Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa ở Việt Nam diễn ra khá nhanh và phức tạp, đặt ra một yêu cầu là phải giải quyết được những vấn đề nảy sinh trong quá trình đô thị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA NÔNG – LÂM – NGƯ
Sinh viên thực hiện: Phan Anh Thắng Lớp: Đại học Quản lý Tài nguyên và Môi trường K55 Giáo viên hướng dẫn: TS Trần Thế Hùng
Bộ môn: Lâm nghiệp
NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA NÔNG – LÂM – NGƯ
Sinh viên thực hiện: Phan Anh Thắng Lớp: Đại học Quản lý Tài nguyên và Môi trường K55 Thời gian thực hiện: Ngày 6/2/2017 đến ngày 30/3/2017 Địa điểm thực hiện: Chi cục Quản lý Đất đai
Giáo viên hướng dẫn: TS Trần Thế Hùng
Bộ môn: Lâm Nghiệp
NĂM 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, rèn luyện tại Trường Đại học Quảng Bình và thực tập tốt nghiệp tại Chi cục Quản lý đất đai thuộc Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Quảng Bình, em đã hoàn thành đợt thực tập và hoàn thành báo cáo tốt nghiệp
Để hoàn thành đợt Báo cáo tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại học Quảng Bình, Ban chủ nhiệm Khoa và các Thầy giáo, Cô giáo trong Khoa Nông – Lâm – Ngư đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho em
Đặc biệt, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo Tiến sĩ Trần Thế Hùng, người đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn, động viên, theo dõi em trong suốt
quá trình thực tập và hoàn thành bài Báo cáo tốt nghiệp
Xin cảm ơn Phòng Quy hoạch – Kế hoạch sử dụng đất, Chi cục Quản lý đất đai, Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Quảng Bình, Ủy ban Nhân dân thành phố Đồng Hới đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thành Báo cáo tốt nghiệp
Cuối cùng, xin gủi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ và
hỗ trợ mọi mặt trong thời gian qua
Do còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm và kiến thức thực tiễn nên không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo
và các bạn để báo cáo được hoàn thiện hơn
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, Tháng 05 Năm 2017
Sinh viên
Phan Anh Thắng
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 4.1: Diện tích, dân số và mật độ dân số của thành
phố Đồng Hới năm 2015
2 Bảng 4.2: Diện tích, cơ cấu các loại đất tại thành phố
Đồng Hới năm 2015
3 Bảng 4.3: Cơ cấu diện tích đất theo mục đích sử dụng đất
năm 2015 so với năm 2010
4 Bảng 4.4: Phân tích tình hình biến động đất đai giai
đoạn 2010 – 2015
5 Bảng 4.5: Cơ cấu sử dụng đất giai đoạn 2010 – 2015
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 4.1: Cơ cấu các loại đất thành phố Đồng Hới
4 Biểu đồ 4.4: Biến đổi chi tiết diện tích các loại đất trong
đất nông nghiệp thành phố Đồng Hới năm 2010 – 2015
5 Biểu đồ 4.5: Diện tích đất nông nghiệp thành phố Đồng
Hới từ năm 2010 đến năm 2015
6
Biểu đồ 4.6: Biến đổi chi tiết diện tích các loại đất trong
đất phi nông nghiệp thành phố Đồng Hới năm 2010 –
2015
7 Biểu đồ 4.7: Biểu đồ diện tích đất phi nông nghiệp thành
phố Đồng Hới từ năm 2010 đến năm 2015
8 Biểu đồ 4.8: Biểu đồ cơ cấu diện tích đất chưa sử dụng
thành phố Đồng Hới từ năm 2010 đến năm 2015
Trang 7BẢNG CHÚ GIẢI CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu 4
2.1.1 Tổng quan các vấn đề về đất đai 4
2.1.1.1 Khái niệm về đất đai 4
2.1.1.2 Khái niệm quy hoạch sử dụng đất 4
2.1.2 Tổng quan các vấn đề về đô thị 4
2.1.2.1 Đô thị 4
2.1.2.2 Đô thị hóa 5
2.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 8
2.2.1 Quá trình đô thị hóa trên thế giới 8
2.2.1.1 Khái quát chung về quá trình đô thị hóa trên thế giới 8
2.2.1.2 Xu hướng phát triển đô thị và đô thị hóa bền vững của một số nước trong khu vực và trên thế giới 10
2.2.2 Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam 12
2.2.3 Quá trình hình thành Thành phố Đồng Hới 13
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15 3.1 Đối tượng nghiên cứu 15
3.2 Phạm vi nghiên cứu 15
3.3 Nội dung nghiên cứu 15
3.4 Phương pháp nghiên cứu 15
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 17
4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Đồng Hới 17
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 17
Trang 94.1.1.1 Vị trí địa lý 17
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo 18
4.1.1.3 Khí hậu 18
4.1.1.4 Thủy văn, thủy triều 19
4.1.1.5 Đặc điểm địa chất công trình 19
4.1.1.6 Các nguồn tài nguyên 19
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 21
4.1.2.1 Khu vực kinh tế nông nghiệp 21
4.1.2.2 Khu vực kinh tế công nghiệp 22
4.1.2.3 Khu vực kinh tế dịch vụ 22
4.1.2.4 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 23
4.1.2.5 Giáo dục - đào tạo 24
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 24
4.2 Thực trạng quá trình đô thị hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới 26
4.2.1 Thực trạng phát triển khu dân cư thành phố 26
4.2.2 Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn 27
4.2.3 Dân số 27
4.2.4 Hệ thống các công trình cơ sở hạ tầng 28
4.2.4.1 Hệ thống giao thông 28
4.2.4.2 Hệ thống điện chiếu sáng 30
4.2.4.3 Hệ thống cấp thoát nước và vệ sinh môi trường 30
4.2.5 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội gây áp lực đối với đất đai 31
4.3 Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 33
4.3.1 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn thành phố Đồng Hới năm 2015 33
4.3.1.1 Đất nông nghiệp 34
4.3.1.2 Đất phi nông nghiệp 36
4.3.1.3 Đất chưa sử dụng 37
Trang 104.3.2 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến tình hình sử dụng đất trên địa bàn
thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 39
4.3.2.1 Biến động diện tích đất nông nghiệp 41
4.3.2.2 Biến động diện tích đất phi nông nghiệp 45
4.3.2.3 Biến động diện tích đất chưa sử dụng 52
4.3.2.4 Xu thế biến động các loại đất 53
4.3.3 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất của thành phố Đồng Hới 55
4.3.3.1 Chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp 55
4.3.3.2 Chuyển dịch cơ cấu đất phi nông nghiệp 55
4.3.3.3 Chuyển dịch cơ cấu đất chưa sử dụng 55
4.3.4 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến công tác quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Đồng Hới 56
4.3.5 Đánh giá chung về ảnh hưởng của đô thị hóa đến tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa thành phố Đồng Hới 60
4.3.5.1 Đánh giá chung về ảnh hưởng của quá trình đô thị đến công tác quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Đồng Hới 60
4.3.5.2 Đánh giá chung về tác động của quá trình đô thị đến quá trình sử dụng đất trên địa bàn thành phố Đồng Hới 61
4.4 Một số giải pháp định hướng sử dụng đất hợp lý, bền vững 63
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
5.1 Kết luận 66
5.2 Kiến nghị 67
Trang 11PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình tất yếu mà các nước đang phát triển phải trải qua, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Để đạt được mục tiêu đưa nước ta thoát ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp vào năm
2010, cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 thì quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước lại diễn ra ngày càng mạnh mẽ Vì vậy, nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các lĩnh vực sẽ càng tăng nhanh
Đất đai ngoài chức năng quan trọng của nó là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân
bố dân cư, xây dựng các công trình văn hóa - kinh tế - kỹ thuật – an ninh, quốc phòng, thì trong giai đoạn hiện nay, đất đai còn có thêm chức năng quan trọng
là tạo nguồn vốn và thu hút đầu tư Đặc biệt, trong nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay, đất đai đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển hình thức đầu tư đất đai mang lại hiệu quả kinh tế cao và thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển
Công nghiệp hóa, đô thị hóa, là hai quá trình song song phát triển tại nước
ta hiện nay Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa ở Việt Nam diễn ra khá nhanh và phức tạp, đặt ra một yêu cầu là phải giải quyết được những vấn đề nảy sinh trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa trong đó vấn đề đất đai là một trong số vấn đề đang ngày một nóng lên gây áp lực đối với các nhà quản lý và việc sử dụng đất của người dân Nhằm đưa ra các giải pháp
để quản lý và sử dụng đất đai hợp lý, song song với việc bảo đảm việc làm và đời sống của người dân Đó là cơ sở quan trọng trong việc nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và của tỉnh Quảng Bình và thành phố Đồng Hới nói riêng Những lợi ích mà quá trình đô thị hóa mang lại là không thể phủ nhận Song bên cạnh đó, cũng phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như việc làm cho người dân không còn đất sản xuất nông nghiệp, quá trình thực hiện công tác đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức
di dân, chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất…
Đồng Hới là thành phố trung tâm của tỉnh Quảng Bình Thành phố Đồng Hới nằm giữa quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh và bên tuyến đường sắt Bắc Nam với ga Đồng Hới là một trong những ga chính của đường sắt miền trung
Có sân bay Đồng Hới đang trong tiến trình mở rộng và nâng cấp để có thể tiếp đón những chuyến bay quốc tế, có sông Nhật Lệ chảy qua, với 12 km bờ biển
Trang 12cát trắng, cách di sản thiên nhiên thế giới vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng
40 km về phía tây bắc Từ nhũng thuận lợi và thế mạnh về giao lưu đối ngoại, Đồng Hới có khả năng thu hút, hội tụ để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và trở thành trung tâm phát luồng các mối quan hệ trong khu vực và quốc tế Diện tích xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu dân cư đô thị, các công trình công cộng,… quy mô ngày càng mở rộng và tăng lên nhiều Do đó đất nông nghiệp, lâm nghiệp có xu hướng ngày càng thu hẹp
Trước thực trạng đó, vấn đề đặt ra là làm thế nào để sử dụng tốt quỹ đất một cách hiệu quả nhất trong tiến trình đô thị hóa và công nghiệp hóa hiện nay
Vì thế, cần nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đến tình hình sử dụng đất như thế nào, tác động của việc sử dụng đất đến kinh
tế - xã hội và môi trường Từ đó, đề xuất giải pháp sử dụng đất phù hợp với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa của địa phương, giúp công tác quản lý và sử dụng đất đạt hiệu quả cao và bền vững
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của khoa Nông – Lâm – Ngư, Trường Đại học Quảng Bình dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS Trần Thế Hùng và được sự quan tâm tạo điều kiện của Phòng Quy hoạch – Kế hoạch sử dụng đất, Chi cục Quản lý đất đai, Sở Tài nguyên –
Môi Trường, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng
của quá trình đô thị hóa đến tình hình sử dụng đất trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình (giai đoạn 2010 – 2015)”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình và đề xuất các giải pháp cho việc sử dụng đất hợp lý
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Các thông tin, số liệu, tài liệu điều tra phải trung thực, chính xác đảm bảo
độ tin cậy và phản ánh đúng thực trạng sử dụng đất trên địa bàn nghiên cứu
- Việc phân tích, xử lý số liệu trên cơ sở khoa học, có tính định lượng bằng các phương pháp nghiên cứu thích hợp
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá được số liệu đã thu thập và điều tra
- Phải nắm rõ các nội dung trọng tâm cần thực hiện của đề tài
Trang 13- Đánh giá đúng hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
- Đánh giá đúng thực trạng ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến tình hình quản lý và sử dụng đất
Trang 14PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Tổng quan các vấn đề về đất đai
2.1.1.1 Khái niệm về đất đai
Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt Trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên vỏ, dưới bề mặt nó bao gồm: khí hậu, bề mặt, thổ nhưỡng, dáng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy,…) Các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa,…)” [8]
Theo luật Đất đai năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay” [10]
2.1.1.2 Khái niệm quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp của nhà nước (thể hiện đựơc đồng thời ba tính chất kinh tế,kỹ thuật và pháp chế) về tổ chức sử dụng đất đai phải hợp lý, đầy đủ và tiết kiệm nhất, thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoan định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như
tư liệu sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai môi trường [8]
Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: điều chỉ các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường [8]
2.1.2 Tổng quan các vấn đề về đô thị
2.1.2.1 Đô thị
Với xu thế phát triển về nhiều mặt như hiện nay, thì những vấn đề về đô thị cũng như cách hiểu về đô thị cũng khác nhau
Trang 15Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn [3]
Dưới khía cạnh xã hội học: đô thị và nông thôn là hai khái niệm về mặt nội dung có hàng loạt đặc điểm có tính đối lập nhau Sự phân chia đó có thể dựa trên cơ sở các lĩnh vực hoạt động sống của xã hội như lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, dịch vụ, hoặc dựa trên các thiết chế chủ yếu của xã hội như thiết chế kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị, gia đình, hoặc theo các nhóm, các giai cấp, tầng lớp
xã hội, hay theo bình diện lãnh thổ [14]
2.1.2.2 Đô thị hóa
Để nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến tình hình quản lý và
sử dụng đất tại một vùng cụ thể trong phạm trù đất đai thì ta phải hiểu thế nào là
đô thị hóa, quá trình đô thị hóa diễn ra như thế nào, có những đặc trưng gì, thực trạng hay xu hướng đô thị hóa ra sao và những tác động của nó mang lại
- Khái niệm về đô thị hóa
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về đô thị hóa, dưới đây là khái niệm được
sử dụng phổ biến:
Đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống [7]
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân
đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa, còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa [14]
Một trong những vấn đề nổi bật của sự phát triển thế giới ngày nay là sự gia tăng nhanh chóng số lượng và quy mô các đô thị, trong đó tập trung các hoạt động chủ yếu của con người, nơi diễn ra cuộc sống vật chất, văn hóa và tinh thần của một bộ phận dân số Các đô thị chiếm vị trí ngày càng to lớn trong quá trình phát triển xã hội [11]
Một trong các khuynh hướng định cư lâu đời của loài người là đô thị hóa Quá trình đô thị hóa ra đời vào lúc nền canh tác nông nghiệp đã ở trình độ khá
Trang 16cao như đã có thủy lợi, thành lập kho tàng lưu trữ và phân bố lương thực… tức
là vào khoảng 2.000 năm trước Công nguyên Các khu vực đô thị lúc đầu thường mọc lên ở dọc bờ sông thuận tiện giao thông, nguồn nước Sự hình thành các đô thị gia tăng mạnh mẽ nhờ các tiến bộ về công nghiệp của thế kỷ trước và hiện nay [6]
=> Tóm lại, đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị và đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số
- Đặc trưng của đô thị hóa
Đô thị hóa là hiện tượng mang tính toàn cầu và có những đặc trưng chủ yếu sau đây:
Một là, số lượng các thành phố, kể cả các thành phố lớn tăng nhanh, đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ hai [7]
Hai là, quy mô dân số tập trung trong mỗi thành phố ngày càng lớn, số lượng thành phố có trên một triệu dân ngày càng nhiều [7]
Ba là, việc hình thành và phát triển nhiều thành phố gần nhau về mặt địa
lý, liên quan chặt chẽ với nhau do phân công lao động đã tạo nên các vùng đô thị Thông thường vùng đô thị bao gồm một vài thành phố lớn và xung quanh chúng là các thành phố nhỏ vệ tinh [7]
Bốn là, dân số thành thị có xu hướng tăng nhanh do quá trình di dân nông thôn – thành thị, đang làm thay đổi tương quan dân số thành thị và nông thôn, nâng cao tỷ trọng dân thành thị trong tổng số dân [7]
Năm là, mức độ đô thị hóa biểu thị trình độ phát triển xã hội nói chung, song có đặc thù riêng cho mỗi nước Đối với các nước phát triển, đô thị hóa diễn ra theo chiều sâu, chất lượng cuộc sống ở các thành phố ngày càng hoàn thiện Trong các nước đang phát triển, tốc độ đô thị hóa rất cao, đặc biệt trong các thập kỷ gần đây, quá trình đô thị hóa diễn ra theo chiều rộng đang đặt ra nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết như vấn đề đất đai, thất nghiệp, nghèo đói, ô nhiễm môi trường và tệ nạn xã hội [7]
- Vai trò của đô thị hóa
+ Đô thị hóa làm thay đổi cơ cấu lao động trong các khu vực kinh tế Cơ cấu lao động trong xã hội thường được phân theo 3 khu vực:
Trang 17● Khu vực I, khu vực kinh tế nông, lâm, thủy sản thuộc địa bàn nông thôn Trong quá trình đô thị hóa khu vực này giảm dần
● Khu vực II, khu vực kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Trong quá trình đô thị hóa, khu vực này phát triển không ngừng về số lượng và chất lượng Sự phát triển của nó mang tính quyết định trong quá trình đô thị hóa
● Khu vực III, khu vực dịch vụ, quản lý và nghiên cứu khoa học Khu vực này phát triển cùng với sự phát triển của đô thị, nó góp phần nâng cao chất lượng trình độ đô thị hóa
=> Tóm lại, ba khu vực lao động trên biến đổi theo hướng giảm khu vực I, phát triển số lượng và chất lượng ở khu vực II, III nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống ngày càng cao
+ Đô thị hóa làm số dân sống trong đô thị ngày càng tăng Đây là yếu tố đặc trưng nhất của quá trình đô thị hóa Dân cư sống trong khu vực nông thôn
sẽ chuyển thành dân cư sống trông đô thị, lao động chuyển từ hình thức lao động khu vực I sang khu vực II, III, cơ cấu lao động chuyển từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp, dịch vụ [14]
+ Đô thị hóa gắn liền với việc hình thành và phát triển các khu công nghiệp, làm thay đổi cục diện sản xuất, phương thức sản xuất Do công nghiệp phát triển đã đưa đến những thay đổi và phát triển sau:
● Làm tăng nhanh thu nhập quốc dân, đối với các nước phát triển tỷ trọng công nghiệp trong thu nhập quốc dân thường chiếm tỷ lệ từ 60 – 70% trở lên Các nước phát triển ở trình độ càng cao tỷ trọng công nghiệp càng lớn
● Làm tăng hoạt động khoa học - kỹ thuật và công nghệ Do hoạt động sản xuất công nghiệp gắn liền với khoa học – kỹ thuật, công nghệ nên trình độ khoa học - kỹ thuật ở mỗi quốc gia là thước đo sự phát triển của đất nước
+ Đô thị hóa tạo ra hệ thống không gian đô thị Cùng với sự phát triển các trung tâm đô thị, các khu dân cư với nhiều loại quy mô đã tạo thành các vành đai đô thị
+ Đô thị hóa góp phần phát triển trình độ văn minh của quốc gia nói chung và văn minh đô thị nói riêng Đô thị hóa phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển các cơ sở văn hóa, giáo dục, phát triển sự giao lưu trong nước và nước ngoài Đô thị là điều kiện để tiếp nhận nền văn minh thì từ bên ngoài và phát triển nền văn minh trong nước [14]
- Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa
Trang 18+ Yếu tố tự nhiên: Trong thời kỳ kinh tế chưa phát triển mạnh mẽ thì đô thị hóa phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Những vùng có khí hậu, thời tiết tốt, có nhiều khoáng sản, giao thông thuận lợi và những lợi thế khác sẽ thu hút dân cư mạnh hơn và do đó sẽ được đô thị hóa sớm hơn, quy mô lớn hơn Ngược lại, những vùng khác sẽ đô thị hóa chậm hơn, quy mô nhỏ hơn [12]
+ Yếu tố xã hội: Mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thị tương ứng và do đó quá trình đô thị hóa có những đặc trưng riêng của nó Kinh
tế thị trường đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh Sự phát triển của lực lượng sản xuất là điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đại hóa và là tiền đề cho đô thị hóa [12]
+ Yếu tố văn hóa dân tộc: Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng của mình và nền văn hóa đó có ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội nói chung và hình thái đô thị nói riêng [12]
+ Yếu tố kinh tế: Kinh tế là yếu tố có tính quyết định trong quá trình đô thị hóa Bởi vì, nói đến kinh tế là nói đến vấn đề tài chính Để xây dựng, nâng cấp hay cải tạo đô thị thì đòi hỏi nguồn tài chính lớn nguồn đó có thể từ trong nước hay từ nước ngoài Trình độ phát triển kinh tế thể hiện nhiều phương diện như quy mô, tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu ngành của nền kinh tế, sự phát triển các thành phần kinh tế, luật pháp kinh tế, trình độ hoàn thiện của kết cấu
hạ tầng, trình độ văn hóa giáo dục của dân cư, mức sống dân cư [12]
+ Yếu tố chính trị: Sự ổn định chính trị là động lực thúc đẩy quá trình đô thị hóa, chính trị càng ổn định thì đô thị càng phát triển Ở Việt Nam từ sau năm
1975, tốc độ đô thị hóa ngày càng cao, các khu đô thị mới mọc lên nhanh chóng… Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, các chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thì đô thị hóa đã tạo ra sự phát triển kinh tế vượt bậc [12]
2.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
2.2.1 Quá trình đô thị hóa trên thế giới
2.2.1.1 Khái quát chung về quá trình đô thị hóa trên thế giới
- Điều kiện hình thành đô thị
Khi sản xuất vượt nhu cầu tiêu dùng xảy ra quá trình trao đổi hàng hóa Từ trao đổi hàng hóa hình thành thị trường hàng hóa và sự phân công lại lao động
xã hội Những trung tâm trao đổi hàng hóa trở thành nơi tập trung đông đúc dân
cư, phát triển thành đô thị [14]
Trang 19Các đô thị xuất hiện ở những nơi trung tâm dân cư, kinh tế và chính trị của một quốc gia hay khu vực [11]
Các đô thị đã xuất hiện từ các nền văn hóa cổ đại, phát triển tăng dần trong thời kỳ Trung cổ và phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ công nghiệp hóa [11]
Hiện nay tốc độ phát triển đô thị trên thế giới đang đạt đến đỉnh cao, nhất
là ở các nước đang phát triển [6]
- Quá trình phát triển đô thị trong thế kỷ 20
Trong thế kỷ 20 quá trình phát triển đô thị xảy ra với tốc độ nhanh chóng
so với hàng ngàn năm trước đó
Vào năm 1900, đã có 220 triệu cư dân thành thị (chiếm 13%) trên toàn thế giới Năm 1900, những thành phố đông dân nhất thế giới thuộc về Bắc Mỹ
và Châu Âu Cuối thế kỷ 20 chỉ có 3 thành phố Tokyo, New York và Los Angeles là những thành phố công nghiệp
Vào năm 1910, tại Hoa Kỳ, bắt đầu thời kỳ đô thị hóa tăng tốc vào cuối thập niên 1910, các nhà nghiên cứu cho biết ở thời điểm này Hoa Kỳ còn 21% dân số sống ở nông thôn [6]
Trong khi dân số đô thị của thế giới đã tăng trưởng nhanh chóng (từ 220.000.000 người trong năm 1900 đến 2.800.000.000 người trong năm 2000) trong thế kỷ 20, trong vài thập kỷ tiếp theo sẽ thấy một quy mô chưa từng thấy của phát triển đô thị [6]
- Quá trình phát triển đô thị trong thập niên đầu thế kỷ 21
+Năm 2000-2020, 11 siêu thành phố được dự báo được mức tăng dân số dưới 1.5% và 5 thành phố sẽ ở với tốc độ tăng trưởng dân số trên 3%
+ Vào năm 2003 đã có 3 tỷ cư dân thành thị (chiếm 48%) trên toàn thế giới Dân số nông thôn chiếm 3,2 tỷ người
Năm 2003, 4% dân số thế giới cư trú tại các siêu thành phố Khoảng 25% dân số thế giới sống trong các khu định cư đô thị
Quỹ dân số Liên Hợp Quốc và các cơ quan Liên Hợp Quốc cho biết nhân loại sẽ phải trải qua một “cuộc cách mạng trong suy nghĩ” để đối phó với việc tăng gấp đôi dân số đô thị ở Châu Phi và Châu Á Làn sóng đô thị hóa chưa từng có này cung cấp tiềm năng hoặc thất bại thảm hại [13]
Vào Ngày 23/05/2007 một sự kiện quan trọng xảy ra được gọi là ngày “
đô thị Thiên niên kỷ” khi số dân cư đô thị cao hơn dân cư nông thôn [6]
Trang 20+ Wimberley nói rằng ngày 23 tháng 05 năm 2007, đánh dấu một cuộc gọi “mayday” cho tất cả các công dân có liên quan của thế giới
+ Vào năm 2010 đã có 51,3% dân số thế giới sống ở thành thị
- Quá trình phát triển đô thị tính đến năm 2011
Trong năm 2011 trên thế giới có 796 khu dân cư đô thị có từ 500.000 người trở lên được xác định
Trong năm 2011 trên thế giới có 205 khu dân cư đô thị có từ 2.000.000 người trở lên được xác định
Trong năm 2011 trên thế giới có 65 khu dân cư đô thị có từ 5.000.000 người trở lên được xác định
Trong năm 2011 trên thế giới có 27 siêu thành phố với dân số 10.000.000 người
Vì lợi ích và xu thế nhân loại, để phát triển trên thế giới phải chuẩn bị cho quá trình đô thị tăng vọt
Đô thị hóa là không thể tránh khỏi, không thể dừng lại Vì vậy, để chuẩn bị ứng phó với nó và hơn nữa là tập trung vào các biện pháp để tránh hoặc để loại trừ những trường hợp người dân di chuyển từ nông thôn vào các thành phố, và chắc chắn rằng dân cư ở trong thành phố có quyền sử dụng các dịch vụ như y tế
và trường học của khu vực
Thành phố là nơi tuyệt vời và không nên xem xét tiêu cực Ví dụ, người ta
có thể dễ dàng sử dụng các dịch vụ cơ bản hơn ở nông thôn Trong khi thành phố có thể có nghèo đói, họ cũng cung cấp một lối thoát khỏi cảnh nghèo đói [13]
Các siêu thành phố từ 10 triệu dân trở lên sẽ tiếp tục phát triển, hầu hết mọi người sẽ sống trong các đô thị cỡ trung từ 500.000 người hoặc ít hơn
2.2.1.2 Xu hướng phát triển đô thị và đô thị hóa bền vững của một số nước trong khu vực và trên thế giới
- Thái Lan: Trung tâm giải trí của thế giới, tỉ lệ dân số đô thị 31% thấp hơn mức trung bình của thế giới tập trung chủ yếu vào thủ đô Băng Kóc [6]
- Myanma: Có dân số là 677 nghìn người, tỉ lệ dân cư đô thị là 29%, tập trung chủ yếu ở thủ đô Yangun với 4 triệu dân chiếm 30% dân số đô thị của cả nước [6]
Trang 21- Philippin: Có mức đô thị hóa khá cao đạt tới 48% năm 2005, tập trung chủ yếu ở thủ đô Manila [6]
- Nhật Bản: Là nước có trình độ phát triển cao, đô thị hóa mạnh mẽ, tập trung ở nhiều thành phố lớn bậc nhất thế giới
Nhật là một nước tư bản ở châu Á có trình độ phát triển kinh tế rất cao Đô thị hóa ở Nhật diễn ra mạnh mẽ gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, các thành phố mọc lên nhanh chóng, đặc biệt là các thành phố lớn có mật độ dày đặc ở đảo Honxu, trong đó thành phố lớn nhất Nhật Bản đồng thời cũng là thành phố lớn nhất thế giới là Tokyô đã đạt 25 triệu dân năm
1990 Ngay từ năm 1960, Tokyô đã trở thành trung tâm kinh tế của Nhật Bản và của thế giới [13]
Trước đây, theo dự báo của cơ quan thống kê Nhật Bản về dân số thành phố, thành phố Tokyô đến năm 1990 có 18 triệu dân và đến 2000 là 19 triệu dân
và 2020 là 28 triệu dân, nhưng thực tế Tokyo đã đạt 29,8 triệu dân ngay từ đầu năm 1995, đang là thành phố đứng đầu về dân số thế giới và còn giữ vị trí đến năm 2015 dân số là 34 triệu dân Ở Tokyô tập trung 26% dân số đô thị của Nhật [13]
Vùng Tokyo kể cả vùng ngoại ô có sức mạnh kinh tế rất lớn, lớn hơn tiềm lực kinh tế của toàn nước Ý hay nước Anh Vùng Tokyô chiếm 33% GDP của toàn nước thời kỳ 1987 – 1988
- Anh
Là nước có trình độ đô thị hóa cao, lịch sử đô thị hóa lâu dài, chiếm 89% dân số đô thị và là một nước có nhiều thành phố hơn 1 triệu dân như: Luân Đôn, Birminham, Manchester và Leed… Trong đó thủ đô Luân Đôn dân số hơn
7 triệu người Quá trình đô thị hóa ở Anh gắn liền với quá trình phát triển cuộc cách mạng công nghiệp Sự phát triển công nghiệp đã làm thay đổi nhanh chóng sâu sắc kinh tế - xã hội của nước Anh, những nơi đông dân nhất của Anh tập trung vào vùng Tây Bắc, nơi xuất hiện hàng loạt các trung tâm công nghiệp mới: Manchester, Birminham, Liperpoon Ở Anh có 60 thành phố hơn 10.000 dân và có 25 thành phố 25.000 dân [6]
Quá trình đô thị hóa ở Anh diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ vào đầu thế
kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, hiện nay đô thị hóa ở Anh đã vào giai đoạn kết, tỷ lệ dân số đô thị đạt tới 89% dân số cả nước Xu hướng phát triển ở Anh cũng như
ở các nước phát triển là di cư từ thành phố vào nông thôn
Trang 222.2.2 Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam
Đô thị hóa là quá trình tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt
là các nước châu Á, trong đó có Việt Nam Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của khu vực, nâng cao đời sống nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như: vấn đề việc làm cho nông dân mất đất, phương pháp đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức di dân, giãn dân,… [13]
Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam có thể khái quát thành 3 thời kỳ với những đặc trưng nổi bật của mỗi một thời kỳ ứng với biến đổi nhất định về bộ mặt đô thị [1]
- Thời kỳ trước năm 1945
Đô thị trong thời kỳ này mang đặc trưng của chế độ phong kiến, thuộc địa Quy mô của đô thị còn nhỏ hẹp và cơ sở hạ tầng chưa phát triển
Khi thực dân Pháp chưa xâm chiếm nước ta, đô thị chủ yếu là thành, phủ của vua chúa, là trung tâm hành chính, thương mại trên cơ sở những thành lũy, lâu đài Đô thị lúc này chịu sự chi phối rất lớn bởi nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên và tự cung tự cấp Những manh mún về sản xuất hàng hóa và buôn bán còn rất nhỏ lẻ
Thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng khai thác, bóc lột mọi thứ để phục vụ mục đích của mình Xây dựng những điểm giao thông quan trọng, xây dựng thành phố mới Đô thị Việt Nam giai đoạn này mang hơi hướng đậm nét của Pháp, giữ vai trò là trung tâm hành chính, nơi trú ngụ của bộ máy chính quyền thực dân phong kiến Chính điều này đã làm thay đổi hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính truyền thống của Việt Nam Cơ sở hạ tầng được đầu tư, thành phố được mở rộng Năm 1933, Hải Phòng đã trở thành một thành phố cảng sầm uất Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh có mức tăng đột ngột về dân số kể từ năm 1943 [13]
- Thời kỳ 1945 – 1975
Có thể xem giai đoạn này là đặc biệt trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam Trong giai đoạn này, đất nước đang bị chia cắt làm hai miền, do vậy, đô thị hóa ở hai miền Nam Bắc cũng khác nhau
+ Miền Bắc: Vào năm 1954, miền Bắc bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển đất nước, dân số đô thị chiếm 7,4% Đến năm 1960: 8,9% Năm
Trang 231965: 9,8% Năm 1972: 10,5% Dân cư ở các thành phố, thị xã cũ di tản nay trở
về làm ăn, buôn bán và sinh sống Ngoài các thành phố, thị xã cũ còn phát triển thêm nhiều thành phố công nghiệp mới như: Việt Trì, Thái Nguyên, thành phố cảng được mở rộng và phát triển [13]
+ Miền Nam: Đang trong chiến tranh, bị bọn thực dân đàn áp, khủng bố, đặc biệt là chiến tranh bình định nông thôn của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Sài Gòn làm cho nông dân miền Nam phải chạy vào thành phố tị nạn Đây còn được gọi là “đô thị hóa cưỡng bức” chính điều này làm cho tỷ lệ dân số đô thị miền Nam tăng từ 10% năm 1960 lên 30% vào đầu những năm 1965 [13]
- Thời kỳ sau năm 1975
Đất nước thống nhất, bước vào thời kỳ khôi phục đất nước trên tất cả các lĩnh vực, phát triển công nghiệp hóa đất nước Các thành phố và đô thị trong cả nước từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng hoạt động sản xuất Nhiều khu công nghiệp được đầu tư xây dựng, dân số đô thị ngày càng tăng do chuyển dịch nông nghiệp sang công nghiệp, thương mại và dịch vụ Tính đến năm
1988, cả nước có 644 điểm dân cư đạt tiêu chuẩn là đô thị và dân số đô thị đã chiếm khoảng 22% dân số cả nước [13]
2.2.3 Quá trình hình thành Thành phố Đồng Hới
Thành phố Đồng Hới là một đơn vị hành chính gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của tỉnh Quảng Bình Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, thành phố Đồng Hới vẫn không ngừng phát triển Trong thời kỳ 1964 -
1975, cùng với Quảng Bình, Đồng Hới vừa là tuyến đầu đánh Mỹ vừa là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam anh hùng, nơi đã có những phong trào “xe chưa qua nhà không tiếc, đường chưa thông không tiếc máu, tiếc xương”, “chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi”… những tên làng, tên đất, tên người như: dòng Nhật Lệ, Trận địa pháo lão dân quân Đức Ninh, em bé Bảo Ninh, các anh hùng: Quách Xuân Kỳ, Trương Pháp, Lê Trạm, Nguyễn Thị Suốt, Nguyễn Thị Khứu, Phạm Dung Hạnh, Phạm Thị Nghèng… đã đi vào lịch sử
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, năm 1976 tỉnh Bình Trị Thiên được thành lập trên cơ sở sát nhập 3 tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế, thành phố Đồng Hới chỉ giữ vai trò trung tâm kinh
tế văn hóa của các huyện, khu vực phía Bắc Sau ngày tái lập tỉnh Quảng Bình (tháng 7/1989), Đồng Hới trở lại vai trò là trung tâm tỉnh lỵ Đảng bộ tỉnh Quảng Bình đã có định hướng xây dựng thành phố trở thành trung tâm chính trị
- kinh tế - văn hóa - xã hội và khoa học kỹ thuật, nơi có vai trò là động lực phát
Trang 24triển của cả tỉnh Đồng thời xây dựng thành phố Đồng Hới theo tiêu chuẩn đô thị hiện đại, nhằm từng bước nâng cao chất lượng đô thị hạt nhân, tác động thúc đẩy tiến trình đô thị hóa trên địa bàn toàn tỉnh [9]
Với quyết tâm xây dựng lại quê hương “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Bác Hồ đã dạy, Đảng bộ, quân và dân Đồng Hới phát huy ý chí tự lực, tự cường,
ý Đảng, lòng dân hoà quyện, xây dựng quê hương ngày càng đổi thay trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2001-2005 là 12,5%, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, tỷ lệ hộ giàu ngày càng tăng, hộ nghèo ngày càng giảm, không có hộ đói
Kết quả sự phấn đấu nỗ lực không ngừng của Đảng bộ, quân và dân Đồng Hới đã được khẳng định, ngày 28/10/2003 Bộ Xây dựng có quyết định công nhận Đồng Hới là đô thị loại III và chỉ 10 tháng sau, ngày 16/8/2004, Chính phủ
đã có Nghị định thành lập thành phố Đồng Hới trực thuộc tỉnh Quảng Bình Đây
là niềm tự hào và vinh dự lớn, là mốc son quan trọng đánh dấu quá trình xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ và nhân dân thành phố Đồng Hới nói riêng, tỉnh Quảng Bình nói chung, đồng thời là động lực thúc đẩy đảng bộ, quân và dân thành phố tiếp tục phấn đấu xây dựng thành phố ngày càng giàu mạnh, văn minh [9]
Trang 25PHẦN 3:
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến tình hình sử dụng đất trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
- Phạm vi thời gian: 2010 – 2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Đồng Hới
- Thực trạng quá trình đô thị hóa tại thành phố Đồng Hới, giai đoạn
- Đề xuất một số giải pháp định hướng sử dụng đất hợp lý, bền vững
3.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thu thập số liệu
+ Thu thập tài liệu, số liệu đã được công bố về tình hình kinh tế - xã hô ̣i, các ngành sản xuất… các số liệu từ Chi cục Thống kê thành phố Đồng Hới, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Quản lý đô thị, Phòng Kinh tế, Phòng Tài chính -
Kế hoạch và các phòng, ban khác thuộc thành phố Đồng Hới Trên cơ sở đó tiến hành tổng hợp các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu
+ Điều tra, khảo sát hiện trường: Thực hiện trên địa bàn phường Nam Lý, phường Đức Ninh Đông, phường Bắc Lý, phường Đồng Phú, xã Bảo Ninh
- Phương pháp bản đồ: sử dụng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010
và năm 2015, bản đồ quy hoạch sử dụng đất của thành phố Đồng Hới
- Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu, tài liệu
Trang 26Các số liệu sau khi thu thập được phân tích, tổng hợp và xử lý bằng các phần mền như Word, Excel
Đề tài sẽ tổng hợp tất cả các số liệu trong quá trình nghiên cứu, tiến hành
kế thừa và phân nhóm toàn bộ các đối tượng điều tra có cùng chỉ tiêu, xác định
các giá trị trung bình của chỉ tiêu, phân tích tương quan giữa các yếu tố
- Phương pháp thống kê, lập bảng, đánh giá
Thống kê số liệu năm, tổng hợp và thông qua đó lập hệ thống bảng biểu, biểu đồ…đánh giá đúng với thực trạng mà các số liệu mang lại
- Phương pháp so sánh, đối chiếu logic trong phân tích mức độ tác động
So sánh chỉ tiêu của các năm với nhau để có kết luận đúng đắn về sự thay đổi, phát triển Xác minh tính xác thực giữa số liệu trên giấy và thực tiễn đạt được
Thông qua việc thu thập các tài liệu cần thiết, qua quan sát và cùng với ý kiến của các chuyên gia cũng như lãnh đạo của các cơ quan chuyên môn tiến hành phân tích, đánh giá tác động của quá trình chuyển dịch đất đai đến kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu
Trang 27PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Đồng Hới
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Đồng Hới là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Bình, một trong những đô thị trung tâm của khu vực Bắc Trung bộ, được thành lập ngày 16/8/2004 trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc thị xã
Đồng Hới cũ (tại Nghị định số 156/2004/NĐ-CP của Chính phủ) Là đô thị loại
III, Thành phố là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, khoa học kỹ thuật, đầu mối giao lưu quan trọng, có vai trò là động lực phát triển kinh tế của cả tỉnh Quảng Bình, có lợi thế về vị trí, tiềm năng phát triển công nghiệp, khai thác chế biến thủy sản, thương mại và dịch vụ du lịch [17]
Tổng diện tích tự nhiên của Thành phố là 15.587,34 ha (chiếm 1,93% diện tích toàn tỉnh), dân số năm 2015 là 116.903 người (mật độ 750 người/ km 2 , trên 67% dân số sinh sống thuộc khu vực nội thị), phân bố trên địa bàn 16 đơn vị
hành chính gồm 10 phường và 6 xã Tọa độ địa lý nằm trong khoảng từ
17021’59” đến 17031’53” vĩ độ Bắc và từ 106029’26” đến 106041’08” kinh độ Đông
Hình 4.1: Ví trí vùng nghiên cứu
Trang 284.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Nằm về phía Đông của dãy Trường Sơn, địa hình Thành phố có đặc thù nghiêng dần từ Tây sang Đông, với đại bộ phận lãnh thổ là vùng đồng bằng và vùng cát ven biển, cụ thể chia thành các khu vực sau:
- Vùng gò đồi phía Tây: chiếm 15% diện tích tự nhiên với các dãy đồi lượn sóng vắt ngang từ Bắc xuống Nam tại khu vực phía Tây với cao độ trung bình từ
12 - 15 m, độ dốc trung bình 7 - 10% Thổ nhưỡng của vùng này có đặc điểm độ phì thấp, đất đai nghèo chất dinh dưỡng, tầng đất màu không dày, chủ yếu thuận lợi để phát triển cây trồng lâm nghiệp, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả
- Vùng bán sơn địa xen kẽ đồng bằng: chiếm 37% diện tích tự nhiên với cao độ trung bình từ 5 - 10 m (nơi cao nhất 18 m và thấp nhất là 2,5 m), độ dốc trung bình từ 5 - 10% Đây là một vòng cung có dạng gò đồi thấp xen kẽ đồng bằng hẹp bao bọc lấy khu vực đồng bằng, là vùng sản xuất lương thực hoa màu, đặc biệt là vành đai rau xanh phục vụ cho Thành phố
- Vùng đồng bằng: chiếm khoảng 38% diện tích tự nhiên, thuộc khu vực trung tâm Địa hình có dạng tương đối bằng phẳng, đồng ruộng xen lẫn sông, hồ, kênh rạch, độ dốc nhỏ khoảng 0,2%, cao độ trung bình 2 - 4 m, nơi thấp nhất là 0,5 m, đây là nơi tập trung mật độ dân cư cao cùng với các cơ sở hạ tầng kinh tế chủ yếu của Thành phố, thuận lợi cho việc phát triển các lĩnh vực công nghiệp
4.1.1.3 Khí hậu
Đồng Hới nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương Tính chất khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam và có mùa đông lạnh ở miền Bắc với hai mùa rõ rệt trong năm: mùa khô và mùa mưa
- Nhiệt độ trung bình năm là 24,40C, nhiệt độ thấp nhất (tháng 12, tháng 1) khoảng 7,8 - 9,40C, nhiệt độ cao nhất (tháng 6, tháng 7) khoảng 40,1 - 40,60C Tổng tích nhiệt đạt trị số 8.600 - 9.000 0C, biên độ nhiệt chênh lệch ngày đêm từ 5
- 80C, số giờ nắng trung bình trong ngày là 5,9 giờ [17]
Trang 29- Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1.300 - 4.000 mm, phân bố không đều giữa các tháng trong năm Mùa mưa tập trung từ tháng 9 đến tháng 11, chiếm 75
- 80% tổng lượng mưa cả năm, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau, lượng mưa ít, trùng với mùa khô hanh nắng gắt, gắn với gió Tây Nam khô nóng [17]
4.1.1.4 Thủy văn, thủy triều
Vùng Thành phố thuộc lưu vực sông Nhật Lệ, một trong 5 con sông chính của tỉnh Quảng Bình Sông Nhật Lệ do hai nhánh của hệ thống sông Đại Giang
và Kiến Giang hợp thành đổ ra biển Đông qua giữa lòng Thành phố, tạo ra cảnh quan môi trường đẹp Ngoài ra còn có các sông Mỹ Cương là một nhánh nhỏ đổ
ra sông Lệ Kỳ, sông Lệ Kỳ là một nhánh nhỏ đổ ra sông Nhật Lệ và sông Cầu Rào là những sông ngắn nhỏ nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu thoát nước của Thành phố
Về đặc điểm thủy triều, vùng biển Đồng Hới và sông Nhật Lệ chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều ngày với 2 đỉnh triều xen kẽ, biên độ triều cường trung bình 1,2 m, có thể lợi dụng để tàu thuyền ra vào và neo đậu tại các cửa sông
4.1.1.5 Đặc điểm địa chất công trình
Hiện nay chưa có tài liệu khảo sát tổng thể địa chất công trình cho toàn vùng Thành phố, tuy nhiên qua các báo cáo địa chất công trình xây dựng trong khu trung tâm Thành phố cho thấy nền địa chất khá ổn định, thuận lợi cho xây dựng, mực nước ngầm xuất hiện ở độ sâu 6 - 10 m, tuy nhiên các khu vực xây dựng ven sông, biển cần có sự khảo sát kỹ, đề phòng nguồn nước ngầm mạch nông có nhiễm mặn ảnh hưởng đến chất lượng móng công trình
4.1.1.6 Các nguồn tài nguyên
- Tài nguyên đất
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2015, tổng diện tích đất tự nhiên của Thành phố là 15.587,34 ha, trong đó diện tích đã được khai thác sử dụng vào các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp là 15.062,29 ha (chiếm tới 96,63%), đất chưa sử dụng còn lại 525 ha (chiếm 3,37%) Kết quả điều tra nghiên cứu về mặt thổ nhưỡng (không kể 723 ha đất sông suối và mặt nước chuyên dùng) cho thấy đất đai của Thành phố thuộc 5 nhóm đất chính bao gồm [17]
+ Nhóm đất xám: có diện tích khoảng 9.060 ha (chiếm 58,19% diện tích tự nhiên toàn Thành phố), phân bố trên nhiều dạng địa hình khác nhau, từ địa hình thấp, bậc thềm bằng phẳng đến các vùng đồi Nhóm đất xám gồm có 5 loại đất
là đất xám feralit (4.689 ha), đất xám kết von (3.316 ha), đất xám bạc màu (580
Trang 30ha), đất xám cơ giới nhẹ kết von sâu (135 ha) và đất xám loang lổ (340 ha) [16]
+ Nhóm đất phù sa: có diện tích 1.795 ha (chiếm 11,53% quỹ đất tự nhiên), phân bố trên nhưng địa hình tương đối bằng phẳng Đất phù sa được phân thành 6 loại đất phụ là đất phù sa chua điển hình (270 ha), đất phù sa chua
cơ giới nhẹ (545 ha), đất phù sa chua glây nông (450 ha), đất phù sa glây sâu (310 ha), đất phù sa có tầng mặt loang lổ sâu (100 ha) và đất phù sa glây có tầng đốm rỉ (120 ha) [16]
+ Nhóm đất cát và cát biển: có diện tích 2.858 ha, chiếm 18,35% tổng diện tích tự nhiên và tập trung chủ yếu ở các phường xã ven biển [16]
+ Nhóm đất mặn: có diện tích khoảng 520 ha, chiếm 3,34% diện tích tự nhiên, phân bố ở địa hình thấp trũng ven biển giáp với các cửa sông
+ Nhóm đất tầng mỏng: có diện tích 460 ha, chiếm 2,95% diện tích tự nhiên, phân bố rải rác ở vùng đồi phía Tây [16]
- Tài nguyên nước
+ Nguồn nước mặt: Đồng Hới có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sông suối, ao hồ khá dày đặc và lượng nước mưa hàng năm lớn (trung bình 1.300 - 4.000 mm/năm), tuy nhiên phân bố không đều theo các tháng trong năm (tập trung trên 75% vào mùa mưa) Tổng trữ lượng nước mặt ước tính đạt xấp xỉ 500 - 600 tỷ m3, đáp ứng khoảng 50% nhu cầu cho sản xuất nông nghiệp, đảm bảo một phần cho sinh hoạt và sản xuất Nguồn nước được cung cấp bởi hệ thống bốn sông chính chảy qua gồm: sông Nhật Lệ, sông Mỹ Cương, sông Lệ
Kỳ và sông Cầu Rào, ngoài ra còn có 14 hồ, bàu chứa nước tự nhiên và nhân tạo khá phong phú, như hồ Thành, hồ Bàu Tró, hồ Phú Vinh, với trữ lượng khoảng 35 triệu m3 [17]
+ Nguồn nước ngầm của Thành phố tuy mới được điều tra tổng thể, chưa điều tra chi tiết để đánh giá đầy đủ, nhưng nhìn chung cũng khá phong phú, phân
bố không đồng đều, mức độ nông sâu thay đổi phụ thuộc vào địa hình và lượng mưa theo mùa
- Tài nguyên rừng
Rừng của Thành phố bao gồm cả rừng tự nhiên và rừng trồng với hai chức năng chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng sản xuất Năm 2015, diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn Thành phố có 6.582,45 ha (chiếm 66,04% trong đất nông nghiệp và 42,22% diện tích đất tự nhiên), bao gồm đất rừng phòng hộ có 3.092,16 ha, chiếm 46.97% đất lâm nghiệp, chủ yếu là rừng tự nhiên và đất
Trang 31trồng rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất có 3.490,29ha, chiếm 53,03%, chủ yếu
là đất có rừng trồng sản xuất Tỷ lệ che phủ bằng cây rừng đạt trên 43%, sản lượng gỗ khai thác hàng năm đạt khoảng 1.500 m3/năm [17]
- Tài nguyên biển
Thành phố có trên 15,7 km bờ biển từ Quang Phú đến Bảo Ninh, chiếm 13,53% chiều dài bờ biển của tỉnh Quảng Bình Dọc theo bờ biển, có nhiều bãi cát trắng thoải, môi trường sạch và cảnh quan đẹp là điều kiện thuận lợi cho khai thác phát triển các loại hình du lịch biển và nghỉ dưỡng như bãi tắm Nhật Lệ, Quang Phú, khu Sunspa Resrot (xã Bảo Ninh) Bên cạnh đó, về nguồn lợi hải sản, vùng biển Đồng Hới được đánh giá có nguồn tài nguyên sinh vật khá phong phú với nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao như: tôm hùm, tôm sú, mực ống, mực nang, trong đó mực ống và mực nang có trữ lượng khá và chất lượng cao Sản lượng hải sản khai thác hàng năm có thể đạt khoảng 5.900 tấn các loại [17]
- Tài nguyên khoáng sản
Theo số liệu điều tra khảo sát, trên địa bàn Thành phố chỉ có nguồn khoáng sản phi kim loại mang tính chất đặc trưng của vùng Bắc Trung Bộ như: cao lanh, cát trắng thạch anh, trong đó đáng chú ý có mỏ cao lanh tại Lộc Ninh quy mô
và trữ lượng trên 30 triệu tấn, là mỏ thuộc loại lớn nhất nước ta rất có điều kiện
để khai thác chế biến công nghiệp
Ngoài ra, cát trắng thạch anh có trữ lượng hàng chục triệu tấn, phân bố trên địa bàn các xã Lộc Ninh, Quang Phú, Hải Thành và Bảo Ninh, cát xây dựng cũng có trữ lượng lớn, đã và đang được khai thác phục vụ cho nhu cầu xây dựng của nhân dân, đồng thời còn có nhiều mỏ sét (trữ lượng khoảng 17 triệu m3), là điều kiện để phát triển sản xuất gốm sứ, gạch ngói và vật liệu xây dựng
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Khu vực kinh tế nông nghiệp
Nông, lâm, ngư nghiệp của Thành phố là ngành chiếm tỷ trọng thấp nhất trong cơ cấu giá trị sản xuất GDP (năm 2015 là 5,1%), tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010- 2016 đạt 5,9%/năm Xu thế phát triển theo hướng tập trung, tích cực thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất, tác động hỗ trợ nhau cùng phát triển, khai thác thủy sản bước đầu gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu, hoạt động lâm nghiệp chuyển dần sang lâm nghiệp xã hội hóa, kinh tế trang trại bước đầu phát triển cả về số lượng, quy mô, phát huy ưu thế của từng vùng Cơ cấu kinh tế nội
Trang 32bộ ngành chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng thủy sản, giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp Phát triển nông nghiệp đã chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa có giá trị và chất lượng cao gắn với xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nông thôn mới
4.1.2.2 Khu vực kinh tế công nghiệp
Hoạt động sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của Thành phố đang từng bước ổn định và giữ được tốc độ tăng trưởng khá, phát triển mạnh về sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến Giá trị sản xuất năm 2005 đạt 754,3 tỷ đồng, năm 2011 đạt khoảng 1.584 tỷ đồng, tăng 15,8% so với năm
2009 và năm 2015 đạt khoảng 2.241 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 đạt 16,9%, vượt mục tiêu Nghị quyết đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII và Nghị quyết 04/NQ-TV đề ra
Sự phát triển của ngành đã góp phần tích cực trong sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, nâng cao tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong cơ cấu GDP (tăng từ 39,5% năm 2005 lên 41,9% năm 2010, năm 2015 là 43,1%) [17]
Những năm qua, Thành phố đã chú trọng công tác quy hoạch, xây dựng hạ tầng cơ sở công nghiệp, thực hiện tốt chính sách khuyến công, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường Đến nay, các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Thành phố đã thu hút được một lượng lao động đáng kể Các cơ sở sản xuất được đầu tư mở rộng, số lượng cơ sở sản xuất tăng từ 1.862 cơ sở vào năm
2011 lên trên 2.079 cơ sở năm 2015, các cơ sở quy mô vừa và nhỏ phát triển khá, góp phần giải quyết việc làm cho trên 11.100 lao động
4.1.2.3 Khu vực kinh tế dịch vụ
Ngành kinh tế dịch vụ của Thành phố phát triển nhanh, ngành du lịch đã khẳng định là ngành kinh tế mũi nhọn Giá trị ngành dịch vụ mang lại tăng từ 508,3 tỷ đồng năm 2005 lên 1.088 tỷ năm 2010 và lên 1.388 tỷ năm 2015, bình quân hàng năm tăng 16,5% Kim ngạch xuất khẩu hàng năm tăng khá, năm 2015
đã thực hiện 52 triệu USD Xuất khẩu đang tập trung chủ yếu ở các mặt hàng cao su, thủy sản, quặng titan, dầu thông, đồ gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ,
- Dịch vụ thương mại: Hoạt động thương mại dịch vụ phát triển khá nhanh,
phong phú, đa dạng, hàng hóa lưu thông ngày càng thuận lợi, đóng góp vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội cũng như yêu cầu phát triển sản xuất của các ngành kinh tế Tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội tăng trưởng ổn định với nhịp độ khá, năm 2010 đạt 3.183 tỷ
Trang 33đồng, và đạt 7.170 tỷ năm 2015 (tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 33,6%) Các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn và khách du lịch như: vật tư nông nghiệp, công nghệ phẩm, văn hóa phẩm, thực phẩm, sản phẩm mỹ nghệ, hàng trang trí nội thất, dịch vụ, ăn uống được quan tâm đầu tư
- Dịch vụ du lịch: Phát triển nhanh, diễn ra sôi động, nhộn nhịp và từng bước khẳng định trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, quan trọng của Thành phố Các hoạt động du lịch được phát triển theo hướng phong phú, đa dạng hóa với nhiều loại hình và sản phẩm du lịch Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch từng bước được đầu tư, một số khu du lịch chất lượng cao được xây dựng, nhiều nhà hàng, khách sạn, khu di tích lịch sử, danh thắng và khu vui chơi giải trí được nâng cấp và xây mới, nhất là khu vực dọc bờ biển, thu hút được sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Công tác tuyên truyền quảng bá du lịch được chú trọng, quy mô và loại hình du lịch ngày càng phát triển, tỷ lệ cán bộ phục vụ qua đào tạo được nâng cao
rõ rệt
- Dịch vụ khác: các dịch vụ khác như tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông, vận tải, bảo hiểm, vui chơi, giải trí, ngày càng phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân Vận tải hàng hóa, hành khách chất lượng được nâng cao, đáp ứng hầu hết nhu cầu đi lại của nhân dân Dịch vụ phục
vụ cho sản xuất công nghiệp như cơ khí sửa chữa, đào tạo nghề được chú trọng,
đã cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
4.1.2.4 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
- Về dân số
Năm 2015, dân số toàn Thành phố có 116.903 người, chiếm trên 21% dân
số cả tỉnh Trong đó, dân số thành thị có 79.218 người (chiếm 68,93%), dân số trong độ tuổi lao động có 79.260 người (chiếm 68,95%) và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 10.38 ‰ [2]
- Lao động và việc làm
Bằng các giải pháp đồng bộ, Thành phố đã huy động được nhiều nguồn lực
từ các thành phần kinh tế, kết hợp với các chương trình, dự án để tạo việc làm cho người lao động, đưa 2.858 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, bình quân giải quyết việc làm cho 6.700 lao động/năm, tạo điều kiện nâng cao đời sống cho người dân Năm 2015, tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 62.447 người, trong đó ngành nông - lâm - thủy sản chiếm
Trang 3432,9%, công nghiệp - xây dựng chiếm 27,8%, thương mại - dịch vụ chiếm 26,8% và trong lĩnh vực quản lý Nhà nước, đảng, đoàn thể, giáo dục - đào tạo,
an ninh - quốc phòng chiếm 12,5%
- Thu nhập và mức sống
Nhìn chung, cùng với sự phát triển về kinh tế, thu nhập bình quân đầu người của Thành phố tăng nhanh qua các năm: năm 2000 là 434 USD/người/năm, đến năm 2005 đạt 750 USD/người/năm, năm 2010 đạt 1.592 USD/người/năm, năm 2013 đạt 2.871,3 USD/người/năm cao gấp 1,46 lần thu nhập bình quân đầu người của cả nước Khoảng cách về thu nhập giữa các xã, phường đã được thu hẹp Tỷ lệ số hộ dân được dùng nước sạch đạt 95%
4.1.2.5 Giáo dục - đào tạo
Mạng lưới cơ sở giáo dục đào tạo được sắp xếp cơ bản phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Trên địa bàn 16 xã, phường, cơ cấu giáo dục tương đối ổn định, mỗi xã, phường đều có trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở Nhìn chung, hệ thống giáo dục của Thành phố đã có bước phát triển tốt về quy mô, chất lượng dạy và học được nâng cao, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đào tạo nhân lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội của Thành phố Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường ngày càng tăng, số học sinh bỏ học ngày càng giảm Chất lượng giáo dục được nâng lên, tỷ lệ học sinh xét tốt nghiệp hàng năm bậc tiểu học đạt 99,8%, trung học cơ sở đạt 98,3%
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
Thành phố Đồng Hới là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Bình, nằm bên bờ biển Đông và là một trong số ít thành phố ven biển của nước ta có địa thế đẹp,
nhiều điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng một đô thị đa dạng và hiện đại
- Về tự nhiên: Đồng Hới sở hữu một hình thái cảnh quan rất phong phú, độc đáo với đầy đủ các loại địa hình từ vùng gò đồi trung du, đồng bằng, sông rạch, đầm hồ, vùng cửa sông ven biển, đến các dải cát, động cát và bãi biển liên hoàn, Địa thế như vậy có thể tạo cho Đồng Hới nhiều không gian kiến trúc và xây dựng, nhiều cảnh quan đẹp hài hòa giữa con người và tự nhiên, giữa công trình kiến trúc với môi trường sinh thái
- Về vị trí địa lý: Đồng Hới nằm ở vị trí trung độ thuộc các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ, là nơi giao thoa không chỉ của 3 miền Bắc Trung Nam mà của cả hành lang Đông Tây liên kết với Lào, Thái Lan và Mianma Là nơi hội tụ các tuyến giao thông huyết mạch của Quốc gia Đồng Hới cũng là điểm đến đầu tiên và
Trang 35điểm dừng lý tưởng của hành trình khám phá Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng và nhiều tuyến du lịch khác, Đây là thế mạnh tiềm tàng mà Đồng Hới luôn có lợi thế để phát triển [17]
- Về diện tích đất đai: Đồng Hới là một thành phố có diện tích trung bình (155,71 km2), tuy nhiên do mới phát triển nên mật độ dân số còn thấp Do vậy, quỹ đất còn rất lớn, còn nhiều khả năng mở rộng, quy hoạch và phát triển
- Về khí hậu - thời tiết: tuy nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng Đồng Hới phải chịu nhiều kiểu thời tiết cực đoan như: gió phơn Tây Nam khô nóng, gió mùa Đông Bắc gây nên giá rét, mưa dầm gió bấc, sương muối, rất bất lợi cho sản xuất, đời sống mà đặc biệt là ảnh hưởng lớn đến du lịch, dịch
vụ Riêng bão, gió lốc và lũ lụt hàng năm xảy ra nhiều cũng gây khó khăn, thiệt hại cho sự phát triển và tăng trưởng của Thành phố
- Về tài nguyên khoáng sản: Đồng Hới không có nhiều loại khoáng sản chỉ
có một số khoáng sản phi kim loại như cao lanh, cát thạch anh, sét, có khả năng cung cấp đủ nguyên liệu cho các ngành công nghiệp gốm sứ, thủy tinh, vật liệu xây dựng
- Về kinh tế: trong những năm gần đây thành phố tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao, chuyển dịch cơ cấu đúng hướng, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phát triển khá, từng bước nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh trên thị trường, dịch vụ (trong đó có du lịch) phát triển mạnh, từng bước phát huy tiềm năng lợi thế của Thành phố và đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp phát triển tương đối toàn diện và chuyển dần theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, tích cực chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành Tuy vậy, kinh tế Đồng Hới vẫn đang trong tình trạng phát triển chưa có bước đột phá, chuyển dịch cơ cấu chưa mạnh, thiếu bền vững, chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế sẵn có của một đô thị tỉnh lỵ và của một thành phố biển, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ và tốc độ cải thiện chưa đáp ứng yêu cầu đô thị hóa, đời sống nhân dân ở các xã nông thôn còn nhiều khó khăn
- Về văn hóa - xã hội: giáo dục đã có bước phát triển mới về quy mô, nâng cao chất lượng, ngày càng đáp ứng tốt hơn việc đào tạo nguồn lực cho Thành phố, y tế, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao có nhiều chuyển biến cả về nội dung
và hình thức, lĩnh vực khoa học công nghệ có nhiều chuyển biến tích cực, giải quyết việc làm và chính sách xã hội, từng bước nâng cao được đời sống của nhân dân
Trang 36=> Tóm lại Đồng Hới có rất nhiều tiềm năng và lợi thế để có thể xây dựng nên một thành phố giàu, đẹp, văn minh và hiện đại nếu có sự đồng sức, đồng lòng và đồng thuận của cả hệ thống chính trị và của toàn thể nhân dân Thành phố
4.2 Thực trạng quá trình đô thị hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới
4.2.1 Thực trạng phát triển khu dân cư thành phố
Địa bàn thành phố Đồng Hới hiện tại có 10 phường với tổng dân số đô thị là 79.218 người, chiếm 68,93% dân số toàn Thành phố và 55,84% dân số đô thị của
cả tỉnh Tổng diện tích đất đô thị của Thành phố là 5.547,28 ha, bình quân đất đô thị là 706 m2/người, bình quân đất ở tại đô thị 39 m2/người [2]
Với vị trí là trung tâm chính trị - kinh tế - xã hội của Tỉnh nên Thành phố Đồng Hới không ngừng được đầu tư phát triển, các khu dân cư ngày càng được cải tạo, sắp xếp lại ổn định Từng bước xây dựng và hình thành một số khu dân
cư đô thị mới, đáp ứng nhu cầu đất ở cho nhân dân Bộ mặt kiến trúc đô thị được chỉnh trang, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội đô thị được đầu tư xây dựng
Việc nâng cấp chỉnh trang đô thị được chú trọng, nhiều công trình dự án quan trọng đã hoàn thành, tạo điểm nhấn cho Thành phố như: Cầu Nhật Lệ, công viên bờ sông Nhật Lệ, đường tránh quốc lộ 1A, sân bay Đồng Hới được triển khai đầu tư và đưa vào sử dụng, tạo diện mạo mới cho đô thị trẻ Đồng Hới Ngoài ra, còn tập trung xây dựng nhiều công trình khác như: Dự án vệ sinh môi trường, xây dựng khu đô thị mới, các siêu thị, khách sạn, hệ thống vỉa hè, công viên cây xanh, cấp thoát nước, làm thay đổi nhanh chóng cả về kiến trúc và cảnh quan đô thị Tuy nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng, kiến trúc không gian của Thành phố cũng còn nhiều tồn tại:
- Các tuyến đường trục, các khu chức năng đô thị mang dáng hiện đại mới chỉ tập trung ở khu vực trung tâm các phường nội thị cũ (Đồng Mỹ, Đồng Phú, Hải Đình, ) Một số khu vực vùng ven, vùng mới phát triển như phường Nam
Lý, Bắc Lý,… còn mang dáng dấp của vùng nông thôn
- Cơ sở kinh tế - kỹ thuật tạo động lực phát triển đô thị còn yếu, chưa tạo ra nguồn thu lớn cho nền kinh tế và giải quyết vấn đề lao động việc làm cho người dân Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mang tính nhỏ lẻ, thương mại dịch vụ mang tính phục vụ tại chỗ
- Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông và các công trình công cộng khác (nhất
là các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, thể thao) còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu,
Trang 37nguồn lực và khả năng đáp ứng vốn cho sự phát triển đô thị còn hạn chế
- Cơ cấu tổ chức không gian, phân bố dân cư trên địa bàn còn chưa cân đối,
có sự cách biệt giữa khu phát triển và kém phát triển Ngoài ra trong quá trình
mở rộng đô thị vẫn còn chậm trễ trong quy hoạch và xử lý các vấn đề có liên
quan
4.2.2 Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn
Thành phố Đồng Hới hiện có 6 xã sống ở khu vực nông thôn (dân số 37.685 người), chiếm 31,07% dân số toàn Thành phố và chiếm 4,87% dân số nông thôn của
cả tỉnh Tổng diện tích đất khu dân cư nông thôn là 3.753,73 ha, bình quân đất khu dân cư nông thôn 1.060 m2/người, bình quân đất ở tại nông thôn 53 m2/người [5]
Nhìn chung các khu dân cư trên địa bàn các xã còn đang trong quá trình đầu tư xây dựng, chỉnh trang cải tạo, sắp xếp lại Đất xây dựng chưa tập trung, thường phát triển ven theo các tuyến đường chính, từ trung tâm lan rộng dần ra
xa, tại những khu vực địa thế thuận lợi cho xây dựng, với lối kiến trúc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, dạng nhà phố và nhà vườn
Trong những năm qua, với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, các khu, cụm dân cư trong Thành phố đã có nhiều thay đổi, hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, nước đã được đưa về tới tận các thôn, đã góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân Tuy nhiên, tốc độ chỉnh trang nhìn chung vẫn còn chậm so với yêu cầu, thực trạng cơ sở hạ tầng trong nhiều cụm dân cư vẫn còn chắp vá, thiếu đồng bộ, chưa đảm bảo quy mô, tiêu chuẩn kỹ thuật, kiến trúc không gian dân cư nhiều khu vực xây dựng tự phát, chưa đúng quy định làm ảnh hưởng chung đến cảnh quan đô thị Hiện vẫn còn gần 20% số
hộ dân nông thôn chưa được dùng nước sạch
tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 10,380/00
Do dân số không ngừng gia tăng, gây sức ép về việc làm, đất ở cho toàn xã hội Tỷ lệ tăng dân số cơ học cao ở các khu vực đô thị nên tốc độ đô thị hóa diễn
ra mạnh, nhất là khi thị xã Đồng Hới trở thành thành phố với diện tích đất nông
Trang 38nghiệp ngày càng thu hẹp nhường chổ cho các khu đô thị, khu công nghiệp mới
và diện tích xây dựng cơ sở hạ tầng
Bảng 4.1: Diện tích, dân số và mật độ dân số của thành phố Đồng Hới năm 2015
Hành chính
Diện tích tự nhiên (Ha)
Dân số (người)
Mật độ dân số (người/ km 2 )
Trang 39hoạch mới Nhiều tuyến đường chính đã được trải nhựa, bê tông hóa và bo, lát vỉa hè Mạng lưới giao thông đang từng bước được nâng cấp và cải thiện đáng
kể, góp phần tích cực tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội của Thành phố [17]
- Đường bộ: Tổng các tuyến giao thông đường bộ của thành phố Đồng Hới
là 422,3 km, gồm: quốc lộ 1A, tỉnh lộ, đường Hồ Chí Minh dài tổng cộng 82,96
km, đường nội thành và giao thông nông thôn là 339,34 km, trong đó đường nhựa bê tông 172,65 km còn lại là đường cấp phối và đường đất
+ Quốc lộ 1A chạy qua địa bàn Thành phố với chiều dài 11,96 km đã được nâng cấp hoàn chỉnh Hiện đang hoàn thiện đoạn tránh thành phố Đồng Hới với tổng chiều dài 26 km, nền rộng mặt đường 55m, mở ra một hướng phát triển mới cho khu vực phía Tây thành phố
+ Tuyến đường Hồ Chí Minh (nhánh Đông) qua Thành phố đã được đầu tư giai đoạn 1, bước đầu phát huy tác dụng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giao thương của nhân dân
+ Công trình cầu Nhật Lệ bắc qua sông Nhật Lệ nối liền trung tâm Thành phố với Khu du lịch Bảo Ninh được đưa vào sử dụng cuối năm 2004, tạo bước chuyển biến mới cho việc khai thác, phát triển du lịch, mở rộng, phát triển thành phố Đồng Hới về phía Đông
+ Các tuyến giao thông nông thôn trên địa bàn các xã có 166,55 km, trong
đó đường liên xã, liên thôn là 64,62 km (chiếm 38,8%), còn lại là đường thôn, xóm 101,93 km Số km giao thông nông thôn đã được nhựa hóa, bê tông hóa là 62,7 km (đạt 37,6%), trong đó tỷ lệ được cứng hóa đối với các trục đường liên
xã, liên thôn khoảng 72% và đường thôn, xóm mới chỉ đạt 18% Giao thông nội đồng có 66 km, chủ yếu là đường đất, đường cấp phối, hàng năm đều được đầu
tư nâng cấp, sửa chữa
- Đường sắt: Thành phố Đồng Hới có tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua với chiều dài 9 km, có ga Đồng Hới là một trong những ga chính của tuyến đường sắt Bắc - Nam, với cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối tốt, đảm bảo khai thác tối đa lợi thế của ga cho nhu cầu đi lại của hành khách và vận chuyển hàng hóa trong và ngoài tỉnh
- Đường thủy: Có 4 sông chính với tổng chiều dài 24 km (gồm sông Nhật
Lệ, sông Mỹ Cương, sông Lệ Kỳ, sông Cầu Rào) và nhiều tuyến sông nhỏ khác chảy qua địa bàn Ngoài ra, Thành phố còn nằm dọc bờ biển với chiều dài gần
16 km, là điều kiện thuận lợi cho phát triển hệ thống giao thông thủy, phục vụ
Trang 40cho việc khai thác hải sản vào ra tại các khu vực cửa sông Cảng Nhật Lệ tuy là cảng nhỏ nhưng đã đóng góp nhiều cho việc vận tải hàng hóa bằng đường thủy góp phần cho tăng trưởng kinh tế của Thành phố
- Đường hàng không: Cảng hàng không Đồng Hới được được đưa vào khai thác từ tháng 5 năm 2008 Là cảng hàng không nội địa với quy mô cấp 4C (sân đỗ máy bay rộng 15.000 m2, nhà ga hành khách 2 tầng rộng 4.282 m2, đường băng cất,
hạ cánh dài 2.400m, rộng 45m), sử dụng cho máy bay A320, A321 hoặc tương đương trở xuống, có năng lực thiết kế 500.000 hành khách/năm, 300 hành khách/giờ cao điểm, đã đáp ứng nhu cầu vận tải hàng không, góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương, đặc biệt là khai thác hiệu quả tiềm năng lớn về du lịch
4.2.4.2 Hệ thống điện chiếu sáng
Thành phố hiện đang sử dụng nguồn điện lưới thông qua trạm biến áp 220/110/10KV-2x63MVA Mạng lưới điện được đầu tư xây dựng và cải tạo bằng nguồn vốn của ADB Đây là trạm nút nguồn của hệ thống điện Quốc gia, cung cấp điện cho toàn Thành phố, của cả tỉnh cũng như một số tỉnh trong khu vực Mạng lưới điện hạ thế từng bước được cải thiện và nâng cấp, đã đến hầu hết số hộ dân sử dụng điện, với mức tiêu thụ điện năng bình quân đầu người là
629 KWh/năm [17]
Ngoài ra còn có 38,1 km tuyến đường chính trong nội thị đã được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng Góp phần nâng cao đời sống văn hóa - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, hình thành các cụm dân cư tập trung, tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhìn chung, hiện tại lượng điện cung cấp đáp ứng đủ nhu cầu cho sinh hoạt và phục vụ sản xuất của các ngành kinh tế trên địa bàn thành phố
4.2.4.3 Hệ thống cấp thoát nước và vệ sinh môi trường
- Hệ thống cấp nước: Hiện nay, nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu là
hệ thống cấp nước Phú Vinh (công suất 19.000 m3/ngày đêm) và nhà máy lọc nước từ hồ Bàu Tró (công suất 9.000m3/ngày đêm) đang hoạt động phục vụ cho nhân dân Ngoài ra Thành phố đang cải tạo, nâng cấp thêm hệ thống cấp nước, đảm bảo cho tất cả các xã phường trên địa bàn đều có nước sạch sinh hoạt
- Hệ thống thoát nước: Gồm có 46 tuyến với chiều dài 24 km, các công trình được xây dựng từ lâu và trải qua nhiều giai đoạn nâng cấp, cải tạo với quy
mô nhỏ Qua quá trình quản lý và sử dụng cho thấy việc quy hoạch hệ thống thoát nước vẫn còn nhiều hạn chế, chỉ chủ yếu đáp ứng tiêu thoát nước ở khu