TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH BỘ MÔN LÂM NGHIỆP - TRỒNG TRỌT TRẦN CHÂU MỸ ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CÁC HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN ĐẾN THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
BỘ MÔN LÂM NGHIỆP - TRỒNG TRỌT
TRẦN CHÂU MỸ
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CÁC HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN ĐẾN THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN
QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
QUẢNG BÌNH, NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
BỘ MÔN LÂM NGHIỆP - TRỒNG TRỌT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CÁC HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN ĐẾN THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN
QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG
Họ tên sinh viên: Trần Châu Mỹ
Mã số: DQB05130060 Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Quỳnh Phương
QUẢNG BÌNH, NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác
Đồng Hới, tháng 05 năm 2017
Tác giả
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình quý báu của quý Thầy, Cô trong Ban giám hiệu Trường Đại học Quảng Bình, Khoa Nông - Lâm - Ngư Xin trân trọng gửi tới quý Thầy, Cô lòng biết ơn chân thành và tình cảm quý mến nhất
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Thị Quỳnh Phương đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí tại Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng Đặc biệt là các đồng chí tại Trung tâm hạt kiểm lâm Phong Nha - Kẻ Bàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi về thời gian cũng như công việc để hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện
Bố Trạch - tỉnh Quảng Bình, Hạt kiểm Lâm Khe Gát, cán bộ và nhân dân xã Xuân Trạch đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ khi điều tra thực địa giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Đây là lần đầu tiên thực hiện khóa luận nên sẽ không tránh khỏi những sai sót, kính mong được sự đóng góp ý kiến tận tình của quý thầy cô và các bạn để
đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 05 năm 2017
Sinh viên
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
2.1 Tài nguyên rừng trên Thế giới 1
2.1.1 Hiện trạng tài nguyên rừng trên Thế giới 1
2.1.2 Tình hình nạn phá rừng và vấn đề quản lý, bảo vệ rừng ở trên Thế giới 1
2.2 Tài nguyên rừng ở Việt Nam 4
2.2.1.Hiện trạng tài nguyên rừng ở Việt Nam 4
2.2.2 Tình hình nạn phá rừng và vấn đề quản lý, bảo vệ rừng ở Việt Nam 5
2.2.3 Hiện trạng tài nguyên rừng ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng 9
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 11
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1.Đối tượng nghiên cứu 11
3.2 Phạm vi nghiên cứu 11
3.3 Nội dung nghiên cứu 11
3.4 Phương pháp nghiên cứu 12
3.4.1 Chọn điểm nghiên cứu 12
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin 12
3.4.3 Phân tích thông tin 12
PHẦN 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 13
4.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu 13
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 13
4.1.2 Điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội 15
4.2 Thực trạng công tác QLBVR ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng 18
4.2.1 Về công tác phòng chống cháy rừng (PCCR) 18
4.2.2 Về công tác kiểm tra, kiểm soát lâm sản 23
4.2.3 Về công tác bảo tồn và phát triển rừng 26
Trang 64.3 Vai trò của các bên liên quan trong công tác QLBVR ở VQG Phong Nha –
Kẻ Bàng 27
4.4 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác QLBVR ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng 32
4.4.1 Thuận lợi 32
4.4.2 Khó khăn 33
4.5 Ảnh hưởng các hoạt động sinh kế của người dân đến tài nguyên rừng của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng 34
4.5.1 Các hoạt động sinh kế của người dân 34
4.5.2 Ảnh hưởng của các hoạt động sinh kế 36
4.5.3 Đánh giá các mối đe dọa đối với tài nguyên rừng của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng 44
4.6 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác QLBVR ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng 46
4.6.1 Nâng cao năng lực quản lý và thực thi pháp luật trong việc QLBVR 46
4.6.2 Phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho người dân sống trong vùng đệm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng 47
4.6.3 Nâng cao nhận thức cho cộng đồng 48
4.6.4 Tăng cường đầu tư vào chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ cho công tác QLBVR, bảo tồn ĐDSH và đảm bảo CBST 49
PHẦN 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Tồn tại 50
5.3 Kiến nghị 51
Trang 7DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ĐDSH: Đa dạng sinh học
WWF: Quỹ quốc tế và bảo tồn thiên nhiên
QLBVR: Quản lý bảo vệ rừng
CBST: Cân bằng sinh thái
GDMT&DLST: Giáo dục môi trường và du lịch sinh thái
TPCG: Thành phần cơ giới
LNXH: Lâm nghiệp xã hội
BTTN: Bảo tồn thiên nhiên
Trang 8DANH MỤC BẢN ĐỒ, BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH
Bản đồ 4.1 Thôn 2, xã Xuân Trạch 13
Bảng 4.1 Đất đai thổ nhưỡng thôn 2, xã Xuân Trạch 14
Bảng 4.2 Dân số và lao động của thôn 2, xã Xuân Trạch 15
Bảng 4.3 Thu nhập của các hộ gia đình trong thôn 2 18
Bảng 4.4 Tổng hợp về tình hình tổ chức, xây dựng lực lượng và mua sắm dụng cụ, phương tiện PCCR 22
Bảng 4.5 Tổng hợp tình hình thực hiện công tác PCKTLS 25
Bảng 4.6 Các hoạt động sinh kế của người dân ảnh hưởng đến tài nguyên rừng Phong Nha – Kẻ Bàng 35
Hình 4.1 Rừng bị chặt hạ lấy đất làm rẫy 37
Hình 4.2 Trạng thái rừng sau canh tác 37
Hình 4.3 Hoạt động khai thác gỗ, củi của người dân thôn 2, xã Xuân Trạch 38
Sơ đồ 4.1 Kênh thị trường mua bán một số LSNG thuộc nhóm cây cảnh 40
Hình 4.4 Một số hoạt động khái thác LSNG 40
Bảng 4.7 Tỷ lệ phần bán và sử dụng ĐVHD 41
Sơ đồ 4.2 Kênh thị trường buôn bán ĐVHD 42
Hình 4.5 Một số ĐVHD bị săn bắt 42
Bảng 4.8 Bảng tỷ lệ phần bán và sử dụng các lâm sản 43
Trang 91
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, đa dạng sinh học (ĐDSH) trên Trái Đất đã và đang
bị suy thoái Theo Quỹ Quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên (WWF) thì suy thoái
ĐDSH trên thế giới diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh mà nguyên nhân chính
là do các tác động tiêu cực của con nguời Suy thoái ĐDSH không những đã gây nên nhiều tổn thất nặng nề về tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái còn ảnh hưởng lớn đến tính mạng, của cải vật chất của con người Nhằm ngăn chặn
sự suy thoái ĐDSH ngày càng tăng, toàn thể nhân loại, đặc biệt là các tổ chức Liên Hợp Quốc và nhiều tổ chức phi chính phủ suốt thời gian qua đã đầu tư nhiều công sức cũng như tài chính để hạn chế và ngăn chặn sự suy thoái ĐDSH một cách có hiệu quả nhất nhằm đáp ứng cho sự nghiệp bảo tồn Những nỗ lực trong sự nghiệp bảo tồn đã thu được những kết quả nhất định: nhiều loài động, thực vật đã tránh được hiểm họa của sự tuyệt chủng, đảm bảo được sự cân bằng sinh thái trên toàn cầu
Nằm trong xu thế chung của thế giới, đa dạng sinh học ở Việt Nam cũng
đã và đang bị suy thoái, đặc biệt sự suy thoái này diễn ra với tốc độ rất nhanh trong những năm gần đây do các tác động của con người như: khai thác lâm sản, phát rừng làm nương rẫy, khai thác khoáng sản, do quá trình đô thị hoá Trong hơn 42 năm qua, dân số Việt Nam tăng gấp hai lần (hiện nay khoảng 96 triệu người) [2], trong khi đó tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất của sự sống còn lại có hạn Dân số tăng nhanh đòi hỏi phải có thêm nhiều đất đai để trồng trọt, cần nhiều rừng để cung cấp gỗ làm chất đốt và nguyên liệu cho xây dựng, nhưng chính sự yếu kém trong công tác quản lí, bảo vệ rừng đã làm cho nguồn tài nguyên ngày càng bị suy giảm, đất đai bị xói mòn, rửa trôi, môi trường sống của nhiều loài động, thực vật bị thu hẹp và ngày càng suy thoái nghiêm trọng gây ra những hậu quả không nhỏ đối với đời sống, kinh tế - xã hội và môi trường sống của con người Vì vậy bảo tồn đa dạng sinh học là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu ở Việt Nam, và một trong các giải pháp để bảo tồn đa dạng sinh học là Nhà nước thành lập các khu rừng đặc dụng
Năm 1962, khu bảo tồn (KBT) đầu tiên được thành lập trong hệ thống KBT của Việt Nam có tên gọi là khu “rừng cấm” Cúc Phương Từ đó đến nay,
hệ thống các KBT trên cạn đã được thiết lập và quản lý theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng với 180 KBT bao gồm: 30 vườn quốc gia (VQG), 58 khu dự trữ thiên nhiên (DTTN), 16 KBT loài – sinh cảnh, 56 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm [1] Các VQG đã đem lại những thành tựu to
Trang 10sự tác động vô ý thức của con người vào tài nguyên rừng, đặc biệt là sự tác động của người dân sống xung quanh các KBT, VQG, thành phần mà nhu cầu về sự sinh tồn, phát triển cuộc sống của họ chủ yếu phụ thuộc vào tài nguyên rừng
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là khu rừng đặc dụng ở tỉnh Quảng Bình có giá trị đa dạng sinh học rất cao nhưng đây cũng là một trong những khu rừng đang bị đe dọa mà nguyên nhân chủ yếu là các hoạt động của người dân vùng đệm Với mục đích nhằm tìm ra các giải pháp bảo tồn tài nguyên rừng của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, chống xuống cấp nhanh chóng và đảm bảo tính đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái trong vườn
Từ thực tiễn trên, tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng các hoạt
động sinh kế của người dân đến thực trạng công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng tại vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng”.
Trang 111
PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tài nguyên rừng trên Thế giới
2.1.1 Hiện trạng tài nguyên rừng trên Thế giới
Người ta ước tính rừng đã từng có diện tích khoảng 60 triệu km² và bị thu hẹp xuống còn 44,05 triệu km² vào năm 1958 (chiếm khoảng 33% diện tích đất liền) và 37,37 triệu km² vào năm 1973, hiện nay chỉ còn khoảng 29 triệu km²
Tổng số rừng trên thế giới có trữ lượng gỗ trên 50 m³/ha chỉ còn 2,8 tỷ ha, phần còn lại 1,2 tỷ ha là rừng thưa, có trữ lượng gỗ thấp Phần lớn diện tích rừng kín phân bố ở vùng nhiệt đới (60% diện tích rừng kín trên thế giới) Trong các loại rừng nhiệt đới thì rừng mưa nhiệt đới với các loại cây lá rộng thường xanh
có vai trò quan trọng nhất Khu rừng mưa nhiệt đới lớn nhất là rừng Amazon có diện tích 330 triệu ha Các rừng mưa nhiệt đới phân bố thành vành đai xanh không liên tục xung quanh Trái Đất trong phạm vi 23,5 vĩ độ Bắc và 23,5 vĩ
độ Nam, chủ yếu là giữa 10 vĩ độ Bắc và Nam xung quanh đường xích đạo Những vùng có diện tích rừng mưa lớn trên thế giới là Châu Mỹ La Tinh, Tây Phi và Đông Nam Á
Rừng cây lá kim phân bố ở các vĩ độ lớn, thường nằm ở phía Bắc của rừng rụng lá ôn đới Hầu hết diện tích rừng lá kim phân bố ở 2 vành đai lớn là Bắc Mỹ và vành đai Âu- Á từ Scandinavia đến Đông Xiberia Khu rừng taiga ở Nga có diện tích 1,1 tỷ ha (khoảng 25% diện tích rừng trên thế giới) được coi là lớn nhất thế giới Trong đó loài thông rừng chiếm 38% diện tích rừng
Rừng trồng hiện nay có diện tích khoảng 150 triệu ha, chiếm 4% tổng diện tích rừng.Hầu hết rừng trồng nằm ở các nước đang phát triễn và ở vùng ôn đới Trong những năm gần đây diện tích rừng trồng đã tăng đáng kể ở các nước đang phát triễn Nhìn chung rừng trồng có thành phần loài đơn giản và thường bao gồm các loài cây có khả năng sinh trưởng nhanh so với rừng tự nhiên và mức độ tăng trưởng ở rừng trồng cũng rất cao
2.1.2 Tình hình nạn phá rừng và vấn đề quản lý, bảo vệ rừng ở trên Thế giới
Sự suy giảm diện tích rừng và suy thoái rừng Theo tài liệu mới công bố của Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF, 1998), trong thời gian 30 năm (1960 – 1990) độ che phủ rừng trên toàn thế giới đã giảm đi gần 13%, tức diện tích rừng đã giảm đi từ 37 triệu km² xuống 32 triệu km², với tốc độ giảm trung bình 160.000km²/năm Sự mất rừng lớn nhất xãy ra ở các vùng nhiệt đới, ở Amazone
Trang 122
(Braxin) trung bình mỗi năm rừng bị thu hẹp 19.000km² trong suốt hơn 20 năm qua Bốn loại rừng bị hủy diệt khá lớn là rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rộng 60%, rừng lá kim khoảng 30%, rừng ẩm nhiệt đới khoảng 45% và rừng khô nhiệt đới lên đến khoảng 70% Châu Á là nơi mất rừng nguyên sinh lớn nhất, khoảng 70% Có nhiều nguyên nhân dẫn đến mất rừng trên thế giới, tập trung chủ yếu vào các nhóm nguyên nhân sau đây:
- Mở rộng diện tích đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu sản xuất lương
thực, trong đó những người sản xuất nhỏ du canh là nguyên nhân quan trọng nhất Rowe (1992) cho rằng, có đến 60% rừng nhiệt đới bị chặt phá hàng năm là
do nguyên nhân này Hiện nay mở rộng diện tích nông nghiệp ở Châu Á và Châu Phi đang xãy ra với tốc độ mạnh hơn so với Châu Mỹ La Tinh
- Nhu cầu lấy củi: Chặt phá rừng cho nhu cầu lấy củi đốt cũng là nguyên
nhân quan trọng làm cạn kiệt tài nguyên rừng ở nhiều vùng Lượng gỗ sử dụng làm chất đốt trên thế giới đã tăng từ 600 triệu m3 vào năm 1963 lên 1.300 triệu
m3 vào năm 1983 Hiện nay vẫn còn khoảng 1,5 tỷ người chủ yếu dựa vào nguồn gỗ củi cho nấu ăn Riêng ở Châu Phi đã có 180 triệu người thiếu củi đun
- Chăn thả gia súc: Sự chăn thả trâu bò và các gia súc khác đòi hỏi phải
mở rộng các đồng cỏ cũng là nguyên nhân làm giảm diện tích rừng Ở Châu Mỹ La Tinh, có khoảng 35% rừng bị chặt phá do những người sản xuất nông nghiệp nhỏ Phần còn lại do chăn thả súc vật Riêng ở Nam Mỹ việc mở rộng diện tích đồng cỏ với tốc độ 20 nghìn km2/năm trong giai đoạn 1950 –
1980 Còn ở Braxin, khoảng 3/4 diện tích rừng bị phá hủy ở vùng Amazone đến
1980 có liên quan trực tiếp đến việc nuôi bò
- Khai thác gỗ và các sản phẩm rừng: Việc đẩy mạnh khai thác gỗ cũng
như các tài nguyên rừng khác cho phát triển kinh tế và xuất khẩu cũng là nguyên nhân dẫn đến làm tăng tốc độ phá rừng ở nhiều nước Hiện nay việc buôn bán gỗ xãy ra mạnh mẽ ở vùng Đông Nam Á, chiếm đến gần 50% lượng gỗ buôn bán trên thế giới Ví dụ, ở Malaisia rừng nguyên sinh che phủ gần như toàn bộ đất nước vào năm 1990, đến năm 1960 đã có trên 1/2 diện tích rừng bị khai thác gỗ cho xuất khẩu Còn ở Philippine, đến năm 1980 rừng đã bị phá hủy khoảng 2/3 diện tích, trong đó khai thác gỗ cho xuất khẩu chiếm một phần lớn
- Phá rừng để trồng cây công nghiệp và cây đặc sản: nhiều diện tích rừng
trên thế giới đã bị chặt phá lấy đất trồng cây công nghiệp và các cây đặc sản phục vụ cho kinh doanh Mục đích là để thu được lợi nhuận cao mà không quan tâm đến lĩnh vực môi trường Ở Thái Lan, một diện tích lớn rừng đã bị chặt phá
Trang 133
để trồng sắn xuất khẩu, hoặc trồng côca để sản xuất sôcôla Ở Pêru, nhân dân phá rừng để trồng côca; diện tích trồng côca ước tính chiếm 1/10 diện tích rừng của Pêru.Các cây công nghiệp như cao su, cọ dầu cũng đã thay thế nhiều vùng rừng nguyên sinh ở các vùng đồi thấp của Malaisia và nhiều nước khác
- Cháy rừng: Cháy rừng là nguyên nhân khá phổ biến ở các nước trên thế
giới và có khả năng làm mất rừng một cách nhanh chóng Ví dụ, năm
1977 đã xảy ra cháy rừng ở nhiều nước thuộc Châu Âu, Châu Á và Châu Mỹ Chỉ tính riêng ở Indonesia trong một đợt cháy rừng (năm 1977) đã thiêu hủy gần
1 triệu ha rừng Còn ở Mỹ, trong năm 2000 đã có 2,16 triệu ha rừng bị cháy
Ngoài ra còn có nhiều nguyên nhân khác cũng trực tiếp hoặc gián tiếp làm tăng quá trình phá rừng trên thế giới Đó là các chính sách quản lý rừng, chính sách đất đai, chính sách về di cư, định cư và các chính sách kinh tế xã hội khác Các dự án phát triển kinh tế xã hội như xây dựng đường giao thông, các công trình thủy điện, các khu dân cư hoặc khu công nghiệp cũng làm gia tăng đáng kể tốc độ mất rừng ở nhiều nơi trên thế giới
Trước thực trạng trên, Hội nghị quốc tế về các vùng rừng lớn trên thế giới diễn ra ngày 11/03/2010 tại Pháp Tại hội nghị này, các bên tham gia thảo luận
về các giải pháp chống tình trạng phá rừng trên thế giới, trong đó có việc triễn khai khoản tài trợ 3,5 tỷ USD mà 6 nước (gồm Pháp, Australia, Nhật Bản, Anh,
Na Uy và Mỹ) đã cam kết hỗ trợ các nước đang phát triển giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính xuất phát từ nạn phá rừng tại hội nghị thượng đỉnh Copenhagen diễn ra vào tháng 12/2009
Phát biểu khai mạc hội nghị, Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy kêu gọi các nước giàu và các nước phát triển cùng nhau gánh vác nhiệm vụ chống phá rừng trên thế giới với mục tiêu giảm nạn phá rừng còn 50% vào năm 2020 và xoá bỏ tình trạng phá rừng vào năm 2030 Ông Sarkozy nhấn mạnh rằng việc chống phá rừng phải gắn với việc đảm bảo đời sống của người dân ở các nước nghèo Tổng thống Sarkozy nói: “Thật phi lý nếu phải lựa chọn giữa việc bảo vệ rừng và sự nghèo đói của người dân sống ở các khu rừng và những vùng lân cận Tôi hy vọng sẽ có một nghiên cứu về tác động tích cực và tiêu cực của chương trình chống phá rừng đối với vấn đề an ninh lương thực để từ đó đưa ra giải pháp tốt nhất nhằm dung hoà hai nhiệm vụ chống phá rừng và an ninh lương thực.”
Để nâng cao nhận thức về bảo tồn cũng như tăng cường quản lý và phát triển rừng bền vững vì lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai, Liên Hợp
Trang 144
Quốc đã chính thức tuyên bố năm 2011 là Năm Quốc tế về rừng, với mục tiêu chính là thúc đẩy việc quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững tất cả các loại rừng; đồng thời tăng cường cam kết chính trị lâu dài giữa các quốc gia dựa trên
“Tuyên bố Rio” (1992), các nguyên tắc trong Chương trình nghị sự 21 về công tác chống phá rừng
Cụ thể, thông qua các hoạt động trong Năm Quốc tế về rừng tại các quốc gia và khu vực, Liên Hợp Quốc mong muốn mật độ che phủ rừng trên toàn thế giới sẽ gia tăng đáng kể thông qua quản lý rừng bền vững, bao gồm bảo vệ, phục hồi trồng rừng và tái trồng rừng, cùng những nỗ lực ngăn chặn suy thoái rừng Đồng thời, giảm những tác động kinh tế, xã hội và môi trường đến rừng bằng cách cải thiện sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào rừng
Kể từ năm 1997, trên toàn thế giới có khoảng 30.000 khu bảo tồn thiên nhiên, chiếm hơn 132 triệu ha, 8,84% diện tích đất liền.Đến năm 2004, trên thế giới có hơn 100.000 khu bảo tồn thiên nhiên, chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế giới Vườn quốc gia chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các khu bảo tồn loài và sinh cảnh [11]
2.2 Tài nguyên rừng ở Việt Nam
2.2.1 Hiện trạng tài nguyên rừng ở Việt Nam
Theo tài liệu của Maurand và tổng cục lâm nghiệp Việt Nam thì trước năm 1945, Việt Nam có 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42% diện tích tự nhiên của
cả nước, năm 1990 diện tích rừng chỉ còn 28,4 %, Năm 2000 diện tích tăng lên 33,2 % (11 triệu ha) (Niên giám thống kê, 2000), trong đó có 8 triệu ha rừng đã
được giao cho chủ rừng (Hà Công Tuấn, 2001)…
Trên thực tế, rừng vẫn bị xâm hại và chỉ còn khoảng 10 % là rừng nguyên sinh và từ năm 1996-2000, mỗi năm vùng Tây Nguyên mất đi 10.000 ha rừng Trong cả nước thì hiện nay mỗi năm chúng ta trồng được 200.000 ha rừng nhưng diện tích rừng bị mất khoảng 120.000-150.000ha [3] Do nước ta trải dài từ Bắc xuống Nam và điạ hình có nhiều cao độ khác nhau so với mực nước biển nên rừng phân bố trên khắp các dạng địa hình, với nét độc đáo của vùng nhiệt đới và rất đa dạng: có nhiều rừng xanh quanh năm, rừng già nguyên sinh, rừng cây lá rộng, rừng cây hỗn giao lá kim và lá rụng, rừng cây bụi và rừng ngập mặn
Rừng Việt Nam có nguồn tài nguyên sinh vật rất đa dạng Có thể nói nước
ta là trung tâm du nhập của các luồng thực vật và động vật từ phía Bắc xuống, phía Tây qua, phía Nam lên và từ đây phân bố đến các nơi khác trong vùng
Trang 155
Ðồng thời, nước ta có độ cao ngang từ mực nước biển đến trên 3.000m nên có nhiều loại rừng với nhiều loại thực vật và động vật quý hiếm và độc đáo mà các nước ôn đới khó có thể tìm thấy được:
- Về thực vật: Theo số liệu thống kê gần đây thì có khoảng 12.000 loài
thực vật, nhưng chỉ có khoảng 10.500 loài đã được mô tả (Phạm Hoàng Hộ, 1991- 1993), trong đó có khoảng 10% là loài đặc hữu; 800 loài rêu; 600 loài nấm Khoảng 2.300 loài cây có mạch đã được dùng làm lương thực, thực phẩm, làm thức ăn cho gia súc Về cây lấy gỗ gồm có 41 loài cho gỗ quý (nhóm 1), 20 loài cho gỗ bền chắc (nhóm 2), 24 loài cho gỗ đồ mộc và xây dựng (nhóm 3) , loại rừng cho gỗ này chiếm khoảng 6 triệu ha Ngoài ra, rừng Việt Nam còn có loại rừng tre, trúc chiếm khoảng 1,5 triệu ha gồm khoảng 25 loài đã được gây trồng có giá trị kinh tế cao Ngoài những cây làm lương thực, thực phẩm và những cây lấy gỗ ra, rừng Việt Nam còn có những cây được sử dụng làm dược liệu gồm khoảng 1500 loài trong đó có khoảng 75% là cây hoang dại Những
cây có chứa hóa chất quý hiếm như cây Tô hạp (Altingia sp) có nhựa thơm, được tìm thấy ở vùng núi Tây Bắc và Trung bộ; cây Gió bầu (Aquilaria crassna)
sinh ra trầm hương, phân bố từ Nghệ Tĩnh đến Thuận Hải; cây dầu rái
(Dipterocarpus) cho gỗ và cho dầu nhựa [12]
- Về động vật: Cũng rất đa dạng, ngoài các loài động vật đặc hữu, Việt
Nam còn có những loài mang tính chất tổng hợp của khu hệ động vật miền Nam Trung Hoa, Ấn Ðộ, Mã Lai, Miến Ðiện Hiện tại đã thống kê được khoảng 774 loài chim, 273 loài thú, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 475 loài cá nước ngọt
và 1.650 loài cá ở rừng ngập mặn và cá biển; chúng phân bố trên những sinh cảnh khác nhau, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao, có ý nghĩa khoa học Nhiều loài quý hiếm có tên trong “Sách đỏ của thế giới”[6]
2.2.2 Tình hình nạn phá rừng và vấn đề quản lý, bảo vệ rừng ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nhiệt đới và đất rừng chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ, rừng kinh tế đang là một thế mạnh của đất nước.Tuy nhiên, tài nguyên rừng ở Việt Nam cũng đang bị suy thoái nghiêm trọng.Theo thống kê của Viện Điều tra-Quy hoạch năm 1997, hàng năm nước ta mất khoảng 20.000-25.000ha rừng, chiếm 5% diện tích rừng nhiệt đới bị phá huỷ Ở nước ta, tốc độ kinh tế tăng nhanh tương ứng với tốc độ phá rừng, mỗi năm rừng Việt Nam mất đi 13-15 nghìn ha chủ yếu do nạn du canh du cư, lấy gỗ, đốt rừng lấy đất trồng cây công nghiệp xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu giao thông, khai thác mỏ, xây dựng đô thị,…Bên cạnh đó, hậu quả cuộc chiến tranh hoá học của Mỹ để lại một tổn thất
Trang 166
không nhỏ, đã làm mất đi 1/4 diện tích rừng nguyên sinh ở Việt Nam.Rừng bị tàn phá, bị khai thác quá mức đã trở nghèo kiệt, các hệ sinh thái rừng bị phá hủy Nhiều loại thực vật rừng quý đang bị chặt hạ, thu hái không có kế hoạch nên đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Trước tình hình đó, đòi hỏi phải có một
phương pháp quản lí, bảo vệ rừng một cách có hiệu quả
Quản lý và bảo vệ rừng không còn là một vấn đề mới mẻ nhưng hiện nay
đó đang là một vấn đề hết sức cấp bách Trong cuộc sống, do những nhận thức
về rừng chưa đầy đủ cùng với sức ép về dân số, sức ép về xã hội, con người đã lợi dụng các sản phẩm từ rừng một cách trực tiếp hay gián tiếp Dù có ý thức hay không có ý thức, con người đã luôn tác động đến rừng, ở đây nghĩa là tác động đến thành phần của hệ sinh thái rừng, tác động và làm thay đổi các quy luật vận động đang diễn ra một cách ổn định, dù chỉ một tác động nhỏ đến rừng
cũng làm thay đổi rất nhiều mối quan hệ khác nhau trong rừng
Dự đoán trong tương lai, nếu không có chính sách bảo vệ hữu hiệu của Nhà nước thì rừng Việt Nam ngày càng bị ảnh hưởng xấu nghiêm trọng: gây lũ lụt, xói mòn đất, diện tích đất trống đồi trọc ngày càng tăng,…Nguồn tài nguyên rừng, đất rừng quốc gia hiện có cũng như trong tương lai trên cơ sở ổn định lâu dài để đáp ứng nhu cầu của Nhà nước về lâm sản, bảo vệ môi trường và đảm bảo cân bằng sinh thái, nâng cao sản lượng rừng,…Hệ sinh thái rừng luôn có khả năng duy trì và điều hoà, điều đó có nghĩa là nếu rừng được bảo vệ tốt, tức là các quá trình vận động, các chu trình trong hệ sinh thái rừng không bị ảnh hưởng Bảo vệ rừng tốt tức là ngăn chặn các tác động có hại đến rừng như lửa rừng, phá rừng để thực hiện các hoạt động phi lâm nghiệp, khai thác rừng quá mức để cho các quá trình tự điều chỉnh của rừng diễn ra thuận lợi theo đúng qui luật vốn có
của nó
Từ những năm 60, nhà nước ta đã quan tâm đến vấn đề này và cho đến nay đã có một hệ thống bảo tồn tại chỗ dưới 3 hình thức khác nhau: Vườn Quốc gia, Khu bảo tồn, Khu văn hoá- lịch sử và môi trường gọi chung là hệ thống rừng đặc dụng Bảo tồn nguồn gen thực vật rừng là một việc làm cấp thiết và thường xuyên, vừa nhằm phục vụ các mục tiêu trước mắt và lâu dài của công tác cải thiện giống, vừa góp phần quan trọng vào công tác bảo tồn thiên nhiên, bảo
vệ sự đa dạng sinh học Quan trọng hơn là tăng cường sự tham gia của nhân dân vào việc trồng, bảo vệ và quản lý, phát triển rừng có hiệu quả vì lợi ích của môi
trường chung
Trang 177
Thực tiễn cho thấy, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng cần phải được tiếp cận và tiến hành gắn liền với các biện pháp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội để "người dân có thể dựa được vào rừng để sống, nhưng cũng có biện pháp bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả nhất" như tinh thần ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thời gian gần đây Quy hoạch, sản xuất, khai thác tài nguyên rừng phải đi đôi với bảo vệ, bồi đắp tài nguyên rừng.Đối với những vùng rừng núi còn gặp nhiều khó khăn về mọi mặt, cần có giải pháp chuyển đổi cơ cấu kinh tế thích hợp, giảm sức ép đối với rừng từ các hoạt động khai thác thái quá
có tính huỷ hoại.Song song với vấn đề đó cần phải đóng góp cải thiện đời sống, tăng việc làm cho nhân dân, đặc biệt là các cộng đồng miền núi.Có một vấn đề tồn tại lớn nhất hiện nay ở nước ta là tình trạng nghèo đói của cư dân vùng rừng núi và vùng cận rừng Cho đến nay, dân cư vùng lâm nghiệp đã tăng lên chiếm tới 1/3 tổng dân số của nước ta Trong số 2,8 triệu hộ nông dân nghèo ở nước ta thì hơn 80% sinh sống trong các vùng rừng núi, cuộc sống hàng ngày của họ phải dựa vào rừng Vì vậy việc bảo vệ tài nguyên rừng ở đây chỉ thực sự có hiệu quả nếu có những biện pháp tháo gỡ kịp thời những khó khăn trong đời sống người dân, kết hợp với công tác tuyên truyền giáo dục và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm Luật bảo vệ rừng
Công tác quản lí, quy hoạch tài nguyên rừng trong những năm qua cũng
có những chuyển động tích cực Trên phạm vi cả nước đã và đang hình thành các vùng trồng rừng tập trung nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất Chẳng hạn, vùng Đông bắc và Trung du Bắc bộ đã trồng 300 nghìn hecta rừng nguyên liệu công nghiệp, Bắc Trung bộ có 70 nghìn hecta rừng thông Ngoài ra, hơn 6 triệu hecta rừng phòng hộ và 2 triệu hecta rừng đặc dụng được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học; có tới 15 vườn quốc gia và hơn 50 khu bảo tồn thiên nhiên được xây dựng, quy hoạch và quản lí [10] Trong 10 năm qua, hàng năm giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt xấp xỉ 6.5 nghìn tỷ đồng, chiếm 3-5% giá trị sản lượng nông, lâm thuỷ sản.[8]
Mặc dù có những kết quả tích cực trong quy hoạch, sản xuất cũng như trong bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng, song nhìn chung chất lượng rừng ở nước ta hiện nay vẫn còn rất thấp, rừng nước ta đã ít mà trong đó có tới hơn 6 triệu hecta rừng nghèo kiệt, năng suất rừng trồng còn thấp Đặc biệt, nguồn tài nguyên rừng nước ta vẫn tiếp tục đứng trước những nguy cơ nghiêm trọng như bị huỷ hoại, suy thoái, giảm sút và mất dần tính đa dạng sinh học của rừng Hậu quả khôn lường của những vụ tàn phá rừng trước đây và gần đây nhất
là thảm họa cháy rừng U Minh (3/2002), đã khiến cho gần 8 nghìn hecta rừng U
Trang 188
Minh Thượng và U Minh Hạ bỗng chốc trở thành đống tro tàn, đã thực sự là những lời cảnh báo nghiêm khắc đối với chúng ta trong "sứ mệnh" bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng nói riêng và bảo vệ môi trường sống- chiếc nôi dung dưỡng sự sống của con người nói chung Thảm hoạ cháy rừng U Minh vừa qua càng đặt ra những yêu cầu cấp bách đối với công tác quy hoạch, sản xuất, quản
lí, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng ở nước ta hiện nay.Trước hết, cần khẩn trương đề ra những biện pháp tăng cường sự quản lí, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan chức năng về quản lí, bảo vệ tài nguyên rừng Tinh thần trách nhiệm, ý thức cảnh giác cao và năng lực thực thi chức trách của các cá nhân và
cơ quan quản lí chuyên ngành là những yếu tố tối cần thiết góp phần ngăn chặn những tai họa, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng Trên thực tế, các khu rừng hiện nay đều có sự phân công quản lí của các lâm, ngư trường và các hạt kiểm lâm, nhưng phần lớn các vụ cháy rừng từ trước đến nay đều chưa thể xác định nguyên nhân rõ ràng và truy cứu trách nhiệm cụ thể Những sự việc nêu trên cho thấy những hạn chế và sự lơi lỏng trong công tác quản lí, kiểm tra, kiểm soát thường xuyên cũng như tinh thần thiếu cảnh giác của các cá nhân và cơ quan hữu trách Sự kiện cháy rừng U Minh bộc lộ rõ sự yếu kém về tinh thần trách nhiệm và sự chủ quan của đội ngũ những người đảm trách nhiệm vụ bảo vệ rừng [9]
Nói tóm lại, để bảo vệ, khai thác và phát triển tài nguyên rừng - món quà của sự cấu thành chức năng tự nhiên của thiên nhiên ban tặng - rất cần thiết phải hoàn chỉnh và thực thi ngay một chiến lược, chính sách đồng bộ, có tính khả thi
về bảo vệ tài nguyên rừng Song hành với việc nâng cao nhận thức về quản lí, bảo vệ rừng thông qua công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục thiết thực, đòi hỏi phải có một khung khổ pháp lý cụ thể cho các khâu trong quy trình bảo vệ
và phát triển tài nguyên rừng; đồng thời cần phải đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ mạnh, có tinh thần trách nhiệm và khả năng tác nghiệp cao, được đầu tư thoả đáng và trang bị phương tiện kỹ thuật chuyên ngành hiện đại Vấn đề có ý nghĩa mấu chốt trong việc thực hiện Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001-2020 nhằm đạt được mục tiêu đề ra là nâng độ che phủ của rừng ở nước ta lên 43%, bảo vệ tính đa dạng sinh học và tính ổn định, bền vững của quá trình phát triển tài nguyên rừng thì nhất thiết phải đặt sự nghiệp bảo vệ, phát triển tài nguyên rừng, bảo vệ môi trường sống là
bộ phận cấu thành hữu cơ không thể thiếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, của chiến lược công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Trong đó, cần chú trọng hơn nữa đến đổi mới cơ chế chính sách nhằm chuyển mạnh một cách hiệu
Trang 192.2.3 Hiện trạng tài nguyên rừng ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng
VQG Phong Nha – Kẻ Bàng là nơi có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi lớn nhất Việt Nam, với diện tích 123.326 ha rừng đặc dụng, trong đó diện tích rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi độ cao dưới 700m là 55.337 ha (chiếm 47,4%), rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi cao trên 700m là 42.542 ha (chiếm 37,3%), rừng thứ sinh nhân tác trên núi
đá vôi là 1.336 ha (chiếm 1,1%), cây bụi gỗ rải rác trên núi đá vôi là 1.328 ha (chiếm 1,1%), rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ yếu cây lá rộng trên núi đất là 9.174 ha (chiếm 7,9%), rừng thứ sinh nhân tác trên núi đất vùng thấp
là 1.731 ha (chiếm 1,5%), rừng hành lang ngập nước định kì là 154 ha (chiếm 0,1%), trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác trên núi đất là 3.830 ha (chiếm 3,3%), sinh cảnh trên đất khác là 392 ha (chiếm 0,3%) Ngoài ra, còn được giao quản
lý bảo vệ 2.842 ha rừng phòng hộ nằm ngoài ranh giới vùng lõi VQG Phong Nha – Kẻ Bàng Có 96,2% diện tích khu vườn quốc gia này được rừng bao phủ VQG Phong Nha – Kẻ Bàng được coi là nơi có tính đa dạng sinh học cao vào bậc nhất của Việt Nam, với đặc trưng là hệ sinh thái rừng nguyên sinh trên núi
đá vôi cùng với sự hình thành địa chất ở đây đã tạo cho khu vực này có tính đa dạng cao và có nhiều yếu tố đặc hữu Nơi đây đang lưu giữ nhiều nguồn gen quí
về động vật thực vật, là nơi hội tụ các yếu tố địa lý thực vật
Toàn bộ khu vực có 6 kiểu hệ sinh thái bao gồm: hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi; hệ sinh thái rừng trên núi đất; hệ sinh thái hang động; hệ sinh thái sông ngầm; hệ sinh thái ao hồ; hệ sinh thái khe suối
Về thực vật, các cuộc khảo sát sơ bộ trong VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã ghi nhận có 2.935 loài thực vật thuộc 1.002 chi, 198 họ bậc cao với 208 loài Lan trong đó có nhiều loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ của Việt Nam và IUCN Có 8 kiểu thảm thực vật, trong đó có nhiều quần thể rừng điển hình như
rừng Bách xanh (Calocedrus rupestris) trên núi đá vôi với trên 500 năm tuổi và
được đánh giá là quần thể rừng Bách xanh nguyên sinh lớn nhất còn lại ở Việt Nam phân bổ trên phạm vi hơn 2.400 ha, đây là những khu rừng có ý nghĩa rất quan trọng về giá trị bảo tồn trên toàn cầu [4]
Trang 2010
Với tiềm năng to lớn về giá trị đa dạng sinh học, VQG Phong Nha - Kẻ
Bàng được xếp vào các khu vực bảo tồn đa dạng sinh học quan trọng ưu tiên cả
trong ''Kế hoạch hành động bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia'' và ''Chiến lược
bảo tồn vùng sinh thái Trường Sơn'', đồng thời Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ
Bàng còn được Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) đánh giá là một trong
238 vùng sinh thái quan trọng trên toàn cầu
Hiện nay, VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đang đệ trình UNESCO công nhận
là Di sản thiên nhiên thế giới lần thứ hai về tiêu chí đa dạng sinh học Những giá
trị da đang sinh học cũng như những giá trị tiềm ẩn của VQG Phong Nha - Kẻ
Bàng sẽ trở thành địa chỉ lý tưởng cho nghiên cứu khoa học phục vụ cho công
tác bảo tồn thiên nhiên, phát triển du lịch và phát triển kinh tế - xã hội Bảo tồn
Di sản Phong Nha - Kẻ Bàng chính là nhiệm vụ quan trọng không chỉ của Việt
Nam mà đối với toàn nhân loại [4]
Vì vậy, để đảm bảo nguồn tài nguyên rừng của VQG Phong Nha – Kẻ
Bàng được phong phú, đa dạng và giữ được tính nguyên vẹn của cánh rừng
nguyên sinh này thì chúng ta cần đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ rừng, bảo
vệ môi trường sinh thái, đáp ứng nhu cầu và nâng cao mức sống của những cộng
đồng dân cư sống trong rừng, gần rừng và phụ thuộc vào rừng
Trang 2111
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1.Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các hoạt động sinh kế của người dân đến công tác quản lý bảo
vệ tài nguyên rừng tại vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
• Không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện tạiThôn 2 thuộc xã Xuân
Trạch thuộc vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
• Thời gian:Từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2017
3.3 Nội dung nghiên cứu
• Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu
• Thực trạng công tác QLBVR ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng
• Vai trò của các bên liên quan trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng
• Những thuận lợi và khó khăn trong công tác QLBVR ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng
• Ảnh hưởng các hoạt động sinh kế của người dân đến tài nguyên rừng của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng
+ Các hoạt động sinh kế của người dân
+ Ảnh hưởng của các hoạt động sinh kế
+ Đánh giá các mối đe dọa đối với tài nguyên rừng của VQG Phong Nha –
Kẻ Bàng
• Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác QLBVR ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng
+ Nâng cao năng lực quản lý và thực thi pháp luật trong việc QLBVR
+ Phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho người dân sống trong vùng đệm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng
+ Nâng cao nhận thức cho cộng đồng
+ Tăng cường đầu tư vào chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ cho công tác QLBVR, bảo tồn ĐDSH và đảm bảo CBST
Trang 2212
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Chọn điểm nghiên cứu
• Các xã thuộc vùng đệm vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng
• Một thôn thuộcxã vùng đệm mà hầu hết đời sống của người dân phụ thuộc vào rừng
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
• Thu thập thông tin thứ cấp: từ các cơ quan liên quan (Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, Phòng Thống kê, Phòng địa chính,UBND xã, )
• Thu thập thông tin sơ cấp thông qua:
- Phỏng vấn những người cung cấp thông tin chính (Cán bộ của Phòng quản
lý, bảo vệ rừng; Hạt kiểm lâm của Vườn quốc gia; Cán bộ xã; Trưởng thôn, )
- Điều tra hộ gia đình: 30 hộ đại diện cho các nhóm hộ (khá, cận nghèo, nghèo); 10 hộ/nhóm
3.4.3 Phân tích thông tin
• Phân tích SWOT
• Phân tích các bên liên quan
• Sử dụng các sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh để minh họa cho kết quả nghiên cứu
Trang 2313
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thôn 2 thuộc xã Xuân Trạch là một thôn nằm trong vùng đệm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng nên ngoài một số đặc điểm cơ bản vốn có của vùng đệm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng thì nó cũng mang những đặc điểm riêng của nó
4.1.1.1 Về vị trí địa lý
Phía Bắc giáp rừng được giao khoán
Phía Nam khu đất phù sa tiếp giáp rừng tự nhiên
Phía Đông giáp thôn 3
Phía Tây giáp thôn 1
Bản đồ 4.1 Thôn 2, xã Xuân Trạch
4.1.1.2 Đất đai, thổ nhưỡng
Đất trong thôn chủ yếu thuộc hệ đất pheralit với các nhóm chính là: đất phù sa và nhóm đất đỏ vàng Trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm hơn 80% diện tích đất tự nhiên của thôn, chủ yếu ở phía đồi núi phía Tây
Trang 25Bảng 4.2 Dân số và lao động của thôn 2, xã Xuân Trạch
(Nguồn: UBND xã Xuân Trạch, 2017)
Toàn thôn có 347 khẩu nam, 433 khẩu nữ Trong đó số người trong độ tuổi lao động có 379 người (chiếm 51,3%) với 186 lao động nam (ở độ tuổi 16-61) và 193 lao động nữ (ở độ tuổi 16-55) Số còn lại chủ yếu là người già yếu và trẻ em Chính vì lực lượng lao động khá dồi dào, chiếm hơn một nửa dân số trong thôn nhưng đất sản xuất nông nghiệp lại chiếm tỷ lệ ít trong tổng diện tích đất tự nhiên của toàn thôn cho nên đời sống của người dân nơi đây gặp nhiều khó khăn, họ không chỉ dựa vào sản xuất nông nghiệp mà còn phải phụ thuộc vào rừng để có thể tồn tại… Điều này có liên quan đến việc khai thác gỗ, săn bắt ĐVHD và việc tận dụng các lâm sản phụ cũng như các LSNG của người dân gây ảnh hưởng xấu đến tài nguyên rừng của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng
4.1.2.2 Y tế và Giáo dục
Về y tế: Cơ sở y tế của thôn còn rất thiếu thốn và lạc hậu Cả thôn chỉ có 1 y
tá ở trong thôn và toàn xã Xuân Trạch có 1 trạm y tế nhưng chỉ là nhà cấp 4, chưa
Trang 2616
có trạm xá kiên cố, thuốc chữa bệnh và các trang thiết bị y tế còn rất thiếu thốn và lạc hậu, kém hiệu quả Bệnh tật luôn hoành hành người dân nơi đây, đặc biệt là đối với trẻ em, chủ yếu là các bệnh ngoài da Chính vì điều kiện, trang thiết bị y tế chữa bệnh của bản không hiệu quả và không đáp ứng đủ nhu cầu của người dân
mà người dân trong thôn lại ở xa các trung tâm y tế xã, huyện nên người dân nơi đây chủ yếu chữa trị bệnh bằng các cây thuốc lấy từ rừng Điều này cũng là một vấn đề gây ảnh hưởng không nhỏ đến tài nguyên rừng trong khu vực
Về giáo dục: Trình độ dân trí, học vấn của người dân trong thôn nhìn
chung còn rất thấp Toàn thôn có 218 người trong độ tuổi đi học nhưng chỉ có khoảng một nửa trong số họ (117 người) là được đi học, trong đó có 93 học sinh cấp I, 9 học sinh cấp II và 5 học sinh cấp III
Theo ông Lê Văn Thành (trưởng thôn): “Trình độ dân trí, học vấn của thôn tôi còn rất thấp, năm nay cả thôn chỉ có 5 em học sinh được học đến cấp III, trong đó chỉ có 1 em đã tốt nghiệp và được đi học Cao đẳng, cả thôn chưa từng có người được đi học Đại học, còn 4 em vẫn còn đang đi học ở trường huyện xa nhà Ngay cả bản thân tôi là một trưởng thôn nhưng cũng chỉ mới học hết lớp 6 nhưng do được dân quý, dân yêu, dân tín nhiệm và có ông bác làm ở
xã bầu lên làm trưởng thôn thì tôi cứ làm vậy thôi…”
Hầu hết số người mù chữ ở trong vùng đệm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng tập trung chủ yếu ở người dân Ma Coong Tỷ lệ số người mù chữ trong thôn vẫn còn rất cao, hầu hết những người già trong thôn đều không biết chữ đó là do tập quán sinh sống lâu đời của họ mặc dù đội ngũ cán bộ giáo viên vẫn được tăng cường khá đầy đủ và nhà nước đã có nhiều chính sách miễn/giảm học phí, đến từng hộ gia đình khuyến khích, động viên con em họ đi học Khi được hỏi tại
sao không cho con đi học thì họ chỉ trả lời một câu chung chung rằng: “ Nếu cho
nó đi học thì không có ai giúp bố mẹ nó làm việc nhà, làm rẫy, đi chăn trâu, chăn bò,…” Có một số gia đình có điều kiện cho con đi học thì chúng lại không
chịu học vì ham chơi, xa nhà, e thẹn, ngại ngùng với thầy, cô giáo,…
Chính những điều đó là nguyên nhân làm cho trình độ dân trí, học vấn của người dân trong thôn thấp hơn các thôn/bản khác trong khu vực
4.1.2.3 Giao thông - Thuỷ lợi
- Giao thông: Hệ thống giao thông của thôn là đường đất với chiều dài
1km đường liên thôn Giao thông đi lại còn gặp rất nhiều khó khăn nhất là vào mùa mưa, đường lầy lội các phương tiện giao thông đi lại rất vất vả.Người dân ở
Trang 2717
đây, đặc biệt là những hộ có nhu cầu vận chuyển hàng hóa sản xuất thường không thể đi lại vào những ngày mưa to Đây là một trong những cản trở đối với
sự phát triễn kinh tế - xã hội của thôn
Thôn có một nhánh của con đường Hồ Chí Minh chạy qua Đây là con đường mới được nhà nước đầu tư xây dựng theo dự án đường Hồ Chí Minh nối Pác Bó (Cao Bằng) với Đất Mũi (Cà Mau) Con đường này qua thôn hoàn thành năm 2004, đến nay đã giúp cho thôn phát triễn rất nhiều
- Hệ thống thủy lợi: Hệ thống thủy lợi của thôn còn thiếu và chưa đáp ứng
được nhu cầu sản xuất nông lâm nghiệp của thôn Trong xã có một hồ chứa nước, 8 km mương cứng và 6km mương đất Các nguồn nước tưới tiêu còn phụ thuộc vào tự nhiên Người dân trong thôn không chủ động được tưới tiêu cho sản xuất nhất là vào mùa khô Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho năng suất và sản lượng cây trồng chưa cao
4.1.2.4 Tình hình kinh tế
Toàn thôn có 136 hộ thì có đến 129 hộ làm nông nghiệp (chiếm 97,73%),
6 hộ làm lâm nghiệp hợp pháp (chiếm 1,52%) và chỉ có 1 hộ là cán bộ công
nhân viên chức (chiếm 0,75%)
Tuy số hộ tham gia vào sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn nhưng do diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất ít: 34ha trong tổng số: 2.441,59ha đất
tự nhiên (chiếm 1,4%), trong đó diện tích trồng lúa nước là: 6ha (bình quân 88m2/khẩu), đất trồng hoa màu là: 28ha (chủ yếu trồng ngô, đậu, lạc), phần lớn đất canh tác nông nghiệp lại bị bạc màu, chưa chủ động về lượng nước tưới tiêu (mùa khô thì bị hạn hán, mùa mưa thì bị ngập úng), hạn hán, lũ lụt thường xuyên hoành hành là nguyên nhân chính làm giảm sản lượng, năng suất cây trồng Thêm vào đó, sâu, bệnh hại và hoạt động phá hại của các loài vật nuôi ( trâu, bò, lợn, gà, dê,…), ĐVHD đã làm cho cuộc sống người dân nơi đây không thể dựa vào sản xuất nông nghiệp để sống mà buộc họ phải dựa vào rừng Đời sống của người dân trong thôn chỉ đủ ăn trong vòng 6-8 tháng, nợ nần chồng chất, 4-6 tháng còn lại người dân phải đi vào rừng kiếm củi, lấy măng, khai thác gỗ và các LSNG khác để bán hoặc để đổi lấy lương thực - thực phẩm
Với điều kiện và hoàn cảnh sống khó khăn, thu nhập thấp như vậy thì buộc người dân phải kiếm thêm nguồn thu nhập từ rừng và các hoạt động sản xuất khác, kể cả các hoạt động đó là bất hợp pháp
Trang 2818
Như vậy, là một thôn nằm trong vùng đệm của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, diện tích đất lúa nước và đất màu là quá ít, thu nhập của người dân từ hoạt động sản xuất nông nghiệp là rất thấp do thiên tai, dịch bệnh, thiếu kỹ thuật và điều kiện chăm bón Năng suất cây trồng không cao do đất đai quá ít lại xấu Đời sống của người dân nơi đây thiếu thốn, hầu như thiếu gạo ăn trong 9 tháng
Về chăn nuôi chưa có vốn đầu tư, chưa có hướng quy hoạch cụ thể rõ ràng, không có kỹ thuật chăn nuôi, chưa có thú y, không có bãi chăn thả gia súc nên chưa đem lại thu nhập đáng kể cho người dân, các nguồn thu từ hoạt động chăm sóc, bảo vệ rừng chưa thỏa mãn nhu cầu của người dân nên chưa mang lại hiệu quả cao
Bảng 4.3 Thu nhập của các hộ gia đình trong thôn 2
Loại Số hộ điều
Thu nhập (triệu/tháng) Tổng cộng
30
(Nguồn: UBND xã Xuân Trạch, 2017)
Toàn thôn có 136 hộ nhưng chỉ có 35 hộ kinh tế khá với thu nhập 15 - 20 triệu đồng/hộ/năm, 60 hộ kinh tế cận nghèo với thu nhập 10-15 triệu đồng/hộ/năm và 41 hộ nghèo đói với thu nhập dưới 10 triệu đồng/hộ/năm
4.2 Thực trạng công tác QLBVR ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng
4.2.1 Về công tác phòng chống cháy rừng (PCCR)
Với phương châm “Phòng là chính, chữa cháy phải kịp thời và có hiệu quả, chú trọng công tác tuần tra, canh gác phát hiện điểm phát lửa để huy động
lực lượng mạnh dập lửa khi mới xuất hiện không để cháy lớn, cháy lây lan”
Lãnh đạo Hạt kiểm lâm và Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha – Kẽ Bàng chỉ huy căn cứ tình hình thời tiết, trực tiếp chỉ đạo các Trạm-Tổ kiểm lâm, các tổ BVR bố trí trực 24/24h tại các vị trí xung yếu trong phạm vi toàn VQG, cập nhật bảng dự báo nguy cơ cháy rừng thường xuyên tại các vị trí đã cắm
+ Thành lập tổ xung kích và xây dựng phương án PCCR
Các đơn vị trực thuộc Ban quản lý VQG (Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển Sinh vật, Trung tâm Du lịch Phong Nha – Kẻ Bàng): Xây dựng
Trang 29Hạt Kiểm lâm VQG chỉ đạo các Trạm Kiểm lâm phối hợp với chính quyền địa phương thành lập các Tổ PCCR tại các thôn, bản có diện tích giáp ranh lâm phận VQG
Ban quản lý Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng đặc dụng Phong Nha – Kẻ Bàng chỉ đạo các Tổ bảo vệ rừng chuyên, các Tổ bảo vệ rừng thôn, bản, Tổ bảo
vệ rừng Đồn Biên phòng Cồn Roàng thành lập các Tổ PCCR, sẵn sàng phối hợp tham gia chữa cháy khi có yêu cầu
Khu du lịch sinh thái Động Thiên Đường, các đơn vị thi công công trình trong phạm vi VQG, Công ty Oxalis tham gia hoạt động các tuyến du lịch trong VQG xây dựng phương án PCCR và thành lập các Tổ xung kích PCCR
Các tổ PCCR phải được tập huấn về kỹ thuật, nghiệp vụ và các quy định phòng cháy, chữa cháy rừng; được trang bị các dụng cụ cần thiết để chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra
+ Công tác tuần tra, kiểm tra PCCR
Hạt Kiểm lâm VQG chủ động xây dựng phương án, kế hoạch tuần tra, quản
lý bảo vệ rừng kết hợp canh gác lửa rừng 24/24h tại các địa bàn trọng điểm có nguy cơ cao xẩy ra cháy rừng Kiểm tra, giám sát, hướng dẫn các hộ dân có diện tích canh tác giáp ranh diện tích VQG trong việc phát, đốt thực bì Xử lý nghiêm các đối tượng sử dụng lửa trái phép trong lâm phận VQG
Ban chỉ huy các vẫn đề cấp bách trong công tác bảo vệ rừng và PCCR được quyền kiểm tra việc PCCR tất cả các điểm nằm trong diện tích rừng VQG bao gồm các đơn vị trực thuộc cũng như các đơn vị kinh doanh du lịch, thi công công trình xây dựng, sửa chữa cầu đường Các đơn vị trên phải nghiêm chỉnh chấp hành vô điều kiện việc giám sát kiểm tra, xử lý khi vi phạm các quy định
về PCCR Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Trang 3020
+ Công tác tuyên truyền vận động
Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác BVR và PCCR phối hợp với các cơ quan thông tin như Báo Quảng Bình, Đài phát thanh truyền hình tỉnh thường xuyên thông báo bản tin dự báo cháy rừng trong mùa khô của Chi cục Kiểm lâm tỉnh trên địa bàn VQG Phong Nha – Kẻ Bàng và vùng đệm, phổ biến các văn bản pháp luật về bảo vệ rừng, các gương điển hình trong công tác PCCR
Hạt Kiểm lâm VQG, Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển Sinh vật, Trung tâm du lịch Phong Nha – Kẻ Bàng và các Phòng trực thuộc tổ chức tuyên truyền sâu rộng các quy định của pháp luật về công tác Bảo vệ rừng và PCCR và trách nhiệm của cá nhân, đơn vị trong công tác BVR và PCCR đến toàn thể cán
bộ, viên chức, hợp đồng lao động trong đơn vị và mọi tầng lớp người dân, khách
du lịch Phối hợp với các xã vùng đệm tổ chức Hội nghị chuyên đề về bảo vệ rừng và PCCR, tổ chức ký cam kết về bảo vệ rừng đến từng thôn, bản, hộ gia đình trong các xã vùng đệm Phối hợp với các trường phổ thông trên địa bàn các
xã vùng đệm phát động phong trào bảo vệ rừng, PCCR trong học sinh
Ban quản lý Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng đặc dụng lồng ghép công tác bảo vệ rừng và PCCR trong các chuyên đề, hội nghị tuyên truyền các cấp đảm bảo thường xuyên, sâu rộng và có hiệu quả cao
Đoàn thanh niên VQG Phong Nha Kẻ bàng tổ chức phát động phong trào
“Bảo vệ rừng chính là bảo vệ môi trường sống của chúng ta” trong đoàn viên, thanh niên Đồng thời có kế hoạch phối hợp với Đoàn thanh niên, Đoàn trường phổ thông các xã vùng đệm tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng và PCCR thường xuyên sâu rộng
Nội dung công tác tuyên truyền giáo dục phải được tập trung vào ý thức của cộng đồng về các tác hại của cháy rừng Nhằm nâng cao ý thức PCCR cho các cộng đồng dân cư sống trên địa bàn, trách nhiệm của công dân trong công tác PCCR được quy định trong các văn bản pháp luật của nhà nước, đưa chương trình tuyên truyền giáo dục PCCR vào trong trường học để mọi người nhận thức sâu sắc việc PCCR là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn xã hội
+ Công tác phối hợp
Đối với các thôn bản gần rừng và các đơn vị đang đóng trên địa bàn: Các Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm chịu trách nhiệm chỉ đạo các Tổ PCCR các thôn bản và các đơn vị trên địa bàn phụ trách phải thường xuyên kiểm tra, canh gác trong các vùng rừng giao bảo vệ Các khu vực trọng điểm phải kết hợp với lực
Trang 3121
lượng bảo vệ rừng của các Trạm Kiểm lâm Trong quá trình tuần tra canh gác lửa rừng khi phát hiện đám cháy phải huy động mọi lực lượng và phương tiện tại chổ để dập tắt đám cháy kịp thời, đồng thời phải khẩn trương báo cáo ngay cho Trưởng BCH để có biện pháp ứng cứu kịp thời trong tình huống xấu xảy ra
Đối với các khu vực trong phạm vi Vườn quốc gia xa dân cư: Hạt Kiểm lâm chịu trách nhiệm chỉ đạo các tổ xung kích trực thuộc phải tuần tra canh gác lửa rừng thường xuyên Đối với các vùng xung yếu như km5 - km9 đường 20, khu vực Chà Nòi, km17 đường Hồ Chí Minh, km14 - km15 đường 20, vùng Hung Nha, khu vực Hung Trẹ phải canh gác 24/24, các điểm xung yếu dọc đường Hồ Chí Minh đi qua Vườn quốc gia Trong trường hợp xảy ra cháy rừng các tổ xung kích kiểm lâm chịu trách nhiệm chính và phải biết phối kết hợp với các lực lượng PCCR thôn bản, các đơn vị đóng quân gần kề Thường xuyên kiểm tra đôn đốc canh gác trên toàn bộ khu vực được giao quản lý bảo vệ
Đối với khu vực rừng có chủ (Lâm trường Trường Sơn, Lâm trường Bồng Lai, Lâm trường Bố Trạch, Minh Hóa, Rừng Phòng hộ Minh Hóa, rừng Cộng đồng, rừng trồng của các hộ dân nhận dự án khu vực vùng đệm): Các tổ PCCR của Vườn quốc gia và các xã vùng đệm trực tiếp đến phối hợp với Chủ rừng, chính quyền địa phương để triển khai phương án PCCR để cùng nhau thực hiện
+ Xử lý tình huống khi có cháy rừng
Nguyên tắc: Khi phát hiện đám cháy phải báo cáo ngay Trưởng ban chỉ huy CVĐ CB của VQG
Các tổ chức, cá nhân hoạt động trong rừng, khi phát hiện cháy rừng cần phải tập trung dập lửa, đồng thời cử người đến Trạm Kiểm lâm gần nhất để báo cho họ biết nơi xảy ra cháy rừng Với phương châm 4 tại chỗ (Chỉ huy tại chỗ, phương tiện tại chỗ, lực lượng tại chỗ, hậu cần tại chỗ), Kiểm lâm và Chính quyền địa phương huy động lực lượng, phương tiện nhanh chóng dập lửa Đồng thời bằng phương tiện thông tin liên lạc báo về Ban chỉ huy cấp trên biết để theo dõi và chuẩn bị lực lượng chi viện khi đám cháy vượt quá tầm kiểm soát của lực
Trang 3222
Trường hợp cháy rừng xảy ra tại các vùng trọng điểm vượt tầm kiểm soát của lực lượng tại chỗ, Ban chỉ huy PCCR VQG báo cáo ngay Giám đốc VQG (bằng điện thoại) Ban chỉ huy cấp tỉnh biết để huy động lực lượng cơ động của tỉnh tham gia chữa cháy
Trường hợp tại các vùng trọng điểm xảy ra nhiều đám cháy cùng một lúc và vượt tầm kiểm soát của lực lượng tại chỗ thì Ban chỉ huy căn cứ vào đặc điểm địa hình từng vụ cháy để bố trí lực lượng hoặc đề nghị điều động các lực lượng chữa cháy của tỉnh, các xã thuộc các huyện lân cận để ứng cứu chữa cháy kịp thời
+ Cơ sở vật chất, dụng cụ và phương tiện cho việc PCCR
Các thiết bị PCCR hiện có chủ yếu là các thiết bị, máy móc, công cụ do các đơn vị trực thuộc tự trang cấp hoặc từ nguồn kinh phí hỗ trợ đã được cấp phát cho các Trạm-Tổ Kiểm lâm vào đầu mùa cháy
Bảng 4.4 Tổng hợp về tình hình tổ chức, xây dựng lực lượng và mua sắm dụng
110 Găng tay bảo hộ; 100 can đựng nước loại 20L; 100 Ba
lô rằn ri; 50 mũ bảo hiểm; 05 loa cầm tay; 12 túi cứu thương;
24 bàn dập lửa chuyên dụng; 60 mũ cứng; 60 giày cao cổ; 24 rựa phát băng; 141 xẻng, cào, cuốc ; 60 xô đựng nước loại 60L
Trung tâm Du
lịch
09 máy bơm nước; 50 mũ bảo hộ; 73 xô thùng xách nước;
30 dao, rựa, cuốc, xẻng; 400m ống dẫn nước; 200m ống kẽm
có gắn vòi phun; 42 bình chữa cháy
(Nguồn: Hạt kiểm lâm Phong Nha – Kẻ Bàng, 2017)
Yêu cầu các đơn vị thường xuyên kiểm tra, bảo dưỡng, vận hành đảm bảo thuận tiện và nhanh chóng khi có yêu cầu về huy động phương tiện để chữa cháy
Trang 3323
Tuy nhiên, khi thực hiện chữa cháy rừng các dụng cụ được sử dụng phổ biến và tiện lợi là dùng các cành cây, cuốc xẻng hay bao tải thấm nước để đập thẳng vào đám cháy
4.2.2 Về công tác kiểm tra, kiểm soát lâm sản
Với đặc thù của người dân sống trong vùng đệm và vùng lõi của VQG
Phong Nha – Kẻ Bàng lâu nay vân mang tính "Lâm nghiệp truyền thống", cuộc
sống của họ chủ yếu là dựa vào rừng Từ những vật liệu xây dựng cho đến nhu cầu về lương thực- thực phẩm đều phụ thuộc vào rừng, họ vào rừng lấy lâm sản
để buôn bán, trao đổi những thứ hàng hoá mà họ cần cho nên sức ép của người dân đến tài nguyên rừng ngày một lớn hơn Mặt khác, do nhu cầu tiêu dùng của
xã hội ngày càng cao và sự siêu lợi nhuận của việc buôn bán lâm sản trái phép, bọn chủ buôn đã tung tiền vào những lúc người dân đang gặp khó khăn để rồi lôi kéo, xúi dục họ vào rừng chặt gỗ; săn bắn ĐVHD; chặt phá cây rừng và các lâm sản phi gỗ gây suy thoái nghiêm trọng về tài nguyên rừng của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng
Hoạt động khai thác lâm sản của bọn lâm tặc thường tập trung chủ yếu vào những khu rừng già, còn nhiều trữ lượng Chúng chọn những loài cây gỗ quý, hiếm như: Huê, Đinh hương, Giổi, Hương Giáng những cây gỗ sau khi bị chặt hạ thường được vận chuyển bằng trâu hoặc bò kéo tắt, cắt giông ra đến khe, suối kết bè thả trôi theo dòng nước rồi tập kết tại một địa điểm và đem đi tiêu thụ ở những nơi khác nhau Hàng năm có hàng chục m3 gỗ bị khai thác trái phép, đối tượng khai thác chủ yếu là những người dân chuyên nghiệp ở những vùng khác đến cấu kết với người dân địa phương tổ chức thành từng nhóm, từng đoàn, sử dụng các dụng cụ, phương tiện khác nhau nhằm khai thác, mở đường vận chuyển lâm sản Chúng mua bán, vận chuyển bằng nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, chúng trang bị dụng cụ phương tiện rất hiện đại, khi bị lực lượng kiểm lâm phát hiện thì chúng tẩu tán tang vật trong lúc đó lực lượng kiểm lâm ở các trạm còn mỏng, thiếu phương tiện, dụng cụ điều tra truy bắt, lại đóng quân ở những nơi núi rừng hẻo lánh nên khi có tình huống xảy ra gây nhiều khó khăn và trở ngại cho đơn vị thực hiện nhiệm vụ Chính vì vậy, BQL VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đã có nhiều chú trọng và đẩy mạnh về công tác phòng chống khai thác lâm sản:
+ Về biện pháp tuyên truyền
Để giúp cho mọi người dân hiểu được giá trị và tầm quan trọng của rừng, hiểu được pháp luật của nhà nước về QLBV & PTR thì VQG Phong Nha – Kẻ
Trang 3424
Bàng đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền thông qua các buổi họp dân, toạ đàm với nội dung tuyên truyền về các văn bản pháp luật của Nhà nước về rừng, về những giá trị của rừng nhằm nâng cao nhận thức của người dân về rừng, làm cho
họ hiểu và cần phải bảo vệ rừng bởi "Nuôi sống rừng thì rừng sẽ cho ta sự sống", "Rừng là vàng nếu chúng ta biết bảo vệ thì rừng sẽ rất quý" Nếu để mất
rừng sẽ kéo theo các nguôn tài nguyên khác cũng sẽ mất đi, các hệ sinh thái sẽ bị phá vỡ, một số loài động- thực vật sẽ đứng trên bờ của sự tuyệt chủng và biến mất hoàn toàn VQG Phong Nha – Kẻ Bàng còn xây dựng các thùng thư góp ý, phát giác; xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với các đối tượng có hành vi xâm lấn, khai thác rừng trái phép; phát động khen thưởng đối với các tổ chức, cá nhân có những thành tích cao trong công tác phòng chống khai thác lâm sản; xây dựng các nội quy, hương ước làng bản về phòng chống khai thác lâm sản
Cho đến nay, do VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đã làm tốt công tác tuyên truyền nên nhận thức của người dân ngày một được nâng lên rõ rệt, hiện tượng xâm lấn đất rừng và khai thác lâm sản trái phép ngày một giảm đi
VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đã thực hiện chủ truơng "Bảo tồn thiên nhiên
có sự tham gia của người dân" cũng như "Bảo vệ rừng tại chỗ" nhờ công tác
tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham gia vào công tác QLBVR, thực hiện ký cam kết về phòng chống khai thác lâm sản để các hộ gia đình không vi phạm pháp luật về rừng Biện pháp này đã được rất nhiều người dân ở trong khu vực nhiệt tình tham gia
+ Biện pháp thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho người dân
Ban lãnh đạo VQG Phong Nha – Kẻ Bàng phối hợp với các cơ quan Nhà nước huyện, Ban định canh định cư đã thực hiện việc di dời các hộ dân sống trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đến nơi định cư mới, xây dựng các mô hình Nông- Lâm kết hợp, tạo điều kiện cho người dân tham gia sản xuất nông nghiệp, phát triển nghề rừng tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân, xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế vùng cao cho các đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là người dân Ma Coong sống trong VQG Phong Nha – Kẻ Bàng để từ đó hạn chế việc người dân vào rừng khai thác lâm sản, giảm sức ép của người dân đến tài nguyên rừng