ,khu vực có vốn đầu tư nước ngoài kể cả dầu thô xuấtsiêu là 2558 triệu USD
Năm 2000 nước ta có nhiều sự kiện lớn, như giỗ tổ Hùng Vương ,kỷ niệm
990 năm Thăng Long –Hà Nội , Festival Huế , và nhiều hoạt động văn hoá ,lễ hộitruyền thống khác để tận dụng thời cơ và điều kiện này ngành du lịch đã có nhiềubiện pháp khắc phục khách du lịch nhất là thu hút khách du lịch nước ngoài Nhờvậy hoạt động du lịch năm nay có bước tiến đáng kể doanh thu của các đơn vị kinhdoanh du lịch ước tính đạt 9000 tỷ đồng tăng 14.1% so với năm 1999 Lượngkhách quốc tế vào nước ta đạt 2.1 triệu lượt người , trong đó khách quốc tế đếntheo mục đích du lịch là 963000 người , thương mại 404000 người ,thăm thân nhân
293000 người và mục đích khác là 476000 người
Hoạt động lưu thông hàng hoá , dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu đa đạng vàphong phú hàng hoá – dịch vụ cho đời sống tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nướctrên địa bàn góp phần cân đối cung cầu , tiền- hàng cùng với các ngành dịch vụ ,
Trang 14du lịch góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán
lẻ năm 1999 đạt trên 187000 tỷ đồng , bằng 127% thực hiện năm 1996 trong đóquốc doanh chiếm 27% , năm 2000 tăng 6.7% so với năm 1999
Trong những năm từ 1991 – 2000 nhìn chung kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam thường đạt tốc độ cao (trừ hai năm 1991 và 1998 )
Tình hình xuất khẩu thời kỳ 1991-2000
Nguồn :Niên giám thống kê 1998 và báo cáo của bộ thương mại
Tính chung thời kỳ 1991 – 1999 , kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân20.4%, cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế (đạt khoảng 7.5 %) Kim ngạch xuấtkhẩu tính trên đầu người tăng nhanh , năm 1991 mới đạt 30 USD /đầu ngườinăm ,năm 1995 đạt 73 USD năm 1997 đạt 119 USD năm 1999 đạt 150 USD năm
2000 đã tăng nên 184USD vượt qua ngưỡng một nước có nền ngoại thương kémphát triển (170 USD ) cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việy Nam đã có sự chuyểnbiến tích cực phù hợp theo sự chuyể dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệphoá Tỷ trọng của các nhóm mặt hàng đã qua chế biến tăng , tỷ trọng nhóm mặthàng thô và sơ chế giảm đần
3 Đánh giá thương mại Việt Nam những năm qua
3.1 Những thành tựu đạt được
Hoạt động thươgn mại trong nước , khách sạn , nhà hàng , dịch vụ và
du lịch thời kỳ 1991 – 2000 đã đạt được những tiến bộ đáng kể thể hiện ở nhữngmặt chủ yếu dưới đây :
a.Quy mô ngày càng tăng :
Trang 15Trong mười năm qua quy mô thị trường trong nước đã tăng liêntục ,trước hết phải kể đến sự gia tăng nhanh chónh vế số lượng các đơn vị tham giahoạt động thị trừơng bao gồm các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế vàđông đảo hộ kinh doanh cá thể Mạng lưới chợ , các điểm bánm hàng hoá và kinhdoanh dịch vụ phát triển rộng khắp trên phạm vi cả nước Đặc biệt các loại hình thịtrường “văn minh” như trung tâm thương mại , siêu thị và các loại khách sạn , nhàhàng đạt tiêu chuẩn cao cũng được hình thành và phát triển trong những năm vừa
qua Tình hình này được thể hiện qua các số liệu dưới đây.
Về số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại , du lịch :năm
1991 có 1774 doanh nghiệp nhà nước ;năm 1995 có 10806 doanh nghiệp và năm
1999 có 16226 doanh nghiệp Trong đó có hơn 12000 doanh nghiệp mới đượcthành lập năm 2000 có tới 3000 doanh nghiệp thương mại ,du lịch , nâng tổng sốdoanh nghiệp thương mại du lịch đến cuối năm 2000 nên đạt 19226 doanhnghiệp , gấp 10.8 lần năm 1991 như vậy trong 10 năm 1991 – 2000 ,số lượngdoanh nghiệp thương mại , du lịch đã tăng 17452 doanh nghiệp Tỷ lệ doanhnghiệp thương mại , du lịch trong tổng số doanh nghiệp của cả nước cũng tăng nênnhanh chónh từ chỗ chỉ chiếm 12% năm 1990 đã tăng nên chiếm 46% vào năm1999
Số điểm bán hàng hoá và kinh doanh cá dịch vụ phục vụ đời sống cũng nângnên đáng kể Năm 1991 cả nước có 26909 điểm , nhưng đến năm 1999 đã có
38000 điểm bán hàng và kinh doanh dịch vụ Nếu kể cả hộ kinh doanh thì con sốnày còn lớn hơn nhiều
Số hộ cá thể tham gia hoạt động thương mại , du lịch gia tăng nhanhchóng Năm 1991 cả nước có 631000 hộ kinh doanh năm 2000 đã tăng đạt 1.1 triệu
hộ gấp gần 2 lần năm 1991 Nếu so với tổng số hộ sản xuất kinh doanh (trừ hộ sảnxuất nông nghiệp )thì hộ cá thể kinh doanh thương mại , du lịch chiếm trên 60%
Mạng lưới chợ (hình thức truyền thống của thị trường đã được củng cố vàphát triển rộng khắp trên phạm vi cả nước Năm 1994 , cả nước có 4763 xã có chợthì đến năm 1999 toàn quốc có 8213 chợ , bình quân 0.8 chợ /xã
Trang 16Hệ thống siêu thị , trung tâm thương mại , hội trợ và triển lãm hàng hoácũng được hình thành và phát triển Tại các tỉnh và thành phố lớn như Hà Nội TP
Hồ Chí Minh v.v Loại hình phục vụ mới ,văn minh lịch sự , và hiện đại đang trởnên phổ biến
Hệ thống khách sạn nhà hàng cũng tăng khá nhanh Theo kết quả điều tra dulịch năm 1994 , tại thời điểm 31- 12 –1993 trên phạm vi cả nước mới có 854khách sạn nhưng đến nay đã có 1569 khách sạn Ngoài ra còn có mạng lưới nhữngkhách sạn mini và nhà trọ tư nhân ở khắp các tỉnh và thành phố Quy mô , chấtlượng khách sạn cũng được nâng nên Nhiều khách sạn đã đạt tiêu chuẩn quốc
tế Số buồng khách sạn tăng nhanh từ 32000 buồng năm 1993 đã tăng 55600 buồngnăm 1997 Trong vòng 4 năm (1994 – 1997 ) số buồng khách sạn đã tăng 70%
- Hoạt động dịch vụ khởi sắc Số lượt khách quốc tế đến Việt Nam ngàycàng đông Năm 1995 có 1,35 triệu lượt khách đến Năm 2000 đă đón lượt khách
du lịch nước ngoàI thứ 2 triệu
-Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng liên tục trong
10 năm qua với mức tăng bình quân hàng năm là 27,7% Nếu loại trừ yếu tố tănggiá thì vẫn còn tăng bình quân là 10,3%/năm Mức bán lẻ bình quân đầu người/năm cùng tăng đáng kể tù 0,3 triệu đồng năm 1990 tăng lên 1,7 triệu đòng năm
1995 và 2,8 triệu đồng năm 2000
b Phương thức kinh doanh theo hướng văn minh, hiện đại
Một htành tựu nữa của thương mại và dịch vụ Việt Nam trong 10 nămqua là chất lượng phục vụ khách hàng.Nhiều hình thức thu hút khách hàng của cácnước tiên tiến trên thế giới cũng được thương mại du lịch Việt Nam vận dụng nhưviệc tổ chức các hội chợ (hội chợ đêm …) ,quảng cáo , tiếp thị , khuyến mại Dịch
vụ sau bán hàng( bảo hành, bảo trì ); bán hàng qua điện thoại, Fax Đặc biệt làthương mại điện tử cũng đang được Việt Nam tiếp cận Đội ngũ nhân viên , nhàquản lý trong lĩnh vực thương mại, du lịch đã trưởng thành nhiều mặt ,biết cách thuhút khách hàng bằng chính chất lượng phục vụ của mình
c Hình thành được thị trường cạnh tranh theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 17Trong lĩnh vực thương mại ,du lịch ngoài 3 lực lượng truyền thống , doanhnghiệp Nhà nước ,hợp tác xã mua bán và hộ tư thương đã xuất hiện thêm nhiềuthành phần kinh tế khác như doanh nghiệp tư nhân ,công ty trách nhiệm hữu hạn
và doanh nghhiệp có vốn đầu tư nước ngoài Số lượng các doanh nghiệp ngày càngtăng ,trong đó nhanh nhất là doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữuhạn Năm 1993 mới có 3415 doanh nghiệp , đến năm 1999 đã có 14000 doanhnghiệp , số lượng doanh nghiệp nhà nước tuy có giảm từ 1750 doanh nghiệp năm
1993 xuống còn 1576 doanh nghiệp năm 1999 nhưng doanh nghiệp nhà nước vẫngiữ vai trò chủ đạo ,trước hết là trong định hướng phát triển
Khái niệm ”cạnh tranh “ cũng mới chỉ được sử dụng dè dặt trong những nămđầu của thập kỷ 90,nhưng đến nay đã trở thành phổ biến và được chấp nhận như một tất yếu Có thể nói thị trường cạnh tranh đã được tạo dựng trong giai đoạn này ,nhờ đó đã tạo ra được luồng sinh khí mới ,động lực mới cho thương mại Việt Nam Đây là một thành tựu to lớn và có ý nghĩa quan trọng trong 10 năm qua đối với nền kinh tế nói chung và đối vói thương mại Việt Nam
Nói riêng Tuy nhiên ,thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại ởnước ta có đặc điểm khác với nhiều nước trên thế giới Đó là thành phần kinh tếnhà nước vẫn giũ vai trò chủ đạo trong bán buôn
Và chi phốib trong bán lẻ Nhà nước quan tâm đến miền núi , hải đảo , vùngsâu, vùng xa; can thiệp vào thị trường trong trường hợp cần thiết để bình ổn thịtruờng và luôn đóng vai trò quan trọng là dẫn dắt các thành phần kinh tế khác pháttriển
Hoạt động xuất khẩu 10 năm qua thể hiện ở các mặt sau (1) tăng trưởng xuấtkhẩu cao và liên tục :(2) Sự tham gia củâ các nghành , các thành phần kinh tế trong
đó có đóng góp tích cực của khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài:(3) Thị trường xuất khẳu mở rộng :(4) Cơ cấu hàng xuất khẩu thay đổi theo hướngtăng tỷ trọng sản phẩm công nghiệp chế biến :(5) Một số mặt hàng chủ lực ,đónggóp lớn cho tăng trưởng xuất khẩu dần dần được khẳng định
Đường lối phát triển kinh tế của Đảng đã được cụ thể hóa bằng nhiều chínhsách kinh tế vĩ mô Trực tiếp và gián tiếp khuyến khích xuất khẩu Nếu 1989 làm
Trang 18gốc thì tốc tăng trưởng bình quân thời kỳ 1990-2000 của xuất khẩu gấp 2,6 lần tốctăng GDP Tỷ trọng xuất khẩu trong GDP và kim ngạch xuất khẩu bình quân đầungười ngày càng tăng ,năm 2000 đã đạt mức xuất khẩu bình quân 184USD/năm ,đưa nước ta ra khỏi danh sách các nước có nền ngoại thương kém pháttriển
Xu t kh u bình quân ất khẩu bình quân đầu người và so với GDP ẩu bình quân đầu người và so với GDP đầu người và so với GDP u ng ười và so với GDP à so với GDP i v so v i GDP ới GDP
1990-2000 1995-2000 1996-2000
1 Xuất khẩu bình quân đầu người
(USD)
Từ đầu những năm 1990,một số ngành công nghiệp và chế biến đã phát triểnmạnh hơn Cơ cấu hàng xuất khẩu theo ngành kinh tế quóc dân đã thể hiện xuhướng đó Bình quân thời kỳ 1995-2000 ,trong tổng trị giá xuất khẩu,sản phẩmnông lâm nghiệp chiếm tỷ trọng 14.5%,công nghiệpkhai thác 20.3% công nghiệpchế biến 63.3%.Đáng chú ý là trong 3nhóm sản phẩm xuất khẩu trênthì sản phẩmcông nghiệp chế biến có tốc đọ tăng bình quân cao nhất (34%),tiếp theo là côngnghiệp khai thác (29%) và nông sản (14%)
Trong những thay đổi quan trọng của hoạt động xuất khẩu hàng hoá thời kỳ19991-2000 còn phải kể đến sự tham gia có hiệu quả của các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài Khu vực không những đã góp phần thúc đẩy các doang nghiệptrong nước ngày càng vươn lên trong công tác quản lý sản xuất kinh doanh ,đầu tư
và cạnh tranh lành mạnh ,nâng cao chất lượng sản phẩm ,mà còn đóng góp đáng kểvào kim ngạch xuất khẩu
Thời kỳ 1991-2000 cũng đánh dấu bước tiến quan trọng của một số mặthàng xuất khẩu chủ lực ,tạo ra diện mạo cho hàng xuất khẩucủa Việt Nam ,đó là sựxuất hiện và gia tăng nhanh chóng của một số mặt hàng mới như dầu thô ,gạo hàngđiện tử ,máy tính ,hàng dệt may ,giầydép ,hàng thủ công mỹ nghệ ,thuỷ sản ,càphê,hạt điều…Nừunhư năm1989 mới có 2mặt hàng có giá trị xuất khẩu trên 200triệu USD thì đến nay đã có 10 mặt hàng ,trong đó có 4 mặt hàng đã vượt qua 1tỷUSD vào năm 2000 là dầu thô,hàng may mặc ,giầy dep và thuỷan (riêng dầu thô đã
Trang 19vượt qua mức 2tỷ USD từnăm 1999 trước đay xuất khẩu các mặt hàng chủ lựcnày chiếm khoảng 60%,hiện nay chiếm 75-80%.
Cùng với tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu ,nhập khẩu cũng đã tăng với tốc
độ khá những mặt tích cực của hoạt động nhập khẩu thời kỳ 1991-2000 thể hiện ởmột số điểm sau :(1) Nhập khẩu đã hướng vào mục tiêu chủ yếu là phục vụ chiếnlược phát triển xuất khẩu và đap ứng yêu cầu thiết yếu của sản xuất ,tiêu dùngtrong nước (2) Cơ cấu nhập khẩu thay đổi theo hướng tăng nhập khẩu tư liện sảnxuất giảm nhập khẩu hàng tiêu dùng (3)Thị trường nhập khẩu mở rộng ,chấtlượng hàng nhập khẩu được nâng cao ,góp phần đổi mới trang thiết bị kỹ thuật vàcông nghệ sản xuất ,nâng cao sức cạnh tranh của của hàng Việt Nam thời kỳ 1990-
2000 ,nhập khẩu đạt tốc độ tăng bình quân là 17.5%/năm Riêng nhập khẩu củakhu vực có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài 1994-2000 tăngbình quân 39%mỗi năm
và chiếm 20.7%tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước :khu vực trong nước tăng22%và chiếm79.3%
d Những mặt hạn chế:
Bên cạnh những thành tựu đã nêu trên , hoạt động thương nghiệp ,du lịchnhững năm qua cũng bộc lộ một số mặt hạn chế cần khắc phục đó là :
- Mặc dù kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ ,nhưng về
cơ bản vẫn là nền thương nghiệp nhỏ ,sức mua còn thầp ,chất lượng hàng hoá ,sảnphẩm dịch vụ chưa cao ,loại hình sản phẩm chưa được cải tiến , cho phù hợp vớithị hiếu của ngừơi tiêu dùng ,còn thiếu sản phẩm mang bản sắc riêng của Việt Nam,khả năng cạnh tranh yếu ,giá cả còn cao ,và chất lượng phục vụ chưa tương xứngvới giá cả
- Chính sách thuế và quản lý thuế,công tác quản lý thị trường còn bộc lộnhiều yếu kém ,chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn các hiện tượng gian lậnthương mại ,buôn lậu ,làm hàng giả Hiện tượng này gây ảnh hưởng xấu đến môitrường kinh doanh nói chung và các đơn vị ,cá nhân làm ăn nghiêm chỉnh nóiriêng
- Doanh nghiệp hoạt động thương mại ,du lịch có số lượng khá lớn như đã
đề cập ở trên ,nhưng phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong đó 1137 dónh
Trang 20nghiệp nhà nước thuộc lĩnh vực thương mại ,du lịch chỉ có 69 doanh nghiệp cómức vốn từ 10 đến dưới 100 tỷ đồng ;doanh nghiệp có mức vốn trên 100 tỷ trở lênchỉ có 1 doanh nghiệp ,vòng quay vốn thấp ,hiệu quả kinh doanh chưa cao
- Sức mua của dân cư còn thấp vì vậy biện pháp khắc phục dể tăng nhanhsức mua là phải tăng thu nhập của nông thôn rộng lớn với gần80% dân số Nhữngnăm qua, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến vấn đề này,tuy nhiên tốc độ tănggiá bán sản phẩm của người sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, nhìnchung thấp hơn tốc độ tăng giá hàng tiêu dùng, do đó chưa khuyến khích nông dânthúc đảy sản xuất nông nghiệp phát triển
e.Nguyên nhân:
Trước hết cần thấy rằng một nền kinh tế có xuất phát điển thấp , công nghệlạc hậu , làm cho các sản phẩm hàng hoá thiếu tính cạnh tranh là mối no ngại rấtlớn cho các hoạt động thương mại của tất cả các doanh nghiệp Tình hình đó lạigắn với môt bối cảnh Trung Quốc đang nổi nên như một thị trường có dung lượnglớn vào bậc nhất thế giới lại có chung biên giới trên đất liền và trên biển với ViệtNam tạo điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng quan hệ buôn bán giữa hainước Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính tiền tệ của khu vực Đông Nam Áđồng nhân dân tệ tiếp tục giảm giá 3% (mặc dù Trung Quốc tuyên bố cố gắng dữvững không phá giá đồng nhân dân tệ ) đã tạo ra sức ép rất lớn đối với Việt Namtrong lĩnh vực xuất nhập khẩu cá đối với thị trường trong nước và bên ngoài
Trong thời gian qua các chính sách kinh tế cũng như hoạt động đầu tư củaViệt Nam nặng về xu hướng thay thế nhập khẩu.Tuy vậy do đầu tư phân tán ,quy
mô của nhiều cơ sở sản xuất vẫn nhỏ và lạc hậu do đó nhiều ngành cũng nhanhchóng vượt cầu trong nước , giá thành sản phẩm lại cao và chất lượng thấp hơn cácloại hàng hoá bên ngoài Hơn nữa trong thời gian gần đây do nhiều nguyên nhânkhác nhau làm cho nhịp độ tăng trưởng kinh tée giảm xút Sức mua giảm mạnh đãảnh hưởng nặng lề đến các hoạt động thương mại Ngoài ra những bất cập trongtrong chiến lược và chính sách vĩ mô cùng với những yếu kém trong năng lực điềuhành của chính phủ đã không ngăn chặn được các hoạt động tiêu cực trong hoạtđộng thương mại ddã làm cho tình hình trở nên xấu hơn